PHẬT
THÍCH CA NÓI KINH A DI ÐÀ
NGÀI
VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO
---o0o---
QUYỂN
THỨ NHỨT
(tiếp
theo)
B.- KHAI
CHƯƠNG THÍCH VĂN
(phân ra
làm hai)
1.Lược
Tiêu. Dón nêu 10 nguyên tắc.
2.Tường
thích. Giải rõ mười môn ấy.
1.- LƯỢC
TIÊU
Sắp giải
kinh này chung nêu mười môn:
1.Giáo
khởi sở nhơn: Cái nhơn vì giảng giáo.
2.Tạng
giáo đẳng nhiếp: Gồm thâu tạng, giáo, phần.
3.Nghĩa
lý thâm quảng: Nghĩa lý rất rộng sâu.
4.Sở
bị giai phẩm: Thích hợp các giai phẩm.
5.Năng
thuyên thể tánh: Chuyên bàn về thể tánh.
6.Tôn
thú chỉ qui: Chỉ rõ về tôn thú.
7.Bộ
loại sai biệt: Bộ loại sai khác nhau.
8.Dịch
thích tụng trì: Người dịch, giải, tụng, trì.
9.Tổng
thích danh đề: Chung giải tên kinh này.
10.Biệt
giải văn nghĩa: Giải riêng nghĩa từ văn.
CHÚ
GIẢI: Với sự giải kinh này so theo ý lời Sớ Kinh Hoa
Nghiêm lược làm mười môn: Tám môn trước thuộc về nghĩa
môn, hai môn sau là chánh thích về kinh văn.
Lại
nữa với việc chia 10 môn để giải đây đại đồng tiểu
dị với “ngũ trùng huyền nghĩa” (51) của ngài Thiên Thai
vì là chia ra thành 10 môn, thâu lại còn 5 môn, nên có chỗ
nhiều và ít vậy thôi.
2.- TƯỜNG
THÍCH
(Giải thích
rõ 10 môn trên)
Trước từ
Giáo khởi sở nhơn đến 10 là Biệt giải văn nghĩa.
GIÁO KHỞI
SỞ NHƠN
(phân ra làm hai phần)
1.Tổng:
Giải rõ phần chung.
2.Biệt:
Giải rõ phần riêng.
1. TỔNG
CHÁNH
VĂN: Trước nói rõ phần Tổng là chỉ vì nhơn duyên
của một việc lớn mà đức Như Lai Ngài phải xuất hiện
ra thế giới này. Giáo pháp của Ngài thuyết ra trong một đời,
tóm chỗ đại ý: chỉ vì muốn khai thị cái tri kiến của
Phật cho chúng sanh ngộ nhập. Nay kinh này cố ý chỉ ngay cho
chúng sanh: dùng tâm niệm Phật để vào chỗ tri kiến của
Phật.
CHÚ
GIẢI: “Ðại sự nhân duyên” (52) là dẫn câu văn trong
kinh “Pháp Hoa”. Kinh kia nói lý do đức Như Lai ra đời,
bổn ý Ngài muốn độ tất cả chúng sanh đều được thành
Phật. Vì bất đắc dĩ mà Ngài phải quyền biến nói ba thừa,
đến sau căn cơ của các đệ tử thuần thục, Ngài mới hội
ba thừa qui về Nhứt Thật, mới vừa cái bổn ý của Ngài.
Nên biết: Từ nói kinh “Hoa Nghiêm” về sau, kinh “Pháp Hoa”
về trước, trong khoảng thời gian đó tuy Phật thuyết có
nhiều pháp môn cao, thấp, không đồng; nhưng đâu chẳng phải
vì một đại sự nhân duyên đây. Trừ ngoài một đại sự
ấy, lại không có một đại sự thứ hai nữa.
Nay
kinh này nói: “Hễ nhứt tâm trì danh hiệu của Phật A Di
Ðà, tức được bực bất thối chuyển”. Ðây là chỉ ngay
tự tâm của phàm phu rốt ráo được thành quả Phật. Nếu
tin chắc như thế, cần gì phải trải qua ba thừa để học,
lâu xa nhiều kiếp để tu, mà chỉ không vượt ra ngoài một
niệm, mau chứng quả Bồ Ðề, đâu không phải là đại sự
hay sao?
2.- BIỆT
CHÁNH
VĂN: Biệt là chuyên theo kinh này cũng có mười nghĩa:
1.Vì
lòng đại bi thương xót chúng sanh, nên Phật nói kinh này để
làm cầu bến cho đời mạt pháp.
2.Vì
trong vô lượng pháp môn riêng rút ra một phương tiện tối
thắng này.
3.Vì
chê khổ khen vui để cho chúng phàm phu trong đường sanh tử
dấy lòng ưa cõi vui, nhàm cõi khổ.
4.Vì
giáo hóa dẫn dắt hàng nhị thừa chấp không chẳng tu Tịnh
Ðộ.
5.Vì
khuyên các người mới phát tâm hành Bồ Tát Ðạo, nên gắng
tới niệm Phật, để được gần gũi Như Lai.
6.Vì
thâu nạp hết căn lợi, độn thảy đều được độ thoát.
7.Vì
hộ trì người tu hành nhiều chướng nạn, để khỏi bị
sa đọa.
8.Vì
chính chỉ ngay nơi cái tâm hữu niệm, đặng chứng vào cái
lý vô niệm.
9.Vì
cách chỉ dạy rất khéo là nhơn cầu vãng sanh mà thật ra
là ngộ quả “vô sanh”.
10.Vì
chỉ rõ đường tắt tu hành, lại đường tắt trong đường
tắt nữa.
CHÚ
GIẢI: Với lời giải thích sẽ thấy văn sau mà mỗi bài
nổi lên có lớp lang liên tiếp, dụ như sợi dây chuyền tròng
kế nhau luôn.
1.Bởi
chúng sanh mê đắm, Phật vì đó làm cầu bến.
2.Sở
dĩ làm cầu bến được là vì nhờ có phương tiện tối thắng.
3.Sao
là phương tiện tối thắng? Vì có cái tài độ chúng phàm
phu.
4.Không
những chỉ độ chúng phàm phu mà cũng độ cả hàng nhị thừa
thánh nhơn nữa.
5.Chẳng
những hàng nhị thừa mà cũng độ cả đến Bồ Tát kia.
6.Ðâu
những riêng độ trong loài người mà cũng phổ độ tất cả
chúng sanh ở các loài.
7.Chẳng
những chỉ độ chúng sanh lúc bình thường, cũng độ cả
trong khi bị chướng nạn.
8.Tuy
rằng độ sanh rộng lớn như thế, thật ra không ngoài một
niệm của chúng sanh đặng vào lý “Vô Niệm”.
9.Ðã
nói hữu niệm đặng lý “Vô Niệm” thì cũng ngay nơi vãng
sanh đặng chứng quả “Vô Sanh”.
10.Vì
gồm suốt chín môn trước, để biết Pháp môn trì danh niệm
Phật đây là đường tắt (trì danh) trong đường tắt (các
pháp niệm Phật).
Lại
do vì đường tắt trong đường tắt đây, mới có thể làm
cầu, bến cho đời mạt pháp.
Thế
là trước, sau thứ lớp; đầu, cuối xoay vần, cho nên nói:
“Cũng như dây chuyền”.
CHÁNH
VĂN: Một: Vì lòng đại bi thương xót nên làm cầu, bến cho
chúng sanh đời mạt pháp là khi Phật thành đạo đã đương
thời ác trược, huống chi nhằm đời mạt pháp, chính ở
vào thời kỳ đấu tranh kiên cố, lần hồi thảng mảng (mòn
mỏi) sau lại càng sau, đều nhờ thần lực kinh này cứu vớt
chúng - sanh sau đẻ muộn ở đời rốt, kiếp tàn; như vậy,
đâu chẳng phải là lòng từ bi cực điểm dự phòng để
pháp tế độ ư!
CHÚ
GIẢI: Ðã đương thời ác trược là thế giới này, đến
khi mà con người ai cũng sống còn chỉ có hai vạn tuổi, tức
đã bắt đầu vào cái thời kiếp trược. Thuở đức Thích
Ca ra đời, người sống chỉ còn trăm tuổi, đã là khá thương!
Vì trải qua đời ác trược đã lâu lắm!
“Chính
vào thời kỳ đấu tranh” là: Năm trăm năm trước nhứt,
về thời kỳ giải thoát kiên cố; dần dần mỗi số; năm
trăm năm thứ nhì là thời kỳ tu Thiền định; 500 năm thứ
ba, người thông thái học đạo; 500 thứ tư, dựng lập chùa
tháp. Nay chính đương thời kỳ thứ năm là đấu tranh kiên
cố (53) lại là đáng thương!
“Sau
lại càng sau” là nhẫn đến khi mà thời kỳ pháp diệt hết,
lại càng đáng thương hơn nữa. Thế nên Phật nói kinh này,
lược kể lòng đại bi có ba điều cảm khái chí mật thiết:
1.Thưở
Phật còn tại thế, vì rất thương chúng sanh trong số kiếp
ngũ trược ác thế này, nên Ngài nói pháp trì danh niệm Phật
là pháp mà chúng sanh lấy làm khó tin, đây là lòng đại bi
thương xót chúng sanh lần thứ nhứt.
2.Sau
khi Phật diệt độ về sau, kẻ tu hành phần đông là hạng
phước huệ càng ngày càng kém, tội chướng mỗi bữa một
thêm nhiều, làm gì mong thấy được Phật, nên Phật nói kinh
này là để chúng sanh đời sau tuy không được thấy Phật
và Phật đã diệt, nhưng pháp trì danh niệm Phật vẫn còn;
hễ ai có lòng tín niệm, thì chóng khỏi đường sanh tử,
được vãng sanh thấy Phật Di Ðà. Ðây là lòng đại bi thương
xót chúng sanh lần thứ hai.
3.Như
trong kinh Ðại Bổn nói: Sau Phật diệt độ khoảng lâu xa
đến cuối đời mạt pháp, các bổn kinh to dài dòng, và đạo
pháp khó tu, đều lần hồi tiêu diệt hết, vì chúng sanh không
đủ sức để học tu kinh pháp ấy! Chỉ riêng còn một bổn
kinh này ở đời độ sanh, đến rốt sau mới diệt. Thế thì
đủ biết: lúc nước ngập nhẫy trời, còn có thuyền từ
cứu vớt, đêm khuya tăm tối hãy còn đuốc huệ sáng soi.
Ðây là lòng đại bi thương xót chúng sanh lần thứ ba vậy.
Ví
như đấng cha lành lo nghĩ cho đoàn con dại, vì lòng thương
vô hạn, dành để lại nghề nuôi sống, có thể với chắt
chít sâu xa, dòng dõi thừa sót, đến nỗi gia sản điêu tàn,
thân hình bần khổ cũng còn chỗ nhờ cậy. Nên nói lòng từ
bi rất tột, phòng để pháp tế độ chúng sanh.
CHÁNH
VĂN: Hai: Ðặc biệt là với vô lượng pháp môn đưa ra một
môn phương tiện tối thắng.
Vào
đạo có nhiều môn vốn không lựa chọn, nhưng với chỗ đèo
cao, đồng bằng, đường cong, nẻo thẳng thì khó, dễ tự
phân, nên ở trong vô lượng pháp môn, chỉ có một môn niệm
Phật là phương tiện tối thắng, lược kể có bốn:
1.Phương
tiện thứ nhất: Với kiếp không gặp Phật ra đời, song mà
thường được thấy Phật.
2.Phương
tiện thứ hai: Dầu chưa đoạn hoặc nghiệp cũng được thoát
kiếp luân hồi.
3.Phương
tiện thứ ba: Không nhọc công tu các hạnh khác mà đặng chứng
pháp ba la mật.
4.Phương
tiện thứ tư: Không phải trải qua nhiều kiếp mà chóng được
giải thoát.
CHÚ
GIẢI: Pháp môn là cái thể của đạo, nó kín nhiệm thậm
thâm, phải từ cửa mới bước vào được. Mà lập pháp môn
không đồng vì mỗi căn cơ khác nhau nên nói vô lượng; khéo
léo dắt dẫn khiến được nhập môn, gọi là phương tiện.
Mà nói chữ “Thắng” là phương tiện trong phương tiện.
Tức trong “Quán kinh” chỗ nói rằng khác đó là đây.
“Nhiều
môn” là: Có người hỏi rằng: Với những pháp môn khác
đều có thể vào đạo được, hà tất riêng tu môn niệm
Phật mới được vãng sanh?
Ðáp:
Các môn tuy nhiều nhưng có khó và dễ khác nhau, thế nên không
ngại chi với cái không lựa chọn mà có thể nói lựa chọn.
Hiểm
đường đèo ải gập ghềnh khó đi. Khúc đường quanh quẹo
khó đến là dụ các pháp môn kia. Bằng thẳng thì dễ đi,
là dụ như pháp môn niệm Phật, ai cũng có thể tu hành được.
“Thẳng mau thì dễ đến” là dụ tu pháp môn niệm Phật
mau vượt khỏi đường sanh tử. Như bà Vi Ðề Hi xem khắp
cả các cõi Phật trong mười phương mà chỉ muốn nguyện
sanh về thế giới Cực Lạc Phật A Di Ðà.
Thường
được thấy Phật là trong “Khởi Tín Luận” đã chỉ rõ
pháp “Chơn Như Tam Muội” (54) và hai môn Chỉ (55), Quán rồi.
Lại nói có người mới học pháp quán nầy, tâm còn hèn nhát,
cho rằng cõi Ta Bà không được thường gặp Phật. Sợ tín
tâm không vững; đức Như Lai có phương tiện rất hay để
nhiếp hộ tín tâm kia, bảo họ chuyên lòng niệm Phật liền
đặng sanh về cõi Phật, thường được thấy Phật. Như trong
tạng Kinh nói: “Chuyên niệm đức Phật A Di Ðà ở thế giới
Cực Lạc Tây Phương, sẽ được vãng sanh không hề lui sụt”,
còn kinh A Di Ðà đây nói: “Bảy ngày nhứt tâm chắc được
Phật hiện trước mặt”.
Cho
nên biết rằng trên hội Linh Sơn, Phật Thích Ca đã nhập
diệt, còn hội Long Hoa thì đức Di Lặc (56) chưa ra đời.
Trong kỳ khoảng giữa không có Phật ra đời mà vẫn được
thấy Phật, đây là pháp phương tiện tối thắng thứ nhất.
Ðược
ra khỏi luân hồi là: do nơi vọng hoặc sanh hành nghiệp (57),
có nghiệp cảm thụ quả báo, rồi phải trôi lăn qua lại
trong sáu đường để chịu khổ mãi không thôi. Y theo pháp
khác tu hành, đến chứng vọng hoặc hết, mới được thoát
ly luân hồi. Nhưng mà trong thời kỳ tu tập đó, với những
nỗi đầu thai chuyển kiếp giữa thế gian cũng chưa chắc
giữ cho được khỏi cái khổ thăng trầm. Duy có pháp môn
niệm Phật đây, dầu còn mang nghiệp cũng được vãng sanh.
Vì: một là do sức niệm Phật của mình, hai là nhờ thần
lực cao cả của Phật bảo đảm, nhiếp thọ. Một phen mà
được sanh về nước kia liền vượt ra khỏi ngoài ba cõi,
không còn bị luân hồi trong sáu thú. Nên kinh nói: Chúng sanh
niệm Phật, được sanh về đó rồi đều chứng lên bực
Bất Thối Chuyển. Ðây là pháp phương tiện tối thắng thứ
hai.
Ðặng
pháp Ba La Mật là các vị phát tâm hành Bồ Tát đạo, có
vị đã trải qua trong hằng hà sa kiếp để tu pháp lục độ,
vạn hạnh mà cũng chưa hoàn toàn công hạnh được! Thế mà
nay đây chỉ có nhứt tâm niệm Phật: muôn việc trần tự
nhiên dứt bỏ, tức là pháp “Bố Thí Ba la mật”. Nhứt
tâm niệm Phật, các việc ác tự dứt, tức là “Trì Giới
Ba la mật”. Nhứt tâm niệm Phật, lòng được nhu hòa mát
dịu, tức là “Nhẫn Nhục Ba la mật”. Nhứt tâm niệm Phật,
vĩnh viễn không bị thối lui, đọa lạc, tức là “Tinh Tấn
Ba la mật”. Nhứt tâm niệm Phật, không sanh các vọng tưởng,
tức là “Thiền Ðịnh Ba la mật”. Nhứt tâm niệm Phật,
chánh niệm rõ ràng, tức là “Bát Nhã Ba la mật”. Suy xét
cho cùng tột thì không ra ngoài nhứt tâm niệm Phật mà muôn
hạnh được đầy đủ cả. Như trong kinh Ðại Bổn, ngài
Pháp Tạng có phát nguyện rằng: “Khi ta thành Phật, chúng
hữu tình trong nước ta, nếu không được thần thông tự
tại ba la mật thì ta không lãnh lấy ngôi chánh giác làm chi”.
Ðây là phương tiện tối thắng thứ ba.
“Chóng
đặng giải thoát” là: Trong bộ “Trí Ðộ Luận” nói:
Có các vị Bồ Tát tự nhớ mình thuở trước chê bai pháp
Ðại Bát Nhã nên đọa trong ba đường dữ, rồi ra đi tu,
đã trải qua nhiều kiếp. Tuy hành các hạnh khác, nhưng không
diệt được tội, sau gặp bạn tri thức dạy niệm danh hiệu
Phật A Di Ðà mới tiêu được tội chướng siêu sanh Tịnh
Ðộ. Lại trong kinh “Thập Trụ”, đoạn kết có nói: Khi
ấy trong pháp hội có bốn ức chúng Bồ Tát, tự biết mình
lắm đời về trước đã chết đây lại sanh kia, liên miên
không dứt, là bởi nguồn gốc do lòng tham muốn; nghĩ thế
chán ngán, rồi muốn sanh về cõi nước nào không còn lòng
ham muốn. Phật bảo: “Bên Tây phương cách đây vô số quốc
độ có đức Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, dân chúng trong
cõi kia rất thanh tịnh, không có lòng: dâm, giận, và ngu si,
vì hóa sanh bằng hoa sen, chớ không do cha mẹ sanh đẻ như
cõi này. Các ngươi hãy cầu sanh về cõi kia”. Thế nên trong
kinh “Ðại Bổn” nói: “Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh
kíp mau an trụ trong đạo quả vô thượng Bồ Ðề đây thì
cần phải phát triển cái nghị lực tinh tấn, để nghe tu
theo pháp môn này”.
Nên
biết rằng: Tu các pháp khác ví như con kiến bò lên núi; tu
môn niệm Phật này cũng như thuyền đi thuận nước, xuôi
gió (58); thế sự mau, chậm cách nhau như trời với vực. Bực
cổ đức có nói: “Muốn tu chỉ một đời được chứng
quả thì phải để tâm nơi pháp này”. Ðây là phương tiện
tối thắng thứ tư.
CHÁNH
VĂN: Ba: Vì chê khổ khen vui để cho chúng phàm phu trong đường
sanh tử, sanh lòng ưa cõi vui nhàm cõi khổ.
Bởi
các chúng sanh mê quên tự tánh, cam chịu luân hồi, đã từ
nhiều kiếp đến nay mà cũng chưa tỉnh ngộ nên đức Phật
mới chỉ bày hai cõi “Khổ”, “Vui”, mở lập hai môn “Chiết”
và “Nhiếp”, chê khổ khen vui, khiến cho ưa vui, nhàm khổ,
tâm Bồ Ðề đã phát, tịnh nghiệp mới thành.
CHÚ
GIẢI: Nếu cứ theo pháp môn bình đẳng mà luận thì có
chi là sạch, có chi nhơ mà hòng ưa, nhàm. Thế làm gì có lập
ra hai môn “Chiết” và “Nhiếp”? Nhưng, nay với chúng phàm
phu còn ở trong sanh tử, mê mất chơn tâm rượt theo cảnh
trần, trải lâu chịu đủ cách luân hồi, quay cuồng mãi không
biết bao lần lên xuống, đành lòng cam chịu, chưa từng có
một niệm giác ngộ tấn tu để cầu nguyện giải thoát. Nếu
nay đã ngăn không giúp họ sự ưa vui, nhàm khổ mà lại muốn
cho họ giác ngộ ngay nơi tự tâm thì có khác nào ếch ruộng,
cá giếng (59), đã không cho thêm nước mà lại trách nó sao
chẳng trồi lên… thì càng thêm chìm đắm, đối với sự
trách có ích gì? Vì thế, nên chính trong cái lẽ không khổ,
không vui mà đức Phật chỉ rõ ra có cảnh khổ cõi vui, dùng
pháp “chiết phục” để diệt trừ mọi nỗi khổ, bày môn
“nhiếp thọ” làm cho được an vui. “Chiết phục” là
khuyến khích chúng si mê, làm cho họ sanh nhàm lìa; “nhiếp
thọ” thì nưng dỗ những chúng biếng trễ khiến họ sanh
lòng ưa muốn. Vậy sau những chúng đã ở lâu trong cảnh khổ
bùn sình (ngũ dục) mới chê là cảnh nhơ nhớp, vừa nghe cõi
Phật thanh tịnh trang nghiêm mới phấn chấn cầu sanh. Chừng
đó mới biết rằng: Cõi nầy là đống lửa lớn, cõi kia
là ao nước mát. Thì lẽ tất nhiên là những chúng sanh đã
bị lửa phiền não thiêu đốt từ lâu, nay há chẳng nên tránh
cõi này mà về cõi kia ru. Phương tiện độ sanh lẽ phải
như thế, đã sanh về nước kia thấy Phật nghe pháp, đặng
Vô Sanh nhẫn mới ngộ bản tâm mình đây, xưa nay vốn bình
đẳng.
CHÁNH
VĂN: Bốn: Vì để giáo hóa dẫn dắt hàng nhị thừa chấp
không chẳng tu Tịnh Ðộ là bởi do hàng nhị thừa vừa chứng
được lẽ “Ngã không” liền sanh lòng đắm trước (ưa
thích), nghe nói đến việc làm cho cõi Phật thanh tịnh là
phải giáo hóa chúng sanh thì lòng họ không ham muốn, nên nay
khiến họ hồi bỏ tâm Tiểu thừa, để hướng về Ðại
thừa là phát ý niệm Phật cầu nguyện vãng sanh.
CHÚ
GIẢI: Vừa chứng được lẽ “Ngã không” là hàng tiểu
thừa chỉ mới giác ngộ được trong thân ngũ uẩn không có
cái Ngã làm chủ, chớ chưa biết cả ngũ uẩn cũng là không
nữa nên mới chấp cảnh là có, rồi chỉ muốn tránh cảnh
khổ ồn ào, trốn về cảnh vui vắng lặng. Nếu nghe nói đến
cảnh Tịnh Ðộ để cho chúng sanh niệm Phật sanh về bằng
cách hóa sanh thì lòng không ưa thích. Như các hàng Thinh Văn,
không thấy được thần lực Phật Lô Xá Na và không được
dự vào đại hội của các vị Bồ Tát, là vì bổn ý họ
không hoan nghinh về chỗ nói công đức thanh tịnh các cõi
Phật trong mười phương. Bực cổ đức nói: “Hàng tiểu
thừa không nhận cái lối nói có cõi Phật khác” ( Di Ðà).
Bên Ðại thừa thì nói có vô số cõi Phật. Ðức Thế Tôn
gọi bậc tiểu thừa là hàng “độc thiện kỳ thân”, (60)
cũng kêu là bọn “độn căn A La Hán”. Cho nên Phật dạy
họ quày tâm đoạn diệt (61), tu hạnh Tịnh Ðộ, mới biết
lòng bi trí, sức hạnh nguyện của Phật, Bồ Tát rộng lớn
như thế, vô cùng như thế. Tâm không ngại cảnh, cảnh chẳng
ngại tâm, tất cả các pháp bổn tánh nó tự không, thành
thử trọn ngày độ sanh, nhưng trọn ngày không chấp độ.
Thế mà những kẻ chỉ riêng tu Thiền Ðịnh, không nguyện
vãng sanh, thật là lầm lắm vậy!!
CHÁNH
VĂN: Năm: Vì khuyên các người mới phát tâm hành Bồ Tát
đạo nên gắng tu niệm Phật, để được gặp Như Lai là
bởi bực mới phát tâm hành Bồ Tát đạo (62), tâm Ðại thừa
ấy mới kiến lập nhưng sức thắng nhẫn chưa thành; cũng
như chim con lông cánh còn yếu, chỉ nên chuyền cành và đứa
con bé thơ, cần phải gần bên mẹ; khi mà Bồ Tát đã vào
hội chánh định tụ gần gũi đức Thế Tôn, mới đặng nhẫn
lực, chứng pháp “Vô Sanh” trọn thành quả Phật.
Bấy
giờ ngồi thuyền đại nguyện vào biển khổ độ sanh. Như
trong Trí Ðộ Luận đã nói: “Vả chăng tu Bồ Tát đã đến
bực lục trụ mà còn thối mất tâm đại thừa, nhiều kiếp
làm Thinh Văn”. Xem như “trứng cá”, “bông xoài” đủ
làm gương soi rõ.
Nên
biết pháp niệm Phật là cha của Bồ Tát vì sanh đẻ ra pháp
thân; cho đến cả Thập Ðịa Bồ Tát trước sau chẳng lìa
pháp niệm Phật thì bực sơ tâm Bồ Tát đâu nên tự cho là
đủ, mà không nguyện vãng sanh ư?
CHÚ
GIẢI: Bộ Trí Ðộ Luận nói: “Chúng cụ phược phàm
phu (63) dẫu có lòng đại bi muốn sanh trong đời ác trược
để cứu khổ cho chúng sanh, thật là vô lý. Vì sao? Vì phiền
não quá mạnh, mà chưa được sức nhẫn, tâm duyên theo cảnh
sắc, thinh ràng buộc, phần mình đã đọa trong tam đồ, thì
đâu có thể cứu được người?”
Dầu
cho được sanh trong loài người, nhưng đối với quả Phật
cũng khó đặng. Vì nhờ có tu phước đức bố thí, trì giới
từ kiếp trước, nay hoặc đặng làm vua, làm quan, bị cái
phước giàu có bắt phải ham sướng mê vui! Ví dầu có gặp
thiện tri thức cũng không chịu tin theo. Vì ngu mê phóng túng,
tạo nhiều tội ác, do đây phải đọa lạc nữa.
Lại
dụ như hai người đối với việc cứu kẻ bị đắm nước:
một người vội nhảy ngay xuống nước để cứu thì cả
hai bị chìm luôn. Một người biết dùng phương tiện:
Ði lấy thuyền bè bơi ra cứu vớt, cả hai đều khỏi nạn.
Người mới phát tâm Bồ Tát muốn độ sanh cũng lại như
thế. Cần phải gần gũi Như Lai, được thuyền từ là pháp
“Vô Sanh Nhẫn” rồi, mới có thể vào biển khổ cứu độ
chúng sanh, như người kia được thuyền, cứu đặng nạn chết
đắm.
Luận
ấy nói: “Ví như đứa bé nếu mà lìa mẹ thì nó sẽ té
xuống hầm, xuống giếng, hoặc khát sữa phải chết. Lại
như chim con lông cánh còn yếu, chỉ nên nương cây chuyền
cành, khi lông cánh đã cứng cáp rồi, mới có thể bay liệng
giữa hư không thung dung tự tại được”.
Cũng
như phàm phu chưa có sức nhẫn, chỉ nên chuyên niệm Phật
A Di Ðà, cho được chánh định (tam muội). Lúc lâm chung được
chánh niệm, quyết định vãng sanh, thấy Phật, đủ sức nhẫn
rồi, trở lại trong cõi này để cứu độ chúng sanh.
“Chánh
định tụ” là để lựa riêng biệt với tà định và bất
định. Vì phàm phu, tà ma, ngoại đạo nhứt định không có
phần đấy. Bực sơ phát tâm tu hạnh Bồ Tát, hoặc tấn lên
Ðại thừa hay lui xuống Tiểu thừa cũng chưa nhất định.
Nay được An Dưỡng của Phật A Di Ðà rồi, không luận phẩm
vị cao thấp, đều đặng bực bất thối chuyển cả, mới
gọi là chánh định. “Chữ “Tụ” là nhóm, tức là một
nhóm người chánh định. Chính trong kinh nói: “Các người
bực thượng thiện nhóm hội”. Vì rằng đã vào trong hội
này là được thấy Phật nghe pháp.
“Bồ
Tát lục trụ còn lui mất tâm Ðại thừa” là: ông Thân Tử
phát tâm tu hạnh Bồ Tát, đã chứng được bực trụ thứ
6 (trong Thập Trụ) của Biệt giáo; nhơn gặp lúc người bà
la môn xin tròng con mắt (64) nhẫn không được, liền thối
tâm Ðại thừa, luân hồi trong năm đường (65).
“Nhiều
kiếp làm Thinh Văn” là có nhiều vị như ông Xá Lợi Phất
chẳng hạn, đã phát tâm từ đời Phật Ðại Thông Trí Thắng,
do nhẫn không được nên phải lui sụt tâm Ðại thừa, đọa
xuống hàng Thinh văn nhiều kiếp bằng số vi trần điểm đến
nay.
Nên
trong kinh nói: Bầy cá ròng ròng, bông xoài, Bồ Tát sơ phát
tâm; ba sự đây trong cái nhơn thì nhiều, đến chừng kết
quả chẳng còn bao nhiêu. Dẫn lời đây để chỉ rõ bực
sơ tâm Bồ Tát cần phải gần gũi đức Như Lai đặng chỗ
nương dựa vững vàng, để khỏi bị lui sụt vậy.
“Pháp
niệm Phật là cha của Bồ Tát”: Trong kinh Hoa Nghiêm quyển
thứ mười một nói: Ông Oai Quang đồng tử nhơn thấy tướng
của đức Như Lai mà đặng mười món mợi ích. Món đầu
nói: Ðặng pháp niệm Phật tam muội (66) gọi là pháp môn
“vô biên hải tạng”. Lời sớ kinh ấy nói: “Pháp niệm
Phật tam muội là cha của Bồ Tát nên trước nhất nói đó”.
Bởi do Bồ Tát dùng pháp phương tiện làm cha (67) mà pháp
niệm Phật đây chính nhằm thật sự, vì đó là phương tiện;
lại niệm Phật được thành Phật, vì đó là hột giống
thân sanh (68).
“Thập
Ðịa trước sau” là: Trong văn Thập Ðịa từ trước đến
sau, địa nào cũng nói tất cả việc ra làm, không rời pháp
niệm Phật. Lại nói bực “Viễn Hành” địa (69) Bồ Tát
tuy biết tất cả cõi nước cũng như không có mà hay dùng
hạnh thanh tịnh nhiệm mầu, để trang nghiêm cõi Phật (70).
Trong kinh Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới nói: Ông Bồ Tát
đến lúc rõ biết chư Phật và tất cả pháp đều duy một
tâm lượng thì đặng sức nhẫn tùy thuận (71), hoặc được
vào bực Sơ Ðịa; đến khi bỏ thân liền sanh vào thế giới
“Diệu Hỉ” (72), hoặc sanh trong cõi Cực Lạc thanh tịnh
của Phật, nên ngài Long Thọ là do bực Sơ Ðịa (73) mới
được vãng sanh. Ông Ma Ta Kiệt là do đắc pháp nhẫn mới
được vãng sanh. Chí như đức Văn Thù, Phổ Hiền (74) v.v…
cho đến hết thảy các vị đại Bồ Tát đông lắm không
thể kể xiết mà cũng đều phát nguyện vãng sanh, huống chi
bực sơ tâm Bồ Tát mà không cầu vãng sanh ư?
Ngài
Vĩnh Minh nói: “Muốn gá thân nơi đài sen để lìa hẳn cái
khổ bào thai nơi bụng mẹ, sanh về nước Cực Lạc là quốc
độ của chư Phật, đã đắc pháp thần thông du hí (75) thì
những người ấy đều là đã hiểu rõ được tự tâm rồi,
không vị nào mà không dạy chúng vãng sanh”.
Ngài
Thiên Như nói: “Các ngươi nếu giác ngộ được tự tâm
rồi thì với việc vãng sanh về Tịnh Ðộ dẫu sức mạnh
bằng ngàn trâu, không thể kéo lại được”. Thế thời ông
Sơ phát tâm Bồ Tát tuy là hiểu rõ, nhưng còn cách Phật rất
xa, nên chính phải cầu nguyện vãng sanh không nên trễ vậy.
CHÁNH
VĂN: Sáu: Vì thâu nhiếp cả các căn, lợi, độn cũng đều
thoát là bởi các pháp môn khác, có môn quá cao thời kẻ hạ
cơ không phần nhờ, có môn quá thấp thời không hợp với
sức thượng căn, thế nên đức Phật ban đầu nói kinh Hoa
Nghiêm, các bậc tiểu căn như đui như điếc. Ông Ưu Ba Ly
đem trí như lửa đom đóm để xét, kết thêm tội cho hai thầy
bí sô. Chỉ có một pháp môn niệm Phật này, thượng cơ hay
hạ căn cũng được gồm thâu, vì đều thích hợp; khá gọi
rằng: Như vị thuốc A Già chữa lành muôn chứng bệnh; lò
lớn đúc thành ngàn món đồ; đâu không phải là cửa từ
bi mở rộng, pháp phổ độ không bỏ sót một căn cơ nào?
CHÚ
GIẢI: “Như đui” là: Ðức Như Lai lúc ở trong rừng
Thệ Ða (76) diễn nói kinh Ðại Hoa Nghiêm, lúc ấy các bực
thượng đức Thinh Văn như các ông Thân Tử, Mục Kiền Liên
v.v… lãnh hội không nổi, dụ như đui như điếc, không thấy
không nghe chi cả (77) cho đến bực Tích Hạnh Bồ Tát còn
nói là phơi mang (78). Ðấy rõ biết rằng vì pháp môn cao,
đạo lý đại mà căn cơ thì tiểu.
“Kết
thêm tội” là: Trong kinh Tịnh Danh nói: Có hai thầy bí sô
phạm giới căn bản bằng trường hợp vô tâm, đến phát
lồ sám hối; ông Ưu Ba Ly y luật Tiểu thừa để định tội
làm cho hai ông chẳng giải đặng lòng nghi (79). Ông Tịnh Danh
quở rằng: “Ngài Ưu Ba Ly! Ngài chớ đem pháp thường làm
nhiễu loạn tâm kia, chồng thêm tội cho hai thầy bí sô ấy”.
Ðức Vĩnh Gia (80) phê bình trí soi xét của ngài Ưu Ba Ly như
lửa đom đóm, rằng đã không khai ngộ chỗ mê lầm của hai
ông, mà trở lại làm tăng thêm nữa. Ðây rõ biết rằng vì
pháp môn thấp mà căn cơ thâm, giáo lý lại thiển.
Ngoài
ra như đem pháp Bất Tịnh Quán lầm trao cho anh thợ rèn, pháp
Sổ Tức đem dạy cho người giữ mồ (81) không lợi ích chi
cả. Chỗ lập môn kia, đây (Ðại thừa, Tiểu thừa) cũng
lại đều khác; mà căn cơ có cao, thấp, có lớn, nhỏ, thế
nó không hợp hết được.
A
Già Ðà (83) là tên vị thuốc bên Tây Vức; chỉ một vị
thuốc ấy, có thể trị lành các chứng bệnh. Dụ như chỉ
một pháp trì danh niệm Phật mà rồi các bịnh: ngũ dục,
tam độc, vô lượng phiền não, cho đến những bệnh cố chấp
chênh lệch của Tiểu thừa, ngoại đạo đều tiêu trừ tất
cả.
“Lò
lớn” là: Trong một lò lớn, hầm đúc muôn món đều thành
đồ cả. Dụ như: Chỉ một pháp trì danh niệm Phật, tùy
theo căn cơ dầu lợi, dầu độn, là hạnh tu của mỗi người,
chớ cũng đều được vãng sanh về trong chín phẩm, đều
đặng bực bất thối cả.
“Rộng
lớn” là: Trong sách Châu Dịch, quẻ Kiền nói là Ðại Sanh,
quẻ khôn nói là Quảng Sanh. Nay pháp môn trì danh niệm Phật
không một chúng sanh nào mà chẳng độ. Dụ như trời khắp
che, đất khắp chở, đều nuôi gồm chứa cả muôn loài. Lòng
chí từ không phân biệt lựa chọn nên gọi là pháp “Phổ
Môn”.
CHÁNH
VĂN: Bảy: Vì hộ trì người tu hành nhiều chướng nạn để
khỏi bị sa đọa là: Bởi đời mạt pháp rồi nên người
tu hành hay mắc nhiều chướng nạn; nếu một phen thiếu chánh
kiến liền sa ngã vào các đường tà. Nhờ nguyện lực oai
thần đức Phật kia gia hộ cho người tu, ở trong hào quang
cao cả che chở, khỏi bị ma sự quấy rối và Phật Ngài hộ
niệm cho mãi đến lúc Ðạo thành. Cho nên biết rằng hễ
chánh niệm phân minh, ma vương không quấy rối, ví như đồ
hình con Bạch Trạch trừ quái, gương báu dẹp yêu (yêu không
trốn đặng) (84).
CHÚ
GIẢI: “Đa chướng nạn” là gì? Người tu hành trong
khi ngồi thiền định, quán tưởng kích phát nên ngũ ấm nó
hay sanh ma chướng (85). Như trong kinh Lăng Nghiêm có chỉ 50
thứ ma. Có câu: “Không sanh tâm tưởng Thánh, gọi là Thiện
cảnh giới; bằng móng tâm tưởng Thánh liền mắc vào bọn
tà”. Nên biết hễ tâm chánh kiến hơi kém thì tà ma lừng
lên, đã không ích mà lại còn tổn hại, muốn tấn lên trở
lại sa xuống. Do đây, những kẻ căn cơ thấp kém không dám
học đạo (tham thiền).
Thế
mà nay đây người niệm Phật sẽ nhờ đại nguyện, đại
lực của Phật nhiếp thọ, hộ trì cho. Oai thần của Phật
không thể so lường, không có thiên ma nào dám can phạm đến,
dầu có Ma sự sắp đến rồi thì nó cũng tự tiêu diệt.
Lại
trong kinh nói: “Người niệm Phật có hào quang của Phật
soi vào mình, ánh sáng chung quanh cách bốn mươi dặm, nên ma
không thể xâm phạm được do vì nhờ sức Phật A Di Ðà và
mười phương Phật thường hộ niệm, mãi từ ngày phát tâm,
cho đến khi thành Ðạo, từ trước đến sau mỗi việc đều
lành cả”. Bởi do chánh niệm phân minh, dầu ma có đến cũng
dễ biết dễ trừ; chẳng phải sánh như hạng người đắm
ưa ngồi tịnh, chấp lấy cảnh không, trong tâm không tự chủ,
gặp ma không biết, để đến nỗi nhập tâm ấy vậy.
“Ðồ
hình Bạch Trạch” và “gương báu” là dùng hai dụ đây
để rõ ý rằng: Chẳng những chỉ nhờ sức hộ trì của
chư Phật mà là cần nhờ sức niệm của mình nữa. Có con
thần thú (chúa yêu) tên Bạch Trạch biết nói tiếng người
rõ được tánh tình muôn vật, các tà tinh hễ trông thấy
bóng nó liền trốn mất. Nên nói: Nhà nào có đồ hình Bạch
Trạch, quyết không có các loài yêu quái như vậy.
Lại
con tinh trên núi, con quỉ ngoài đồng, chúng nó có thể biến
đủ thứ hình (86) để dối gạt mọi người, nhưng nó không
thể biến hiện hay là tàng hình trước gương báu được.
Dụ như người niệm Phật: hễ chánh niệm hiện tiền, trí
huệ sáng suốt, tất cả thiên ma, tâm ma (87) đều không dám
khuấy phá được.
CHÁNH
VĂN: Tám: Vì chính chỉ ngay nơi cái tâm hữu niệm, đặng
chứng vào lý vô niệm là: Tâm vốn vô niệm mà có niệm thì
sai. Nhưng vì chúng sanh từ vô thỉ đến nay tập quán vọng
tưởng quá ư lâu đời, chưa dễ gì vội dứt liền đi được,
nay dạy cho chúng niệm Phật, chính như: Lấy thuốc độc nọ
để giải thuốc độc kia và dùng binh ta để đẩy lui binh
địch; bệnh lành, giặc yên, cũng như thân hết bệnh, lại
không có thân mạnh nào khác; tức là: Nguyên kẻ giặc cướp
chính là con ruột của nhà ta.
CHÚ
GIẢI: Trong Khởi Tín Luận nói: “Tâm vốn ly niệm” mà
khởi niệm lên để niệm Phật, đâu khỏi tự làm khuấy
rối lại tâm mình ư? Trong Phật Tạng Kinh nói: “Không cảm
giác không quán niệm gọi là: Niệm Phật. Không nghĩ tưởng,
không nói năng gọi là niệm Phật”, mà khởi niệm để niệm
Phật, đâu không trở lại trái với tâm Phật? Nay đây bảo
rằng: Bặt các niệm giác quán (vọng niệm) là thiệt tướng
niệm Phật, lý ấy rất đúng. Song tâm tuy ly niệm, nhưng mà
đã bị vô minh nhiễm ô tâm thể, vọng niệm nối chuyền
như chứng bệnh bảy năm (88), dân loạn lâu ngày nên gọi
tập quán (thói quen). Nay muốn gắng gượng dằn ép khiến
cho nó lập tức yên tịnh thì ra dứt động về tịnh, càng
dứt càng động. Dầu thô niệm tạm ngừng, nhưng tế niệm
vẫn còn tích tắc. Thế mà nhận cho là phải, đâu chẳng
lầm lắm ư?
Ðã
còn địa vị phàm phu, chưa có thể dứt vọng lự, quên duyên
trần (89), đâu không ngay nơi duyên lự ấy để tấn tu, cho
nên dùng tâm niệm Phật để tấn công vọng niệm: Niệm một
tiếng Phật đã cải đổi được trăm ngàn muôn ức các tạp
niệm kia vậy. Huống chi vọng từ chơn khởi, như sóng do nước
sanh; tức niệm tức không, rõ ràng bày nguyên bản thể vô
niệm. Không phải ngoài vọng niệm mà riêng đặng quả Bồ
Ðề. Nên nói muôn pháp luống dối, chỉ là nhứt tâm, nếu
ngộ được lý nhất tâm, thì mắt ngó đâu cũng đều là
Bồ Ðề cả.
Dụ
như thân bệnh, khi lành rồi gọi đó là thân mạnh, dân loạn
yên rồi gọi đó là lương dân. Nếu bỏ vọng niệm để
riêng tìm chơn tâm thì khác nào thầy thuốc làm chết thân
người bệnh rồi mới trị lành bệnh, và nhà chánh trị toan
giết cả nước rồi mới an ninh cho dân; đâu có lẽ vậy
ru?
CHÁNH
VĂN: Chín: Vì cách chỉ dạy rất khéo là nhơn cầu vãng sanh
mà thiệt ra là ngộ lý vô sanh, bực Thất Ðịa Bồ Tát vừa
gọi là đắc cái hiện tướng vô sanh nhẫn, bực Bát Ðịa
mới đặng lý vô sanh. Nếu muốn diệt gấp sự hữu sanh để
cầu lý vô sanh, càng cầu càng xa. Nay phải dùng pháp cầu
sanh Tịnh Ðộ mới ngộ được lý vô sanh, vào chỗ có mà
được chỗ không, tức nơi phàm thành bực thánh, khá gọi
rằng : “Lời hay thấu đạo lý, thuốc quý đổi xác tiên”.
CHÚ
GIẢI: “Vừa hiện tướng” là như trong kinh Hoa Nghiêm
nói: “Mười địa, địa nào cũng đều có nói rằng đặng
vô sanh; nhưng chánh thức là về bực Bát Ðịa mới thiệt
đặng, còn Thất Ðịa chỉ nói là tịnh vô lượng, thân,
khẩu, ý mới đặng Vô Sanh Pháp Nhẫn quang minh’’.
Lời
sớ giải thích văn trên của kinh ấy lại nói: Bát Ðịa Bồ
Tát mới chính thức đặng vô sanh pháp nhẫn. Chứ đối với
“vô sanh pháp nhẫn” của kinh kia thì ở đây bực Thất
Ðịa Bồ Tát là mới được cái minh tướng của “Pháp nhẫn”
nó hiện tiền, chứ thực ra là chưa thiệt đặng. Như lời
sớ trong Quán Kinh nói: “Vô sanh tức thuộc bực Sơ Trụ”,
ý lược đồng như đây. Nhẫn đến Bát Ðịa, lìa tất cả
những điều phân biệt của tâm ý và ý thức, mới gọi là
thiệt được bực vô sanh pháp nhẫn. Vậy nên biết: Với
quả vô sanh nhẫn, bực Thánh như Thất Ðịa còn khó được,
huống chi là chúng phàm ư?!
“Càng
xa” là: Nhàm chán sự sanh sống là khổ, vội muốn kíp diệt
cái có sanh sống đó để về nơi cái không sanh, nhưng cái
diệt đó nó không phải chơn diệt thì chỉ thêm hoài công
nhọc nhằn, rốt rồi thành ra trôi lăn trở lại. Tỷ như
cái định nghiệp làm trâu chưa hết, dầu phá cho hư cái xe
nọ… chủ lại sắm nữa, lời xưa đã dụ rõ thế.
Kinh
này nói: Chuyên lòng niệm Phật, phát nguyện vãng sanh, đã
sanh về nước kia rồi, hoa nở thấy Phật, tự biết được
bổn tâm của mình vốn là không sanh thì dầu có phương tiện
cầu sanh cũng chả ngại gì? Nên có câu: “Tưng bừng cầu
sanh, mà không hề trái với lý vô sanh; trọn ngày nguyện sanh
mà tâm vẫn chưa từng sanh”, thế mới gọi là thiệt được
quả vô sanh.
Do
nơi hữu sanh mà tỏ được lý vô sanh nên nói vào chỗ có
mà đặng chỗ không; có sanh là thuộc về phàm phu, nhưng nhờ
có sanh mới chứng đặng quả vô sanh, nên nói: Tức nơi phàm
thành được Thánh. Tới đường về nhà, tiềm siêu mật độ
(ai đi nấy đến bằng một cách ngầm kín), khó nghĩ khó bàn,
nên nói: “Lời hay thấu lý đạo”; bỗng chốc đổi dời,
như từ nơi đất bằng, bay lên cảnh tiên, người thường
dân trở thành người sang cả, nên nói: “Thuốc quí đổi
xác tiên”. Thế mà bỏ lời hay (lời Phật dạy niệm Phật),
chấp lấy lời huống, bỏ thuốc tiên mà uống lấy thuốc
độc, há chẳng đáng thương lắm ru?
CHÁNH
VĂN: Mười: Vì chỉ rõ đường tắt tu hành, lại là đường
tắt trong đường tắt.
Ðây
có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhứt là các môn học đạo, muôn dặm
xa xôi; còn niệm Phật vãng sanh, xưa kêu là đường tắt.
Song, một pháp niệm Phật lại có nhiều môn. Nay pháp trì
danh đây thiệt là trong đường tắt, tắt mà càng tắt. Ví
như: Chim hạc tung mình, đâu kịp đại bàng cất cánh, ngựa
Ký ruổi vó, đâu bằng rồng chúa vươn bay; không gấp không
đi mà mau, mà đến, là tắt trong đường tắt vậy.
CHÚ
GIẢI: Hai nghĩa ấy: 1) So sánh với nhiều môn Tịnh nghiệp.
2) Là lựa kinh Tiểu Bổn, để riêng biệt với kinh Ðại Bổn
giữa Bổn Bộ, nên nói “đường tắt trong đường tắt”.
Ðường tắt là gì? Tức là con đường ngắn đi băng ngang
mau đến, gọi là “tắt”. Ðường ngắn là ví dụ pháp
môn niệm Phật, sức làm rất dễ dàng; mau đến là ví dụ
niệm Phật công thành rất mau chóng.
Ngài
Thiện Ðạo đại sư có làm bài kệ nói: “Duy có đường
tắt tu hành là chỉ niệm A Di Ðà Phật, thế thôi”. Nên
nói: Tu các môn khác, gọi là: “Dọc ra ba cõi”, còn niệm
Phật cầu vãng sanh, kêu là “ngang ra ba cõi”. Dụ như con
kiến hay con mọt chẳng hạn, ở trong cây tre, đục bề dọc
thì phải trải qua từng mắt, từng lóng khó thông, đục bề
ngang thì một lỗ thấu phủng ra ngoài liền. Thế đem các
môn tu khác so với môn tu niệm Phật này thì pháp môn niệm
Phật rất là mau kết quả hơn cũng như thế.
Song
pháp môn niệm Phật lại còn chia ra làm nhiều môn như trong
văn sau sẽ giải: Từ thật tướng niệm Phật, có bốn môn,
cho đến muôn hạnh hồi hướng v.v…
Với
tánh “Pháp Thật Tướng”, dầu rằng mỗi người sẵn có,
nhưng vì chúng sanh phần nhiều bị nghiệp chướng quá nặng,
số người tỏ ngộ được tánh Phật ấy thì chỉ phần ít,
nên sau đây kể ra vài môn như tu pháp niệm Phật bằng cách
“quán tượng Phật”, đến lúc cất tượng đi, hoặc khi
chẳng có tượng trước mắt thì lại không thấy cái nhơn
tu ấy, thành ra gián đoạn. Tu pháp niệm Phật bằng cách “quán
tưởng” thì tâm thô cảnh tế, diệu quán khó thành. Tu pháp
niệm Phật bằng cách làm muôn hạnh thì sự làm quá ư bề
bộn, chi cho khỏi nặng đâu sa đấy.
Duy
có một pháp niệm Phật bằng cách trì danh đây là tiện lợi
thẳng tắt. Hễ niệm Phật được nối luôn liền được
vãng sanh. Cổ đức đã nói: “Miễn được thấy Phật A Di
Ðà, lo gì không tỏ ngộ Tánh Phật Thật Tướng”. Thế là
không mong cầu ông “Phật Thật Tướng” mà ông “Phật
Thật Tướng” hiện bày rõ rệt nên pháp môn niệm Phật
là đường tắt của pháp tu hành, mà pháp trì danh lại là
đường tắt trong pháp niệm Phật vậy.
Chim
hạc liệng đã hơn chim thường mà đâu bằng chim đại bàng
một phen cất cánh; ngựa Ký ruổi dong tuy hay hơn ngựa khác
nhưng đâu kịp rồng bay. Hai vật trên đều dụ pháp niệm
Phật, hai vật dưới đều dụ pháp trì danh niệm Phật vậy.
“Chẳng
mau chẳng đi” là trong kinh Dịch, lời Hệ Từ nói: “Lý
của kinh Dịch, không suy nghĩ, không tạo làm, là cái lẽ vắng
lặng, không lay động. Hễ có cảm là liền thông suốt cả
trong thiên hạ, nếu chẳng phải bực chí thần trong thiên
hạ thì ai mà dự biết việc đây? Duy có bực chí thần mà
thôi, vì bực Chí Thần không gấp mà mau chóng và không đi
mà đến liền”. Ý nói gấp rồi mới mau, đi rồi mới đến
là cái vật tầm thường.
Thể
xủ quẻ cỏ thi là vẫn vắng lặng, không suy nghĩ, không tạo
làm, nhưng hễ có cảm liền thông, thế mới gọi “không
gấp mà mau, không đi mà đến”; có cái hay mầu nhiệm hơn
muôn vật nên gọi “chí thần”. Dẫn lời kinh Dịch đây
để chỉ rõ: Các pháp môn niệm Phật tuy đồng nói vãng sanh,
nhưng vì sức tu hơi khó hơn và thời gian cũng lâu hơn, thế
là tỷ phải đi gấp mới đến, mới mau được. Tu pháp trì
danh niệm Phật này thì không kể năm, tháng, không luận nhiều
công, miễn niệm làm sao chỉ trong bảy ngày cho được nhứt
tâm, liền sanh về nước kia. Chả biết sao mà lẽ thần diệu
hay đến tột bực như thế này!
Nên
lời Sao trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có nói: “Trong
Ðại Tạng có trên cả mấy bổn, hoặc kinh, hoặc luận cũng
đều nói cái tu nhân niệm Phật”. Song đều dạy phải siêng
tu, chứa công bồi đức cho nhiều, mới được vãng sanh. Kinh
này chỉ dạy trì danh hiệu được nhứt tâm, liền lên bực
bất thối, đâu không phải tắt mà lại tắt sao ?
CHÁNH
VĂN: Nghĩa thứ nhì là trong Vô Lượng Thọ kể nhiều
y báo, chánh báo, chép đủ các phép tu trì. Nay kinh Di Ðà đây
chọn chỗ giản tiện, bỏ chỗ phiền phức, lấy chỗ tóm
tắt, bao gồm chỗ sâu rộng, không nói chi khác, chỉ dạy
pháp trì danh, miễn sao niệm được nhứt tâm là liền sanh
nước Cực Lạc. Nên nói: “Giản dị càng giản dị, nhiệm
mầu càng nhiệm mầu, đường tắt trong đường tắt vậy”.
CHÚ
GIẢI: Với kinh Vô Lượng Thọ sẽ thấy rõ trong hai môn
Bộ Loại và Dịch Thích; bởi đối với kinh này nên người
đời kêu kinh kia là Ðại Bổn, vì bộ tuy đồng nhưng rộng
hẹp có khác nhau. Kinh kia vì người ưa rộng, Phật nói rộng;
kinh này vì người ưa hẹp, Phật nói hẹp. Nhưng lời tuy tóm
tắt mà lý rất rõ ràng, sự dầu đơn sơ mà công được
bội thắng. Như trong kinh Ðại Bổn rộng luận việc làm các
điều phước thiện, còn kinh này chỉ nói hễ chấp trì danh
hiệu tức là đa phước đa thiện. Kinh Ðại Bổn còn phân
ba bực mà kinh này nói, hễ được sanh về nước kia đều
được bực bất thối chuyển nơi quả Bồ Ðề. Thế nên
pháp trì danh niệm Phật chẳng những là chỗ thiết yếu trong
các pháp môn niệm Phật, mà chính là chỗ rất thiết yếu
trong bộ kinh Di Ðà nầy. Nên nói: Pháp trong các pháp thậm
thâm vi diệu, pháp nhiệm mầu trong các pháp nhiệm mầu, đường
tắt trong những con đường tắt ấy vậy.
CHÁNH
VĂN: Như trên trong khoa Biệt nói mười nghĩa, lại lấy
chín nghĩa trước là Thông (chung), một nghĩa sau là Biệt (riêng).
Gồm luôn cả nghĩa của phần Tổng văn trước để làm sở
nhơn lập giáo của kinh này.
CHÚ
GIẢI: Thông là: Những kinh chung cùng nói rõ về pháp môn
Tịnh Ðộ, đều vì đồng một nhơn đây. Biệt là: Riêng
chỉ nói rõ về kinh này, chú trọng pháp trì danh, do vì dùng
pháp trì danh làm nguyên nhân. Tổng là: Tức như văn trước,
tóm nói rõ tất cả các kinh, đều vì một đại sự làm nguyên
nhân.
Còn
nói về cái ý mà Phật Thích Ca. Ngài nói ra kinh này là cốt
vì: 1) Ðể dạy chúng sanh niệm Phật; 2) Ðể dạy chúng sanh
trì danh niệm Phật; 3) Ðể dạy chúng sanh niệm Phật bằng
cách trì danh mà được vào tri kiến của Phật, cho rõ nhứt
tâm bất loạn, đây là một đại sự mà thôi; vậy nên đây
hiệp lại ba cốt yếu trên để làm chỗ sở nhơn lập giáo
của bộ kinh này.
TẠNG GIÁO
ÐẲNG NHIẾP (phân ra làm ba phần):
1.
Tạng Nhiếp: Kinh này thuộc về tạng nào?
2.
Giáo Nhiếp: Kinh này thuộc về giáo nào?
3.
Phần Nhiếp: Kinh này thuộc về phần nào?
1. TẠNG
NHIẾP
CHÁNH
VĂN: Ðã biết Phật nói kinh nầy có nguyên nhân
như thế; nhưng chưa biết kinh đây đối trong Phần Tạng Giáo
nó thuộc về đâu ?
Nói
về Tạng có hai: 1. Tam Tạng; 2. Nhị Tạng.
Trước
nói: 1. Tam Tạng là:
a)
Tạng Tu Ða La .
b)
Tạng Tỳ Nại Da .
c)
Tạng A Tỳ Ðạt Ma .
Nay
kinh đây (Di Ðà) thuộc về Tạng Tu Ða La. Bởi các kinh cũng
đều có thân thuộc lẫn nhau, nhưng kinh Di Ðà đây không phải
như các kinh kia.
CHÚ
GIẢI: Tiếng Phạm nói: Tu Ða La. Tàu dịch: Khế Kinh, tức
là tạng Kinh, sẽ giải thấy trong đề mục văn sau. Tỳ Nại
Da, Tàu dịch là "Ðiều Phục", tức là tạng Luật. A Tỳ Ðạt
Ma, Tàu dịch là: "Ðối Pháp", tức là tạng Luận.
Hai
tạng trên đều có nhiều nghĩa, ở đây không cần lắm nên
không dẫn giải. Thuộc về Tu Ða La là ở trong ba tạng: Kinh,
Luật, Luận, mà kinh Di Ðà đây thuộc về tạng Kinh .
"Lẫn
thuộc nhau" là như kinh Hoa Nghiêm thuộc về tạng Kinh mà gồm
cả tạng Luật và Luận, vì trong các phẩm Thập Tạng nói
rõ về việc Giới Luật; còn các phẩm Vấn Minh nói rõ về
Luận Nghị. Kinh Phạm Võng thuộc về tạng Luật mà gồm cả
tạng Kinh, vì phần trên của phẩm Tâm Ðịa rộng nói ngôi
bực của các vị Bồ Tát. Còn kinh khác so theo đây nên biết.
Kinh
đây đã chẳng gồm giới luật lại cũng không kiêm luận
nghị, vì từ đầu chí cuối, chuyên nói về pháp môn niệm
Phật, cầu sanh Tịnh Ðộ, nên nói kinh đây, không phải như
các kinh kia.
CHÁNH
VĂN: Nhị Tạng là:
a)
Bồ Tát tạng.
b)
Thinh văn tạng.
Nay
kinh Di Ðà đây thuộc về Bồ Tát tạng; các kinh cũng có lẫn
thuộc nhau, nhưng kinh đây không phải như các kinh kia.
CHÚ
GIẢI: Tạng Bồ Tát và Tạng Thinh Văn sẽ thấy rõ trong
phần "Thích Văn" sau có giải. Tạng mà phân làm hai là do vì
tạng Kinh có Ðại thừa, Tiểu thừa nên phân ra làm hai hạng
để thâu thuộc, đó là pháp. Nếu ước về người thì có
ba bực (tam thừa), cũng phải phân ra ba tạng. Vì bực người
Duyên Giác phần nhiều chẳng nương nơi kinh giáo nên gồm
trong bực người Thinh Văn, cho nên chỉ có hai tạng.
Nay
thuộc về Bồ Tát tạng là vì kinh đây diễn nói pháp Ðại
thừa, như: y báo, chánh báo đều trang nghiêm, tín, nguyện
vãng sanh v.v... tất cả đều là hạnh tự lợi, lợi tha, là
bổn phận của Bồ Tát, để giáo hóa chúng sanh, làm cho cõi
Phật được thanh tịnh.
“Lẫn
thuộc” là như kinh Hoa Nghiêm thuộc về tạng Bồ Tát, cũng
gồm cả Thinh Văn tạng, vì kinh kia bao hàm tất cả các bực.
Kinh Di Ðà đây bực nhị thừa chẳng đặng vãng sanh (cõi
Tịnh Ðộ) nên nói “không phải như các kinh kia”.
Có
người hỏi: Thế sao trong văn kinh nói: Ðức Phật Di Ðà kia
có chúng đệ tử Thinh Văn ?
Ðáp:
Ðây chỉ tạm có, chớ rốt thì không, đến sau trong phần
Thích Văn sẽ biện rành.
Lại
hỏi: Chán bỏ cảnh khổ, tìm về cảnh vui, dường như riêng
về phần tự lợi, đâu phải hạnh Bồ Tát?
Ðáp:
Cầu sanh về Tịnh Ðộ chính là để thấy Phật nghe pháp,
đặng vô sanh nhẫn rồi, trở lại cõi này cứu khổ chúng
sanh; ấy là hành hạnh Bồ Tát, chớ không phải cái đạo
của Thinh Văn như trong bộ Thập Nghi Luận ngài Thiên Thai đã
nói.
2. GIÁO
NHIẾP
CHÁNH
VĂN: Giáo là y theo Ngài Hiền
Thủ định phân giáo pháp có năm phần là: Tiểu, Thỉ,
Chung, Ðốn và Viên. Nay kinh Di Ðà đây thuộc về Ðốn Giáo,
mà cũng gồm cả hai giáo trước là Chung và Viên.
CHÚ
GIẢI: Năm giáo là:
1.
Tiểu thừa giáo: Nói pháp chỉ chuyên nói "Nhơn Không", (91)
dầu có luận nói "Pháp Không" chút ít, nhưng cũng chẳng mấy
rõ ràng; vì y nơi lục thức, tam độc để thành lập cái
căn bổn Nhiễm, Tịnh, (92) nên chưa tột thấu nguồn gốc
của "Pháp Không" (93).
2.
Ðại thừa Thỉ Giáo: Do thời thứ hai chỉ nói "Pháp Không",
thời thứ ba nói cả ba thừa, nhưng không hứa “định tánh
Xiển Ðề" (94) được thành Phật, là lời thuyết pháp chưa
tột chỗ cực điểm của bực Ðại thừa, nên gọi là Thỉ
Giáo. Trong đó có người thành Phật, có người không thành
Phật, nên lại gọi là: Phần giáo. Với chỗ nói thì phần
nhiều nói về Pháp tướng, ít luận đến pháp tánh. Dầu
có nói tánh, cũng còn là con số tướng. Bởi y nơi tám thức
sanh diệt để kiến lập ra các nghĩa loại có nguyên nhơn:
Sanh tử và Niết Bàn.
3.
Ðại thừa Chung giáo: Do chỉ ra lý diệu hữu của Trung Ðạo
nên nói “định tánh xiển đề" đều sẽ thành Phật, mới
nói tột chỗ cực điểm của Ðại thừa, nên gọi là Chung
giáo. Vì đúng với thật lý nên lại gọi là Thật giáo. Với
chỗ nói thì phần nhiều luận về pháp tánh, ít luận đến
pháp tướng. Dầu có nói đến "tướng" đi nữa, nhưng cũng
hội về "tánh". Bởi căn cứ nơi Như Lai Tạng tánh nó tùy
theo vọng duyên của tám thức để thành lập ra các nghĩa.
4.
Ðốn giáo: Giáo này hoàn toàn không nói đến pháp tướng
chỉ nói ròng về Chơn Tánh, hễ là nhứt niệm bất sanh tức
gọi là Phật chứ không trải qua thứ lớp từng bực gì nữa.
5.
Viên giáo: Giáo này thống nhứt cả bốn giáo trước, Sự,
Lý hoàn toàn trọn vẹn. Bởi lập trường lý luận như thế
này: Pháp giới nhiều vô cùng tận, biển tánh trọn vẹn hợp
hòa, không ngăn ngại nhau; với nhơn duyên sanh khởi vì một
tức tất cả; tất cả tức một, tướng tức tánh, tánh tức
tướng, tánh tướng nhiếp lẫn nhau. Như cái lưới ngọc (95)
của trời Phạm Vương mỗi ảnh chiếu trùng nhau, thay nhau
làm chủ quan, khách quan bằng cách nhiều đến vô cùng vô
tận.
Năm
giáo nói trên rõ như trong lời Huyền Ðàm kinh Hoa Nghiêm; ở
đây sợ nhiều không dẫn.
Kinh
này thuộc về "Ðốn Giáo". Trong môn nghĩa lý sau có giải.
Cũng
gồm cả trước sau hai giáo là trước thông Chung giáo bởi
do tất cả chúng sanh niệm Phật dù là định tánh Xiển Ðề
đều sẽ làm Phật.
Sau
gồm "Viên giáo" là cũng trong môn nghĩa lý có giải.
3. PHẦN
NHIẾP
CHÁNH
VĂN: Phần là mười hai phần giáo như phần Tu Ða La, phần
Kỳ Dạ v.v... Nay kinh này thuộc về hai phần Tu Ða La và Ưu
Ðà Na.
CHÚ
GIẢI: Phần là từng phần, bởi vì nhất đại thời
giáo của Phật có chia ra từng phần, đều có chỗ sở thuộc.
"Kỳ
dạ" Tàu dịch "trùng tụng". Ưu Ðà Na Tàu dịch "Vô vấn tự
thuyết" trong 12 bộ, đây sợ nhiều, không dẫn (96). Nói thuộc
hai phần: 1. Thuộc phần "Tu Ða La" vì là Khế kinh. 2. Thuộc
phần "Ưu Ðà Na" vì là không đợi ai thưa thỉnh mà đức
Phật ngài tự kêu ông Thân Tử và chúng hội nói cho nghe.
NGHĨA LÝ
THÂM QUẢNG (phân ra làm ba phần):
1.
Nhiếp đốn (Gồm cả Ðốn giáo)
2.
Phần viên (Gồm một phần Viên giáo).
3.
Bàng thông (Lan rộng các giáo).
1. NHIẾP
ÐỐN
CHÁNH
VĂN: Ðã biết rằng kinh này thuộc về Ðốn giáo và có ít
phần thuộc về Viên giáo; chứ chưa biết nghĩa lý hoàn toàn
như thế nào.
Trước
nói kinh này thuộc về Ðốn giáo đó, số là bảo: Pháp trì
danh liền được vãng sanh, mau siêu, chóng chứng, vì không
quanh co (lâu dài, chậm trễ) nên kinh Di Ðà chính thuộc Ðốn
giáo.
CHÚ
GIẢI: Chính thuộc nghĩa "Ðốn" là: Vì tất cả kẻ phàm
muốn chứng lên bực thánh, sự đó rất khó lắm! Vì đường
đạo lý quá xa. Nay chỉ có một pháp trì danh liền đặng
vãng sanh, đã vãng sanh rồi, tức thì đặng bực "Bất Thối".
Khá gọi rằng: Ðời chỉ trọn thành, một đời đặng xong.
Ví như đem ngôi báu trao ngay cho kẻ thường dân, chẳng trải
qua gia cấp và cũng không phải như lối vòng vo của Tiệm
giáo thì đâu sánh kịp, nên gọi kinh này thuộc về nghĩa
"Ðốn".
CHÁNH
VĂN: Hoặc có người hỏi thắc mắc rằng: Kinh này Ðốn giáo
là tâm không sanh một niệm gì hết, tức gọi là Phật. Như
năm pháp, ba tự tánh đều không tám thức, hai món vô ngã
đều trừ. Thế mà nay Pháp trì danh niệm Phật đây thì lại
có niệm; đã có niệm, thế nào gọi là "đốn" được?
Ðáp:
Do nhứt tâm bất loạn, chính gọi là vô niệm; nếu còn có
niệm, chẳng gọi là nhứt tâm, nhưng đã được nhứt tâm
rồi thì pháp nào là pháp chẳng vắng lặng?
CHÚ
GIẢI: Năm pháp là: 1. Danh; 2. Tướng; 3. Vọng tưởng; 4.
Chánh trí; 5. Như như (97).
Ba
tự tánh là: 1. Danh tướng là tánh biến kế chấp, 2. Vọng
tưởng là tánh duyên tha khởi. 3. Chánh trí như như là tánh
viên thành thật (98).
Bát
thức là: A lại da, mạt na và sáu thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý) hiệp thành tám thức.
Hai
vô ngã là nhơn vô ngã và pháp vô ngã (99).
Sắp
về trước, cũng đều thuộc vào trong năm pháp cả. Rõ thấy
trong kinh Lăng Già và các kinh, đều không, đều trừ. Cả
năm pháp ấy có chỗ gọi rằng: Thân Phật là vô vi (không
hình tướng) không mắc vào các con số, gọi là Phật Thân.
Một niệm không sanh, tức gọi là Tâm Phật; ấy là tôn chỉ
của "Ðốn Giáo". Nay nói niệm Phật thời niệm hiệu Phật
thuộc về Danh, còn đối thân Phật thuộc về tướng, nhớ
niệm Phật kia thuộc về vọng tưởng. Dầu cho tịnh niệm
nối nhau, được vào pháp "Tam Ma Ðịa" (chánh định) đi nữa,
nhưng cũng còn thuộc về danh từ "Chánh Trí Như Như".
Vả
lại phân biệt là Phật, thuộc về thức tình. Năng niệm
là Tâm, sở niệm là Cảnh, thuộc về Nhơn và Pháp; thế còn
chưa trừ được tướng hữu ngã, huống là với tướng vô
ngã, lẽ nào trừ được ư ?
Chỗ
không, chỗ trừ của Ðốn Giáo kinh này đều có cả. Do vì
chỗ có niệm cho nên họ thắc mắc là chưa phải “Ðốn”;
chớ đây chính bảo là vô niệm kia mà! Bởi do nhứt tâm bất
loạn thời chẳng chấp có tâm để niệm, chẳng chấp không
tâm để niệm, chẳng chấp cái tâm bằng cũng có cũng không
để niệm, và chẳng chấp cái tâm bằng chẳng phải có chẳng
phải không để niệm. Vậy thử hỏi: lìa bốn câu ấy ra,
lại có gì là niệm? Thế thì tuy gọi rằng niệm Phật, chớ
vẫn niệm mà vô niệm vậy. Niệm mà vô niệm, thế mới gọi
là nhứt tâm. Cái tâm như thế tâm nó cũng không tâm nữa
kia, chỉ cưỡng kêu là Nhứt, chứ thật ra tướng Nhứt cũng
còn không, đâu tìm được những con số mà người bảo: 5,
3, 8, 2. Thế thời lý nhứt tâm bất loạn đây, chẳng
khác nào "nhứt niệm bất sanh" đâu nên nói kinh này chẳng
phải là "Ðốn" ?
2. PHẦN
VIÊN
CHÁNH
VĂN: Một phần thuộc Viên giáo là lập trường của Viên
giáo, vì trong bốn món pháp giới, ba món trước chung lẫn
cả các giáo, một món sau riêng thuộc về Viên giáo. Nay kinh
này: Viên giáo toàn nhiếp, nó có một phần nhiếp thuộc về
Viên giáo. Bởi vì nó chỉ có ít phần Viên giáo nên gọi
thuộc “Phần Viên".
CHÚ
GIẢI: Bốn pháp giới là: 1. Sự pháp giới; 2. Lý pháp
giới; 3. Sự lý vô ngại pháp giới. Với ba pháp giới này
các kinh đều có; 4. Sự sự vô ngại pháp giới (100) đây,
thì đặc biệt nhứt là riêng một kinh Hoa Nghiêm có thôi,
nên gọi là "Nhứt thừa Biệt giáo". Sự và Lý vô ngại thì
đồng với "Ðốn" và "Chung". Còn sự sự vô ngại thì chẳng
đồng hai giáo kia (Ðốn và Chung) vì riêng ngoài nhứt thừa
trong "đồng giáo" kia nên gọi là "Biệt" (riêng) chớ không
phải là "Biệt giáo" trong bốn giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên
(101).
Nay
kinh Di Ðà đây có một phần thuộc Viên giáo là do kinh Hoa
Nghiêm thì hoàn toàn là Viên giáo; còn kinh Di Ðà đây chỉ
có ít phần thuộc Viên giáo. Ðối với phần ít ấy, xin sơ
lược kể nói ra có 10 nghĩa:
1.
Kinh Hoa Nghiêm nói: cả trong khí giới, từ mảy bụi, mảy
lông đến một vật hữu hình, vô hình đều diễn nói pháp
âm mầu diệu. Kinh Di Ðà nói: Nước, chim, cây, rừng đều
rao pháp "Ngũ căn", "Ngũ lực", "Thất giác chi", Bát thánh đạo"
các pháp môn (sẽ rõ ở sau).
2.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Trong mảy vi trần đủ cả mười phương
pháp giới huy hoàng vô tận. Ðây thì như trong kinh Di Ðà Ðại
Bổn nói: Với trong một cây "Bảo Thọ", thấy 10 phương cõi
Phật như bóng trong gương.
3.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Chẳng hề cử động ra khỏi chốn Tịch
Diệt đạo tràng mà đã đi khắp pháp giới, nên nói thể
tướng vẫn yên lặng như xưa, vốn không hành động chút
gì sai khác, thế mà các pháp giới nhiều như số vô đẳng
vô lượng, đều đã đi khắp tất cả. Ðây thì như trong
kinh Ði Ðà Ðại Bổn nói: Ðức Phật Di Ðà vẫn thường
ở tại cảnh Tây phương tịnh độ, mà cũng có ở khắp cả
cõi trong mười phương.
4.
Kinh Hoa Nghiêm nói lời ví dụ rằng: "Cây thuốc chúa" (102)
nếu ai thấy cây ấy, mắt được thanh tịnh, cho đến nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ý, cả sáu căn không căn nào mà chẳng thanh
tịnh. Chúng sanh thấy Phật cũng lại như thế, là do thấy
đức Phật Viên Giác, (103) nghe pháp Phổ Môn nhờ thần lực,
sáu căn mới được thanh tịnh vậy.
Kinh
Di Ðà nói: Ðức Phật A Di Ðà ngồi nơi cây Bảo Thọ đạo
tràng. Với cây báu ấy kẻ thấy, người nghe, sáu căn đều
được thanh tịnh.
5.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Chúng sanh trong tám nạn (104) đều siêu
lên bực Thập Ðịa, kinh Di Ðà nói: Các chúng sanh trong địa
ngục, ngạ quỷ súc sanh, hễ có niệm Phật đều được vãng
sanh.
6.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Một tức tất cả nên đức Như Lai có
thể đối với một thân, để hiện ra nhiều đầu bằng số
vi trần ở trong nhiều cõi Phật bằng số bất khả thuyết.
Trong mỗi một cái đầu, hiện ra vô số lưỡi. Trong mỗi
mỗi lưỡi thốt ra vô số tiếng tăm, cho đến nào văn, tự,
câu, nghĩa đầy cả pháp giới. Kinh Di Ðà thời như trong Ðại
Bổn nói: Nước Cực Lạc kia có vô lượng hoa báu, trong mỗi
đóa hoa phóng ra ba mươi sáu ức na do tha trăm ngàn ánh quang
minh; trong mỗi quang minh hiện ra 36 ức na do tha trăm ngàn thân
Phật, khắp vì mười phương chúng sanh để thuyết tất cả
pháp.
7.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Ðức Lô Xá Na, Ðức Thích Ca đều hiện
ra hai tướng: Thắng Ứng thân và Liệt Ứng thân (105). Ðây
thì như trong Quán Kinh nói: Ðức Phật A Di Ðà hiện thân cao
lớn bằng số 60 muôn ức na do tha hằng hà sa do tuần, mà
lại thấy thân Liệt Ứng bằng một trượng sáu thước trên
ao bát công đức thủy (sẽ giải rõ ở sau).
8.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Ðức Lô Xá Na Phật làm giáo chủ. Ðây
thời như Ngài Thanh Lương nói: Ðức Phật A Di Ðà tức là
đức Bổn Sư Lô Xá Na.
9.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Kinh Hoa Nghiêm là kinh "Ðại Bất Tư Nghì"
còn kinh Tịnh Danh và các kinh là "Tiểu Bất Tư Nghì", mà kinh
Di Ðà thì lại là kinh "Bất khả Tư Nghì Công Ðức" vậy
thôi, chứ chả phân là Tiểu hay Ðại gì !
10.
Lập trường của kinh Hoa Nghiêm là nói: Chính nơi tâm phàm
phu để thành ngay trí bất động của chư Phật. Kinh Di Ðà
đây nói: Không ngoài pháp niệm Phật bằng cách xưng danh mà
được Phật hiện tiền. Thế thời kinh Di Ðà bằng bực với
kinh Tịnh Danh và các kinh... đồng một loại với kinh Hoa Nghiêm.
Vì
Viên giáo trọn thâu kinh này (Di Ðà). Kinh nầy một phần thuộc
Viên giáo, bởi do nghĩa có ít phần thuộc Viên giáo, nên mới
gọi là "Phần Viên".
3. BÀNG
THÔNG (phân ra làm hai phần):
1.
Quán kinh .
2.
Chư kinh .
QUÁN KINH
CHÁNH
VĂN: Trước nói kinh này thông đồng với kinh Thập Lục Quán
đó là bởi có người chấp rằng 16 pháp quán gọi là Ðịnh
Thiện, với chấp trì danh hiệu gọi là Tán Thiện. Nay vì
lẽ thông đồng mà nói, thì trong đây có hai nghĩa: 1. Tổng
2. Biệt.
Trước
nói Tổng là Kinh Thập Lục Quán cả 16 pháp diệu quán, đều
chủ về lý nhứt tâm. Kinh Di Ðà đây trọng về lý nhứt
tâm, chính hiệp với ý kinh kia. Vì kinh kia nhứt tâm tác quán,
kinh này nhứt tâm xưng danh; thế đâu đặng với cả hai đồng
qui về LÝ NHỨT TÂM mà lại tán dương kinh kia, dằn ép kinh
này. Rõ như trong lời Sớ ngài Tịnh Giác đã nói...
CHÚ
GIẢI: “Bàng thông” là không phân biệt Ðốn giáo hay
Viên giáo, chỉ lấy nghĩa lý thông đồng nhau giữa các kinh
Ðại thừa mà thôi. Do vì kinh Thập Lục Quán là kinh chuyên
môn nói về Tịnh Ðộ nên dẫn để nói trước.
“Ðịnh
Thiện, Tán Thiện” là: Ngài Cô Sơn phân phán ra cho 16 pháp
quán là Ðịnh Thiện. Ðối với kinh đây, pháp trì danh cho
là Tán Thiện (106), chứ đây bảo rằng: "Nhứt tâm bất loạn"
có sự, có lý, chính nơi "Sự nhứt tâm" đã chẳng phải hoàn
toàn Tán Thiện thay, huống chi là "Lý nhứt".
“Chính
hợp với ý kia” là kinh kia dạy tu 3 pháp quán như vầy: Tâm
quán không tức không, quán giả tức giả, quán trung tức trung,
vượt hẳn lớp lang thế là đắc “tam quán nhứt tâm". Kinh
Di Ðà này dạy tu niệm Phật bằng cách "chấp trì danh hiệu"
đến khi đặng cái "Nhứt tâm bất loạn" thì cả năng trì,
sở trì đều không thể có, đó gọi là "Không quán". Chính
đương lúc không mà năng, sở rõ ràng, đó gọi là "giả quán".
Chẳng phải giả, chẳng phải không mà thường không, thường
giả, bất khả tư nghì, đó gọi là Trung Ðạo quán. Bởi
vì riêng giữ một danh hiệu Phật để niệm liền được
nhứt tâm; đã nhứt tâm thì có gì thứ lớp! Ðây chính
là nghĩa ba quán viên tu. Thế thời kinh kia dùng nhứt tâm quán
tưởng làm tôn, kinh đây dùng nhứt tâm trì niệm làm chủ,
vì Quán tức là niệm, niệm tức là quán. Vậy hai kinh chỗ
nói đã đồng nhứt tâm, sao riêng với kinh này chê là Tán
Thiện!
Cho
nên pháp môn này tên là pháp “Niệm Phật tam muội", cũng
tên là "Nhứt Hạnh tam muội", cũng tên là "Chư Phật Hiện
Tiền tam muội", cũng tên là "Bát Nhã tam muội", cũng tên là
"Phổ Ðẳng tam muội". Nói "Tam Muội" nghĩa là Chánh Ðịnh.
Kinh Di Ðà này đã thông đồng với nhiều pháp tam muội như
thế sao dám chê là Tán Thiện? Nói cho đúng lý: Tu quán tưởng
nếu chẳng đặng nhứt tâm thì pháp quán ấy cũng thành là
Tán; tu trì danh nếu được nhứt tâm, pháp trì danh ấy tức
thành là Ðịnh. Ðừng tính ở quán tưởng hay trì danh mà
chỉ tính ở chỗ đặng nhứt tâm cùng không nhứt tâm mà
thôi .
Như
lời sớ của ngài Tịnh Giác nói: “Ðối với Quán kinh, ngài
Trí Giả đại sư cho ba món tịnh nghiệp (107) thuộc về Tán
Thiện, 16 pháp diệu quán thuộc về Ðịnh Thiện”; chớ chưa
nghe ngài chê pháp trì danh là Tán Thiện bao giờ! Ông Cô Sơn
phê phán kinh Di Ðà là Tán Thiện, theo ý tôi (Vân Thê) không
nhận cái thuyết kia. Và như lời Sớ trong phẩm Phổ Môn giải
rằng: "Nhứt tâm xưng danh có sự, có lý, chuyên niệm đức
Quan Âm, lòng niệm không gián đoạn, gọi là Sự nhứt tâm.
Nếu đạt được tâm này, bốn tánh (108) không sanh, vì tương
ưng với pháp Không Huệ gọi là Lý nhứt tâm". Trong phẩm
Phổ Môn kia nói thiếu hai chữ "bất loạn", ngài Trí Giả
còn dùng hai chữ "Không Huệ" (huệ chơn không) để giải;
huống chi kinh Di Ðà nói: "Nhứt tâm bất loạn” thì đâu
đặng chê là Tán Thiện?! Theo ý ngu tôi xét: Ngài Trí Giả
khi nhập diệt, còn xướng danh hiệu Tam Bảo, ngài Chương
An khi lâm chung cũng niệm Phật A Di Ðà và niệm hai vị đại
sĩ Quan Âm, Thế Chí.
Hai
thầy trò của ngài Trí Giả đồng "xướng danh, niệm danh",
như thế thì hẳn không đặng đem hai chữ "Tán Thiện" để
gắn cho pháp trì danh của kinh này. Xét đó, càng thêm tin chắc.
CHÁNH
VĂN: Kế đây nói nghĩa riêng. Hoặc có người thắc mắc cho
rằng:
1.
Kinh Di Ðà đây chỉ nghe danh suông của Phật.
2.
Kinh Di Ðà đây nói thân Phật là Liệt Ứng.
3.
Kinh Di Ðà đây nói hoa sen chừng bằng bánh xe .
4.
Kinh Di Ðà đây nói tội ngũ nghịch không được vãng sanh
.
5.
Kinh Di Ðà đây thuộc về hạ phẩm.
Họ
nạn như thế vì họ không biết hai kinh (Quán kinh với A Di
Ðà kinh) thật đồng một nghĩa và họ không biết kinh A Di
Ðà lại càng độc yếu hơn nữa .
CHÚ
GIẢI: "Chỉ nghe danh suông" là có người thắc mắc cho
rằng: Trong Quán kinh dạy tưởng tướng hảo của Phật, còn
kinh Di Ðà đây chỉ chấp trì bốn chữ danh hiệu suông, chớ
không thấy thân tướng hảo của Phật nên họ cho là Tán
Thiện.
Song
trong kinh này đã nói: "Ðức Phật A Di Ðà cùng các Thánh chúng
hiện ở trước mặt người kia". Ðã nói Phật hiện thời
đâu không tướng hảo? Huống cùng thánh chúng, chủ và
bạn đều hiện bày? Số là kinh kia do tác quán thấy Phật,
kinh đây do trì danh thấy Phật, dù chỗ tu nhơn không đồng,
chớ chỗ thấy Phật thì một.
"Thân
Liệt Ứng" là có người nói mắc mỏ rằng: Trong Quán kinh
nói thân Phật cao đến sáu mươi muôn ức na do tha, hằng hà
sa do tuần (109), còn kinh này không nói, họ nghi là "thân Liệt
Ứng" cho nên gọi là Tán Thiện.
Song
trong kinh Ðại Bổn nói: Lúc bấy giờ đức Phật A Di Ðà
phóng hào quang lớn chiếu khắp tất cả thế giới. Ông A
Nan thấy dung thể của Phật lớn cao vòi vọi như núi vàng
ròng, cao vót lên trên tất cả thế giới. Thế thì trong Quán
kinh chỗ nói còn cuộc hạn trong một thế giới; nay kinh này
nói tất cả thế giới là cao lớn hơn biết bao, đâu nên
nói là thân Liệt Ứng!?
Kinh
Ðại Bổn lại nói cây báu nơi đạo tràng (110) của Phật
A Di Ðà toàn dùng các món báu tự nhiên hợp thành, cây báu
ấy, không phải thân trượng sáu ngồi dưới cội cây Bồ
đề, thời đâu nên nói là thân Liệt Ứng!?
Lại
trong Quán kinh nói: Phật kia hoặc hiện thân một trượng sáu,
hay tám thước; hoặc hiện thân cao lớn đầy giữa hư không.
Thế là tùy cơ cảm của chúng sanh nên chỗ thấy có lớn
nhỏ không nhứt định; thành thử cổ đức nói: “Dầu liệt
ứng, dầu thắng ứng, dầu sanh thân, dầu Pháp thân, nhưng
cũng không phải hai thân”. Huống chi trong kinh đây không
thấy nói ra thân Phật lớn, nhỏ chi cả, sao dám quyết định
đặt điều cho là thân Liệt Ứng?
"Hoa
sen chừng bằng bánh xe" là có người bảo rằng: Trong Quán
kinh nói: “Hoa sen lớn mười hai do tuần”; còn kinh đây nói:
“Hoa sen nhỏ hạng bằng bánh xe”, cho nên gọi là Tán Thiện
.
Song
họ đâu biết cái nghĩa bánh xe lớn nhỏ không nhứt định.
Như trong kinh Ðại Bổn nói bánh xe lớn đến trăm ngàn do
tuần (111), đâu những "mười hai do tuần" mà thôi; rõ như
trong văn sau có biện.
"Tội
ngũ nghịch không được vãng sanh" là có người đưa ra nạn
đề rằng: Trong Quán kinh nói tội ngũ nghịch được vãng
sanh; còn kinh Ðại Bổn nói: “Chỉ trừ tội ngũ nghịch không
được vãng sanh”. Họ chê kinh này công tế độ hẹp hòi
nên họ cho là Tán Thiện .
Nhưng
họ đâu biết dưới câu: “Chỉ trừ tội ngũ nghịch" có
thêm bốn chữ "phỉ báng chánh pháp", mới bị trừ ra. Tuy
người đủ tội ngũ nghịch (112) mà không "phỉ báng chánh
pháp", vị tất không được vãng sanh?
Bởi
do "phỉ báng" thời không tin, vì không tin nên không được
vãng sanh. Sở dĩ có câu: “Nghi thời hoa sen không nở”, thật
thế.
Trong
Quán kinh không nói: "Phỉ báng chánh pháp". Nếu như gồm có
phỉ báng ấy cũng không được vãng sanh vậy. Lại trong Quán
kinh về phẩm "Hạ hạ", trong văn ngũ nghịch nói: “Người
phạm tội ngũ nghịch, khi lâm chung niệm danh hiệu phật mười
tiếng liền được vãng sanh”. Thế là pháp Quán tưởng chưa
thành chỉ nhờ mười niệm... Vậy tội ngũ nghịch cũng được
vãng sanh đó chính là nhờ có niệm danh hiệu mới được
vãng sanh mà thôi.
Huống
nữa trong kinh Ðại Bổn nói: "Những tội đọa địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, cũng sanh về trong cõi của ta". Những người
đọa trong địa ngục đó không phải là người ngũ nghịch
chớ gì ?
"Chỉ
thuộc về hạ phẩm" là có người thắc mắc rằng: Trong Quán
kinh nói về ba phẩm hạ. Phẩm đầu nói đối với người
trí thức, dạy bảo chắp tay, hoặc vòng tay để niệm "Nam
Mô A Di Ðà Phật". Về phẩm thứ ba nói, thiện hữu dạy rằng:
"Nếu người kém trí thức không thể niệm Phật bằng cách
chắp vòng tay thì nên chỉ niệm danh hiệu". Thế thì pháp
trì danh được vãng sanh đó dường như chỉ ở phẩ