Duyên
khởi Kinh
Sở
vĩ chúng ta có được bộ Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
Bổn Nguyện Công Ðức " là nhờ Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát mà có được. Ngài quán xét thấy chúng sinh chịu nhiều
thống khổ và do sức Từ Bi của ngài muốn cứu độ họ,
nương theo oai thần của Đức Như Lai nên Ngài thay Đại Chúng
mà thỉnh Phật thuyết ra những bổn nguyện và công Đức
thù thắng của chư Phật, để hầu giúp cho những chúng sinh
tội ác, nghiệp chướng tiêu trừ và chúng sinh trong thời
mạt pháp hưởng nhiều lợi lạc về sau. Chúng ta hiện tại
được nghe danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Phật và thấy
được bộ kinh mà còn trì tụng thì biết rằng đều là nhờ
oai thần của Phật mà có được. Cũng là nhờ sức Từ Bi
của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát mà hôm nay chúng ta được
thấy kinh.
Tạng
Thừa Sở Nhiếp
Kinh
Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng được gọi là Tam Tạng.Vậy
trong ba Tạng, Kinh này thuộc về Tạng nào? Kinh này thuộc
về Kinh Tạng và Luật Tạng vì trong đó cũng có nói về Giới
Luật. Kinh Tạng thì thuộc về Ðịnh Học, Luật Tạng thuộc
về Giới Học, và Luận Tạng thì thuộc về Huệ Học.
"Thừa"
ở đây là Ba Thừa: Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ
Tát Thừa.(thêm vào Nhân Thừa và Thiên Thừa gọi là Ngũ Thừa).
Bộ Kinh Dược Sư này thuộc về Bồ Tát Thừa, vì trong kinh
nói về bổn nguyện của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai,
khi ngài còn hành Bồ Tát đạo, phát ra những Đại nguyện
để cứu độ chúng sinh.
Tông
Chỉ Của Bộ Kinh
Tông
chỉ của bộ Kinh này là: Ðộ Sanh, và Bạt Khổ.
"Ðộ
sanh" ở đây có nghĩa là cứu độ chúng sanh. "Cứu độ chúng
sanh" thì không phải là chỉ cứu một hoặc hai người, cũng
không phải là ba người, bốn người hay năm người mà gọi
là độ sanh.. "Ðộ chúng sanh" là độ thoát tất cả mười
hai loại chúng sanh. Phải phát tâm giáo hóa hết thảy chúng
sanh, khiến cho tất cả chúng sanh đều sớm được thành Phật;
như thế mới gọi là "độ chúng sanh." Trong kinh đã nói chúng
sanh trì danh của Đức Dược Sư thì nhờ đó mà họ phát
Bồ Đề Tâm xa lìa ngũ dục hành Bồ Tát Đạo an trụ trong
Chánh Pháp Tạng Như Lai, không còn đọa lạc vào những đường
ác nữa.
Bạt
Khổ: Bộ Kinh này có công năng "nhổ sạch khổ não," dứt
trừ mọi nỗi khổ của chúng sanh.
Kinh
này dùng cái tâm TÍN và NGUYỆN với việc TRÌ DANH (tức là
Niệm Danh Hiệu của Đức Dược Sư) làm Tông Chỉ thiết yếu
tu hành. Chẳng có tâm Tín, chẳng đủ sức phát nguyện. Chẳng
phát nguyện, chẳng đủ sức đi đến chỗ thực hành. Chẳng
thực hành được cái hạnh tu mầu nhiệm Trì Danh thì chẳng
làm được cho mình mãn nguyện và chứng thực được cái
mà mình đã tin và làm theo vậy.
Quý
vị chớ cho rằng bộ kinh này tầm thường, bộ kinh này không
tầm thường chút nào cả. Ý nghĩa trong kinh chúng ta cần phải
suy nghĩ kỷ.
Đức
Dược Sư Lưu Ly Quang Phật chính là bực đại lương y, ngài
có thể kê toa tất cả những thứ bịnh gì trên thế gian
và xuất thế gian. Chúng sanh cần thuốc gì để trị lành
thời Ngài kê toa đúng như vậy mà không bao giờ sai trái.
Hôm nay, chúng ta đến đây nghe giảng kinh Dược Sư chính là
đang học cách trị lành bịnh cho chính mình. Chúng ta là những
chúng sanh đang mắc bịnh mà thứ bịnh này muốn trị khỏi
thì ngoài chính mình ra không ai có thể trị khỏi được.
Nên hôm nay chúng ta đến nơi này nghe giảng Kinh Dược Sư
tức là theo bậc đại lương y để học cách thức trị dứt
căn bịnh điên đảo và tăng thượng mạn vậy.
Chúng
ta uống vào toàn là thanh dược bực nhứt, khi uống vào liền
trị khỏi. Đây là những hộ trùng của chúng ta, chúng sẽ
tiến vào trong cơ thể, chúng không những không giết những
thứ vi trùng ăn hại bên trong, mà trái lại chúng còn giúp
cho 84.000 thứ phiền não của chúng sanh đều nhập diệt
hưởng được mùi vị Thường Lạc Ngã Tịnh của Niết Bàn.
Những hộ trùng sẽ nói, "bạn cứ yên tâm tôi vào đây không
có ý sát hại bạn vì tôi giết bạn rồi bạn lại giết
tôi như vậy chẳng có ý nghĩa gì? không khác nào vở
bi kịch của thế gian. Tôi quá mõi mệt trong vai diễn xuất
này rồi, và đã không còn muốn diễn nữa. Hoại trùng
nghe liền suy nghĩ , phải bạn này nói đúng cứ diễn như
vậy không có sự kết thúc thì chẳng có gì vị là thú vị.
sao bạn này được vào đây trong khi ta thì bị mọi người
muớn diệt trừ đi. Nghĩ như vậy, hoại trùng này tự nghĩ,
phải muốn được chơn lạc là không thể nào hướng ngoại
mà tìm, mà phải quay về với tâm của mình vì trong đó cất
chứa đủ mọi thứ vui.
Quí
vị nghĩ toa thuốc này có tuyệt diệu không? Thật là tuyệt
diệu, không những không làm tổn hại người khác mà lại
trị lành căn bịnh của mình nữa. Tuyệt diệu, thật là tuyệt
diệu, không sao nói hết.
Giải
Thích Đề Kinh
Tên
của bộ Kinh này là "Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện
Công Đức Kinh. "Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai" là Nhân (người),
"Bổn Nguyện Công Đức" là Pháp. Pháp cũng là một thứ "nghiệp."
"Bổn nguyện" chính là hành vi và nghiệp đã tạo trong
đời quá khứ, cũmg là những lời nguyện trong khi hành Bồ
tát Đạo. Nay chỉ lập lại những gì đã phát nguyện. "Công
Đức" là do sự huân tập những việc lành và dụng công mà
được thành tựu được.
Như
Lai một trong mười danh hiệu của Chư Phật. Tất cả Chư
Phật đều gọi là Như Lai; Vậy Như Lai nghĩa là gì? nghĩa
là người chẳng phải từ đâu đến, mà cũng chẳng đi về
đâu( biểu tượng cho Pháp Thân thường trú của Phật vậy).
Lại
nữa, "Như" là không có định hướng, không có một nơi chốn
cố định nào; "lai" là do sự cảm ứng đạo giao, nhân duyên
đã đến mà hiện ra, . Ðó gọi là "như lai."
"như"
là đạo lý Bổn Giác; "lai" là trí huệ của Thủy Giác. Bởi
lý Bổn Giác khế hợp với trí Thủy Giác, cho nên gọi là
"như lai."
Khi
Phật còn tại thế, Ngài thường dùng danh từ Như Lai
để xưng cho mình khi giảng Kinh, thuyết pháp,tránh sử dụng
chữ Ta và Tôi, đó cũng là một phong cách biểu lộ sự
khiêm tốn của Ngài.
"Kinh"
có bốn ý nghĩa là: Quán, Nhiếp, Thường, và Pháp.
1.
"Quán" là "quán xuyên sở thuyết nghĩa"; nghĩa là nối kết
những nghĩa lý đã được thuyết giảng lại với nhau. Cũng
giống như tràng chuỗi niệm Phật, các đạo lý trong Kinh được
liên kết với nhau từng chữ, từng chữ một.
2.
"Nhiếp" là "nhiếp trì sở hóa cơ," nghĩa là thâu phục, dẫn
dắt tất cả chúng sanh có căn cơ và đã sẵn sàng để đón
nhận sự giáo hóa.
3.
"Thường". Thế nào gọi là "thường"? " nghĩa là từ xưa đến
nay không hề biến đổi thì gọi là "thường." Những đạo
lý chứa đựng trong Kinh vốn bất biến, trong quá khứ đã
không thay đổi, ngay hiện tại cũng không thể thay đổi, và
trong tương lai cũng sẽ không thay đổi, cho nên gọi là thường.
4.
"Pháp". "Tam thế đồng tuân viết Pháp," nghĩa là những gì
mà tam thế đều đồng lòng tuân theo thì gọi là "Pháp." "Tam-thế"
là ba đời: Quá khứ, hiện tại và vị lai. Tất cả chúng
sanh trong ba đời đều tôn thờ và noi theo giáo pháp trong Kinh
mà tu hành. Như vậy, trong bảy loại lập đề, bộ Kinh này
thuộc loại Nhân Pháp Lập Ðề(Lấy tên của người mà đặt
tên đề của Kinh).
Truyền
Dịch Sử Giả
Truyền
dịch sử giả là giới thiệu người đã công phiên dịch
ra bộ Kinh.Thời đại nhà Ðường, Tam tạng pháp sư Huyền
Trang dịch.
Giảng
Giải Văn Nghĩa
Là
phần giải thích Kinh văn vậy. Trước khi vào kinh văn chúng
ta nên trì danh hiệu Dược Sư Phật vì ngài là người được
nói đến trong kinh, cho nên cần phải thành tâm mà niệm.
Nam
Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật.
Đã
niệm danh hiệu của người được nói, vậy chúng ta cũng
phải nên niệm người nói ra bộ kinh này, ai là người nói
ra bộ kinh này? Chính là Đức Bổn Sư của chúng ta, phải
có lòng thành để niệm;
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đã
trì niệm người bị được nói đến và người nói ra bộ
kinh này. Bây giờ cũng phải cần niệm người thỉnh Pháp,
và kiết tập kinh điển, chúng ta hôm nay có được bộ kinh
này là nhờ người thỉnh Pháp và người kiết tập,
người thỉnh Pháp chính Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi và người
kiết tập kinh điển chính là Tôn Giả A Nan, nên đem lòng
thành mà niệm.
Nam
Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam
Mô A Nan Đà Tôn Giả.
Nam
Mô Bổn Sư Tuyên Hóa Tỳ Kheo Bồ Tát.
KINH DƯỢC SƯ LƯU
LY QUANG NHƯ LAI
BỔN NGUYỆN CÔNG
ĐỨC
Ta
nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Bạt Già Phạm đi châu
du giao hóa các nước, đến thành Quảng Nghiêm, dừng nghĩ
dưới cây Nhạc Âm cùng với tám ngàn vị đại Tỳ Kheo, ba
vạn sáu ngàn vị Ðại Bồ Tát, các hàng Quốc Vương, đại
thần, bà la môn, các hàng cư sĩ, thiên long bát bộ cùng nhơn,
phi nhơn, cả thảy đại chúng nhiều vô lượng, đồng vây
quanh Phật cung kính thỉnh Ngài thuyết pháp.
"Như
vậy" hay "như thị", là từ chỉ cho pháp; ngụ ý rằng
pháp như vậy thì tin được, còn pháp không như thị thì không
đáng tin. Hiện tại, pháp này gọi là pháp "như thị" - đây
là thứ pháp đáng tin cậy. "Như thị" cũng là từ khẳng định
rằng pháp đích thực là như vậy, tuyệt đối không được
sửa đổi, thêm hay bớt.
"Tôi
nghe như vầy" chính là một trong bốn câu trả lời của
Ðức Phật mà Đức A Nan đã hỏi Phật trước khi Phật
nhập Niết Bàn. Lúc bấy giờ, sau khi nghe Phật cho biết là
Phật sắp nhập Niết Bàn, Tôn Giả A Nan khóc đến nỗi đầu
váng mắt hoa, tâm trí bấn loạn, quên hãn hết mọi việc.
Trong khi đó, Tôn Giả A Na Luật, nhục nhãn tuy không có nhưng
Ngài chứng được Thiên Nhãn Thông nên Ngài rất sáng tỏ,
lúc bấy giờ Ngài hết sức trầm tĩnh; Ngài bảo Tôn Giả
A Nan phải thỉnh vấn Phật về bốn việc quan trọng, để
khi Phật nhập diệt rồi lấy ai thưa hỏi đây, khóc không
giải quyết được vấn đề gì cả.Bốn việc đó là việc
vì?
1.
Thứ nhất, khi kết tập kinh điển, mở đầu Kinh văn nên
dùng chữ gì làm tiêu biểu cho tất cả kinh tạng;
2.
Thứ hai, khi Phật còn tại thế thì các đệ tử đều an trú
cùng một nơi với Phật, vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn
thì họ phải sống với ai;
3.
Thứ ba, khi Phật còn trụ thế thì Phật là Thầy, vậy sau
khi Phật nhập Niết Bàn thì nên tôn ai làm Thầy;
4.
Thứ tư, nên đối phó như thế nào với các Tỳ Kheo có tánh
tình xấu ác?
Khi
ấy, Ðức Phật trả lời rằng:
- Thứ
nhất, khi kết tập kinh tạng, hãy dùng bốn chữ "Như thị
ngã văn" (Tôi nghe như vầy) để mở đầu cho tất cả các
bộ kinh;
- Thứ
hai, hãy nương theo Tứ Niệm Xứ mà an trú. Tứ Niệm Xứ chính
là Thân, Thọ, Tâm và Pháp - quán thân bất tịnh, quán thọ
thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã;
- Thứ
ba, khi Phật còn tại thế thì Ðức Phật là Thầy; Khi Phật
nhập Niết Bàn rồi thì lấy Ba La Ðề Mộc Xoa làm Thầy.
- Thứ
tư, đối với các Tỳ Kheo tánh ác không nên nói chuyện
với họ và không để ý đến họ.
Câu
"Tôi nghe như vầy" được dùng nhằm xóa tan mọi nghi vấn
trong lòng đại chúng. Lúc Ðại Hội Kết Tập Kinh Tạng khai
mạc, Tôn Giả A Nan không được mời tham dự. Sau đó, khi
đã chứng được Tứ Quả A La Hán, vì không có ai mở cửa
cho vào, Tôn Giả A Nan bèn đi xuyên qua cửa và tiến vào hội
trường để tham gia Ðại Hội Kết Tập Kinh Tạng. Những
người tham dự cuộc kết tập kinh tạng tuy đã chứng quả,
nhưng trí nhớ của họ đều không bằng Tôn Giả A Nan. Ngài
A Nan là "đại quyền thị hiện" - giấu thật hiện quyền,
thị hiện thiện xảo phương tiện. Tôn Giả A Nan đã từng
làm thị giả cho tất cả chư Phật xuất thế trong quá khứ,
được thân cận hết thảy chư Phật. Khi Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni thành Phật, Tôn Giả A Nan cũng xuất thế để làm
thị giả cho Phật; và vị thị giả ấy chính là người được
chuẩn bị cho công cuộc kết tập kinh tạng sau này.
Ðương
thời, lúc Tôn Giả A Nan vừa bước lên Pháp tòa, trong đại
chúng lập tức dấy khởi ba mối nghi ngờ:
Một
là nghi đó là Phật Thích Ca sống lại.
Hai
là nghi đó là Phật phương khác đến.
Ba
là hoài nghi Đức A Nan đã chứng quả thành Phật.
Nhưng
khi Tôn Giả A Nan nói lên bốn chữ "Như Thị Ngã Văn" thì
ba mối nghi ấy liền tan biến, không còn vướng mắc
trong tâm trí mọi người nữa.
Câu
"Tôi nghe như vầy" được dùng bởi bốn nguyên do:
1)
Ðoạn chúng nghi: dứt trừ mọi nghi ngờ;
2)
Tuân Phật chúc: tuân theo lời dặn dò của Ðức Phật;
3)
Tức tranh luận: chấm dứt mọi tranh cãi.
Khi
kết tập kinh tạng, ngài A Nan tuổi vẫn còn rất trẻ. Một
người trẻ tuổi mà đứng ra chủ trì việc kết tập kinh
tạng thì có thể những bậc Trưởng Lão như Tôn Giả Ca Diếp,
Kiều Trần Như, Tu Bồ Ðề sẽ nói: "Ông ấy còn trẻ
như thế thì có kinh nghiệm, kiến thức gì mà đòi kết tập
kinh điển ư?"
Nếu
Ngài A Nan nói kinh điển là do chính Ngài tự viết ra thì sẽ
không tránh khỏi sự tranh luận: "Những điều ông nói hoàn
toàn không đúng, Ðức Phật không hề nói như vậy!" Nhưng
khi Ngài A Nan nói "Tôi nghe như vầy," thì mọi người đều
không tranh cãi nữa; vì sao? Vì bốn chữ ấy ngụ ý rằng
tất cả những gì Ngài A Nan sắp sửa nói ra chỉ là nóit
lại những gì mà chính Ngài đã được nghe từ kim khẩu của
Ðức Thế Tôn, chứ không phải do Ngài bịa đặt; nhờ thế
mà chấm dứt mọi tranh luận!
4)
Dị ngoại đạo: để khác biệt với ngoại đạo. Lý thuyết
mà các Luận Sư ngoại đạo thường dùng là: "Tất cả vạn
pháp của thế gian đều không ngoài hai chữ 'hữu (có), vô
(không)'."
Nếu
nói "có," tức là vạn pháp đều hiện hữu; còn nói "không,"
tức là vạn pháp đều không hiện hữu. Bởi họ cho rằng
hết thảy các pháp đều nằm trọn trong một chữ "có" và
một chữ "không," nên kinh điển ngoại đạo dùng hai chữ,
"có" và "không"
Để
phân biệt với pháp ngoại đạo, Ðức Phật dạy phải dùng
bốn chữ "Tôi nghe như vầy" để mở đầu cho các kinh văn,
ý nói rằng: "Chính tôi, A Nan, từng được nghe Phật nói Pháp
như thế này".
Kinh
Phật thuyết đều hội đủ sáu chủng tín thành tựu ( lục
chủng tín thành tựu).
Sáu
thứ chủng tín thành tựu là:
Thứ
Nhất: Tín thành tựu (như thị)
Thứ
Hai: Văn thành tự (Ngã văn)
Thứ
Ba: Thời thành tựu (Một thưở nọ)
Thứ
Tư: Chủ thành tựu ( Phật)
Thứ
Năm: Xứ thành tựu ( Thành Quảng Nghiêm)
Thứ
Sáu: Chúng thành tựu (8.000 đại Tỳ Kheo, ba vạn sáu ngàn
đại Bồ Tát......)
Phật
thuyết Pháp phải có người thỉnh Pháp, vậy ai thỉnh Phật
thuyết Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức
này? mở đầu Kinh văn đã nói là có "tám
ngàn vị đại Tỳ Kheo, ba vạn sáu ngàn vị Ðại Bồ Tát,
các hàng Quốc Vương, đại thần, bà la môn, các hàng cư sĩ,
thiên long bát bộ cùng nhơn, phi nhơn, cả thảy đại chúng
nhiều vô lượng, đồng vây quanh Phật cung kính thỉnh Ngài
thuyết pháp". Tám ngàn vị Đại Tỳ
Kheo, tám ngàn là con số mà chúng ta có thể tín biết được,
viết được, tam vạn lục thiên Đại Bồ Tát, 1 vạn là 10
ngàn như vậy là có 36,000 vị đại Bồ tát dự Pháp Hội
Phật thuyết kinh Dược Sư.
Không
phải chỉ có một Quốc Vương mà có những Quốc Vương ở
nước lân cận cũng đến dự pháp hội này. Quốc Vương (
Vua) là người có quyền thế trong cả nước.
Ngoài
Quốc Vương ra cũng có những đại thần cùng đến dự hội.
Bà
La Môn là tôn giáo ngàn xưa của Ấn Độ. Trung Quốc dịch
là Tịnh Duệ. Bà La Môn là hàng Đạo Sĩ. Sát Đế Lợi
là giòng Vua Chúa. (võ sĩ)
Cư
Sĩ là những người quy y Tam Bảo theo giáo pháp của Phật
mà tu hành tại gia.
Tám
bộ chúng(Thiên Long Bát Bộ) là: thiên, long, dạ xoa, càn thát
bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà. Thiên và long
là 2 loại đứng đầu trong tám bộ nên nói hai loài này
để xưng tám bộ chúng.
Người
và không phải người cả thảy đại chúng nhiều vô lượng
vây quanh Phật cung kính thỉnh Ngài Thuyết Pháp.
Vô
Lượng là con số không đếm được nên nói vô lượng chúng
vây Phật để thỉnh Phật nói pháp.
Lúc
bấy giờ, ông Mạn Thù Thất Lợi pháp vương tử nhờ oai
thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, vén y để bày
vai bên hữu và gối bên mặt quỳ sát đất, khép nép chắp
tay hướng về phía Phật bạch rằng:" Bạch Ðức Thế Tôn,
cúi mong Ngài nói rõ những danh hiệu, những bổn nguyện rộng
lớn cùng những công đức thù thắng của chư Phật để cho
những người đang nghe pháp, nghiệp chướng tiêu trừ và để
cho chúng hữu tình ở đời tượng pháp được nhiều lợi
lạc về sau.
Nhĩ
thời là lúc mà mọi người đã tụ hội lại ngồi yên
một chỗ để chờ nghe Phật thuyết pháp. Lúc đó ĐứcThế
Tôn chuẩn bị để thuyết pháp chúng hội nghe, thì có
vị Đại Bồ Tát đứng dậy bày vai bên hữu và gối bên
mặt quỳ sát đất hướng về đức Phật mà thưa "Thế Tôn
xin hãy Từ Bi giảng thuyết những danh hiệu, bổn nguyện rộng
rộng lớn và công đức trang nghiêm của chư phật để giúp
cho chúng hữu tình hưởng được nhiều lợi lạc về sau".
Ở đây nói rõ là vì chúng hữu tình mà thuyết. Bồ Tát Mạn
Thù Thất Lợi là ai? chính là Bồ tát Văn Thù Sư
Lợi.
Đó
là do đọc âm trại mà có sự sai khác. Mạn Thù Thất Sư
Lợi là tiếng Phạn, dịch là Diệu Cát hay Diệu Đức. Vị
Bồ-tát này là người có trí huệ hơn hết trong hàng Bồ-tát.
Bồ-tát dịch là Giác hữu tình, là một người giác ngộ
trong hàng chúng sanh; chúng sanh là mê hữu tình, chúng ta đây
là một loài mê muội trong loài hữu tình. Giác ngộ chính
là giác ngộ tất cả cảnh giới trước mặt. Thấy việc
gì có thể giác ngộ được tất cả cảnh giới thì có thể
ra khỏi thế gian. Còn thấy việc gì lại mê muội trong cảnh
giới ấy thì sẽ đọa vào trầm luân. Ra khỏi thế gian chính
là Bồ-tát, đọa lạc trầm luân chính là chúng sanh. Chỗ
khác nhau giữa chúng sanh và Bồ-tát chính là mê và giác mà
thôi. Cho nên Phật là người giác ngộ, tức là người giác
ngộ trong chúng sanh. Chúng ta cũng có thể nói Bồ-tát là người
giác ngộ, vì người giác ngộ là Bồ-tát, kẻ mê muội là
chúng sanh. Vị Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi này khi sanh ra có mười
việc cát tường, chứng tỏ rằng công đức của vị Bồ-tát
này đầy đủ bậc nhất trên thế giới. Mười thứ cát tường
ấy là:
1.
Ánh sáng đầy nhà
2.
Cam lộ đầy sân
3.
Đất trồi lên bảy báu
4.
Thần mở kho tàng ẩn giấu
5.
Gà sanh trứng phụng
6.
Heo sanh con vảy rồng:
7.
Ngựa sanh kỳ lân
8.
Trâu sanh bạch trạch
9.
Lúa biến thành vàng
10.
Voi đủ sáu ngà
Giáo
Pháp của Phậ trụ thế có ba thời kỳ, Thời kỳ Chánh Pháp,
Thời Tượng Pháp và thời kỳ Mạt Pháp.
Thời
kỳ chánh pháp là thời kỳ khi Phật ra đời về 1.000 năm
sau là thời kỳ chánh Pháp. Sau thời kỳ Chánh Pháp 1.000 là
thời kỳ tượng Pháp và sau thời kỳ Tượng Pháp 1.00 năm
nữa là thời kỳ Mạt Pháp. Chúng ta đang ở trong thời kỳ
Mạt Pháp.
Ðức
Thế Tôn khen Mạn Thù Thất Lợi đồng tử rằng:" Hay thay!
Hay thay! Mạn Thù Thất Lợi! Ngươi lấy lòng đại bi yêu cầu
Ta nói những bổn nguyện công đức của chư Phật là vì muốn
cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng ràng buộc, lợi
ích an vui, trong đời tượng pháp về sau.
Thế
Tôn là một trong mười danh hiệu của đức Phật, Thế là
thế gian Tôn là tôn quý là ngưuời được tôn quý nhứt trong
thế gian. Thế Tôn cũng có nghĩa là Thế là phía bên ngoài
tức chỉ cho chín pháp gìới, Tôn cũng nghĩa là tôn quý, như
vậy chẳng những Ngài là bậc tôn quý trên thế gian
mà trong chín pháp giới Ngài cũng là bậc tôn quý, không còn
ai có thể tôn quý hơn Ngài nữa.
"Thế
Tôn" cũng có một danh hiệu đặc biệt gọi là "Tam Giới Ðộc
Tôn Hiệu." "Tam Giới" tức là ba cõi Dục Giới, Sắc Giới
và Vô Sắc Giới. "Ðộc Tôn" có nghĩa là chỉ có Phật mới
là bậc tôn quý nhất.
Phật
khen đức Văn Thù Sư Lợi hai tiếng "lành thay! lành thay".Tại
sao Phật lại khen Bồ Tát Văn Thù? Vì Ngài dùng lòng
đại từ bi mà thỉnh Phật nói ra những bổn nguyện công
đức của chư Phật, hầu giúp cho chúng sanh ra khỏi vòng
nghiệp chướng, được lợi ích an vui trong thời hiện tại
và tượng pháp về sau.
Nay
ngươi nên lóng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ông mà nói".Ông
Mạn Thù Thất Lợi bạch rằng:" Dạ, mong Thế Tôn nói, chúng
con xin nghe". Phật bảo ông Mạn Thù Thất Lợi:" Ở phương
Ðông cách đây hơn mười căn dà sa cõi Phật có một thế
giới tên là Tịnh Lưu Ly.Quốc Độ đó có Phật hiệu là:
Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh
viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều
ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Bạt Già Phạm.
Phật
khen Ngài Mạn Thù Thất Lợi xong, rồi bảo Bồ Tát Mạn Thù
Thất Lợi rằng: lóng nghe và phải khéo suy nghĩ kỹ. Tại
sao dùng chữ khéo suy nghĩ kỹ? Vì những gì Đức Phật sắp
nói ra đây đều là những công hạnh viên mãn thù thắng của
Chư Phật, không thể dùng trí tầm thường mà có thể biết
được. Chúng ta khi đọc kinh Dược Sư nên nghiền ngẫm cho
kỹ đạo lý trong kinh. Vì đây là những hạnh nguyện
không thể nghĩ bàn của đức Như Lai mà chúng ta không chứng
biết được. Chúng ta thấy đó, ngay cả Bồ Tát Văn
Thù Sư Lợi là bậc Bồ Tát có trí tuệ không thể nghĩ bàn
như vậy mà Phật còn nói với Ngài phải suy nghĩ cho kỹ những
gì Như Lai sẽ vì ông và chúng sanh trong đời hiện tại và
sau này mà diễn thuyết.Còn chúng ta thì sao?Trí tuệ của chúng
ta có được như Bồ Tát Văn Thù Không?
Phật
bảo Ngài Mạn Thù Thất Lợi , từ đây đi về Phương Đông
qua khỏi số cát của mười Sông Hằng(Gange) cõi Phật có
Thế Giới tên là Tịnh Lưu Ly. Quý vị thử tín thử xem, có
bao nhiêu số cát dưới sông Hằng? Ở đây Đức Phật cho
Ngài Mạn thù Thất Lợi biết là qua khỏi số cát của mười
con sông Hằng có Phật độ tên là Tịnh Lưu Ly, như vậy là
có bao nhiêu Phật độ, thiệt là không thể tín đếm được,
cũng không thể dùng ý nghĩ mà biết được.
Trong
Kinh Phật Thuyết A Di Đà, Phật giới thiệu cho chúng ta biết,
từ đây đi qua mười vạn ức cõi Phật ở Phương Tây có
quốc độ tên là Cực Lạc. Mười vạn ức cõi Phật chúng
ta có thể tín biết được, 1 vạn là 10,000, một ức là 10,000,000.
Lấy 10,000 x10 x10,000,000 = 1,000,000,000,000 thế giới.
Còn
quốc độ của đức Phật Dược Sư, chúng ta không thể nào
dùng bàn toán nào mà có thể tìm ra được đáp số.Phật
lại nói trong quốc độ đó có đức Phật tên là Dược Sư
Lưu Ly Quang Như Lai Ứng Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh viên mãn,
Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng
phu, Thiên nhơn sư, Phật Bạt Già Phạm.
Dược
Sư Lưu Ly Quang Phật.Chư Phật thành Phật đều gọi là Phật.
Phật là tên để xưng chung cho tất cả Chư Phật. Mỗi vị
Phật đều có tên riêng của mình; thí vụ Thích
Ca Mâu Ni Phật, A Di Đà Phật, Dược Sư Lưu Ly Quang Phật,
vậy Thích Ca Mâu Ni là tên riêng còn Phật là tên xưng chung
của chư Phật. A Di Đà là tên riêng, Dược Sư Lưu Ly Quang
là tên riêng vậy. Phật đều có mười danh hiệu giống nhau.
"Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn
Sư, Phật -Thế Tôn."
Nhưng
Trong Kinh này ghi Đức Dược Sư có 10 danh hiệu như vầy: như
lai, ứng, chánh đẳng giác, minh hạnh viên mãn, thiện thệ,
thế gian giải, vô thượng trượng phu, điều ngự sĩ, thiên
nhân sư, phật : bạc già phạm.
Như
vầy thì chúng ta cần lưu ý:
1.
Như lai,
2.
Ứng cúng,
3.
Chánh biến tri,
4.
Minh hạnh túc,
5.
Thiện thệ,
6.
Thế gian giải,
7.
Vô thượng sĩ,
8.
Ðiều ngự trượng phu,
9.
Thiên nhân sư,
10.
Phật - thế tôn.
Nhưng
đức hiệu Thế tôn, nếu dịch âm là Phật đà - lộ ca na
tha, và nguyên Phạn tự là Buddha-lokanatha, thì Phật - thế
tôn là 1 đức hiệu, nếu dịch âm là Bạc già phạm, và nguyên
Phạm tự là Bhagavan, thì Thế tôn là đức hiệu riêng : đấng
có 10 đức hiệu nên tôn xưng là Thế tôn. Ở đây, nguyên
Hán văn dịch âm là Bạc già phạm, thì Phạn tự là Bhagavan,
nên Thế tôn là đức hiệu riêng, và phải chấm câu như đã
chấm.
Dược
Sư Lưu Ly Quang được dịch phiên âm từ tiếng Phạn Bệ sát
xã lu lô. Dược chính y dược, Sư ở đây có nghĩa người
hiểu biết thông suốt tất cả y dược của thế gian và xuất
thế gian, ngài có thể trị hết tất cả những thứ bịnh
của chúng sanh, những thứ bịmh điên đảo hay ba độc như:
tham, sân, si. khi đến Ngài chúng ta sẽ được Ngài trị khỏi.
Một khi ngài cho toa đều làm cho chúng sanh dứt hết mọi thứ
bịnh và diệt trừ tất cả những thứ đảo điên của chúng
sanh.
Lưu
ly là tiếng Phạn, dịch là Thanh sắc bảo (báu màu xanh).
Quang
là ánh sáng. Đức Phật hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang, ánh
sáng của đức Phật thật không nghĩ bàn được trong ngoài
sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh
quang minh chói lọi khắp nơi Ngài chiếu đến đâu đều
làm cho chúng tử bịnh phải sợ và phá hết màn tâm tối
của chúng sanh đem lợi lạc và diệt tất cả những thứ
khổ của chúng sinh. Khiến cho họ lành bịnh thân tâm thanh
tịnh xã mê cận giác.
1)
Như Lai. "Như Lai" là một trong mười danh hiệu của Phật,
cũng có nghĩa là người đã theo gương của những người
có đức hạnh thưở trước.
"Như"
là "như vô phương sở"— không có định hướng, không có
một nơi chốn cố định đặc biệt; "lai" là "lai cảm nhi
hiện"—do sự cảm ứng đạo giao đến mà hiện ra. Ðó gọi
là "như lai.". Như lai cũng nghĩa là không từ đâu đến và
cũng chẳng đi về đâu.
Lại
nữa, "như" là đạo lý Bổn Giác; "lai" là trí huệ Thủy Giác.
Bởi lý Bổn Giác khế hợp với trí Thủy Giác, cho nên gọi
là "như lai."
2)
Ứng Cúng. "Ứng Cúng" có nghĩa là xứng đáng thọ nhận sự
cúng dường của trời và người—loài người ở nhân gian
và chư thiên ở cõi trời đều nên cúng dường Phật.
"Ứng
Cúng" có danh hiệu là "Kham Vi Phước Ðiền Hiệu," bởi Phật
có khả năng làm ruộng phước cho trời và người. Có hai
loại phước điền; đó là tự lợi (lợi mình) và lợi tha
(lợi người). "Tự lợi" tức là tự mình "nghiên chân, đoạn
hoặc"—tự nghiên cứu chân lý và dứt bỏ mọi nghi hoặc,
làm lợi ích cho chính bản thân mình. Một khi quý vị đã
hiểu thông suốt rồi, lại có thể đi giáo hóa tha nhân, khiến
mọi người đều lãnh hội được chân lý và đoạn trừ
được nghi hoặc, thì đó chính là "lợi tha" vậy.
3)
Chánh Biến Tri. "Chánh biến tri" có nghĩa là "vô sở bất tri,
vô sở bất hiểu"—không chỗ nào mà chẳng biết, không chỗ
nào mà chẳng thông hiểu.
Ở
đây, "chánh" là để phân biệt với "bất chánh" của ngoại
đạo, và "biến" (khắp cả) là để phân biệt với "bất
biến" (không cùng khắp) của Nhị Thừa. Hàng Nhị Thừa chứng
tới đạo lý thiên lệch về tánh "không," chưa đạt được
"biến"; cho nên đây là điểm bất đồng đối với Nhị Thừa.
"Tri" (biết) là điểm bất đồng so với hạng phàm phu—phàm
phu thì "bất tri" (không biết), còn bậc Chánh Biến Tri thì
"vô sở bất tri" (chẳng có gì mà không biết).
4)
Minh Hạnh Túc. "Minh" là minh bạch, rõ ràng; "hạnh" là tu hành.
"Minh" cũng chính là trí huệ; "tu hành" tức là phước. "Phước
huệ song túc"—phước được tròn đầy, huệ được viên
mãn—đó cũng chính là "minh hạnh túc" vậy.
Chữ
"minh" này lại có thể giải thích là "Tam Minh." "Tam Minh" là
gồm những gì? Ðó là Thiên Nhãn Minh (có được Thiên Nhãn
Thông), Túc Mạng Minh (biết rõ tất cả chuyện đời trước),
và Lậu Tận Minh (đạt được sự vô lậu, không còn phiền
não lậu hoặc).
"Minh
Hạnh Túc" cũng có một danh hiệu đặc biệt, gọi là "Quả
Hiển Nhân Ðức Hiệu"—tại quả vị, Ðức Phật hiển lộ,
thị hiện đức hạnh mà Ngài đã từng tu tập khi còn ở
nhân địa.
5)
Thiện Thệ, Thế Gian Giải. "Thiện" có nghĩa là tốt lành.
Chữ "thệ" ở đây đồng nghĩa với chữ "vãng," và có nghĩa
là ra đi.
"Thiện
Thệ, Thế Gian Giải" có danh hiệu là "Diệu Vãng Bồ Ðề
Hiệu." Vì sao gọi là "diệu vãng"? Ðức Phật đến mười
phương quốc độ của chư Phật một cách tốt lành và khéo
dùng quyền xảo phương tiện để giáo hóa chúng sanh, nên
được gọi là "Diệu Vãng Bồ Ðề Hiệu."
6)
Vô Thượng Sĩ. Ðây cũng là một trong mười tôn hiệu của
Phật. Vì sao gọi là "Vô Thượng Sĩ" (bậc không ai hơn được)?
Ðức Phật đã đoạn trừ mọi lậu hoặc—không còn kiến
hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc nữa; bởi mọi thứ "hoặc"
đều đã dứt sạch nên gọi là "Vô Thượng Sĩ." (Nếu còn
"hoặc" cần phải đoạn thì gọi là "Hữu Thượng Sĩ"!!!)
"Vô
Thượng Sĩ" cũng có một danh hiệu riêng, đó là "Thông Ngụy
Ðạt Chân Hiệu." Ðức Phật biết rõ nội thân cùng ngoại
cảnh thảy đều hư ngụy, giả tạm; duy chỉ có Phật Thừa
là chân thật; nên gọi là "Thông Ngụy Ðạt Chân Hiệu."
7)
Ðiều Ngự Trượng Phu. "Ðiều" là điều hòa; "ngự" là ngự
xa, tức là đánh xe. Thời xưa, người ta dùng ngựa để kéo
xe thì cần phải có người làm "ngự xa," tức là cầm roi
điều khiển ngựa; còn ở thời đại này thì lái xe hơi cũng
có thể gọi là "ngự xa" vậy!
"Ðiều
Ngự Trượng Phu" ở đây là "điều ngự" cái gì? Ðó là "điều
ngự" chúng sanh trong sáu đường, khiến cho họ đạt đến
Phật Quả Bồ Ðề, chứng được quả vị Phật. Vì thế,
đây là một bậc đại trượng phu vĩ đại nhất, có khả
năng điều khiển và dẫn dắt chúng sanh, đưa chúng sanh ra
khỏi vòng sanh tử, vượt thoát sáu nẻo luân hồi!
"Ðiều
Ngự Trượng Phu" cũng có một danh hiệu gọi là "Nhiếp Hóa
Tùng Ðạo Hiệu"; nghĩa là hóa độ chúng sanh, khiến cho tất
cả chúng sanh đều y theo con đường tu Ðạo chân chánh mà
tu hành.
8)
Thiên Nhân Sư. Ðức Phật là sư biểu, là bậc Thầy của
Trời và Người, là tấm gương của Tam Giới. "Thiên Nhân
Sư" cũng có một danh hiệu gọi là "Ứng Cơ Thuyết Pháp Hiệu";
nghĩa là ứng theo căn cơ trình độ và nhân duyên của chúng
sanh mà thuyết pháp.
9)
Phật. "Phật" là tên gọi tắt từ chữ "Phật Ðà Da" của
tiếng Phạn; bởi người Trung Hoa thích đơn giản nên chỉ
gọi là "Phật."
"Phật"
cũng có một tên hiệu gọi là "Tam Giác Viên Minh Hiệu." "Tam
giác" là ba loại giác ngộ—Tự Giác, Giác Tha và Giác Hạnh
Viên Mãn. Bởi "tam giác viên, vạn đức bị"—ba giác trọn
vẹn, muôn đức đủ đầy—cho nên được thành Phật.
10)
Bạt Già Phạm là tiếng phạn. Bạt Già trung hoa dịch là Phước
Trí, Phạm là Cu, là đấng đầy đủ Phước Trí tức chỉ
cho Phật.
Này
Mạn Thù Thất Lợi, đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi
còn tu hạnh đạo Bồ tát có phát mười hai nguyện lớn, khiến
cho chúng hữu tình cầu chi được nấy.
Phật
lại bảo cho ngài Mạn Thù Thất lợi biết rằng: Đức Phật
Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi còn tu hạnh Bồ Tát đạo,
quán sát thấy chúng sinh chịu mọi thứ đau khổ nên Ngài
phát ra 12 đại nguyện khiến chúng hữu tình cầu chi được
nấy.Cầu những gì Ngài đều ban cho họ.
Đại
Nguyện thứ nhất: Ta nguyện đời sau, khi chứng đặng
đạo chánh đẳng chánh giác, thân ta có hào quang sáng suốt,
rực rỡ, vô biên thế giới, khiến cho tất cả chúng hữu
tình đều có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, cùng
tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của ta vậy.
Nguyện
thứ nhất, Đức Phật Dược Sư nguyện khi Ngài được tuệ
giác Vô Thượng, thân có hào quang sáng suốt, rực rỡ, chiếu
soi vô số thế giới, thân Ngài đầy đủ ba mươi hai tướng
tốt và tám mươi vẻ đẹp và ánh sáng đó làm cho tất cả
chúng sanh đều được như Ngài vậy.
Đại
Nguyện thứ hai: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ
đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch
hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói rọi khắp
nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt
bằng tia sáng, tỏ hơn vừng nhựt nguyệt. Chúng sanh trong cõi
u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và
tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì
cũng đều được cả.
Nguyện
này có ý Nghĩa thật thâm diệu. Ngài nguyện, khi Ngài
thành Phật ánh sáng của ngài rọi khắp nơi "quang minh quảng
đại". Quảng là rộng, Đại là lớn. Vậy rộng lớn bao nhiêu
nè? Ồ! không biết? Rộng đến khi nào cùng khắp tất cả,
bao trùm khắp Pháp giới. Không chiếu nơi nào, mà nơi nào
cũng có nó.Đây mới thật là "quang minh quảng đại". Lại
nữa, "quảng đại" chính là không có chiếu đến một nơi
nào cả, vì không chiếu đến nơi nào nên gọi là quảng đại.
Phật Pháp thật là kỳ diệu không thể nghĩ bàn. Cái Tâm
của chúng ta thật là nhỏ bé, nhưng nó cũng rộng khắp mười
phương bao trùm khắp Pháp Giới. Tuy nhiên, nó nằm trong ánh
sáng của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, mà không
có cách nào có thể chạy ra khỏi ánh sáng Ngài.
Mặt
trời, mặt trăng là hai hành tinh có ánh sáng hơn các vị sao,
nên nói cả hai ánh sáng nầy phát ra cũng không bằng ánh sáng
của Đức Dược Sư phát ra "quá ư nhựt nguyệt" quá là trội
hơn. Chúng sanh sống trên quả địa cầu này đều nhờ ánh
sáng của mặt trời mà dựng sự nghiệp. Chúng sanh sống
trong màn đen tối chỉ cho chúng ta là những chúng sinh sống
trong màn vô minh, tà tri tà kiến không thấu suốt, cứ đi
ra đi vào dậm một chỗ. Nay Bồ Tát nguyện, khi thành Phật
Ngài nhứt định dùng ánh sáng này giúp cho họ chiếu soi Pháp
giới cho họ đi trên con đường sáng suốt và đến nơi đâu
cũng chẳng cần phải sợ, vì đã có ánh sáng của Ngài che
chở. Muốn làm việc gì cũng được toại.
Đại
Nguyện thứ ba: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ
đề, dùng trí huệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho
chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ vật dụng, chớ
không cho ai phải chịu sự thiếu thốn.
Bồ
Tát nguyện khi thành Phật, dùng trí tuệ phương tiện vô lượng
vô biên để độ chúng sanh, giúp cho ai ai cũng đều đủ vật
dụng , không để cho một ai phải chịu sự thiếu thốn. Nguyện
này phát ra bởi lòng Từ Bi vô hạng, vì sao? vì nếu chúng
sanh thiếu thốn thì sanh tâm thích thú đấm nhiễm lục trần.Tâm
Tham, Tâm Sân và Tâm Si khởi dậy. Muốn giúp họ diệt được
ba thứ nhân ác( tham, sân, si) để tránh thọ ác quả về sau(địa
ngục, ngạ quỉ và súc sinh) nên Ngài phát ra đại nguyện
này.
Tham
Sân Si là ba thứ ác tặc ( vì nó cướp lấy những công đức
mà chúng ta vung trồng), vì nó mà chúng sanh bị trôi trong ba
đường sáu nẻo. Chúng ta phát tâm tu đạo, nên ngày đêm
vè vặt phòng thủ cái tâm nầy để tránh quả về sau. Tuy
nhiên chúng ta không cần phải lo sợ quá, vì Đức Dược Sư
Lưu Ly Quang Như Lai cũng biết như vậy, nên Ngài đã phát ra
Đại nguyện để thầm giúp chúng ta có đầy đủ những thứ
vật dụng mà chúng ta cần (vô tận sở thọ). Vì có đủ
vật dụng nên chúng ta không sanh ra ba thứ tâm. Tâm tham, tâm
sân, tâm si, vì vậy mà không có tâm trộm cắp, Tâm dâm dục,
tâm nói láo. Lòng Từ Bi của Đức Như Lai vô hạng, không
những không diệt trừ bọn chúng mà Ngài lại giúp chúng ta
làm cho chúng Nhập Niết Bàn. Sống trong Pháp Giới (Giới),
vì sống trong Pháp Giới nên tự nhiên sanh ra Từ Bi Hỷ Xã.
Biết tất đều là mộng ảo chúng theo duyên mà thành cũng
theo duyên mà diệt, nên không truy cầu chúng nữa (Định),
vì có tứ vô lượng tâm, có đủ mà dừng nên không sanh đắm
nhiễm trước cảnh trần(Trí Tuệ).
Đại
Nguyện thứ tư: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ
đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì ta khiến
họ quay về an trụ trong đạo Bồ đề, hoặc có những người
tu hành theo hạnh Thinh văn, Ðộc giác, thì ta cũng lấy phép
đại thừa mà dạy bảo cho họ.
Bồ
Tát nguyện khi thành Phật, những chúng sanh tu theo tà đạo,
thì Ngài khiến cho họ quay về an trụ trong đạo Bồ Đề(Giác).
Tà đạo là giáo lý sai lầm không làm cho chúng sinh giác ngộ,
nó làm cho chúng sinh điên đảo trôi lăn 6 nẻo luân hồi.
Giáo lý không hợp với chơn lý. Những người tu theo tà đạo,
Bồ Tát nguyện khi thành Phật. Chúng sanh thấy Ngài và nghe
danh Ngài thì tự nhiên theo sự thu hút đó mà khiến họ hiểu
đó là sự hiểu sai lầm, tà tri tà kiến mà quay về với
sự hiểu biết chơn chánh, chánh tri chánh kiến.
"Thanh
Văn" Thanh là Âm Thanh Văn là nghe, ý nói quả vị Thanh
Văn do nghe Pháp Tứ Đế mà chứng quả (Thuộc về Tiểu Thừa).
Tứ
Diệu Đế là :
Thứ
Nhất: Khổ Đế
Thứ
Hai: Tập Khổ Đế
Thứ
Ba: Diệt Khổ Đế
Thứ
Tư: Đạo Đế
Khổ
Đế là chân lý nói sự khổ
Tập
Khổ Đế - chân lý sự phát sinh của khổ
Diệt
Khổ Đế - Chân lý về diệt khổ
Đạo
Đế - Chân lý về con đường diệt khổ
"Độc
Giác" là người sanh ra không gặp Phật, họ quán pháp nhân
duyên mà giác ngộ nên gọi là Độc Giác (cũng thuộc về
Tiểu Thừa).
Đại
Nguyện thứ năm: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ
đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở
trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì ta
khiến cho tất cả đều giữ được giới pháp hoàn toàn đầy
đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội
hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu ta thì
trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác.
Bồ
Tát nguyện, nếu có chúng sanh nào ở trong giáo pháp của Ngài
mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì Ngài khiến cho tất cả
những nguời đó đều được giới pháp hoàn toàn đầy đủ
ba loại tịnh giới.
Tam
tụ tịnh giới là:
Thứ
nhứt: Nhiếp luật nghi giới - thu nhiếp giới luật và oai
nghi của Phật chế ra
Thứ
Hai: Nhiếp thiện pháp giới - thu nhiếp tất cả thiện pháp
Thứ
Ba: Nhiêu ích hữu tình giới - làm lợi ích cho tất
cả chúng sanh
Giả
như có người ở trong giáo pháp của Phật(Dược Sư) mà huỷ
phạm giới thay vì đọa vào ba đường ác, nhưng khi những
hạng người này nghe được danh hiệu của ngài thì do sức
thệ nguyện của ngài mà khiến cho những người đó sanh tâm
hổ thẹn sám hối. Không dám hủy phạm nên được thanh tịnh
trở lại mà khỏi đọa vào đường ác.
Đại
Nguyện thứ sáu: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo
Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các
căn, không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói
năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lát hủi, điên cuồng,
chịu tất cả những bệnh khổ ấy mà khi đã nghe danh hiệu
ta thì liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan,
các căn đầy đủ, không còn những bịnh khổ ấy nữa.
Chúng
sanh chịu nhiều những thứ khổ như thế, nhưng khi nghe được
danh hiệu Dược Sư Như Lai thì điều được đoan chánh. Đó
là hiểu theo nghĩa. chúng ta có thể hiểu như vậy;" thân hèn
hạ" là những chúng sanh không biết sự liêm sĩ, làm những
việc không chơn chánh. " các căn không đủ xấu xa, khờ khạo,
tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền,
lát hủi, điên cuồng" là những chúng gieo đầy tội ác, tuy
có sáu căn không khác vì hành vi của cầm thú.
Đại
Nguyện thứ bảy: Ta nguyện đời sau, khi chứng được
đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng
bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ,
không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà
cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà hễ nghe danh
hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn
khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy,
của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng
Bồ đề.
Đại
Nguyện thứ tám: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo
Bồ đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ
khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sanh tâm
nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi
thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai,
có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo
quả vô thượng Bồ đề.
Nếu
có người nữ nào sanh tâm chán thân nữ nhơn, khi nghe được
danh hiệu của Như lai, kiếp về sau cho đến khi thành Phật
cũng sẽ không sanh làm nữ nhân nữa, có đủ 32 tướng tốt,
80 vẻ đẹp và lần lần chứng Quả vị Phật.
Đại
Nguyện thứ chín: Ta nguyện đời sau, khi chứng được
đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình ra khỏi vòng
lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc
của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến,
ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần họ
tu tập theo các hạnh Bồ tát đặng mau chứng đạo chánh đẳng
Bồ đề.
Bồ
tát nguyện, khi thành Phật chúng sanh phát tâm chánh tín đối
với ngài, thì đều được xa lìa ác đạo và những sự buồn
phiền của chúng sanh đều được tiêu diệt, nếu có ai tin
theo thuyết ngoại đạo tà tri tà kiến nhưng khi được
nghe danh hiệu của Ngài và do sự bổn nguyện của ngài nên
những người này trở về với chánh kiến phát tâm tu hành
Bồ tát Đạo đến khi thành Phật cũng không thối lui.
Đại
Nguyện thứ mười: Ta nguyện đời sau, khi chứng được
đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào mà pháp luật
nhà Vua gia tội phải bị xiềng xích, đánh đập, hoặc bị
giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị
nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn
rầu, bức rức, hễ nghe đến danh hiệu ta, thì nhờ sức oai
thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả
những nỗi ưu khổ ấy.
Những
chúng sanh chịu nhiều khổ hình như vậy, nhưng khi nghe danh
hiệu của ngài thì đều thoát khỏi những khổ nạn đó,
cũng tức chỉ cho những chúng sanh đang gieo những nghiệp ác
và sẽ đọa vào địa ngục chịu khổ như vậy, hễ nghe được
danh hiệu Như Lai thì đều được giải thoát cả.
Đại
Nguyện thứ mười một: Ta nguyện đời sau, khi chứng được
đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào bị sự đói
khát hoành hành, đến nỗi vì tạo miếng ăn phải tạo các
nghiệp dữ, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi chuyên niệm thọ
trì thì trước hết ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố
cho thân họ được no đủ và sau ta mới đem pháp vị nhiệm
mầu kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn.
Có
người vì miếng ăn mà sanh tâm sát hại chúng sanh khác để
thỏa mãn lòng ích kỷ của mình, vì sát hại chúng sanh cho
nên kết thành nghiệp ác, Bồ Tát vì những chúng sanh này
phát nguyện khi thành Phật. Những ai phát tâm tin tưởng niệm
trì danh hiệu của thì Ngài thì Như lai bang cho họ những thức
ăn thanh tịnh không cò vị thọ quả ác sau này, và dùng phương
tiện cứu độ họ khiến cho được thanh tịnh hoàn toàn.
Cũng tức là chỉ cho loài ngạ quỷ.
Đại
Nguyện thứ mười hai: Ta nguyện đời sau, khi chứng được
đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào nghèo đến
nổi không có áo che thân bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh
giải dầu, ngày đêm khổ bức, hễ nghe đến danh hiệu ta
mà chuyên niệm thọ trì thì ta khiến cho được như ý muốn:
nào các thứ y phục tốt đẹp, nào tất cả bảo vật trang
nghiêm, nào tràng hoa, phấn sáp bát ngát mùi thơm và trống
nhạc cùng những điệu ca múa tùy tâm muốn thưởng thức
món nào cũng được thỏa mãn cả.
Hạnh
nguyện sâu xa đều vì chúng sanh mà phát ra, vì muốn cho chúng
sanh hết khổ nên Bồ Tát phát ra những nguyện sâu rộng như
vậy.chúng ta cần phải nên suy nghĩ những nghĩa ý của kinh
văn. 12 nguyện rộng sâu đều vì chúng sanh mà phát ra, thật
ân đức của Như Lai chúng chúng ta không có cách nào để
báo đáp, tuy nhiên chúng ta là những người đang nghe kinh ở
đây còn đỡ hơn những chúng sanh khác, cũng đã báo đáp
được một phần nào rồi đó.
Giảng
đến đây, tôi rất là hoan hỷ nên muốn làm bài kệ;
Đông
Phương Giáo Chủ Tịnh Lưu Ly,
Mười
hai đại nguyện rộng sâu biển trời
Diệt
nhứt thiết bịnh khổ chư nhgiệp ác
Chúng
sanh hưởng được niềm an lạc,
Xa
lìa bể khổ ngộ Niết Bàn
Chân
Quang Thanh tịnh tức Phật Dược Sư
Thân
sáng ngời trùm Ba Cõi
Diệu
Trí, dùng nhiều phương tiện
Diễn
Thuyết Đại Thừa tiếng Ma Ha
Quy
y kính lễ cùng ca tụng
Trăm
ngàn vạn ức kiếp cũng chưa hết
Hạnh
nhiệm mầu của Phật Dược Sư
Nguyện
con và chúng sanh cùng thấu rõ
Pháp
nhiệm mầu phương tiện của đấng Pháp Vương.
Này
Mạn Thù Thất Lợi, đó là mười hai lời đại nguyện nhiệm
mầu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Ứng Chánh Ðẳng
Chánh Giác phát ra trong khi tu hạnh đạo Bồ tát.
Khi
Phật tuyên thuyết về mười hai đại nguyện của Đức Dược
Sư Phật xong, Phật gọi này Mạn Thù Thất Lợi! đó là mười
hai đại nguyện của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Ứng
Chánh Đẳng Giác phát ra trong khi Ngài còn đang hành Bồ Tát
đạo.
Lại
nữa, Mạn Thù Thất Lợi, đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
kia khi còn tu hành đạo Bồ tát phát những lời nguyện rộng
lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu ta nói
mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nói ngay rằng
cõi Phật kia một bề thanh tịnh không có đàn bà, cũng không
có đường dữ và cả đến tiếng khổ cũng không. Ở cõi
ấy đất toàn bằng chất lưu ly, đường đi có dây bằng
vàng giăng làm ranh giới, còn thành quách cung điện, mái hiên
cửa sổ cho đến các lớp bao phủ cũng toàn bằng đồ thất
bảo làm ra. Thật chẳng khác gì những công đức trang nghiêm
ở cõi Tây Phương Cực Lạc.
Phật
nói cho Ngài Mạn Thù Thất Lợi biết rằng: đức Phật Dược
Sư khi còn hành Bồ Tát đạo phát ra những lời thệ nguyện
rộng lớn và những công đức để trang nghiêm ở cõi của
Ngài, dù cho đức Như Lai có nói mãn một kiếp hay hơn
một kiếp (kiếp dư) cũng không thể nào diễn thuyết cho hết.
Kiếp;
tiếng Phạn tự là kalpa, Phiên âm: kiếp ba, nghĩa là: trường
thời (thời kỳ dài). Kiếp có tiểu kiếp, trung kiếp và đại
kiếp. Sự sống con người bắt từ 10 tuổi, mỗi một trăm
năm thì tăng thêm một tuổi, tăng đến 84.000 tuổi gọi là
kiếp tăng. Tăng đến 84.000 tuổi thời dừng lại, rồi mỗi
một trăm năm thì giảm đi một tuổi. Giảm đến 10 tuổi
thì dừng gọi là kiếp giảm. Con người mỗi lần giảm thì
thấp đi một inch.Mỗi kiếp tăng hay mỗi 1 kiếp giảm gọi
là tiểu kiếp; mỗi 1 tăng và giảm gọi là trung kiếp (4 thời
kỳ thành, trụ, hoại, không, mỗi thời kỳ có 20 trung kiếp);
4 trung kiếp là 1 đại kiếp.
Phật
nói cho Ngài Mạn Thù Thất Lợi biết thế giới của Đức
Phật đó trang nghiêm thanh tịnh vô cùng không có nữ nhân,
cũng không có ba đường dữ cả đến tiếng khổ cũng không
có. Ba đường dữ là: Địa Ngục, Ngạ Quỷ,và Súc Sanh.
Thế
giới Tịnh Lưu Ly thật là trang nghiêm vi diệu, mọi thứ điều
dùng thất bảo làm ra. Phật lại nói Thế giới của đức
Dược Sư Phật không khác gì những công đức trang nghiêm
ở cõi Tây Phương Cực Lạc.
Thất
Bảo là:
Thứ
nhất: vàng,
Thứ
hai: Bạc,
Thứ
ba: Lưu ly, Lưu Ly là tiếng Phạn, dịch là Thanh sắc bảo (báu
màu xanh).
Thứ
tư là Pha lê cũng gọi là Thủy ngọc (ngọc trong xanh như nước).
Thứ
năm là Mã não cũng là tiếng Phạn, dịch là Đại kiến, vì
trên báu vật ấy có những đường nét giống như những vết
xe.
Thứ
sáu Xích châu tiếng Phạn là Y-chi-ha-mục-đa.
Thứ
bảy Mã não tiếng Phạn là A-thấp-ma-kiệt-bà.
Thế
giới của đức Dược Phật thật trang nghiêm không thể nghĩ
bàn, không có lời để diễn tả nên Phật mượn thế gìới
Cực Lạc của đức Từ Phụ A Di Đà mà nói cho đại chúng
rõ.
Vì
sao gọi là Cực Lạc, theo kinh Phật Thuyết A Di Đà, vì chúng
sanh sống trong cõi đó không có bị những sự thống khổ,
chỉ hưởng những điều vui nên gọi là Cực Lạc.
Cõi
Phật ấy có hai vị đại Bồ tát là Nhựt Quang biến chiếu,
và Nguyệt Quang biến chiếu, chính là hai bực thượng thủ
trong vô lượng, vô số Bồ tát và lại là những bậc sắp
bổ xứ làm Phật. Hai vị này đều giữ gìn kho báu chánh
pháp tạng của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
Phần
trên Phật cho biết về y báo ở thế giới của Đức Dược
Sư Lưu Ly Quang Phật tuyệt diệu trang nghiêm. Bây giờ Phật
lại nói cho Đức Mạn Thù Thất Lợi biết về Chánh Báo của
thế gìới đó có vô lượng vô số những bậc nhứt sanh
bổ xứ. Trong đó có hai vị đại Bồ Tát làm thượng thủ
và giữ gìn kho báu tạng Chánh Pháp của Đức Phật Dược
Sư.
"Bồ
Tát Ma Ha Tát " tức là đại Bồ Tát. Bồ Tát nói đủ là
Bồ Đề Tát Đỏa là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch Giác Hữu
Tình nghĩa là làm cho tất cả lòai hữu tình đều được
giác ngộ. Cũng có thể nói là Hữu Tình Giác tức là Người
giác ngộ trong loài hữu tình.
"Ma
Ha Tát" là lớn, trùm khắp, trên hết. vậy Ma Ha Tát tức là
Đại Bồ Tát trong hàng Bồ Tát.
Nhựt
Quang Biến chiếu Bồ Tát là vị Bồ Tát có ánh sáng
khắp chiếu khắp tất cả và ánh sáng ấy như là mặt Trời,
(biến chiếu) là không nơi mà không có nên nói ánh sáng của
vị Bồ Tát này chiếu khắp nơi mà mặt trơi không chiếu
đến được.
Nguyệt
Quang Biến chiếu Bồ Tát cũng vậy, Vị Bồ Tát nầy có ánh
sáng như là mặt Trăng và chiếu khắp nơi không giới hạng.
xuyên suốt khắp nơi mà mặt trăng không chiếu đến.
Phật
cho chúng ta biết hai vị đại Bồ Tát này đang giữ gìn Chánh
Pháp Tạng của Đức Phật Dược Sư.
" Nhứt
sanh bổ xứ" nghĩa là những vị Bồ Tát này chỉ còn một
đời nữa sẽ thành Phật.
Mạn
Thù Thất Lợi, vì thế những kẻ thiện nam tín nữ nào có
lòng tin vững chắc thì nên nguyện sanh về thế giới của
Ngài.
Đã
nói về Y Báo và Chánh Báo quốc độ của Đức Dược Sư
Như Lai xong. Phật khuyến khích những ai có lòng tin vững chắc,
tin vững chắc là lòng tin không thay đổi dù xuyên qua thời
gian hay ở hoàn cảnh nào vẫn không thay đổi lòng tin đó.
Hoặc là thiện nam tử, hoặc là thiện nữ nhơn nên nguyện
sanh về cõi nước đó.
Chúng
ta thấy đó, kinh nói là thiện nam tử, thiện nữ nhân. Muốn
sanh về Cõi Tịnh Lưu Ly không phải là người tạo tội ác
mà thể sanh về đó được. Muốn được sanh về đó chúng
ta phải có ba thứ. Ba thứ đó là gì? Đó là: Tín, Hạnh và
Nguyện thì mới sanh về đó được.
Tín
Tìn
là tin nơi Đức Phật Thích Ca không nói dối, chắc thật rằng
về Phương Đông qua mười Căn dà sa cõi Phật thật có Phật
Độ tên là tịnh Lưu Ly. Và tin rằng Đức Phật Dược Sư
phát ra những Đại Nguyện đó không phải là những lời nguyện
suông. Và Tin vững chắc rằng nếu chúng ta thật hành theo
giáo Pháp mà Phật Thích Ca đã chỉ dạy và dùng những công
đức đó hồi hướng mà nguyện sanh về thế giới Tịnh Lưu
Ly thì chắc chắn rằng sẽ được vãng sanh.
Nguyện
Cõi
Ta Bà là một uế độ, nên nguyện xã bỏ mà cầu sanh về
thế giới của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Nguyện
xin xót thương chúng con trôi lăn trong bể khổ mà tiếp dẫn
con về thế giới Y Báo và Chánh Báo trang nghiêm tuyệt diệu
của Ngài. Để gần Phật nghe Diệu Pháp Chơn Như, để vĩnh
viễn không còn sanh lại ba cõi sáu đường nữa.
Hạnh
Là
chấp trì danh hiệu Phật "Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật"
niệm cho thanh tịnh và bao công đức đã làm điều hồi hướng
và nguyện sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly. Ai làm như vậy,
nhứt định khi lâm chung Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
và đại chúng sẽ tiếp dẫn bạn về thế giới của Ngài.
Lại nữa, quí vị niệm danh hiệu của Ngài mà đem công đức
đó hồi hướng về thế giới Cực Lạc ở Phương Tây của
Đức Từ Phụ A Di Đà thì cũng được tọai.
Lúc
ấy Ðức Thế Tôn lại bảo ông Mạn Thù Thất Lợi đồng
tử rằng:” Có những chúng sanh không biết điều lành dữ,
cứ ôm lòng bỏn xẻn tham lam, không biết bố thí mà cũng
không biết quả báo của sự bố thí là gì, ngu si vô trí,
thiếu hẳn đức tin, lại ham chứa chất của cải cho nhiều,
đêm ngày bo bo gìn giữ, thấy ai đến xin, lòng đã không muốn,
nhưng nếu cực chẳng đã phải đưa của ra thì đau đớn
mến tiếc, dường như lóc thịt cho người vậy. Lại có vô
lượng chúng hữu tình tham lẫn, chỉ lo tích trữ của cải
cho nhiều mà tự mình không dám ăn tiêu, còn nói chi đến
sự đem của ấy thí cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ và những
kẻ nghèo hèn đến xin. Những kẽ tham lẫn ấy,khi chết bị
đọa vào đường ngạ quỷ hay bàng sanh. Mặc dầu ở trong
ác thú, nhưng nhờ đời trước, sống trong cõi nhơn gian đã
từng nghe qua danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như
Lai, mà nay lại còn nhớ niệm đến danh hiệu Ngài thì liền
từ cõi ấy thoát sanh trở lại làm người. Khi đã được
làm người lại nhớ đến kiếp sống trong đường ngạ quỷ
súc sanh, biết sợ sự đau khổ nên không ưa đắm mình trong
dục lạc mà còn muốn tự mình làm việc bố thí, không tham
tiếc món gì và lần lần có thể đem cả đầu, mắt, tay
chân hay máu thịt của thân phần mình mà bố thí cho những
kẻ đến xin cũng được, huống chi là của cải là những
vật thừa.
Ở
trên nói về Y Báo và Chánh Báo của Phật Dược
Sư Lưu Lưu Ly Quang Như Lai rồi. Phật nay sẽ nói
cho Mạn Thù Thất Lợi đồng tử biết về oai thần Lực mà
người xưng danh hiệu ngài hưởng được những điều lợi
không thể nghĩ bàn cho được. Đồng Tử theo nghĩa đen thì
hiểu là trẻ thơ, nhưng ở đây là nghĩa người thanh tịnh
Phạm hạnh trang nghiêm như là trẻ thơ, không dính bụi trần,
ý nói tâm người thật là thanh tịnh, không có tâm dâm dục.
" duy
hoài tham lẩn" là tâm của chúng sanh không những tham lam mà
còn bỏn xẻn. Tham lam tức là muốn mình có, bỏn xẻn là
mình đã có nhưng không muốn chia sẻ cho bất cứ một ai.
"Bất
tri Bố Thí, cập thí quả báo" là không biết phước quả
của sự bố thí ra sao? Bố thí là một trong Lục Độ của
Bồ Tát đạo, dịch từ tiếng Phạn từ Đàn-na. Có những
chúng sanh ngu si như vậy từ sáng chiều chỉ lo gìn giữ của
cải, không dám tự mình tiêu xài huống chi là lấy của ấy
ra mà bố thí cho kẻ khác. Những hạng người như vậy sau
khi chết sẽ sanh vào đường ngạ quỷ hoặc là Súc sanh. Tuy
đọa lạc trong chốn ác đạo mà nhớ lại được danh hiệu
Phật đã từng nghe trong đời quá khứ đã là khó rồi mà
lại phát tâm xung niệm danh Phật lại càng khó hơn. do nhờ
tâm thanh tịnh như vậy, liền chết sanh lại loài người và
nhớ đến những sự thống khổ trong đường ác đạo. Nên
phát tâm hoan hỷ ca tụng sự bố thí mà còn chính mình làm
sự bố thí. Cả thân thể còn buông xã huống gì là những
tài vật ư.
Giống
như chúng ta đều có Phật tánh, nhưng lại không biết nên
làm những việc không có trí tuệ, tham sân si tạo ra vô số
thứ nghiệp trôi lăn trong bể khổ mà cho đó là an vui. Khi
đọa lạc rồi mới biết đó là sai nhớ đến, niệm phật
nhờ công đức niệm Phật hiệu nên sanh vào loài người.
Lại nhớ đến những thứ khổ trong đường ác nên sanh tâm
biết đủ không còn tâm tham lam.
Lại
nữa, Mạn Thù Thất Lợi, trong chúng hữu tình nếu có những
người nào thọ các giới của Phật để tu học mà lại phá
giới hoặc không có kẻ không phá giới mà lại phá phép tắc,
hoặc có kẻ tuy chẳng phá giới và phép tắc mà lại hủy
hoại chánh kiến, hoặc có kẻ tuy không hủy hoại chánh kiến
mà lại bỏ sự đa văn nên không hiểu được nghĩa lý sâu
xa trong kinh Phật nói, hoặc có kẻ tuy đa văn mà có thói tăng
thượng mạn ấy che lấp tâm tánh, cố chấp cho mình là phải,
người khác là quấy, chê bai chánh pháp, kết đảng với ma.
Những kẻ ngu si ấy tự mình đã làm theo tà kiến mà lại
còn khiến cho vô số ức triệu chúng hữu tình cũng bị sa
vào hố nguy hiểm. Những chúng hữu tình ấy bị trôi lăn
trong các đường ngạ quỷ bàng sanh không khi nào cùng. Nhưng
nếu nghe được danh hiệu của đức Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai thì họ liền bỏ những hạnh dữ tu theo các pháp lành,
khỏi bị đọa vào vòng ác thú nữa. Giả sử có người không
thể bỏ những hạnh dữ và không tu theo những pháp lành mà
phải bị đọa vào trong ác thú thì cũng nhờ oai lực bổn
nguyện của đức Dược Sư khiến cho họ, khi tạm nghe được
danh hiệu Ngài, liền từ nơi ác thú mạng chung, trở sanh vào
cõi người, được tinh tấn tu hành trong sự hiểu biết chơn
chánh khéo điều hòa tâm ý, bỏ tục xuất gia thọ trì và
tu học theo giáo pháp của Như Lai, đã không hủy phạm lại
thêm chánh kiến đa văn, hiểu rõ nghĩa lý sâu xa lìa được
thói tăng thượng mạn, không chê bai chánh pháp, không bè bạn
với ma, dần dần tu hành theo hạnh Bồ tát chóng được viên
mãn.
Phép
tắc là những quy cũ. Chánh kiến là sự thấy đúng như thật
không phải tà kiến là sự hiểu không chơn chánh. Đa văn
là học rộng nghe nhiều vì huỷ hoại sự đa văn nên không
thông hiểu được Phật Pháp. Tại sao có người lại hủy
hoại sự đa văn? Vì họ tự cho mình là người thông minh
vì có sự thông minh đó nên sanh ra tâm tăng thượng mạng,
cống cao, tự tại nên che lấp bản tánh chơn như thường
hằng trong tâm họ. Cho mình là đúng người khác là sai.
Chê
bai Chánh Pháp làm bạn với ma. Không những họ đã sai mà
họ lại làm cho chúng hữu tình giống như họ, vì làm chúng
hữu mất đi con mắt trạch Pháp nên phải chịu trôi lăn trong
đường ác để trả quả báo. Những người nầy khi nghe được
oai thần bổn nguyện của đức Dược Sư khiến cho họ từ
trong ác đạo mạng chung, sanh vào cõi người tinh tấn tu hành,
hiểu biết một cách chơn chánh, xả tục xuất gia tu theo hạnh
Bồ Tát.
Lại
nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh tham
lam tật đố, hay khen mình chê người thì sẽ bị đọa địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh, phải chịu nhiều sự đau đớn
khổ sở, trải qua không biết mấy nghìn năm mới hết. Khi
đã mãn sự đau khổ kia, liền từ nơi đó mạng chung sanh
lại cõi người phải làm thân trâu, ngựa, lừa, lạc đà,
thường bị người hành hạ, đánh đập và bị đói khát
dày vò, lại phải đi dường xa chở nặng, cực nhọc muôn
phần; còn như may đặng làm thân người thì lại bị sanh
vào hạng hạ tiện phải làm tôi tớ cho kẻ khác, mãi bị
họ sai sử không khi nào được chút thong thả tự do. Nếu
những nhơn đạo đã từng nghe danh hiệu của đức Dược
Sư Lưu Ly Quang Như Lai thi do cái nhơn lành ấy, ngày nay nhớ
lại, chí tâm quy y Ngài, nhờ thần lực của Ngài gia bị mà
thoát khỏi mọi sự khổ não, các căn thông lợi, trí huệ
sáng suốt lại thêm đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường
gặp bạn lành, đời đời dứt hẳn lưới ma, đập nát vỏ
vô minh, tát cạn sông phiền não, mà được giải thoát khỏi
nạn sanh, lão, bệnh, tử và những nổi đau khổ lo buồn.
Khen
mình chê người khác tội rất nặng, cho nên người học Phật
cần phải xét kỷ. Chúng ta là người học đạo phải bỏ
đi những thứ tánh xấu này. Chúng ta phải khen ngợi người
khác, vì sao? Vì việc đó giúp cho họ cảm thấy vui vẻ mà
tinh tấn làm những việc thiện. Hãy quên đi những gì mình
đã làm dù nó là chuyện tốt. được như vậy mới thật
là việc tốt.
Lại
nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh ưa
sự ương ngang trái chia lìa, tranh đấu, kiện cáo lẫn nhau,
làm não loạn cho mình và người, đem thân, khẩu, ý tạo thêm
mãi những ác nghiệp, xoay qua trở lại, thường làm những
việc không nhiêu ích để mưu hại lẫn nhau, hoặc cáo triệu
những thần ở núi, rừng, cây; mã, để hại người, hoặc
giết chúng sanh lấy huyết thịt cúng tế quỷ Dược xoa và
quỷ La sát để cậy quỷ hại người, hoặc biên tên họ
và làm hình tượng của người cừu oán rồi dùng phép chú
thuật tà ác mà trù ẻo cho chết, hoặc theo lối ếm đối
với những đồ độc, hoặc dùng chú pháp hại mạng người.
Nếu chúng hữu tình bị những tai nạn ấy mà nghe danh hiệu
của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì các thứ tà ác
kia không thể hại được. Tất cả những kẻ ác tâm kia đều
trở lại khởi lòng từ làm việc lợi ích an vui cho kẻ khác,
không còn ý tổn não vào tâm hiềm giận, hai bên hòa hảo
với nhau. Và đối với vật thọ dụng của ai thì người
ấy tự vui mừng biết đủ, không xâm lấn của nhau mà lại
còn giúp đỡ lẫn nhau nữa.
Gây
mãi cho nhau những sự bất lợi để mưu hại lẫn nhau... (triển
chuyển thường vi bất nhiêu ích sự, hỗ tương mưu hại)
Dạ xoa (yaksha) một loại quỉ ăn thịt người, mạnh, nhanh,
khó lường, ở trên mặt đất, trong không gian và trên trời.
La sát (raksasa) tên chung các ác quỉ, ăn uống máu thịt loài
người, bay trong không trung hoặc đi trên đất.
Lại
nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu trong hàng tứ chúng: Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo Ni, ưu Bà tắc, Ưu Bà Di và những kẻ thiện nam, tín
nữ đều có thọ trì tám phần trai giới, hoặc trong một
năm, hoặc mỗi năm ba tháng, vâng giữ giới pháp, làm nơi
y chỉ tu học rồi đem căn lành này nguyện sanh về chỗ Phật
Vô lượng thọ ở thế giới Cực Lạc Tây Phương đặng nghe
chánh pháp, nhưng nếu chưa quyết định, mà nghe được danh
hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thì khi mạng chung
sẽ có tám vị Ðại Bồ tát như: Văn Thù Sư Lợi Bồ tát,
Quán Thế Âm Bồ tát, Ðắc Ðại Thế Chí Bồ tát, Bảo Ðàn
Hoa Bồ tát, Vô Tận Ý Bồ tát, Dược Vương Bồ tát, Dược
Thượng Bồ tát, Di Lặc Bồ tát từ trên không trung đi đến
đưa đường chỉ lối cho thì liền được vãng sanh trong những
hoa báu đủ màu.
Phật
bảo, nếu trong hàng tứ Chúng nếu có ai phát tâm thanh tịnh
thọ trì tám phần trai giới trong một năm(nhứt niên), hoặc
một năm ba tháng (tam ngoạt) mà đem công đức đó nguyện
sanh về thế giới Cực Lạc của đức A Di Đà, nhưng
ngưuời ấy chuư quyết đìịnh sau khi chết sẽ tám vị đại
Bồ tát đến đưa đường chỉ dẫn thì liền được vãng
sanh vào trong những thứ hoa báu đủ màu sắc.
Tám
phần trai giới là những gì? Đó là:
Thứ
Nhứt: Không sát sanh
Thứ
Hai: Không Trộm Cắp
Thứ
Ba: Không Dâm Dục (tại gia không tà dâm)
Thứ
Tư: Không Nói Láo
Thứ
Năm: Không Uống Rượu
Thứ
Sáu: Không trang điểm
Thứ
Bảy: Không hát múa đàn
Thứ
Tám: Không nằm ngồi giường cao rộng tốt
Đó
là tám thứ giới, trai là không ăn quá ngọ (bất thời
phi thực) nên gọi là Bát Quan Trai.
Xem
Tiếp Trang Kế