Phẩm
2: Thọ Lượng Thế Tôn
Trong
thành Vương xá có vị bồ tát tên Diệu tràng (3) , đã ở
nơi quá khứ vô lượng chư Phật phụng sự, hiến cúng, trồng
các thiện căn. Bấy giờ bồ tát Diệu tràng một mình ở
chỗ thanh vắng, nghĩ rằng, vì lý do nào mà đức Thích ca
thế tôn thọ lượng ngắn ngủi, chỉ tám mươi năm. Lại
nghĩ, như đức Thế tôn dạy, có hai lý do được thọ lượng
lâu dài. Hai lý do ấy là gì, một là không hại sinh mạng,
hai là hiến cho ẩm thực. Mà đức Thích ca thế tôn thì đã
vô số đại kiếp không hại sinh mạng, làm mười thiện nghiệp;
lại thường đem ẩm thực hiến cho chúng sinh đói khát, thậm
chí máu thịt xương tủy của mình cũng đem mà cho, huống
chỉ ẩm thực.
Khi
bồ tát Diệu tràng nghĩ về đức Thế tôn như vậy thì, do
uy lực của Ngài, phòng ông bỗng nhiên rộng lớn, đẹp và
sạch, với những thứ ngọc đế thanh lưu ly màu sắc xen nhau
mà trang hoàng, in như tịnh độ của chư Phật. Có hơi thơm
tuyệt diệu, quá hơn hương liệu chư thiên, thơm tho khắp
cả. Bốn phía phòng ấy có bốn bảo tọa sư tử, thượng
hạng và tinh hảo, được tạo thành bởi bốn loại ngọc.
Ở trên bảo tọa trải vải quí của chư thiên. Bốn bảo
tọa đều xuất hiện hoa sen tuyệt diệu, trang sức bằng những
thứ ngọc quí, tầm cỡ tương xứng với các đức Thế tôn.
Trên bốn hoa sen có bốn đức Thế tôn: Bất động thế tôn
ở phương đông, Bảo tướng thế tôn ở phương nam, Vô lượng
thọ thế tôn ở phương tây, Thiên cổ âm thế tôn ở phương
bắc. Mỗi đức Thế tôn cùng ngồi xếp bằng trên một bảo
tọa, phóng ánh sáng lớn chiếu rực cả thành Vương xá, cả
đại thiên thế giới, cả mười phương hằng sa cõi Phật.
Thiên hoa mưa xuống, thiên nhạc tấu lên. Bấy giờ trong Thiệm
bộ châu và đại thiên thế giới, bao nhiêu chúng sinh đều
nhờ uy lực của chư vị Thế tôn mà hưởng được cái vui
siêu việt, tinh tế, không thiếu gì cả. Ai cơ thể bất toàn
thì toàn hảo. Ai mù thì thấy đuợc. Ai điếc thì nghe được.
Ai ngọng thì nói được. Ai ngu thì khôn. Ai điên thì tỉnh.
Ai rách rưới thì được y phục. Ai bị khinh ghét thì được
kính trọng. Ai dơ bẩn thì được thanh khiết. Thế giới này,
bao chuyện hiếm có đều diễn ra.
Bấy
giờ bồ tát Diệu tràng thấy bốn đức Thế tôn và bao điều
hiếm có thì vui mừng hết sức, chắp tay, nhất tâm, chiêm
ngưỡng tướng hảo thù thắng của các Ngài. Bồ tát lại
nghĩ đến công đức vô lượng của đức Thích ca thế tôn,
chỉ hoài nghi về thọ lượng của Ngài, rằng tại sao Thế
tôn công đức vô lượng mà thọ lượng ngắn ngủi, chỉ
có tám thập kỷ? Lúc ấy bốn đức Thế tôn bảo bồ tát
Diệu tràng, thiện nam tử, ông không nên nghĩ Thích ca như
lai thọ lượng dài ngắn. Tại sao? Vì, thiện nam tử, chư
Như lai không thấy chư thiên, nhân loại, phạn vương, ma vương,
sa môn, bà la môn, tất cả nhân loại và phi nhân loại, có
ai tính mà biết được giới hạn thọ lượng của đức Thích
ca như lai, trừ ra các bậc Vô thượng biến giác. Bốn đức
Thế tôn muốn nói thọ lượng của đức Thích ca thế tôn.
Do uy lực của các Ngài, chư thiên cõi Dục và cõi Sắc, tám
bộ long thần, vô số bồ tát cùng đến vân tập trong cái
phòng tuyệt diệu của bồ tát Diệu tràng. Đối với đại
hội như vậy, bốn đức Thế tôn muốn hiển thị thọ lượng
của đức Thích ca thế tôn nên nói những lời chỉnh cú sau
đây.
(1)
Biết được số giọt
nước
các biển cả,
mà
không thể biết
thọ
lượng Thích tôn.
(2)
Nghiền núi Tu di
thành
những hạt cải,
số
hạt cải ấy
có
thể biết được,
mà
không biết được
thọ
lượng Thích tôn.
(3)
Có thể biết được
số
bụi đại địa,
không
thể đếm biết
thọ
lượng Thích tôn.
(4)
Lường tính không gian
biết
được biên tế,
mà
không lường nổi
thọ
lượng Thích tôn.
(5)
Nếu ai sống đến
trăm
ngàn đời kiếp,
tận
lực thường xuyên
dùng
toán mà tính,
cũng
không biết được
thọ
lượng Thích tôn.
(6)
Không hại sinh mạng,
hiến
cho ẩm thực,
chính
do hai loại
diệu
nhân như vậy
làm
cho đạt được
thọ
lượng lâu dài.
(7)
Do đó thọ lượng
của
bậc Đại giác
khó
có người nào
biết
được số lượng.
Tựa
như thì gian (4)
vô
cùng vô tận,
thọ
lượng Thích tôn
cũng
y như thế.
(8)
Diệu tràng, nên biết:
không
nên hoài nghi;
thọ
lượng các đấng
Siêu
việt bậc nhất,
không
một người nào
biết
được số lượng.
Lúc
ấy bồ tát Diệu tràng nghe bốn đức Thế tôn nói thọ lượng
bất tận của đức Thích ca thế tôn, thì tác bạch như vầy,
kính bạch chư vị Thế tôn, tại sao đức Thích ca thế tôn
thị hiện thọ lượng ngắn ngủi? Bốn đức Thế tôn dạy
bồ tát Diệu tràng, thiện nam tử, khi đức Thích ca thế tôn
xuất hiện trong giai đoạn đủ cả năm thứ dơ bẩn, thì
thọ lượng nhân loại chỉ trên dưới bách kỷ, bẩm tính
thấp hèn, thiện căn kém mỏng, không tin hiểu gì. Nhân loại
như vậy đa số quan niệm bản ngã, quan niệm sinh thể, quan
niệm linh hồn; quan niệm tồn tại -- những quan niệm bồi
dưỡng, quan niệm sai lầm -- quan niệm bản ngã và sở hữu
của bản ngã, quan niệm vĩnh hằng, quan niệm hư vô (5) . Để
lợi ích cho những kẻ dị sinh và dị giáo như vậy, làm cho
họ phát sinh lý giải chính xác, mau chóng đạt đến tuệ
giác tối thượng, nên đức Thích ca như lai thị hiện thọ
lượng ngắn ngủi. Thiện nam tử, đức Thích ca như lai muốn
làm cho chúng sinh thấy Ngài niết bàn để sinh ý tưởng khó
gặp, ý tưởng lo lắng; đối với kinh pháp Ngài nói, họ
lo cấp tốc tiếp nhận, ghi nhớ, cứu xét, tụng thuộc cho
thông suốt, đem nói cho người, không hề khinh thường. Vì
muốn như vậy mà đức Thích ca như lai thị hiện thọ lượng
ngắn ngủi. Lý do ở đây là, chúng sinh như đã nói ở trước,
nếu thấy đức Thích ca như lai không nhập niết bàn, thì
không có ý tưởng kính trọng, khó gặp; đối với kinh pháp
sâu xa mà Ngài tuyên thuyết cũng không lo tiếp nhận, ghi nhớ,
cứu xét, tụng thuộc cho thông suốt, và đem nói cho người.
Tại sao như vậy, vì thường xuyên thấy Phật thì không kính
trọng nữa. Thiện nam tử, ví như có kẻ thấy cha mẹ mình
có lắm của cải vàng ngọc thì, đối với tài sản ấy,
người con không sinh ý tưởng hiếm có, khó gặp, tại sao,
vì đối với cha mẹ, và tài sản của cha mẹ, người con
có ý tưởng còn mãi. Thiện nam tử, chúng sinh kia cũng vậy,
nếu thấy đức Thích ca như lai không nhập niết bàn thì không
sinh ý tưởng hiếm có, khó gặp, lý do là vì thường thấy.
Thiện nam tử, ví như có kẻ cha mẹ nghèo nàn, thiếu thốn
tài sản, người con nghèo thiếu đến cung vua chúa hay đến
dinh đại thần, thấy tài sản tràn đầy, thì sinh ý tưởng
hiếm có, khó gặp. Người con này muốn có tài sản nên làm
lụng đủ cách, siêng năng không nhác, lý do là để hết nghèo
nàn, hưởng an lạc. Thiện nam tử, chúng sinh kia cũng vậy,
nếu thấy đức Thích ca như lai nhập vào niết bàn mới có
ý tưởng khó gặp, ý tưởng lo lắng. Họ nghĩ, vô số kiếp
Phật mới xuất hiện, như hoa ô đàm lâu lắm mới có một
lần. Nghĩ vậy nên họ có ý tưởng hiếm có, ý tưởng khó
gặp. Và gặp Phật thì tôn kính, tin tưởng, nghe Ngài thuyết
pháp thì có ý tưởng nói thật, bao nhiêu kinh pháp đều tiếp
nhận, ghi nhớ, chớ không khinh thường. Thiện nam tử, vì
lý do đã nói trên đây mà đức Thích ca như lai không ở đời
lâu dài, niết bàn mau chóng. Thiện nam tử, như thế đó, chư
vị Như lai áp dụng phương tiện khéo léo mà tác thành chúng
sinh. Nói như vậy rồi, bốn đức Thế tôn bỗng nhiên ẩn
mất.
Bấy
giờ bồ tát Diệu tràng cùng với vô lượng bồ tát, và vô
số chúng sinh, cùng nhau đi đến trên đỉnh Thứu phong, chỗ
đức Thích ca thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài rồi đứng
qua một bên. Bồ tát Diệu tràng đem sự thể trên đây trình
bạch đầy đủ với đức Thế tôn. Lúc ấy bốn đức Thế
tôn cũng đã đến Thứu phong, chỗ đức Thích ca thế tôn.
Tùy phương hướng của mình, các Ngài đến bảo tọa mà ngồi,
rồi bảo vị bồ tát thị giả, rằng thiện nam tử, ông hãy
đến chỗ đức Thích ca như lai, thay lời Như lailời Như lai
mà vấn an Ngài, rằng Ngài ít bịnh ít phiền, cử động linh
hoạt, sống yên vui chăng. Ông lại tác bạch như vầy: Lành
thay đức Thế tôn, xin Ngài nay có thể tuyên thuyết kinh Ánh
sáng hoàng kim, pháp yếu cực sâu, để lợi ích chúng sinh,
loại bỏ đói khát, làm cho yên vui. Đức Thế tôn của con
xin tùy hỷ việc này. Các vị thị giả cùng đến chỗ đức
Thích ca thế tôn, đảnh lễ hai chân của Ngài, rồi đứng
qua một bên, cùng tác bạch rằng, bạch đức Thế tôn, đức
Thầy trời người của chúng con vấn an vô lượng, rằng Ngài
ít bịnh ít phiền, cử động linh hoạt, sống yên vui chăng.
Các vị thị giả lại tác bạch như vầy: Lành thay đức Thế
tôn, xin Ngài nay có thể tuyên thuyết kinh Ánh sáng hoàng kim,
pháp yếu cực sâu, để lợi ích chúng sinh, loại bỏ đói
khát, làm cho yên vui. Đức Thầy trời người của chúng con
xin tùy hỷ việc này. Bấy giờ đức Thích ca thế tôn, bậc
Như lai, bậc ứng cúng, bậc Chánh đẳng giác, nói với các
vị bồ tát thị giả, rằng lành thay, bốn đức Nha lai muốn
làm cho chúng sinh lợi ích yên vui mà khuyến cáo Như lai tuyên
dương pháp yếu! Ngài nói mấy lời chỉnh cú sau đây.
(9)
Như lai thường trú
trên
đỉnh Thứu phong,
tuyên
thuyết kinh bảo
Ánh
sáng hoàng kim;
nhưng
vì tác thành
cho
bao chúng sinh,
Như
lai thị hiện
nhập
vào niết bàn.
(10)
Chúng sinh phàm phu
quan
niệm lầm lẫn,
nên
không tin được
lời
Như lai nói;
chính
vì tác thành
chúng
sinh như vậy,
Như
lai thị hiện
nhập
vào niết bàn.
Bấy
giờ trong đại hội có một vị bà la môn họ Kiều trần
như, tên Pháp sư thọ ký, cùng vô số bà la môn hiến cúng
đức Thế tôn rồi, nghe Ngài nói nhập vào niết bàn, thì
nước mắt nước mũi xen nhau chảy ra, bước tới lạy chân
Ngài, thưa rằng, bạch đức Thế tôn, nếu thật đức Thế
tôn có lòng đại từ bi đối với chúng sinh, thương xót ích
lợi, làm cho yên vui, in như cha mẹ không ai sánh bằng; Ngài
làm chỗ nương tựa cho cả thế giới, in như vầng thái âm
tròn đầy; Ngài soi sáng bằng tuệ giác lớn lao, in như vầng
thái dương mới mọc; Ngài nhìn khắp cả, thương tưởng đồng
đều, coi ai cũng như tôn giả La hô la -- thì con xin Ngài ban
cho con một điều ước nguyện. Nghe thưa như vậy, đức Thế
tôn chỉ im lặng. Nhưng do uy lực của Ngài, trong đại hội
có một vị đồng tử Lê xa tì tên Ai cũng thích nhìn, nói
với bà la môn Kiều trần như, rằng thưa đại bà la môn,
ông muốn xin đức Thế tôn điều ước nguyện gì, tôi có
thể thỏa mãn cho ông. Bà la môn Kiều trần như nói, đồng
tử, tôi muốn hiến cúng (6) đức Thế tôn tối thượng, nên
cầu xin Ngài cho tôi một chút xá lợi chỉ bằng hạt cải.
Tại sao tôi cầu xin như vậy? Vì tôi từng nghe nói, nếu thiện
nam hay thiện nữ nào được xá lợi của đức Thế tôn chỉ
bằng hạt cải thôi, để tôn kính hiến cúng, thì sẽ sinh
lên tầng trời Đao lợi mà làm Đế thích. Nghe như vậy, đồng
tử Lê xa tì nói với bà la môn, nếu ông muốn sinh lên Đao
lợi hưởng thụ quả báo hơn người, thì hãy dốc lòng mà
nghe kinh Ánh sáng hoàng kim. Kinh này hơn hết các kinh khác,
khó lý giải, khó hội nhập. Thanh văn Độc giác không thể
hiểu nổi. Kinh này sinh ra vô biên quả báo phước đức, cho
đến hoàn thành tuệ giác vô thượng. Tôi nay chỉ nói cho
ông vắn tắt như vậy. Bà la môn nói, lành thay đồng tử;
nhưng kinh Ánh sáng hoàng kim cực sâu, tối thượng, khó lý
giải, khó hội nhập, Thanh văn Độc giác không thể hiểu
nổi, huống chi chúng tôi, những kẻ biên dã, trí tuệ kém
cỏi, làm sao hiểu được. Do vậy, hôm nay tôi chỉ cầu xin
xá lợi của đức Thế tôn bằng hạt cải thôi, để đem
về bản xứ, tôn trí vào trong hộp ngọc, tôn kính hiến cúng.
Thì mạng chung rồi được làm Đế thích, thường hưởng
yên vui. Tại sao đồng tử không thể từ đấng Đủ sự sáng
cầu xin cho tôi môt điều ước nguyện như vậy? Bà la môn
nói rồi, đồng tử Lê xa tì liền nói cho ông nghe những lời
chỉnh cú sau đây.
(11)
Dòng nước chảy xiết
của
sông Hằng hà
có
thể mọc lên
hoa
sen bạch liên;
loài
chim màu vàng
có
thể thành trắng,
hay
chim màu đen
có
thể thành đỏ;
(12)
hoặc cây thiệm bộ
sinh
trái đa la,
cây
khát thụ la
sinh
trái yêm la;
(13)
sự vật hiếm có
có
thể chuyển biến,
xá
lợi Thế tôn
cũng
không thể có.
(14)
Giả sử lông rùa
dệt
thành áo đẹp,
áo
đó có thể
mặc
vào mùa lạnh,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(15)
Giả sử chân muỗi
đỡ
được lầu đài
vô
cùng kiên cố
không
thể lay động,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(16)
Giả sử miệng đỉa
mọc
lên răng trắng
đã
dài lại lớn
sắc
như mũi nhọn,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(17)
Giả sử sừng thỏ
làm
thành cái thang
và
leo thang ấy
lên
đến cung trời,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(18)
Chuột leo thang ấy
lên
đánh tu la
che
khuất mặt trăng
ở
trong không gian,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(19)
Ruồi uống rượu say
bay
khắp làng xóm
dựng
lên bao nhiêu
là
những nhà cửa,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(20)
Giả sử mõm lừa
đỏ
lên in như
trái
cây tần bà
lại
khéo ca vũ,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(21)
Quạ với cú mèo
đứng
được một chỗ
và
cả hai bên
thuận
tùng với nhau,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(22)
Nếu lá ba la
thành
được tàn lọng
có
thể che được
cơn
mưa to lớn,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(23)
Giả sử thuyền lớn
chở
đầy vàng ngọc
mà
lại lướt đi
trên
mặt đất liền,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
(24)
Và nếu chim ri
mỏ
ngậm Hương sơn
tùy
theo ý muốn
bay
đâu cũng được,
thì
mới tìm được
xá
lợi Thế tôn.
Bà
la môn Pháp sư thọ ký nghe những lời chỉnh cú ấy, thì cũng
đem chỉnh cú mà đáp lại đồng tử Ai cũng thích nhìn.
(25)
Lành thay đồng tử
bậc
đại cát tường,
khéo
léo sử dụng
tuệ
giác phương tiện,
nên
được Thế tôn
thọ
vô thượng ký.
(26)
Uy đức Thế tôn
cực
kỳ vĩ đại,
đầy
cả năng lực
cứu
hộ thế giới;
ông
hãy nghe tôi
tuần
tự nói đến.
(27)
Lĩnh vực Thế tôn
rất
khó nghĩ thấu,
toàn
thể thế giới
không
ai đồng đẳng;
pháp
thân của Ngài
thể
tánh thường trú,
tu
hành cũng không
làm
cho sai biệt.
(28)
Chư vị Thế tôn
thể
tánh đồng nhất,
Pháp
các Ngài nói
cũng
là như vậy;
nên
chư Thế tôn
vốn
phi tạo tác,
lại
nữa cũng là
vốn
phi sinh khởi.
(29)
Thân thể kim cương
của
chư Thế tôn
quyền
biến thị hiện
thân
thể ứng hóa;
thế
nên xá lợi
của
chư Thế tôn
cũng
vốn không có
bằng
một hạt cải.
(30)
Thân chư Thế tôn
không
phải máu thịt,
làm
sao mà có
linh
cốt xá lợi;
thế
nhưng phương tiện
lưu
lại linh cốt,
là
để lợi ích
bao
loại chúng sinh.
(31)
Pháp thân là Phật,
pháp
giới cũng Phật;
pháp
thân mới thật
là
thân của Phật,
Pháp
của Phật nói
là
pháp giới ấy.
Trong
đại hội có ba mươi hai ngàn thiên tử, nghe nói như vậy
về thọ mạng bất diệt đức Thế tôn, ai cũng phát tâm vô
thượng bồ đề, hoan hỷ, phấn chấn, cảm được sự thể
chưa bao giờ có, nên khác miệng mà đồng tiếng, nói mấy
lời chỉnh cú sau đây.
(32)
Phật không nhập diệt,
Pháp
cũng bất diệt,
chỉ
vì ích lợi
cho
bao chúng sinh,
nên
Phật thị hiện
có
sự diệt tận.
(33)
Phật thì đích thị
bất
khả tư nghị,
thân
mầu của Phật
không
hề biến đổi,
nhưng
vì ích lợi
cho
bao chúng sinh
mà
Phật thị hiện
mọi
sự trang nghiêm.
Bấy
giờ bồ tát Diệu tràng đích thân đối trước đức Thế
tôn, trước bốn đức Thế tôn, trước hai vị đại nhân
và bao nhiêu thiên tử, nghe nói thọ lượng của đức Thế
tôn, thì lại từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính
mà thưa với Ngài, rằng bạch đức Thế tôn, nếu thật chư
vị Thế tôn không nhập niết bàn, không có xá lợi, thì tại
sao trong các kinh trước đây nói Ngài có niết bàn, và có
xá lợi để cho nhân loại và chư thiên tôn kính hiến cúng?
Chư vị Thế tôn đã quá khứ rồi, hiện có linh cốt phân
bố trong đời, người trời hiến cúng phước được vô hạn.
Vậy mà ngày nay lại nói không có, gây ra hoài nghi. Con thỉnh
cầu đức Thế tôn thương mà giải thích phong phú cho chúng
con.
Vào
lúc ấy, đức Thế tôn bảo bồ tát Diệu tràng, và cả đại
hội, rằng các người phải nhận thức, nói có niết bàn
và có xá lợi là nói theo ý nghĩa bí mật. Ý nghĩa như vậy
hãy chuyên nhất tâm trí mà nghe. Thiện nam tử, bồ tát đại
sĩ nên biết như vầy: có mười sự thể có thể lý giải
ý nghĩa chân thật của Như lai nói có niết bàn vĩ đại và
cứu cánh. Thế nào là mười? Một là chư Như lai cứu cánh
diệt hết phiền não chướng và sở tri chướng nên nói là
niết bàn. Hai là chư Như lai khéo léo thấu triệt nhân vô
tánh và pháp vô tánh nên nói là niết bàn. Ba là chư Như lai
có thể chuyển thân y và pháp y nên nói là niết bàn. Bốn
là chư Như lai đối với chúng sinh, một cách tự nhiên, tạm
ngừng hóa độ [khi cơ duyên hóa độ đã hết], nên nói là
niết bàn. Năm là chư Như lai chứng được pháp thân không
có sai biệt nên nói là niết bàn. Sáu là chư Như lai thấu
triệt cái tánh bất nhị của sinh tử với niết bàn nên nói
là niết bàn. Bảy là chư Như lai thấu triệt căn bản của
các pháp, thực hiện thanh tịnh nên nói là niết bàn. Tám
là chư Như lai khéo léo tu hành sự bất sinh diệt của các
pháp nên nói là niết bàn. Chín là chư Như lai chứng được
chánh trí đối với chân như nên nói là niết bàn. Mười
là chư Như lai chứng được sự không sai biệt của tánh các
pháp và tánh niết bàn nên nói là niết bàn. Như thế đó
là mười sự thể nói có niết bàn.
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nên biết như vầy: có mười sự
thể nữa có thể lý giải ý nghĩa chân thật của Như lai
nói có niết bàn vĩ đại và cứu cánh. Thế nào là mười?
Một là mọi thứ phiền não lấy ưa muốn làm gốc, từ ưa
muốn mà sinh, chư Như lai dứt ưa muốn nên nói là niết bàn.
Hai là chư Như lai dứt hết ưa muốn, không thủ đắc một
pháp nào cả: vì không thủ đắc mà không đi không đến nên
nói là niết bàn. Ba là vì không đi đến, không thủ đắc,
thế là pháp thân bất sinh diệt: bất sinh diệt nên nói là
niết bàn. Bốn là sự bất sinh diệt thì không phải ngôn
ngữ nói thấu: ngôn ngữ loại bỏ nên nói là niết bàn. Năm
là không có bản ngã và sinh thể, tư duy sự sinh diệt của
các pháp mà được chuyển y nên nói là niết bàn. Sáu là
phiền não là khách, pháp tánh là chủ, không đến không đi:
chư Như lai thấu triệt như vậy nên nói là niết bàn. Bảy
là chân như là thật, ngoài ra là giả: chân như là Như lai
nên nói là niết bàn. Tám là thật tế thì không hý luận:
chỉ có Như lai chứng pháp thật tế, vĩnh diệt hý luận nên
nói là niết bàn. Chính là vô sinh thì thật, sinh thì dối:
người ngu chìm đắm sinh tử, còn thật thể Như lai thì không
giả dối nên nói là niết bàn. Mười là cái pháp không thật
thì do duyên sinh, cái pháp chân thật thì phi duyên sinh, mà
pháp thân Như lai là chân thật nên nói là niết bàn. Như thế
đó là mười sự thể nói có niết bàn.
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nên biết như vầy: có mười sự
thể nữa có thể lý giải ý nghĩa chân thật của Như lai
nói có niết bàn vĩ đại và cứu cánh. Thế nào là mười?
Một là Như lai khéo biết bố thí và quả báo của bố thí
là không bản ngã và sở hữu của bản ngã; đối với bố
thí và quả báo của bố thí, sự phân biệt không chính xác
vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn. Hai là Như lai khéo
biết trì giới và quả báo của trì giới là không bản ngã
và sở hữu của bản ngã; đối với trì giới và quả báo
của trì giới, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại
trừ nên nói là niết bàn. Ba là Như lai khéo biết nhẫn nhục
và quả báo của nhẫn nhục là không bản ngã và sở hữu
của bản ngã; đối với nhẫn nhục và quả báo của nhẫn
nhục, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ
nên nói là niết bàn. Bốn là Như lai khéo biết tinh tiến
và quả báo của tinh tiến là không bản ngã và sở hữu của
bản ngã; đối với tinh tiến và quả báo của tinh tiến,
sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói
là niết bàn. Năm là Như lai khéo biết thiền định và quả
báo của thiền định là không bản ngã và sở hữu của bản
ngã; đối với thiền định và quả báo của thiền định,
sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói
là niết bàn. Sáu là Như lai khéo biết trí tuệ và quả báo
của trí tuệ là không bản ngã và sở hữu của bản ngã;
đối với trí tuệ và quả báo của trí tuệ, sự phân biệt
không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn.
Bảy là Như lai khéo biết chúng sinh phi chúng sinh, các pháp
phi các pháp, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại
trừ nên nói là niết bàn. Tám là thương mình thì đeo đuổi,
theo đuổi thì đau khổ; Như lai dứt thương mình, hết theo
đuổi: hết theo đuổi nên nói là niết bàn. Chín là các pháp
hữu vi thì toàn có số lượng, pháp tánh vô vi thì số lượng
loại kết; Như lai rời hữu vi, chứng vô vi, không số lượng
nên nói là niết bàn. Mười là Như lai thấu triệt chúng sinh
và các pháp toàn không: không tánh là pháp thân chân thật
nên nói là niết bàn. Như thế đó là mười sự thể nói
có niết bàn.
Lại
nữa, Thiện nam tử, đâu phải chỉ có cái việc không nhập
niết bàn của Như lai là hiếm có, mà còn có mười sự hiếm
có nữa là việc Như lai làm. Thế nào là mười? Một, sinh
tử thì tội lỗi, niết bàn thì vắng lặng, thế nhưng Như
lai chứng được sự bình đẳng của sinh tử với niết bàn,
nên không ở sinh tử, không ở niết bàn, không chán bỏ phản
bội chúng sinh, đó là việc Như lai làm. Hai, đối với chúng
sinh, Như lai không nghĩ họ là ngu phu, đi theo quan niệm thác
loạn, bị phiền não ép buộc, Như lai phải khai thị cho họ
siêu thoát; thế nhưng do sức mạnh của từ bi quá khứ, nên
đối với chúng sinh vẫn tùy trình độ, ý thích và nhận
định (7) của họ mà tự nhiên cứu độ, chỉ thị và huấn
dụ cho họ lợi ích và hoan hỷ (8) mà không phân biệt gì
hết, cùng tận thì gian, không có kết thúc, đó là việc Như
lai làm. Ba, Như lai không nghĩ Như lai phu diễn mười hai thành
phần của giáo pháp (9) , lợi ích chúng sinh; thế nhưng do
sức mạnh từ bi quá khứ, vẫn tuyên thuyết phong phú cho chúng
sinh, cho đến cùng tận thì gian, không có kết thúc, đó là
việc Như lai làm. Bốn, Như lai không nghĩ đi đến thị thành,
thôn quê, những nơi dân cư, vào nhà vua chúa, đại thần,
bốn giai cấp xã hội mà khất thực; nhưng do sức mạnh huân
tập của thân miệng ý quá khứ mà tự nhiên đi đến, vì
lợi ích cho họ mà khất thực, đó là việc Như lai làm. Năm,
Như lai thì thân không đói khát, cũng không đại tiểu, nên
tuy khất thực mà không thọ thực; nhưng vì tự nhiên ích
lợi chúng sinh nên hiện có ăn uống, đó là việc Như lai
làm. Sáu, Như lai không nghĩ chúng sinh có cao vừa thấp, tùy
trình độ của họ mà thuyết pháp cho; nhưng Như lai không
phân biệt mà vẫn tự nhiên tùy trình độ (10) chúng sinh,
khéo ứng theo cơ duyên mà thuyết pháp cho họ, đó là việc
Như lai làm. Bảy, Như lai không nghĩ có người không tôn kính
Như lai, thường phát ngôn phỉ báng, Như lai không thể đối
thoại; có người tôn kính Như lai, thường phát ngôn ca tụng,
Như lai có thể đối thoại; thế nhưng Như lai thường có
tâm từ bi, bình đẳng bất nhị, đó là việc Như lai làm.
Tám, Như lai không có thương ghét, kiêu ngạo, tham tiếc, và
mọi thứ phiền não đồng đẳng như vậy; mà Như lai thường
thích vắng lặng, khen thiểu dục, tách rời huyên náo, đó
là việc Như lai làm. Chín, Như lai không có một pháp nào không
biết và không khéo thông suốt, đối với toàn bộ các pháp
thì cảnh trí (11) như ở trước mắt và không có phân biệt;
thế nhưng Như lai vẫn thấy công việc của chúng sinh, tùy
ý họ mà phương tiện dẫn dụ cho họ siêu thoát, đó là
việc Như lai làm. Mười, Như lai thấy ai giàu thịnh thì không
mừng, thấy họ suy bại cũng không lo; nhưng thấy họ làm
theo chánh hạnh thì vô ngại đại bi tự nhiên gia hộ, thấy
họ làm theo tà hạnh thì vô ngại đại bi tự nhiên cứu hộ,
đó là việc của Như lai làm. Thiện nam tử, nên biết Như
lai nói có vô lượng diệu hạnh như vậy, và đó là sắc
thái thật của niết bàn. Còn có khi các người thấy Như
lai nhập niết bàn, thì đó là phương tiện thích nghi; các
người lại thấy lưu lại xá lợi thì đó là để cho chúng
sinh tôn kính hiến cúng. Những việc như vậy toàn là do sức
mạnh từ bi của Như lai, để ai hiến cúng xá lợi thì vị
lai xa rời tám nạn, gặp được chư vị Như lại, gặp được
các bậc Thiện tri thức, thiện tâm liên tục chứ không mất,
phước báo vô cùng, mau được siêu thoát, không bị sinh tử
trói buộc. Diệu hạnh như vậy các người nên nỗ lực mà
làm, đừng có phóng dật.
Bồ
tát Diệu tràng nghe đức Thế tôn đích thân nói đến sự
không nhập niết bàn và những diệu hạnh cực sâu, thì chắp
tay, cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, ngày nay con mới
biết bậc Thầy cao cả không nhập niết bàn và lưu lại xá
lợi, nhưng vì lợi ích một cách rộng lớn cho chúng sinh [mà
thị hiện niết bàn và lưu lại xá lợi]. Cả cơ thể và
tâm trí đều phấn chấn, vui đẹp, bồ tát Diệu tràng than
rằng thật là sự thể chưa bao giờ có.
Khi
phẩm thọ lượng Thế tôn được tuyên thuyết hoàn tất thì
vô số chúng sinh phát tâm vô thượng bồ đề. Và bốn đức
Thế tôn đều ẩn mất. Bồ tát Diệu tràng đảnh lễ ngang
chân đức Thế tôn, rồi đứng dậy trở về chỗ cũ.