Phẩm
6: Minh Chú Tịnh Địa
Bấy
giờ bồ tát Sư tử tướng vô ngại quang diệm, cùng với
bộ chúng vô lượng, từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt
áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất,
chắp tay cung kính, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, đem
các loại hoa hương và tràng phan bảo cái mà hiến cúng, rồi
thưa rằng, bạch đức Thế tôn, có mấy nhân tố được tâm
bồ đề? tâm bồ đề là gì? Bạch đức Thế tôn, nơi bồ
đề thì tâm hiện tại không thể có, tâm vị lai không thể
có, tâm quá khứ không thể có; rời bồ đề thì tâm bồ
đề cũng không thể có. Bồ đề thì không thể diễn tả,
tâm cũng phi sắc tướng, phi sự nghiệp (42) , phi tạo tác;
chúng sinh cũng không thể có, cũng không thể biết. Bạch đức
Thế tôn, cái nghĩa rất sâu xa như vậy của các pháp thì
làm sao biết được? Đức Thế tôn dạy, thiện nam tử, đúng
như vậy, đúng như vậy, bồ đề nhiệm mầu, sự nghiệp
và tạo tác toàn là phi cả. Rời bồ đề thì tâm bồ đề
cũng không thể có. Bồ đề không thể diễn tả, tâm cũng
không thể diễn tả, phi sắc tướng, phi sự nghiệp. Chúng
sinh cũng là không thể có. Tại sao, vì bồ đề với tâm đều
là chân như, năng chứng sở chứng đều bình đẳng. Nhưng,
thiện nam tử, không phải không các pháp mà có thấu hiểu.
Bồ tát đại sĩ thấu hiểu như vậy thì mới gọi là thông
suốt các pháp, là khéo nói về bồ đề và tâm bồ đề.
Tâm bồ đề là phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại. Tâm
cũng vậy. Chúng sinh cũng vậy. Và trong đó nhị biên thật
không thể có được. Tại sao, vì các pháp toàn là vô sinh.
Nên bồ đề không thể có, cái tên bồ đề cũng không thể
có, chúng sinh và cái tên chúng sinh không thể có, Thanh văn
và cái tên Thanh văn không thể có, Độc giác và cái tên Độc
giác không thể có, Bồ tát và cái tên Bồ tát không thể
có, Phật đà và cái tên Phật đà không thể có, tu hành với
không phải tu hành (43) không thể có, cái tên tu hành với
không phải tu hành cũng không thể có. Vì không thể có, nên
trong sự vắng lặng mà được đứng yên, và đó là do công
đức mà được.
Thiện
nam tử, như núi ngọc Tu di lợi ích tất cả, tâm bồ đề
lợi ích tất cả chúng sinh, đó là nhân tố của sự bố
thí, ba la mật thứ nhất. Như đại địa giữ mọi sự vật,
đó là nhân tố của sự trì giới, ba la mật thứ hai. Như
sư tử oai sức rất lớn, đi một mình mà không sợ hãi gì,
đó là nhân tố của sự nhẫn nhục, ba la mật thứ ba. Như
tốc lực cực mạnh của gió, dũng cảm và mau chóng, tâm không
thoái lui, đó là nhân tố của sự cần sách, ba la mật thứ
tư. Như lầu đài bằng bảy chất liệu quí, có bốn đường
cấp, gió mát thổi đến bốn cửa làm cho thích thú, kho tàng
tịnh lự cũng vậy, thỏa mãn đầy đủ cho mọi sở cầu,
đó là nhân tố của sự tịnh lự, ba la mật thứ năm. Như
vầng thái dương sáng chói rực rỡ, tâm này mau chóng phá
tan vô minh ám chướng, đó là nhân tố của sự trí tuệ,
ba la mật thứ sáu. Như thương trưởng làm cho mọi tâm nguyện
thỏa mãn, tâm này vượt được đường hiểm sinh tử, thu
hoạch vàng ngọc công đức, đó là nhân tố của sự phương
tiện, ba la mật thứ bảy. Như vầng trăng tròn sáng, tâm ấy
trong sạch đầy đủ đối với mọi đối cảnh, đó là nhân
tố của sự thệ nguyện, ba la mật thứ tám. Như tổng tư
lịnh quân đội của luân vương tự do tùy ý, tâm này khéo
trang hoàng thế giới, vô số công đức quảng lợi chúng sinh,
đó là nhân tố của sự năng lực, ba la mật thứ chín. Như
không gian và luân vương, tâm này đối với mọi đối cảnh
không có chướng ngại, đối với mọi vị trí đều được
tự tại, đạt đến địa vị quán đảnh, đó là nhân tố
của sự trí giác, ba la mật thứ mười. Đó là mười nhân
tố của tâm bồ đề. Mười nhân tố như vậy các người
phải tu học.
Thiện
nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu bố thí
ba la mật: một là tín căn, hai là từ bi, ba là không có tâm
lý cầu mong dục vọng, bốn là thu nhận hết thảy chúng sinh,
năm là nguyện cầu trí nhất thế trí. Đó là bồ tát đại
sĩ thành tựu bố thí ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự
mà bồ tát đại sĩ thành tựu trì giới ba la mật: một là
thân miệng ý trong sáng, hai là không làm yếu tố gây ra phiền
não cho chúng sinh, ba là đóng cửa đường dữ mở cửa đường
lành, bốn là vượt qua vị trí thanh văn độc giác, năm là
hoàn thiện đủ hết mọi thứ công đức. Đó là bồ tát
đại sĩ thành tựu trì giới ba la mật. Thiện nam tử, do năm
sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu nhẫn nhục ba la mật: một
là dẹp được phiền não tham lam tức giận, hai là không tiếc
tính mạng, không cầu an, ba là nghĩ đến nghiệp cũ, gặp
khổ nhẫn được, bốn là vì phát tâm từ bi thành thục thiện
căn cho chúng sinh, năm là để được vô sinh pháp nhẫn cực
kỳ sâu xa. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu nhẫn nhục
ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành
tựu cần sách ba la mật: một là không thích sống chung với
mọi thứ phiền não, hai là công đức chưa đủ thì không
hưởng yên vui, ba là không chán những sự khổ hạnh khó làm,
bốn là đem đại từ bi lợi ích chúng sinh, phương tiện thành
thục cho tất cả, năm là nguyện cầu vị trí không còn thoái
chuyển. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu cần sách ba la
mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu
tịnh lự ba la mật: một là nắm giữ thiện pháp không cho
tản mác, hai là thường mong giải thoát, không vướng nhị
biên, ba là nguyện được thần thông để thành tựu thiện
căn cho chúng sinh, bốn là vì làm trong sáng pháp giới, trừ
khử dơ bẩn của tâm, năm là vì diệt trừ gốc rễ phiền
não cho chúng sinh. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu tịnh
lự ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ
thành tựu trí tuệ ba la mật: một là phụng sự thân gần
mà không chán bỏ đối với chư vị Như lai Bồ tát và những
bậc minh trí, hai là tâm thường thích nghe mà không biết chán
biết đủ đối với diệu pháp sâu xa của chư vị Như lai,
ba là thích khéo phân biệt về thắng trí chân đế và thắng
trí tục đế, bốn là cấp tốc diệt trừ tất cả kiến
hoặc tu hoặc, năm là tinh thông tất cả năm minh xứ, trong
đó có mọi kyՠthuật thế gian. Đó là bồ tát đại sĩ thành
tựu trí tuệ ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát
đại sĩ thành tựu phương tiện ba la mật: một là thông suốt
hết thảy các dạng ý thích, phiền não và tâm hạnh của
chúng sinh, hai là hiểu rõ vô lượng pháp môn đối trị, ba
là tự do xuất và nhập định Đại từ bi, bốn là nguyện
tu hành thành tựu đầy đủ các pháp ba la mật, năm là nguyện
thấu suốt hết thảy Phật pháp, thu giữ không sót. Đó là
bồ tát đại sĩ thành tựu phương tiện ba la mật. Thiện
nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu thệ nguyện
ba la mật: một là tâm ở yên được nơi đạo lý các pháp
xưa nay bất sinh diệt, phi hữu vô, hai là tách rời dơ bẩn,
thể hiện trong sáng, tâm ở yên được mà quan sát ý nghĩa
cực kỳ nhiệm mầu của các pháp, ba là siêu việt tất cả
ý tưởng, tâm ở yên được nơi chân như của tâm không thi
vi, không chuyển biến, không dị biệt, không dao động, bốn
là vì muốn lợi ích chúng sinh nên tâm ở yên được nơi
tục đế, năm là tâm ở yên được nơi sự song hành của
chỉ quán. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu thệ nguyện
ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành
tựu năng lực ba la mật: một là đem năng lực của chánh
trí mà thấu triệt tâm hạnh thiện ác của chúng sinh, hai
là làm cho chúng sinh hội nhập diệu pháp cực kỳ sâu xa,
ba là biết rõ chính xác chúng sinh tùy nghiệp mà sinh tử luân
hồi, bốn là đem năng lực của chánh trí mà phân biệt biết
rành ba loại căn tánh của chúng sinh, năm là do trí lực mà
thuyết pháp hợp lý cho chúng sinh, làm cho họ gieo trồng thiện
căn, thành thục và giải thoát. Đó là bồ tát đại sĩ thành
tựu năng lực ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ
tát đại sĩ thành tựu trí giác ba la mật: một là phân biệt
thiện ác đối với các pháp, hai là rời xa pháp đen mà thu
nhận pháp trắng, ba là không chán sinh tử không ưa niết bàn,
bốn là đầy đủ phước đức và trí tuệ mà đạt đến
vị trí cứu cánh, năm là tiếp nhận sự quán đảnh siêu
việt, thực hiện mọi pháp bất cọng và trí nhất thế trí
của chư vị Như lai. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu trí
giác ba la mật.
Thiện
nam tử, ba la mật nghĩa là gì? Tu tập đạt được lợi ích
siêu việt là nghĩa ba la mật. Hoàn hảo tuệ giác vô lượng,
vĩ đại và rất sâu, là nghĩa ba la mật. Tâm không chấp trước
pháp tu hành với pháp không phải tu hành, là nghĩa ba la mật.
Tỉnh ngộ chính xác và quan sát chính xác tội lỗi của sinh
tử với công đức của niết bàn, là nghĩa ba la mật. Người
ngu người trí thu nhận tất cả, là nghĩa ba la mật. Hoạt
hiện diệu pháp đủ hết các dạng quí báu nhiệm mầu, là
nghĩa ba la mật. Đầy đủ trí tuệ vô ngại giải thoát là
nghĩa ba la mật. Phân biệt biết chính xác pháp giới và chúng
sinh giới, là nghĩa ba la mật. Bố thí cho đến trí giác đều
làm cho đạt đến vị trí bất thoái chuyển, là nghĩa ba la
mật. Hoàn thiện được vô sinh pháp nhẫn là nghĩa ba la mật.
Làm cho chúng sinh thành thục thiện căn công đức là nghĩa
ba la mật. Nơi tuệ giác vô thượng bồ đề, thành tựu được
tất cả các pháp bất cọng của chư vị Như lai, là nghĩa
ba la mật. Sinh tử với niết bàn rõ ràng bất nhị là nghĩa
ba la mật. Cứu vớt tất cả là nghĩa ba la mật. Ngoại đạo
chất vấn, khéo giải thích cho họ phục tùng, là nghĩa ba
la mật. Chuyển được pháp luân đủ cả mười hai hành tướng
là nghĩa ba la mật. Không vướng mắc, không quan điểm, không
hệ lụy, là nghĩa ba la mật.
Thiện
nam tử, bồ tát địa thứ nhất thì sự trạng này biểu hiện
trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là vô số kho báu (44)
trong đại thiên thế giới đều tràn đầy. Thiện nam tử,
bồ tát địa thứ hai thì sự trạng này biểu hiện trước
hết, và bồ tát thấy rõ, đó là đại thiên thế giới đất
bằng như bàn tay, với vô số vẻ đẹp của các loại ngọc
quí và những đồ trang sức. Thiện nam tử, bồ tát địa
thứ ba thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ
tát thấy rõ, đó là bản thân hùng mạnh, áo giáp và vũ khí
uy nghiêm, làm cho mọi kẻ thù nghịch đều khuất phục. Thiện
nam tử, bồ tát địa thứ tư thì sự trạng này biểu hiện
trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là có gió bốn hướng
đưa những loại hoa tuyệt diệu đến rải đầy mặt đất.
Thiện nam tử, bồ tát địa thứ năm thì sự trạng này biểu
hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là có những bảo
nữ tuyệt diệu, trang sức những chuỗi ngọc và những hoa
miện. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ sáu thì sự trạng
này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là có
hồ thất bảo lớn, với đường cấp bốn phía, cát vàng
rải khắp, sạch sẽ không dơ, nước tám đặc tính quí tràn
đầy trong hồ, các loại hoa sen mọc lên thích hợp vị trí,
và nơi hồ đầy hoa sen này dạo đi thích thú, mát mẻ bậc
nhất. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ bảy thì sự trạng
này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là trước
mặt bồ tát có những kẻ đáng đọa địa ngục, nhưng vì
năng lực của bồ tát mà không đọa nữa, không thương tổn,
không sợ hãi. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ tám thì sự
trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó
là hai bên thân mình có sư tử chúa hộ vệ, các loại thú
vật đều khiếp sợ. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ chín
thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy
rõ, đó là làm luân vương, với vô số người bao quanh phụng
sự, trên đỉnh có bảo cái trắng, được trang hoàng bởi
vô số ngọc quí. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ mười
thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy
rõ, đó là thân thể Như lai màu vàng rực rỡ, đủ cả vô
số ánh sáng trong suốt, với sô số Phạn vương bao quanh cung
kính hiến cúng, chuyển đẩy pháp luân nhiệm mầu và tối
thượng.
Thiện
nam tử, tại sao địa thứ nhất tên là hoan hỷ, [cho đến
địa thứ mười tên là pháp vân]? Thiện nam tử, địa thứ
nhất là đầu tiên chứng được tâm trí siêu việt thế gian,
xưa chưa được mà nay mới được, đại dụng tùy nguyện
mà thành tựu cả, sinh ra nỗi vui mừng cùng cực, nên địa
thứ nhất tên là hoan hỷ. Lỗi lầm phạm giới nhỏ nhiệm
nhất đều sạch sẽ cả, nên địa thứ hai tên là vô cấu.
Vô số ánh sáng của trí tuệ và chánh định đều không thể
bị khuynh động, không thể làm cho khuất phục, lấy tổng
trì Nghe nhớ làm căn bản, nên địa thứ ba tên là minh. Đem
lửa trí tuệ đốt các phiền não, tăng thêm ánh sáng, tu hành
giác phần, nên địa thứ tư tên là diệm. Tu hành phương
tiện nên thắng trí tự tại, đó là điều rất khó có, kiến
hoặc tu hoặc khó dẹp mà dẹp được, nên địa thứ năm
tên là nan thắng. Rất mực tỏ rõ về sự liên tục của
các hành (45) , vô tướng tư duy hiện hành tất cả, nên địa
thứ sáu tên là hiện tiền. Vô tướng tư duy đã vô lậu
và liên tục, giải thoát và tam muội đều tu hành đã xa,
sự trong sáng không có chướng ngại, nên địa thứ bảy tên
là viễn hành. Vô tướng tư duy đã tu tự tại, mọi phiền
não không thể khuynh động, nên địa thứ tám tên là bất
động. Thuyết pháp đủ mọi dạng thức sai biệt mà được
tự tại cả, không có hệ lụy, tăng trưởng trí tuệ đến
tự tại vô ngại, nên địa thứ chín tên là thiện tuệ.
Pháp thân như không gian, trí tuệ như mây lớn, bủa che khắp
cả, nên địa thứ mười tên là pháp vân.
Thiện
nam tử, vô minh chấp trước ngã pháp, vô minh sợ hãi đường
dữ, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ nhất.
Vô minh phạm giới nhỏ nhiệm, vô minh phát khởi hành nghiệp,
hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ hai. Vô minh
say đắm được cái chưa được, vô minh chướng ngại cho
tổng trì thù thắng, hai thứ vô minh này chướng ngại cho
địa thứ ba. Vô minh say đắm sự vui thích thiền định, vô
minh say đắm diệu pháp trong sáng, hai thứ vô minh này chướng
ngại cho địa thứ tư. Vô minh muốn bỏ sinh tử, vô minh mong
đến niết bàn, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa
thứ năm. Vô minh quán sát các hành lưu chuyển, vô minh hiện
hành thô tướng, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa
thứ sáu. Vô minh tế tướng hiện hành, vô minh tác ý ưa thích
vô tướng, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ
bảy. Vô minh vô tướng quán có dụng công, vô minh chấp tướng
tự tại, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ tám.
Vô minh chưa khéo léo về ý nghĩa và ngữ văn, vô minh chưa
tự do về hùng biện, hai thứ vô minh này chướng ngại cho
địa thứ chín. Vô minh chưa tự tại về đại thần thông,
vô minh chưa thấu triệt về tối vi mật, hai thứ vô minh này
chướng ngại cho địa thứ mười. Vô minh về sở tri chướng
nhỏ nhất, vô minh về phiền não chướng nhỏ nhất, hai thứ
vô minh này chướng ngại cho Phật địa.
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ trong địa thứ nhất tu hành thí
ba la mật, trong địa thứ hai tu hành giới ba la mật, trong
địa thứ ba tu hành nhẫn ba la mật, trong địa thứ tư tu
hành cần ba la mật, trong địa thứ năm tu hành định ba la
mật, trong địa thứ sáu tu hành tuệ ba la mật, trong địa
thứ bảy tu hành phương tiện ba la mật, trong địa thứ tám
tu hành nguyện ba la mật, trong địa thứ chín tu hành lực
ba la mật, trong địa thứ mười tu hành trí ba la mật.
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ địa thứ nhất phát tâm thì tu định
Sinh ra vàng ngọc tuyệt diệu, địa thứ hai phát tâm thì tu
định Sinh ra cái vui khả ái, địa thứ ba phát tâm thì tu
định Sinh ra sự khó lay động, địa thứ tư phát tâm thì
tu định Sinh ra sự không thoái chuyển, địa thứ năm phát
tâm thì tu định Sinh ra bông hoa ngọc ngà, địa thứ sáu phát
tâm thì tu định Sinh ra ánh sáng thái dương, địa thứ bảy
phát tâm thì tu định Sinh ra thỏa nguyện như ý, địa thứ
tám phát tâm thì tu định Sinh ra hiện tiền chứng ngộ, địa
thứ chín phát tâm thì tu định Sinh ra kho tàng trí tuệ, địa
thứ mười phát tâm thì tu định Sinh ra tinh tiến dũng mãnh.
Thiện nam tử, như thế ấy là mười sự phát tâm tu định
của bồ tát đại sĩ.
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ nhất được minh chú
tên là Dựa sức công đức. Minh chú này do hơn một hằng
sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa
thứ nhất. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi
sự sợ hãi, như cọp sói, sư tử, các ác thú khác, quỉ ác,
người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự
khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy (46) , không quên
nhớ đến địa thứ nhất. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên
thuyết minh chú ấy (47) : Tát da tha, pua ni, măn tra tê, tu hu,
tu hu, tu hu, da va, sua da, a va ba sa ti, da va, chăn dra, chu ku ti,
ta va ta, rát sa, măng, chăn đa, pa ri ha răm, ku ru, soa ha. (Tadyatha
purni mantrate tuhu tuhu tuhu yava surya avabhasati yava candra cukuti
tavata raksa mam canda pariharam kuru svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ hai được minh chú
tên là Khéo sống yên vui. Minh chú này do hơn hai hằng sa Như
lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ
hai. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ
hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc
giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn
như vậy, không quên nhớ đến địa thứ hai. Bấy giờ đức
Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy: Tát da tha, un ta li, si ri,
si ri, un ta li, tăn năng, jăn tu, jăn tu, un ta li, hu ru, hu ru,
soa ha. (Tadyatha untali siri siri untali tannam jantu jantu untali huru
huru svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ ba được minh chú
tên là Sức mạnh khó thắng. Minh chú này do hơn ba hằng sa
Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa
thứ ba. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự
sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù,
giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng
nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ ba. Bấy giờ
đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy: Tát da tha, tăn ta
ki, pau ta ki, ka ra ti, kau ra ti, kê du ri, tăn ti li, soa ha. (Tadyatha
tantaki pautaki karati kaurati keyuri tantili svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ tư được minh chú
tên là Sự ích lợi lớn. Minh chú này do hơn bốn hằng sa
Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa
thứ tư. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự
sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù,
giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng
nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ tư. Bấy giờ
đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy: Tát da tha, si ri, si
ri, đa mi ni, đa mi ni, đa ri i, Si đa ri ni ri, si ri ni, vi cha ra,
pa chi, pa chi na, păn đa mi tê, soa ha. (Tadyatha siri siri damini
damini darii Sdariniri sirini vicara paci pacina pandamite svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ năm được minh chú
tên là Công đức trang nghiêm. Minh chú này do hơn năm hằng
sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa
thứ năm. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự
sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù,
giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm thứ chướng
nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ năm. Bấy giờ
đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy: Tát da tha, ha ri, ha
ri ni, cha ri, cha ri ni, ka ra ma ni, săm ra ma ni, sáp, su ni, chăm
ba ni, si tau va ni, mo ha ni, si ja bu hê, soa ha. (Tadyatha hari harini
cari carini karamani samkramani samb suni cambani stauvani mohani sijabuhe
svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ sáu được minh chú
tên là Trí giác viên mãn. Minh chú này do hơn sáu hằng sa Như
lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ
sáu. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ
hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc
giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn
như vậy, không quên nhớ đến địa thứ sáu. Bây giờ đức
Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy: Tát da tha, vi tô ri, vi tô
rim, a ri ni, ma ri ni, ki ri, ki ri, vi tô hăn ti, ru ru, ru ru, chu
ru, chu ru, đua va, đu ru va, sá sa, sắc cha, va ri sá, soát ti,
sát va sát toa năm, sít đi dăn tu, ma da, măn tra, pa đa ni, soa
ha. (Tadyatha vitori vitorim arini marini kiri kiri vitohanti ruru ruru
curu curu durva duruva sasa saccha varisa svasti sasvasattvanam siddhyantu
maya mantra padani svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ bảy được minh chú
tên là Thắng hạnh của Pháp. Minh chú này do hơn bảy hằng
sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa
thứ bảy. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự
sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù,
giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng
nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ bảy. Bấy giờ
đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy: Tát da tha, ja ha, ja
ha ru, ja ha, ja ha ru, vi đu kê, vi đu kê, ăm ri ta, kha ni, vri
sa ni, vai ru, cha ni, vai ru chi kê, va ru vát ti, vi đi bi kê, băn
đin, va ri ni, ăm ri ti kê, ba hu ja ja, ba hu ja du, soa ha (Tadyatha
jaha jaharu jaha jaharu viduke viduke amrta khani vrsani vairu cani vairucike
varuvatti vidhibike bhandin varini amrtike babujaja babujayu svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ tám được minh chú
tên là Kho tàng vô tận. Minh chú này do hơn tám hằng sa Như
lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ
tám. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ
hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc
giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn
như vậy, không quên nhớ đến địa thứ tám. Bấy giờ đức
Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy: Tát da tha, si ri, si ri, si
ri ni, mi tê, mi tê, ka ri, ka ri, hê ru, hê ru, hê ru, chu ru, chu
ru, văn da ni, soa ha. (Tadyatha siri siri sirini mite mite kari kari
heru heru heru curu curu vandani svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ chín được minh chú
tên là Pháp môn vô lượng. Minh chú này do hơn chín hằng sa
Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa
thứ chín. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự
sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù,
giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng
nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ chín. Bấy giờ
đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy: Tát da tha, ha ri, chăn
đa ri kê, ku la ma ba tê, tô ri si, ba ta, ba ta si, si ri, si ri,
ka si ri, ka pi si ri, soát ti, sa va, soát ta năng, soa ha. (Tadyatha
hari candarike kulamabhate torisi bata batasi siri siri kasiri kapisiri
svasti sarva sattvanam svaha).
Thiện
nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ mười được minh
chú tên là Phá núi kim cương. Minh chú với những câu và chữ
cát tường đưa đến vị trí Quán đảnh như thế này là
do hơn mười hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho
bồ tát đại sĩ địa thứ mười. Ai tụng trì minh chú này
thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người
ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não,
thoát cả năm thứ chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến
địa thứ mười. Bây giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh
chú ấy: Tát da tha, si đi, su si đê, mô cha ni, mốc sa ni, vi
múc ti, a ma lê, vi ma lê, nia ma lê, mô ga lê, hi răn da ga bê,
rát na ga bê, sa măn ta ba rê, sa văn tê, si tha ni, ma na si, ăm
bu ti, ăn ti bu ti, a cha rê, vi ra sê, ăn ti, ăm ri ta, a ra sê,
vi ra sê, brắt mê, brắt ma nê, pua ni, pu ra na, nao tra tê, soa
ha. (Tadyatha sidhi susidhe mocani moksani vimukti amale vimale nirmale
mogalehiranyagarbhe ratnagarbhe samantabhadre sarvante sthani manasi ambuti
antibuti acare virase annti amrta arase virase brahme brahmane purni purana
nautrate svaha).
Vào
lúc bấy giờ bồ tát Sư tử tướng vô ngại quang diệm nghe
đức Thế tôn tuyên thuyết những minh chú bất khả tư nghị
như vậy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của
vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay
cung kính, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, dùng những lời
chỉnh cú mà tán dương Ngài.
(1)
Con kính lạy đấng
Không
thể ví dụ,
và
kính lạy pháp
Ly
tướng sâu xa.
Chúng
sinh bỏ mất
cái
biết chính xác,
chỉ
đức Thế tôn
mới
cứu vớt được.
(2)
Mắt tuệ sáng tỏ
của
đức Thế tôn
thì
không thấy có
một
pháp tướng nào,
nhưng
Ngài lại dùng
mắt
pháp chính xác
chiếu
soi khắp cả
bất
khả tư nghị.
(3)
Không hề thấy có
một
pháp sinh ra
không
hề thấy có
một
pháp diệt mất,
do
sự nhìn thấy
bình
đẳng như vậy
mà
được đạt đến
vị
trí vô thượng.
(4)
Không hề phá hoại
đối
với sinh tử,
không
hề trú ở
đối
với niết bàn;
vì
không vướng mắc
nhị
biên như vậy,
nên
đức Thế tôn
thật
chứng niết bàn.
(5)
Đối với thanh tịnh
đối
với tạp nhiễm
thì
đức Thế tôn
biết
là nhất vị,
vì
không phân biệt
các
pháp như vậy
nên
đức Thế tôn
được
tối thanh tịnh.
(6)
Thân không biên cương
của
đức Thế tôn
không
hề nói đến
một
chữ nào cả,
thế
mới làm cho
các
chúng đệ tử
được
sung mãn cả
nước
mưa chánh pháp.
(7)
Đức Thế tôn nhìn
thì
tướng chúng sinh
tất
cả chủng loại
đều
là không cả,
thế
nhưng đối với
những
người khổ não
Ngài
thường nổi dậy
mọi
sự cứu hộ.
(8)
Khổ não yên vui
thường
còn vô thường
hữu
ngã vô ngã
những
quan điểm ấy
không
là đồng nhất
cũng
không dị biệt
không
là phát sinh
cũng
không diệt mất.
(9)
Những nghĩa như vậy
thật
nhiều rất nhiều,
chỉ
do nói phô
mà
có sai biệt ;
ví
như tiếng vang
dội
từ hang trống,
chỉ
đức Thế tôn
thấu
rõ như vậy.
(10)
Thể tánh các pháp
vốn
không phân biệt,
vì
thế không có
các
thừa khác nhau;
nhưng
vì cứu độ
cho
bao chúng sinh,
Thế
tôn phân ra
nói
có tam thừa.
Đại
tự tại phạn thiên vương, lúc ấy, cũng từ chỗ ngồi đứng
dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống
chấm đất, chắp tay cung kính, đảnh lễ ngang chân đức Thế
tôn mà thưa, bạch đức Thế tôn, kinh Ánh sáng hoàng kim này
hiếm có, khó lường, phần đầu phần giữa phần cuối đều
khéo léo, văn và nghĩa đều trọn vẹn, hoàn thành được
toàn bộ Phật pháp. Ai thọ trì thì thế là người ấy báo
đáp ơn đức của chư vị Thế tôn. Đức Thế tôn dạy, thiện
nam tử, đúng như vậy, đúng như ông nói. Thiện nam tử, những
ai được nghe kinh này thì toàn là những người không còn
thoái chuyển vô thượng bồ đề, vì sao, thiện nam tử, vì
những người ấy năng lực thành thục được thiện căn thù
thắng của bồ tát ở địa vị không còn thoái chuyển. Kinh
này là ấn tín bậc nhất của Phật pháp, là vua của các
kinh, nên phải lắng nghe, tiếp nhận, ghi nhớ, cứu xét, tụng
thuộc. Vì sao, thiện nam tử, vì nếu ai chưa gieo trồng thiện
căn, chưa thành thục thiện căn, chưa thân cận chư vị Như
lai, thì không thể lắng nghe diệu pháp như vầy. Nên thiện
nam hay thiện nữ nào lắng nghe được thì diệt trừ nghiệp
chướng, thực hiện thanh tịnh; thường được nhìn thấy
chư vị Như lai, không rời xa các Ngài và những bậc thiện
tri thức, những bậc thắng hạnh; thường nghe diệu pháp,
đứng vững nơi vị trí không còn thoái chuyển, đạt được
các pháp tổng trì thù thắng bất tận bất giảm -- là tổng
trì Hải ấn xuất sinh công đức vi diệu, tổng trì Thông
suốt tâm ý và ngôn ngữ của chúng sinh, tổng trì Thái dương
tròn đầy phát xuất ánh sáng không gợn bẩn, tổng trì Vầng
trăng tròn đầy phát xuất ánh sáng, tổng trì Dẹp được
mê hoặc mà diễn ra dòng nước công đức, tổng trì Phá nát
núi kim cương, tổng trì Nói về kho tàng duyên khởi là nghĩa
lý không thể diễn nói, tổng trì Thông suốt nguyên tắc và
âm thanh của ngôn ngữ chân thật, tổng trì Không gian trong
sáng làm ấn tín của tâm, tổng trì Phật thân vô biên biến
thể khắp cả. Thiện nam tử, thành tựu được các pháp tổng
trì bất tận bất giảm như vậy, thì vị bồ tát đại sĩ
này năng lực hóa hiện được Phật thân khắp trong mười
phương quốc độ, diễn nói chánh pháp vô thượng, đủ mọi
dạng thức; đối với chân như của các pháp thì không chuyển
không trụ, không đến không đi; thành thục thiện căn cho
chúng sinh mà không thấy một chúng sinh nào là người được
thành thục; diễn nói các hành mà chính trong ngôn ngữ vẫn
không chuyển không trụ, không đi không đến, chính nơi sinh
diệt mà chứng bất sinh diệt. Tại sao nói các hành không
có đi đến? Vì thể tánh các pháp không có dị biệt. Khi
đức Thế tôn tuyên thuyết pháp thoại này thì ba mươi ngàn
bồ tát đại sĩ được vô sinh pháp nhẫn, vô số bồ tát
không còn thoái chuyển tâm bồ đề, vô số bí sô và bí sô
ni được sự trong sáng của mắt pháp, vô số chúng sinh phát
tâm bồ đề, và đức Thế tôn nói lời chỉnh cú sau đây.
Thắng
pháp ngược được
dòng
nước sinh tử,
cùng
cực nhiệm mầu
khó
mà thấy được.
Chúng
sinh đui mù
tham
ái che khuất,
do
không thấy được
nên
chịu khổ não.
Bấy
giờ cả đại hội đều đứng dậy, đảnh lễ ngang chân
đức Thế tôn, cùng thưa rằng, bạch đức Thế tôn, chỗ
nào giảng nói đọc tụng kinh Ánh sáng hoàng kim này thì chúng
con đến đó để làm thính giả. Chúng con làm cho vị pháp
sư tuyên thuyết kinh này được lợi ích, được yên vui, được
không chướng ngại, thân thể và tâm ý đều thư thái. Chúng
con thường tận tâm hiến cúng vị pháp sư ấy. Chúng con cũng
làm cho những người nghe kinh này được yên ổn, vui thích;
làm cho quốc gia của họ cư trú không oán thù, không giặc
giã, không kinh hoàng, không ách nạn, không đói khát, không
tất cả cái khổ như vậy, và dân chúng thì đông đảo, thịnh
vượng. Chỗ tuyên thuyết kinh này chúng con làm cho thành nơi
đạo tràng, chư thiên, nhân loại, loài khác, không ai nên giẫm
đạp trên đó với sự dơ bẩn, vì sao, vì chỗ tuyên thuyết
kinh này tức là bảo tháp tôn thờ đức Thế tôn, hãy hiến
cúng bằng hoa hương, bằng lọng dù bằng lụa, và chúng con
thường bảo vệ chỗ ấy, không cho suy tổn. Đức Thế tôn
dạy đại hội, chư thiện nam thiện nữ, các người nên siêng
năng tu tập bản kinh nhiệm mầu này, thì thế là chánh pháp
tồn tại lâu dài trong thế giới này.