Tổng
Quan Văn Bản
(1)
Kim quang minh kinh, theo Phật học nghiên cứu (Bài 10 trang 52),
có 6 bản dịch. Bản Một, Kim quang minh kinh, 4 cuốn, 19 phẩm,
Đàm mô sấm dịch. Niên đại phiên dịch của ngài này là
414-426. Bản Hai, Kim quang minh kinh, 7 cuốn, 21 phẩm, Chân đế
dịch. Niên đại phiên dịch của ngài này là 548-569. Bản
Ba, Kim quang minh kinh tục, 4 cuốn, Quật đa da xá dịch. Bản
Bốn, Kim quang minh kinh ngân chủ chúc lụy phẩm, Xà na quật
đa dịch. Niên đại phiên dịch của ngài này là 561-600. Bản
Năm, Kim quang minh kinh, còn gọi là Hợp bộ Kim quang minh kinh,
8 cuốn, Bảo quí san tiết, niên đại 598. Bản Sáu, Kim quang
minh tối thắng vương kinh, 10 cuốn, 31 phẩm, Nghĩa tịnh dịch.
Sẽ ghi riêng ở dưới.
(2)
Nhưng hiện nay trong Đại tạng kinh bản Đại chính chỉ còn
các bản Một, Năm và Sáu. Bản Một còn nguyên vẹn, mang số
hiệu 663, Đàm mô sấm diểch. Ngài là vị đã dịch kinh Đại
bát niết bàn và Phật sở hành tán rất nổi tiếng. Văn và
nghĩa tất cả dịch phẩm của ngài này rất là trong sáng.
Chỉ tiếc kinh Kim quang minh thì Phạn bản của ngài căn cứ
chắc chắn thiếu sót. Thế nhưng trước bản Sáu, bản Một
này được quan tâm nhiều lắm. Mục lục Đại tạng kinh bản
Đại chính ghi có 5 bản sớ giải (số hiệu 1783-1787), toàn
do các vị đại sư viết, trong đó có các ngài Trí giả, Cát
tạng. Mục lục Tục tạng kinh bản chữ Vạn ghi 6 bản, trong
các tập 30-31. Gần như nói kinh Kim quang minh là nói bản Một.
Bản
Năm, nói là hợp, nhưng Phật học nghiên cứu (bài 10 trang
52) nói là san tiết 4 bản trước. Thế là việc làm công ít
hơn tội. San tiết đến mức nào, theo tiêu chuẩn nào, thì
chưa quyết đoán được, nay, sơ khởi, chỉ xét đại thể,
thì bản Năm này hợp 18 phẩm của bản Một; 4 phẩm (3, 5,
6, 9) của bản Hai, nhưng toàn là những phẩm rất quan trọng;
lại hợp 2 phẩm (11 và 24) của bản Bốn.
Đáng
thống trách là bản Hai của ngài Chân đế dịch đã không
còn. Không những dịch giả là ngài Chân đế, mà bản này
khá đủ (28 phẩm), nên bản này chắc chắn quan trọng. Nhưng
hiện nay đã mất. Nếu bản Năm cũng có trách nhiệm phần
nào trong sự mất ấy thì bản Năm công ít hơn tội.
(3)
Nay nói riêng bản Sáu. Đó là chính văn tôi dịch. Chính văn
bản này nằm trong Chính 16/403-456. Ở đó, chót hết, trang
456, có ghi: Phạn bản kinh này là của hiệp hội Asia hoàng
gia Anh quốc. So với bản dịch của ngài Nghĩa tịnh, thì Phạn
bản này có chỗ thiếu. Tức như minh chú thiếu khá nhiều.
Căn cứ bản dịch của Tây tạng (Đồ thư quán đại học
Tôn giáo của Nhật) mà đối chiếu, thì kinh Kim quang minh Tây
tạng có 2 bộ. Một trong 2 bộ ấy đúng là bản Hoa văn của
ngài Nghĩa tịnh dịch, dẫu tựu trung vẫn có khác chút ít.
Như
vậy Phạn bản kinh này, vì quá phổ thông, sao chép không ít,
nên Phạn bản của các bản Một và Hai đã khác nhau, lại
khác với bản Sáu. Phạn bản của bản Sáu cũng khác chút
ít với Phạn bản hiện còn, với bản dịch Tây tạng. Chưa
hết, theo ghi chú của chính ngài Nghĩa tịnh (Chính 16/437) mà
tôi ghi lại (số 78) thì khi dịch kinh này, ngài Nghĩa tịnh
có trong tay không phải chỉ có 1 Phạn bản. Thế nhưng, nhìn
chung bản Một và bản Sáu, suy đoán thêm bản Hai, thì có
thể biết Phạn bản tuy sao chép không hoàn toàn đồng nhất
mà lại rất đồng nhất về đại thể.
Dịch
giả bản Sáu, ngài Nghĩa tịnh, thì lược truyện nằm trong
Chính 50/710-711. Nhưng ở đây chỉ trích 2 lời ghi. Một, Chính
98/662 ghi: Ngài người Tề châu, họ Trương, tự Văn minh, năm
671 du học Ấn độ, năm 695 về nước. Năm 700-711 dịch Kim
quang minh tối thắng vương kinh v/v, lại viết Đại đường
tây vức cầu pháp cao tăng truyện v/v. Năm 713 viên tịch. Hai,
Phật học nghiên cứu (bài 10 trang 18) ghi: Ngài Nghĩa tịnh
năm 15 tuổi đã nuôi chí du học Ấn độ, nhưng năm 37 tuổi
mới đi được. Ban đầu có đồng chí vài mươi người, nhưng
rồi lui cả. Ngài phấn chí độc hành. Trải đủ gian nan hiểm
nạn. Đến đâu cũng biết tiếng nói ở đó. Tù trưởng nào
cũng trọng. Trải 25 năm, qua hơn 30 tiểu quốc, lưu học Na
lan đà 10 năm. Khi về, mang theo Phạn bản kinh luật luận gần
400 bộ, dịch được 56 bộ, 230 cuốn (kiểm tra Chính 98/662
liệt kê thì 58 bộ, 236 cuốn). Sau ngài Huyền tráng chỉ một
ngài này mà thôi. Ngài viết Đại đường tây vức cầu pháp
cao tăng truyện, Nam hải ký qui truyện, Nội pháp truyện, toàn
là sách quí về chưởng cố của Phật giáo. Cuốn hạ Cầu
pháp truyện, nơi truyện Huyền lục, ngài tự thuật du tích
khá rõ.
Bản
dịch kinh này của ngài Nghĩa tịnh có 3 bản sớ giải. Trung
hoa có bản của ngài Tuệ chiểu (số hiệu 1788), Nhật bản
có 2 bản (các số hiệu 2196 và 2197). Dĩ nhiên bản của ngài
Tuệ chiểu phải được tham khảo hơn cả. Tôi đã tham khảo
bản này mà dịch. Về ngài Tuệ chiểu thì là tam truyền của
ngài Huyền tráng, tác giả Duy thức liễu nghĩa đăng. Chính
98/659 ghi: Húy là Huyền, họ đời là Lưu, người Bành thành,
ở chùa Đại vân thuộc Truy châu. Thâm đạt huyền chỉ Pháp
tướng tông, viết nhiều sớ giải. Lại tham dự dịch trường
của các ngài Nghĩa tịnh và Bồ đề lưu chí. Viên tịch năm
714. Vậy là dịch giả và sớ giả bản Sáu viên tịch cách
nhau có 1 năm, lại cọng sự phiên dịch, thì bản sớ giải
của ngài Tuệ chiểu được viết lúc ngài Nghĩa tịnh đang
còn, chắc là như vậy.
Tổng
Quan Ngoại Hình
(1)
Trước hết nên thu xếp 31 phẩm lại một chút.
Phần
một là phẩm 1 "mở đầu pháp thoại".
Phần
hai là phẩm 2 "thọ lượng Thế tôn" và phẩm 3 "phân biệt
ba thân" là nói pháp thân bất diệt.
Phần
ba là phẩm 4 "âm thanh trống vàng", phẩm 7 "hoa sen ca tụng"
phụ thuộc phẩm 4, phẩm 5 "diệt trừ nghiệp chướng", tất
cả đều nói sám trừ ác nghiệp.
Phần
bốn là phẩm 6 "minh chú tịnh địa" là nói 10 địa 10 độ.
Phần
năm là phẩm 9 "trùng tuyên về Không" và phẩm 10 "mãn nguyện
vì Không" là nói do Không mới sám trừ ác nghiệp và tu hành
địa độ.
Phần
sáu là phẩm 8 "minh chú Kim thắng", phẩm 13 "minh chú Ly nhiễm",
phẩm 14 "ngọc báu Như ý", là nói minh chú căn bản, nhất
là phẩm 8 và phẩm 13.
Phần
bảy là các phẩm 11 (phụ vào là phẩm 12), phẩm 15, phẩm
16 (phụ vào là phẩm 17), phẩm 18, phẩm 19, phẩm 22, tất cả
là nói thiên thần hộ trì (chư thiên và thiện thần hộ trì
cho nhân loại).
Phần
tám là phẩm 20 "vương pháp chính luận" và phẩm 21 "Thiện
sinh luân vương" là nói tư cách quốc trưởng.
Phần
chín là phẩm 23 "thọ ký làm Phật", phẩm 24 "chữa trị bịnh
khổ" và phẩm 25 "truyện của Lưu thủy" là nói năng lực
trì kinh (qua tiền thân).
Phần
mười là phẩm 26 "xả bỏ thân mạng" nói một bồ tát hạnh
của Phật.
Phần
mười một là các phẩm 27, 28, 29 và 30, là nói sự tán dương
Phật.
Phần
mười hai là phẩm 31 "ký thác kinh vua", kết thúc pháp thoại.
(2)
Tất cả 12 phần trên, trừ phần đầu và phần cuối, còn
lại nên chia ra 2 bộ phận. Bộ phận chính thuyết, gồm có
phần hai đến phần năm. Bộ phận phụ thuyết gồm 6 phần
còn lại.
Bộ
phận chính thuyết cốt nói sám hối, diệt trừ ác nghiệp,
là vì bản thể là pháp thân trong sáng, vì ác nghiệp là Không.
Cũng từ Không mà viên mãn thệ nguyện và hoàn thành 10 địa
mà thực hiện pháp thân.
Bộ
phận phụ thuyết nói uy linh của minh chú và sự hộ vệ của
chư thiên thiện thần; nói tư cách, đặc biệt tư cách quốc
trưởng, được sự hộ vệ ấy; nói vài tiền thân của Phật
liên hệ kinh này. Tất cả đều cốt để duy trì và quảng
bá kinh này (mà bộ phận chủ thuyết đã nói).
(3)
Tựu trung có vài chỗ cần nói. Phần bốn phẩm 6 nói số
lượng chư Phật tuyên thuyết minh chú cho 10 địa có vẻ ước
lệ quá. Đoạn nói sự trạng mà 10 địa thấy thì có mấy
sự trạng hơi lạ.
Phần
mười phẩm 26 nói tiền thân của Phật xả thân cho mẹ con
cọp đói ăn. Về văn tự, phần chỉnh cú của phẩm này rõ
ràng sao chép có phần thiếu thứ tự, hóa ra như có chỗ trùng
lặp. Nhưng cái điều đáng nói là, qua chỉnh cú 80, 81 và
82, nói cọp mẹ sau là Đại thế chúa (?), 7 cọp con là 5 vị
tỷ kheo đầu tiên và các ngài Xá lợi phất và Mục kiền
liên, sự kết thúc này cho thấy hành động xả thân của
Phật đã không là xúc động thiếu suy xét. Bởi vì, hoặc
do quá chân thành mà cảm ra, hoặc do quá biết trước sẽ
xảy ra, đàng nào việc Phật làm vẫn có hậu quả là cọp
mẹ cọp con đều không còn là cọp nữa. Trước đó, trong
văn trường hàng, đã thuật lời tiền thân của Phật, rằng
"Ngày nay ta sai cái thân này làm cái việc cao cả. Trong biển
sinh tử, nó phải là thuyền tàu to lớn". Vậy thì tiền thân
Phật xả thân không vì xúc cảm thiếu suy xét, càng không
vì chán mình.
(4)
Kinh này dầu là loại hiển mật, nhưng hiển giáo vẫn là
phần chính. Xét phần này thì thấy kinh này chịu ảnh hưởng
rõ rệt, quá rõ rệt, của các kinh sau đây.
Trước
hết là ảnh hưởng của Pháp hoa. Phần hai, với phẩm 2 và
3, cho thấy như vậy. Không những pháp thân bất diệt, mà
báo thân cũng bất diệt. Phật bất diệt là như vậy.
Rồi
đến ảnh hưởng của Bát nhã. Phần ba với phẩm 5, phần
năm với phẩm 9 và phẩm 10, đích thị là chủ yếu của kinh
này, mà căn bản là cái Không vừa siêu việt, vừa biện chứng,
vừa tích cực.
Sau
hết, ảnh hưởng cũng không nhỏ của kinh Giải thâm mật
và kinh Duy ma cật. Không nói rải rác đây đó, mà chỉ nói
phần bốn phẩm 6 và phần năm phẩm 10 cũng quá đủ để
thấy ảnh hưởng ấy.
Tuy
nhiên, tuy kinh này có đến 31 phẩm, qui nạp thành 12 phần,
và chịu ảnh hưởng nhiều kinh, nhưng kinh này vẫn có tư
tưởng hệ riêng và rõ, rất thống nhất và hoàn chỉnh.
Tổng
Quan Nội Dung
(A/1)
Toàn bộ Phật giáo, bất kể nguyên thỉ, bộ phái hay đại
thừa, đều rất trọng cái thân loài người. Nói tu theo Phật
giáo là nói do cái thân người và do ý thức nơi thân ấy.
Kinh này, trước hết, cũng là như vậy.
Không
cần lặp lại, Phật tử thì ai cũng biết thân người dễ
tu chứng, nhân loại là nơi Phật thị hiện thân Phật. Vì
ở đây không quá khổ quá sướng, ở đây tư duy và hành
động sắc bén, quả cảm. Nhưng kinh này còn nói rõ chính
nơi cái thân ngũ uẩn mà phát hiện pháp thân và thực hiện
pháp thân ấy.
Rõ
ràng hơn nữa, kinh này nói "thân này thì bản thân, yếu tố,
đối cảnh, đối tượng, kết quả, tất cả toàn là dựa
vào chân như, và nó thật khó mà nghĩ bàn. Thân này là cỗ
xe vĩ đại, là thể tánh Như lai, là bào thai Như lai" (phẩm
3). Câu đầu đoạn văn này phải giải thích. Bản thân thì
thân này là thắng thân (cái thân đặc thù, hơn hết), làm
cái dụng cụ chứa đựng Phật pháp. Yếu tố là thắng thiện
(điều thiện đặc thù, hơn hết) đời trước làm nhân tố
có ra thân này. Đối cảnh là trí tuệ và phước đức mà
thân này vin lấy. Đối tượng là đối tượng tối thượng
và tối hậu mà thân này nhắm đến, hoạt động theo, đó
là đại bồ đề. Kết quả là sự đại giải thoát hội
nhập chân như. Bản thân là dị thục quả, yếu tố là tăng
thượng quả, đối cảnh là đẳng lưu quả, đối tượng
là sĩ dụng quả, kết quả là ly hệ quả. Trọn vẹn kinh
này, hay bất cứ kinh nào, nằm gọn như vậy trong cái thân
này.
(A/2)
Dựa vào thân ấy mà kinh này nói về diệu pháp sám hối.
Sám hối là chủ đề của kinh này. Sám hối là vì một, bản
thể là bất diệt và hai, ác nghiệp vốn Không.
Bản
thể bất diệt nghĩa là bản thể không sinh diệt, vốn và
vẫn trong sáng. Bản thể ấy là chân như. Do vậy mà phải
sám hối và có thể sám hối được. Tựa như trăng vốn và
vẫn sáng, nên mây mù phải được, và có thể được, xua
tan đi.
Bản
thể ấy thực hiện là Phật. Nên Phật thì bất diệt, thọ
lượng bất tận. Niết bàn chỉ là sự thị hiện vì cần
phải thị hiện như vậy. Nhưng Phật bất diệt không phải
chỉ là pháp thân bất diệt. Có 2 trường hợp nữa. Một,
cái nhân thọ lượng bất diệt (bất sát và dữ thực) Phật
rất viên mãn, nên báo thân của Phật là bất diệt. Phật
thường ở Linh sơn, kinh Pháp hoa và kinh này đều nói minh
bạch như vậy. Hai, Phật ở ngay cạnh ta. Ta không thấy được
vì cái thấy của ta thấy sống thấy chết. Cái thấy ấy
không thể thấy được cái không sống chết là Phật. Phật
là thực tướng hiện tiền. Ác nghiệp diệt trừ thì đương
xứ tiện thị, bản lai như thị.
(A/3)
"Thiện nam tử, tất cả các pháp sinh từ yếu tố tương quan;
Như lai đã nói sự thể này sinh thì sự thể khác diệt, vì
yếu tố khác biệt với nhau, nên sám hối sinh thì nghiệp
chướng diệt. Do vậy, ác pháp đã có thì diệt trừ vì sự
sám hối, nên nghiệp chướng không còn sót lại; thiện pháp
chưa sinh thì phát sinh vì sự sám hối, nên nghiệp chướng
không thể sinh nữa. Lý do là vì, thiện nam tử, tất cả các
pháp toàn là Không; Như lai đã nói không ngã nhân chúng sinh
thọ giả, không sinh không diệt, không cả hành pháp sám hối.
Thiện nam tử, tất cả các pháp toàn dựa vào căn bản chân
như, nên cũng không thể diễn tả -- vì căn bản chân như
thì siêu việt tất cả trạng thái sinh diệt. Thiện nam hay
thiện nữ nào hội nhập diệu lý như vậy mà kính tin, thì
thế là không chúng sinh mà có căn bản -- Chính vì ý nghĩa
này mà nói đến sự sám hối, diệt trừ nghiệp chướng"
(phẩm 5). Chưa kinh luận nào có văn ý đơn giản mà rõ ràng
như đoạn văn này, nói về sự sám hối, về Không trong sự
sám hối. Cái Không ấy vừa là siêu việt, vừa là biện chứng,
lại vừa là tích cực. Cái Không tích cực là "vì Không mà
các pháp được thành tựu", nên kinh này nói 10 địa độ,
nói "mãn nguyện vì Không".
Và
như vậy thì nội dung bộ phận chủ thuyết của kinh này có
thể tạm ngừng ở đây. Dưới đây là nội dụng bộ phận
phụ thuyết.
(B/1)
Có cái điều này chẳng phải chỉ là nội dung của bộ phận
phụ thuyết, mà là chủ yếu của trọn kinh này. Ấy là kinh
này rất trọng cái gọi là thắng diệu lạc: hạnh phúc đặc
thù và tuyệt hảo trong nhân loại và chư thiên, nhưng đặc
biệt vẫn là trong nhân loại. Rất giống kinh Địa tạng,
kinh này đề cao thắng diệu lạc từ đầu đến cuối. Kinh
này không nói gì cao xa, chỉ nói sự yên ổn, yên vui, nhất
là sự yên vui của quốc gia. Tiền tài, danh vọng, kinh này
không khinh thị. Nhưng thắng diệu lạc, trước hết, vẫn
là thoát ly "cái khổ trong lĩnh vực Diêm vương", trong các
ác đạo.
Thế
nhưng thắng diệu lạc là xuất từ kinh này và có khả năng
theo kinh này. Thắng diệu lạc không có cho ai có khả năng
vì thắng diệu lạc mà làm trái kinh này. Cho nên tiền tài,
danh vọng, nói rộng ra cho đến nền thanh bình của một quốc
gia, không thể có được từ những nguyên nhân và dẫn đến
hậu quả phi chánh pháp. Minh chú và chư thiên thiện thần
không giúp được ước vọng thắng diệu lạc phi thực chất
thắng diệu lạc.
Điều
cần nói thêm là thắng diệu lạc của một quốc gia thực
chất phải là hoán cải theo chánh pháp. Trong thực chất ấy,
rõ hơn bất cứ kinh luận nào, kinh này đối với nền an ninh
quốc gia không phủ nhận mà trái lại còn đề cao quân lực,
đề cao chiến đấu, và chiến đấu thành công, trong sự tự
vệ. Kinh này phủ nhận hoàn toàn sự xâm lăng, bành trướng,
chấp nhận rõ ràng các quốc gia phải sống hòa bình tương
nhượng, nên nếu bị giặc thù xâm lăng thì sự chống trả
được hỗ trợ.
Nhưng
trên đây chỉ mới nói giặc. Không thắng diệu lạc còn có
2 sự nữa được kinh này luôn luôn nêu lên, ấy là đói (nhân
mãn) và dịch (truyền nhiễm). Không một chút khó khăn gì
để thấy tại sao kinh này quan tâm đến 2 điều này.
(B/2)
Nhưng thắng diệu lạc của quốc dân và quốc gia tùy thuộc,
nếu không hoàn toàn thì cũng là chủ yếu, vào chức vị nguyên
thủ. Chức vị đó được gọi là quốc vương, hay là gì,
chỉ là vì thể chế, nhưng thực sự vẫn chịu trách nhiệm
đối với quốc dân và quốc gia. Kinh này, vì vậy, nói khá
nhiều về quốc vương.
Căn
bản của quốc vương là phục vụ quốc dân và quốc gia bằng
sự áp dụng chánh pháp cho bản thân, thân quyến và quốc
dân. Ông phải tự cấm và tự trừng trị ông, phải cấm
và từng trị những kẻ gian tham và dua nịnh. Ông không được
để những kẻ này phá hoại quốc gia và quốc dân như những
con voi điên dẫm đạp hoa viên. Ông không đáng gọi là quốc
vương nếu không áp dụng chánh pháp, trừng trị phi pháp.
Ông phải tự làm và làm cho quốc dân "hướng về nhau bằng
từ tâm". Nếu ông là một quốc vương xứng danh và thực
như vậy thì quốc dân và quốc gia của ông thịnh vượng
vì quân lực, vì thương nghiệp và nông nghiệp, không thể
bị hoành hành vì giặc, đói và bịnh.
(B/3)
Kinh này dĩ nhiên đề cao sự hộ vệ của chư thiên thiện
thần. Chư thiên và thiện thần kinh này nói mà ít thấy ở
kinh khác, đó là Phạn vương, Đế thích, Thiên vương, Đại
biện tài thiên nữ, Đại cát tường thiên nữ, Kiên lao địa
thần, Bồ đề thọ thần, Chánh liễu tri đại tướng. Hãy
chú ý vị cuối cùng. Đấy là đại tướng thủ lãnh của
bộ loại Dược xoa. Dược xoa là Kim cang quyến thuộc, trong
Mật tông thì thống thuộc Kim cang tạng bồ tát (Phổ hiền
bồ tát của Hiển giáo). Bộ loại Dược xoa mạnh, nhanh, bí
mật, do nghiệp lực mà có cũng có, do nguyện lực mà có cũng
có. Bộ loại này được nói đến trong sự hộ trì kinh chú
và người trì kinh chú, trong sự hộ vệ quốc gia và quốc
dân.
Đặc
điểm kinh này nói về thiên và thần là giữa họ với nhân
loại có sự tương quan. Ấy là nhân loại sống theo chánh
pháp thì họ được nhờ và họ hộ vệ. Phải chú ý sự
tương quan này mới nói đến sự hộ vệ của chư thiên thiện
thần.
Đương
cơ của kinh này là Diệu tràng, một vị bồ tát người thành
Vương xá. Trong danh sách bồ tát loài người, thời Phật,
phải kê thêm tên vị này. Và thật là dễ hiểu khi thấy
đặc tính nhân bản rất rõ và nhất quán của kinh này.
12.1.2538