Theo
lời chú đời xưa nói rằng Lăng-ca là tên một hòn núi rất
bí ẩn ở trên đảo Tích-Lan ngày nay, có bể lớn bao bọc
chung quanh, trên đỉnh núi có cái thành không có cửa là nơi
Dạ-xoa quỉ vương ở và có những quỉ dạ-xoa thường hay
đi bắt người và các loài sinh vật mà ăn, rất đáng kinh
hãi.
Nhân
khi Phật đi thuyết pháp ở Hải-Long-Vương cung về qua đấy,
quỉ vương đi đón Phật và mời Phật vào trong thành Lăng-Ca
xin thuyết pháp. Phật cùng các Bồ Tát, có Đại Tuệ Bồ
Tát đứng đầu, vào thành thuyết pháp. Những điều
Phật nói trong kinh này là lời Phật thuyết ở trong thành
ấy, cho nên mới lấy tên thành mà gọi Lăng-Ca kinh.
Ghi
Chú của Cụ Trần Trọng Kim:
Hai
tiếng Lăng-ca này ở các chùa thường đọc là Lăng Già, nhưng
muốn theo đúng tiếng Phạm thì gọi là Lăng Ca phải hơn.-
Có thuyết nói rằng tên núi ấy là Lăng-ca-a bạt-đa-la bảo
sơn, tiếng Phạn là Lankavatara. Núi ấy dưới nhỏ trên to
cho nên không ai lên được. Núi ấy lại ẩn hiện rất huyền
bí, như khi trời mây u ám, đêm tối mờ mịt, sóng gió dữ
dội, thì núi hiện ra rõ ràng, mà khi trời thanh bể lặng
thì trông không thấy đâu cả. - Sách nhà Phật thường
dùng những tiếng núi, sông, bể để hình dung những cái vô
hình như ngũ uẩn sơn, sinh tử hải v.v...
Vậy
những tiếng núi bể nói đây cũng dùng theo cái nghĩa bóng
ấy cả.
Theo
thuyết người Ấn-Độ thuở trước thì Kinh Lăng-Ca toàn bộ
có 40 quyển, 151 phẩm, nhưng chỉ có đệ nhất phẩm là Nhất
Thiết Phật Ngữ Tâm truyền sang nước Tàu mà thôi. Tương
truyền phẩm này có 4 bản dịch ra Hán văn đều do tăng Ấn-Độ
dịch cả, nhưng nay còn truyền lại có 3 bản:
-
Một bản có từ đời Lưu-Tống (420-477) do tăng Ấn-Độ tên
Cầu-na Bạt-đà-la dịch, gọi là Lăng-ca-a-bạt-đa-la bảo
kinh , 4 quyển.
-
Một bản có từ đời Nguyên-ngụy ở phía bắc (386-534) do
tăng Ấn-Độ tên Bồ-đề Lưu-chi dịch, gọi là Nhập Lăng-ca
kinh ,10 quyển.
-
Một bản có từ đời Đường (618-907) do tăng Ấn-Độ tên
Thực-xoa Nan-đà dịch, gọi là Đại-thặng Nhập Lăng-ca kinh
, 7 quyển.
Ba
bản dịch ấy tuy chia ra số quyển khác nhau, nhưng vẫn chỉ
có một phẩm Nhất Thiết Phật Ngữ Tâm mà thôi,
mà cái nghĩa của toàn phẩm là lấy nhất tâm làm tông. Thế
là cái học tâm tông truyền sang Tàu gốc ở Kinh Lăng-Ca này,
cho nên về sau Thiền Tông xuất hiện ở nước Tàu vào khoảng
đời Đường thường nói: Chư Phật, chư Tổ lấy kinh này
làm tâm ấn vậy.
Đại
yếu kinh Lăng-Ca là trực chỉ minh tâm kiến tánh thành Phật
để làm một thứ giáo ngoại biệt truyền, lập thành cái
Đốn-giáo Đại-thặng.
Vào
khoảng đời nhà Lương (502-557) Sơ Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma đem
cái tâm tông bí truyền ở bên Ấn-Độ sang nước Tàu, rồi
đến khi truyền pháp cho Nhị Tổ Tuệ-Khả, nói rằng: "Ta
xem các kinh giáo ở Chấn-Đán, duy có bốn quyển Lăng-ca là
có thể để ấn chứng cái tâm".
Từ
Nhị Tổ Tuệ Khả đến Ngũ Tổ Hoàng-Nhẫn, trong Thiền Tông
vẫn lấy kinh Lăng-ca truyền thụ. Sau không biết vì lẽ gì
mà Ngũ Tổ đem kinh Kim-Cương thay kinh Lăng-ca. Sách Pháp Bảo
Đàn Kinh chép lời người khách nói với Lục Tổ Huệ-Năng
khi còn hàn vi rằng: "Ta đến chùa Đông-thiền ở Hoàng-mai
để lễ bái, được nghe kinh Kim-cương, Ngũ Tổ Hoàng-Nhẫn
đại sư thường khuyên tăng và tục nên tụng kinh Kim-cương
tức tự thấy tánh, hiểu ngay thành Phật". Đến khi Ngũ Tổ
truyền pháp cho Lục tổ cũng chỉ giảng kinh Kim-cương, chứ
không nói gì đến kinh Lăng-ca. Từ đó về sau, trong Thiền
môn chư tăng chuyên dùng kinh Kim-cương mà bỏ nhãng kinh Lăng-ca.
Mãi
đến thế kỉ thứ XI, vào khoảng đời vua Tống Nhân-tông
(1023-1063) có quan Thái-tử Thái-bảo Trương An-Đạo xướng
lên việc đọc kinh Lăng-ca, rồi đến năm Nguyên-phong (1078-1085)
đời vua Tống Thần-tông mới đưa cho ông Tô Đông-Pha khắc
bản in. Từ đó kinh Lăng-ca mới thịnh hành ở đời.
Đến
cuối đời nhà Minh, có vị cao tăng Thích Đức-Thanh tinh thông
cả Thiền và Tịnh chấn hưng lại cái đạo trường ở Tào-khê
của Lục Tổ ngày xưa. Người đời gọi vị cao tăng ấy
là Hám-Sơn đại sư. Hám-Sơn đại sư đem hai bộ kinh quan
thiết đến tâm tông như Lăng-ca kinh và Thủ-lăng-nghiêm kinh
mà giải thích ra rõ ràng. Đại sư lấy bản Lăng-ca-a-bạt-đa-la
bảo kinh 4 quyển dịch từ đời Lưu Tống mà so sánh với
2 bản kinh dịch từ đời Nguyên-ngụy và đời Đường, rồi
cứ mỗi một chương chính văn trong kinh lại có một bài ký
gọi là Quan Lăng-Ca Kinh Ký để giải rõ thêm những ý
nghĩa trong lời Phật nói.
Theo
như lời tựa của Hám-sơn đại sư viết, thì bộ kinh Lăng-ca
giải thích xong vào năm Mậu-tuất là năm Vạn-lịch thứ 25
(1598) đời vua Thần-tông nhà Minh. Nhờ có bản kinh ấy mà
ngày nay ta có thể hiểu được nhiều ý nghĩa rất cao, rất
hay trong bộ kinh rất khó hiểu ấy.
Ở
Việt-Nam ta, thì mãi đến năm Cảnh-hưng (1740-1786) đời vua
Hiển-tông nhà Hậu Lê, có tăng Tuệ-Bảo sang Tàu thỉnh được
bộ Lăng-ca đem về, rồi có Thích Thản-Thản Thiền-sư , nhờ
có bà Lê-thịTrịnh thái phi phù trợ, mới khắc bản, in ra
để ban truyền ở đời. Bản khắc ấy để lưu tại chùa
Liên-phái phường Bạch-mai, gần Hà-nội.
---***---
Kinh Lăng-ca
-
trước trực chỉ nhất tâm chân như để làm cho rõ cái nghĩa
tam giới duy tâm,
-
sau chỉ thị nhất tâm sinh diệt để làm
cho rõ cái nghĩa vạn pháp duy thức.
Đó
là cương yếu của toàn bộ kinh, trước sau nêu rõ thuyết
nhất tâm trong tam giới, cho vạn pháp đều ở nhất tâm mà
ra, ngoài cái tâm không có gì khác nữa.
Bởi
cái nguyên tắc ấy nên Đại-Tuệ Bồ-tát lấy cái nghĩa sinh
diệt, hữu vô, đoạn thường, nhân pháp vô ngã, niết bàn,
tức là Bồ-tát dựa vào nhất tâm chuyển biến, như ngũ pháp,
tam tự tính, bát thức, nhị vô ngã, và nhân quả, mê ngộ
mà hỏi Phật.
Ghi
chú của Cụ Trần Trọng Kim:
1/
NGŨ PHÁP là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như.-
TAM Tự TÍNH là vọng tưởng tự tính, duyên khởi tự tính,
thành tự tính. - BÁT THỨC là A-lại -da thức. Mạt-na thức,
ý thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân
thức. - NHị VÔ NGÃ là nhân vô ngã, pháp vô ngã.
2/
Bản kinh này không nói đến lời Dạ-xoa quỉ vương hỏi
Phật về pháp và phi pháp. Bản Đường dịch của Thực-xoa
có chép rõ như sau: "Dạ-xoa vương mời Phật vào Lăng-ca thành,
cúng hiếu xong, hỏi Phật rằng: Như-Lai thường nói: Pháp
còn nên bỏ, huống là phi pháp Vậy thế nào là pháp,
thế nào là phi pháp? Phật đáp: Pháp với phi pháp là
cái tướng khác nhau do sự phân biệt của kẻ phàm phu, chứ
không phải cái chính kiến của thánh trí. - Đến như thế
nào là pháp, là nói hai thặng với ngoại đạo, vì hư vọng
mà phân biệt ra, nói có cái thực làm nhân cho pháp. Những
pháp như thế nên bỏ, nên xa lìa. Không nên ở trong sự phân
biệt mà lấy cái tướng, để thấy rõ cái tự tâm pháp tánh,
thì không có chấp trược. Những người quán hành lấy tỳ-bát-xá-na
(vipasyana) tức là chỉ quán, quán sát cái như thực, là cái
chân thực như như, thế gọi là xả chư pháp. - Thế nào là
phi pháp ? Là nói chư pháp không có tánh, không có tướng,
bỏ hẳn sự phân biệt, thấy rõ cái như thực, giống như
là có, như là không. Trong cái cảnh giới như thế, mọi cái
khác đều không sinh khởi nữa, thế gọi là xả phi pháp.
Vậy
thấy rõ cái như thực gọi lá chính kiến, mà không thấy
như thế là tà kiến. Đã phân biệt là có nhị thủ, nghĩa
là có hữu và vô, đều là hư vọng, không được tịch diệt.
Tịch diệt là nhất tâm, nhất tâm là như lai tạng.
Song
nhất tâm là cái tâm Phật nói trong kinh này. Cái mà gọi là
tịch diệt tức là nhất tâm.
Ghi
chú của Cụ TTK: Tịch diệt đây nói tịch và diệt.Tịch
là tịch tĩnh mà thường chiếu. Diệt là diệt trừ hết vọng
tưởng.
Nhất
tâm ấy vốn không hình không tướng, cứ như như tự tại,
tịch nhiên mà chiếu, không sinh không diệt. - Còn những hình
tướng đều là do mê mà hiện ra. Mê cái nhất tâm mà làm
ra sinh tử, cho nên biến nhất tâm thành tam giới. - Ngộ cái
nhất tâm mà làm niết bàn, cho nên chuyển tam giới làm nhất
tâm.
Song
sinh tử là hữu pháp, mà niết bàn là vô pháp. Hai cái hữu
và vô ấy đều do sự phân biệt vọng kiến của người phàm,
chứ trong cái tịch diệt, tâm vốn không có phân biệt gì
cả.
Khởi
đầu, Đại-Tuệ Bồ Tát đem hỏi Phật các thứ tướng khác
nhau, là những pháp tương đối, như 8 cái kiến tà chánh,
và 100 cái cảnh sở kiến, cộng 108 kiến của sự phân biệt
vọng kiến, chớ không phải là cái tịch diệt nhất
tâm tuyệt đối. - Vậy nên Phật chỉ thẳng vào chỗ
tối cực tâm nguyên mà bác hết cả những điều hỏi ấy
và bảo là phi giã , không phải. - Ấy là ý Phật bảo rằng
phải lìa bỏ tâm, ý, thức, ra ngoài con đường phàm thánh,
để chỉ còn cái cảnh giới tự giác thánh trí của chư Phật
mà thôi.
Đối
với cái nhất tâm chân nguyên thì thánh phàm bình đẳng, không
có tướng sai biệt. - Nhưng vì chia ra mê với ngộ cho
nên mới có thập giới (Thập pháp giới: địa ngục, ngã
quỉ, súc sanh, người, atula, trời, Thanh-văn, Duyên-giác,
Bồ-tát, Phật), y, chính, nhân, quả, các thứ tính tướng
khác nhau. - Chỉ vì mê cái nhất tâm mà chính trí đổi
ra làm vọng tưởng, như như đổi ra làm danh với tướng.
- Ngộ cái nhất tâm thì vọng tưởng lại thành chính
trí, và danh với tướng lại là như như. - Cho nên
kinh nói: Thuận cái lưu chuyển thì là vọng kiến sanh tử;
chán ghét cái lưu chuyển thì là vọng kiến niết bàn.-
Vậy sanh tử và niết bàn đều không phải là cái tự giác
thánh trí của Phật. Cho nên trong những câu đáp lại
Phật bác cả đi, mà cho là phi giã, cốt để làm rõ cái nghĩa
tam giới duy tâm.
Sách
Khởi-Tín-Luận của Mã-Minh Đại-sĩ làm vào khoảng thế kỷ
thứ I sau tây lịch có lẽ là sách làm theo cái thuyết nhất
tâm trong kinh Lăng-ca này, cho nên nói: Nên biết chân như tự
tính phi hữu tướng, phi vô tướng, phi phi hữu tướng, phi
phi vô tướng, phi hữu vô câu tướng, phi nhất tướng, phi
dị tướng, phi phi nhất tướng, phi phi dị tướng, phi nhất
dị vô câu tướng. - Tòng bản dĩ lai, hết thẩy nhiễm
pháp với vọng tâm phân biệt của nhất thiết chúng sanh đều
không tương ưng. - Tức là chân tâm thường hằng
bất biến, tịnh pháp đầy đủ, mà cũng không có tướng
khả thủ. - Chỉ lấy cái cảnh giới ly niệm, duy
chứng được, mới là tương ưng. Sách Khởi-Tín-Luận
lại lấy nhất tâm mà lập ra hai môn: Chân-như-môn và
Sanh-diệt-môn. Thế là lấy nhất tâm làm nguồn gốc cho mê
với ngộ.
Trong
kinh Lăng-ca, khởi đầu Phật trực chỉ nhất tâm chân nguyên,
bảo lìa bỏ cái tướng ngôn thuyết, lìa bỏ cái tướng danh
tự, lìa bỏ cái tướng tâm duyên, tức đó là đúng cái nghĩa
nhất tâm chân-như-môn.
Nếu
theo chân-như-môn là theo cái nghĩa tam giới duy tâm, thì chỉ
chủ lấy trí mà chứng cái hiện lượng tức là
dùng trực giác mà biết trực tiếp, chứ không phải dùng
ngôn thuyết ( phân biệt suy luận). - Bao nhiêu những cái
khả thuyết là ở trong sinh-diệt-môn, dựa vào vọng tưởng
duyên khởi (ý thức phân biệt) - Phàm những cái phải
nói mà giải thích ra, đều là thuộc về tỷ lượng
tức là phải suy lường mà biết.
Đã
theo sinh-diệt-môn để làm cho rõ những pháp do duyên khởi
sai biệt, thì những pháp ấy đều do duy-thức sở hiện, cho
nên nói rằng vạn pháp duy thức . Song cái thức chỉ
là ảo mộng mà thôi. Duy chỉ có nhất tâm, tâm tịch mà tri,
chân với vọng đều lìa cả, tức là tự giác thánh trí,
lấy đó thành lập cái chân duy-thức lượng.
Trích
lược ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN
(1.Tướng Chân Như (Chân-như-môn)= Thể của Đại-Thừa là
Phần thể
( tánh chơn tâm thanh tịnh.
( Không các pháp nhiễm (Như thật không),
là thể tánh Chân Như.
Tâm
chúng sanh:2 Tướng ( Có tất cả công đức
thanh tịnh (Như thật bất không), là tướng dụng
cũng gọi Pháp Đại Thừa ( Chân
Như.
là
NhấtTâmChânNguyên (2.Tướng nhân duyên sanh diệt
(Sanh-diệt-môn) - Gồm
cả
TịchmàTri,liàcả
chânvọng ( Thể+Tướng+dụng của Đại-Thừa.
( Chân-Vọng hòa
hiệp, có đủ
Cũng
gọi tự-giác-thánh-trí ( nhiễm tịnh,
thánh phàm.
( Tức A-lại-da: Công năng giữ gìn và xuất
sanh tất cả
các pháp.
Có
2 nghĩa: ( 1- Giác(Chân) = Pháp thân bình đẳng của Như Lai
- Bản thể của Chân tâm đã lià
(
vọng niệm.
( 2- Bất giác (Vọng): Do không thật biết (mê) Chân Như mà
chuyển.
Mê
tánh giác = Căn bản vô minh - Tam tế, Lục thô =
Chi mạt vô minh.
Tại
sao mê tánh giác? - Theo Kinh Lăng Nghiêm: Tánh giác thường minh
thường diệu, bông nhiên lấy minh minh diệu, từ đó phát
sanh năng sở, đối đãi.
Sau
khi đã nghe Phật bác những câu hỏi về 108 nghĩa, Đại-Tuệ
Bồ-tát đã hiểu cái ý chỉ nhất tâm ly ngôn, bèn đem những
điều ngờ theo cái tâm sinh-diệt-môn mà lần lượt hỏi Phật
về các Pháp. Phật cũng lần lượt lấy nghĩa vạn pháp duy
thức mà đáp lại và vạch rõ những điều tà chánh, chân
vọng, để phá hết những điều ngờ của Đại-Tuệ Bồ-tát.
- Đó là tông chỉ của kinh Lăng-ca, trước sau chủ lấy nhất
tâm làm tông.
Đại-Tuệ
Bồ-tát hỏi Phật: Chư thức có mấy thứ sanh, trụ, diệt
? -
Phật
đáp: Chư thức có hai thứ sanh, trụ, diệt, không phải
tư lượng mà biết được.
(Những chữ in đậm là lời Phật
nói với Đại-Tuệ Bồ Tát)
Nguyên
là
đệ bát thức do bất sinh bất diệt hòa hợp với sinh diệt
mà thành ra, cho nên Đại-Tuệ Bồ-tát mới hỏi trong sinh-diệt-môn
có mấy thứ sinh, trụ, diệt, mà Phật đáp lại rằng có
hai thứ sinh, trụ, diệt là vì sinh tức vô sinh, trụ bản
vô trụ, diêt mà không diệt, cho nên nói rằng không phải
lấy tư lượng mà biết được.
Chư
thức có hai thứ sinh là lưu chú sinh và tướng sinh, có hai
thứ trụ là lưu chú trụ và tướng trụ, có hai thứ diệt
là lưu chú diệt và tướng diệt.
Nguyên
là tám thức đều có cái dụng tư lượng liễu biệt, tùy
cái kiến giải mà có phân biệt. Cái hành tướng ấy
thô thiển. cho nên nói cái tướng sinh, trụ, diệt, nhưng
xét đến nguồn đáy, thì đều là cái tinh lực của đệ
bát thức, tương ưng với cái nghiệp dụng của cái duyên.
Ba tướng vi ẩn mà cùng một loại tương tục với nhau, cho
nên nói rằng lưu chú, nghĩa là trôi chảy luôn luôn.
Tuy
bát thức có phân vị riêng, nhưng tổng hợp lại đều là
một loại vi tế trôi chảy luôn luôn. Các chủng tử hiện
hành, cái nọ huân lẫn cái kia mà phát ra và rất là vi tế,
không thể tư nghị được. Cho nên nói: Cái thức vi tế theo
tập khí thành bộc lưu, nghĩa là như dòng nước ở trên núi
cao chảy xuống, những giọt nước luôn luôn tuôn xuống liên
tiếp nhau không dứt, trông như tấm màn, cho nên nói rằng
chư thức có hai thứ sinh, trụ diệt. - Sách Mật-Nghiêm
chép: Tám thức lưu chú tâm, tuy chỉ là một thể, nhưng hoặc
tùy duyên đốn khởi hoặc thời thời tiệm sinh, nghĩa là
tùy từng lúc một mà sinh dần ra, như các luồng sóng nổi
dậy trên mặt nước. Những luồng sóng là ví cái tướng,
nước là ví sự trôi chảy. Nước với sóng vẫn là một,
không xa lìa nhau được.
Chư
thức có ba thứ tướng là: Chuyển tướng, nghiệp tướng
và chân tướng.
Cái
thể tướng của tám thức là có giác và bất giác: Chân tướng
là bản giác chân tâm, chuyển và nghiệp, hai tướng là vô
minh bất giác. Tức là nói trong tám thức đều có đủ cả
ba tướng ấy.
Chuyển
là nói chư thức đều có cái nghĩa hai thứ sinh, trụ, diệt,
tức là lưu chú và tướng. - Nương dựa vào cái sinh diệt
thì sát na, sát na, niệm niệm lưu chuyển luôn, mà cái chuyển
tướng ấy tức là cái lưu chú sinh diệt đã nói trên.
Nghiệp
là cái nghiệp của nghiệp-lực-tạo-nghiệp, tức là sanh,
trụ, diệt, có đủ cả trong đó, mà người ta không biết
rằng cái niệm niệm sinh diệt khởi lên mê hoặc, tạo ra
nghiệp báo đó, đều là chân tâm cả.
Nói
rằng: Chủng chủng như thức lãng, các lớp sóng thức
cuồn cuộn tiếp nối nhau mà chuyển sinh, là ví thức tâm
như sóng bể. - Lại có chỗ nói tạng-thức như bể cả,
cái tạng thức như bể cả; nghiệp tướng như ba lãng
(làn sóng), đều là cái nghĩa ấy. Cốt nói vọng với chân
như sóng với nưóc, vẫn là một thể, chứ không có sai biệt.
Chuyển
tướng là y tha khởi, như ba lãng nương theo nước bể
mà khởi lên.
Nghiệp
tướng là biến kế chấp, như là chỉ thấy ba lãng
nhô lên, mà không biết là nước.
Chân
tướng là viên thành thực, chỉ có một nước bể mà
thôi. Song cái chân tướng ấy tức là cái bản giác chơn như,
tùy duyên mà không biến.
Tóm
lược (của người chép):
(-
Chân tướng : Bản giác chân tâm
= - Giác Viên thành thật
) đều
Tám
thức (- Chuyển tướng (- Lưu chú và tướng
) = - Vô
Y tha khởi )
là
có
(Sanh, trụ, diệt
) minh
) chân
3
tướng (- Nghiệp tướng
= Nghiệp lực tạo
) bất
Biến kế chấp ) tâm
nghiệp, mê hoặc )
giác
)
Chân
Như = thể - Thức = dụng (chiếu)
Chủng
chủng = dượt theo bén gót // lãng =
sóng, lượn sóng, làn sóng
Nói
giản lược thì có ba thứ thức, mà nói rộng ra thì có tám
tướng.
Ba
thức là chân thức, hiện thức và phân biệt sự thức, ví
như cái gương sáng giữ gìn các sắc tượng. Cái hiện thức
hiện ra từng chỗ cũng như thế.
Chân
thức lá bất sinh bất diệt, như lai tạng thanh tịnh chân
tâm, tức là chân-như. Song chân-như vì có cái dụng chiếu
cảnh, cho nên cũng gọi là thức. -
Hiện
thức tức là đệ bát thức. - Vì nương theo A-lại-da thức
nói có vô minh, bất giác mà khởi cái năng kiến, năng hiện,
năng thủ cảnh giới, cũng gọi là trí thức, tức là trong
đó có cái phân-biệt-sự thức, là 7 thức kia.
Nếu
theo cái thí dụ trong gương thì bát thức chỉ là một thể
khônghai, không khác biệt. Cho nên nói rằng hiện thức là
nói năng hiện nhất thiết cảnh giới, như cái gương sáng
hiện rõ các hình tượng, cứ tùy ngũ trần đối lại mà
hiện ra, không có trước sau gì cả. Bất cứ lúc nào, tùy
sự vận chuyển mà (vô tâm) khởi lên.
Xem
thế, thì ba thứ thức nói đây là chân với vọng đối lập,
cốt làm cho thấy rõ thức là chân-như, cho nên còn nói rằng
như-lai-tạng tên là thức-tạng, vì sự liễu-biệt cùng với
hiện-thức, tức là chân với vọng hợp lại mà nói vậy.
Hợp là bất-sinh bất-diệt cùng với sinh-diệt hòa hợp
thành A-lại-da thức.
Hiện-thức
với phân-biệt-sự-thức, hai cái ấy đều có cái tướng
hoại, bất hoại, theo cái triền-chuyển nhân. (Triền chuyển
= xoay dời)
Đó
là nói cái tướng của bát thức sinh khởi để làm cho rõ
là vốn không có hai thể vậy. - Triền-chuyển nhân là
nói cái chuyển-thức của bảy thức kia cùng với đệ bát
thức làm nhân lẫn cho nhau. - Do cái hiện hành của bảy thức
kia huân cái chủng tử (của đệ bát thức). Mà chủng
tử của đệ bát thức lại huân khởi cái hiện hành. - Cho
nên Thức Luận nói: "Chư pháp đối với tạng-thức và thức
đối với pháp cũng vậy. Đổi lẫn nhau, làm nhân tính
cũng thường làm quả tính". Cái khả hoại là vọng thức,
cái không khả hoại là chân thức.
Bất
tư nghị huân và bất tư nghị biến là cái hiện-thức nhân.
Đó
là nói cái nhân sinh khởi của đệ bát thức để làm cho
rõ cái lưu chú sinh (trong hai thứ sinh là lưu chú sinh và tướng
sinh). Cái lưu chú sinh tức là cái nhân của tám thức do vô-minh
huân chân-như mà thành ra. Luận nói: "Vì y theo cái chân-như
pháp có bởi vô minh làm ra nhiễm nhân, ấy là nghiệp-tướng
vậy. Vì có cái vô minh nhiễm pháp, tức là nó huân tập chân-như.
Vì có huân tập là có vọng tâm. Vì có vọng tâm, tức là
nó huân tập vô minh, ấy là chuyển-tướng. Bởi chưng không
hiểu cái chân-như pháp mà bất giác khởi niệm, hiện ra cái
vọng cảnh giới, ấy là hiện-tướng vậy. Thế là nhân cái
sức vô minh huân tập, cho nên mới khiến chân-như biến làm
hiện-thức.
Nói
cái bất tư-nghị huân biến là nói cái chân-như vốn bất-khả-huân
mà huân, cho nên gọi là bất tư-nghị huân. Cái thể chân-như
vốn tự nó không biến, mà nay tùy cái vô-minh duyên, thành
ra nhất thiết pháp, cho nên nói rằng bất tự-nghị biến.
Sở dĩ nói bất tư-nghị là hai tướng ấy vi ẩn không biết
được. Ấy là lấy bất tự nghị biến mà thích cái lưu-chú
sinh vậy.
Lấy
chủng chủng trần (lục trần) với cái vô thỉ vọng-tưởng
huân, ấy là phân-biệt-sự thức nhân (nhân của bảy thức).
Đó
là nói cái nhân sinh khởi của bảy cái chuyển-thức kia để
làm cho rõ cái tướng sinh . Luận nói: Vì có cái vọng
cảnh-giới, cái nhiễm pháp duyên, tức là cái huân-tập vọng
tâm, khiến cái niệm trước tạo ra các thứ nghiệp, chịu
mọi thứ khổ của nhất thiết thân tâm. - Song lấy chủng
chủng trần với cái vô thỉ vọng-tưởng huân, là chủng-tử
của vọng tưởng và tập-khí. Những cái chủng-tử sở tàng
ở trong đệ bát thức, nhân đó mà huân khởi bảy cái căn-cảnh
hiện-hành của bảy thức kia, rồi lại chấp lấy làm thực
ngã, thực pháp, cho nên nói: Lấy chủng chủng trần với vô
thỉ vọng tưởng huân, ất là lấy đệ bát thức cùng với
bảy thức kia làm nhân, thành ra tướng sinh . Song vọng
tưởng huân lại là cái lưu-chú sinh ở trong cái tướng
vậy. Cho nên luận nói: "Vô minh huân tập có hai nghĩa: một
là căn bản huân tập, vì năng thành tựu cái nghĩa nghiệp
thức ; hai là sở khởi kiến-ái huân tập, vì năng thành tựu
cái nghĩa phân-biệt-sự thức. Cái bất tư-nghị huân là căn-bản
huân, đây là kiến-ái huân.
Tóm
lược: ( - Chân thức: ví như gương sáng, Vì có dụng
chiếu cảnh nên củng gọi là thức
1/
3 thứ thức - ( - Hiện-thức : ví như ánh sáng gương,
đệ bát thức, năng hiện mọi cảnh giới ( - Phân-biệt-sự
thức: ví như vật hiện trên gương, gồm 7 thức kia, cũng
gọi chuyển-thức
2/
- Hiện hành của 7 thức trước huân chủng tử của A-lại-da
) Triền
Chủng tử của A-lại-da huân hiện hành của 7 thức trước
) chuyển
3/
-Tướng hoại =Tướng sai biệt của hai thứ thức-(-của hiện
thức:các thứ không thật,các thứ hư vọng (-của phân-biệt-sự
thức: tất cả căn thức
Tướng bất hoại là cái chân tướng không sai biệt ẩn trong
cái sai biệt
Hai tướng này lần lượt làm nhân cho nhau .
Ghi
chú của Cụ Ngô-Huy-Đài:
"
4/ - Hiện hành và chủng tử (của đệ bát thức) huân tập.
Các pháp nhiễm tịnh do thức sát na đầu của các loai hữu
tình chấp trì - Mỗi khi qua một hiện hành là một lần huân
tập, - Do huân tập nên thành chủng tử. - Chủng
tử nếu gặp duyên thì lại sinh hiện hành. - Cứ như
thề, lần lần có vô số chủng tử huân tập.
Do vô thủy vô minh, khởi nghiệp thọ báo, rồi sinh nhiễm
tịnh và hiện hành, lại huân nhiễm tịnh chủng tử, chủng
tử lại sinh hiện hành, cho đến sát na chót định Kim-Cương
mới hoàn toàn xả hết, thoat khỏi sinh tử.
( Trích Nhân vương hộ quốc Bát nhã ba la mật đa kinh - Giải
văn -trang 100)"
5/
- Vô minh huân chân-như, tạo nhân cho đệ bát thức
sinh khởi, đó là lưu-chú sinh, cũng gọi nghiệp tướng.
Khởi vọng tâm là chuyển tướng, (năng). // Hiện
ra "vọng cảnh giới" là hiện tướng, (sở). (Coi thêm ĐTKTL)
Căn bản vô minh huân tập chân-như - Chi mạt vô minh huân
tập vọng tâm làm thành tựu phân-biệt-sự thức và nghiệp
thức
Nay
quay trở lại cái chân-thức, thì chủng chủng không thực,
mọi cái hư vọng đều diệt, nhất thiết căn thức cũng diệt,
thế gọi là tướng diệt.
Đó
là nói cái tướng diệt (trong hai thứ: lưu chú diệt và tướng
diệt). Nếu quay trở về cái toàn nhất, khế hợp ngay với
chân-như, thì nhất thiết trần cấu đều tiêu vong cả, mà
cái căn trần thức tâm tức thì tiêu lạc. Ấy thế gọi là
tướng diệt.
Tương
tục diệt là: cái tương tục sở nhân diệt, thì tương tục
diệt. Cái sở tòng diệt và cái sở duyên diệt, thì cái tương
tục cũng diệt. Đại-Tuệ, sở dĩ như thế là sao ? -
Là vì cái y của nó. Cái y là nói cái vô thỉ vọng tưởng
huân, cái duyên là nói cái thức cảnh vọng tưởng về những
cái kiến của tự tâm.
Đó
là nói cái lưu-chú diệt (trong hai thứ: lưu chú diệt và tướng
diệt.) Tương tục tức là cái nghĩa lưu chú. Đệ bát thức
trong suốt và sâu thẳm, vốn không sinh diệt, chỉ vì cái
gió bảy thức trên, cổ tập thành chủng, cho nên mới có
vậy. (Cổ=chứa, trữ / Tập=nhóm, họp lại / Chủng=hạt giống).
Song cái sinh diệt ấy đã nhân bảy chuyển thức trên mà sinh
ra. - Nay cái sở nhân đã diệt, thì cái lưu chú tương tục
tự nó diệt. Cho nên nói: Cái tương tục sở nhân diệt ,
thì cái tương tục diệt. Ấy là thích (giải thích) cái
lưu chú diệt trong cái lưu chú sinh diệt. - Cái sở tòng diệt
và cái sở duyên diệt, thì tương tục diệt. Ấy là
thích cái lưu chú diệt trong cái tướng sinh diệt.
Nguyên
là cái chuyển thức thứ bảy (mạt na) vốn không có sinh diệt,
chỉ theo cái căn bản vô thỉ vô minh, có cái tập khí huân
ở trong. Ở ngoài có cái gió của lục trần cảnh giới cổ
động cái bể tâm. Trong ngoài quạt vào, cho nên mới nổi
lên thất thức ba lãng. Nay ở trong cửa: cái sở tòng vô minh
đã diệt, thì ở ngoài cửa cái gió cảnh giới cũng đình,
thế là cái tâm thể lại trong suốt và sâu thẳm, ba lãng
im lặng, thì bảy thức không sinh vậy. Nay cái sở tòng, cái
sở duyên đã diệt, mà cái tương tục diệt ngay, là vì nhất
thiết động tướng đều nương vào vô minh mà khởi lên,
cho nên nói là sở y. Y là do vô thỉ vọng tưởng huân. Song
vô thỉ vọng tưởng là căn bản vô minh, tức nay tự làm
thất thức, kết sinh tương tục, làm nhân cái này huân cái
kia, vì vậy mà tám thức không được thành trí, thường ở
trong vòng trói buộc. Duyên là cái thức cảnh vọng tưởng
của những cái kiến của tự tâm, là nói các căn thân khí
giới vốn là cái thức phận của tám thức sở biến ra, lại
trở lại làm cái cảnh của kiến phận sở duyên của bát
thức. Nay nói rằng cái tương tục sở duyên diệt, thì cái
tình sinh diệt mất. Cái sở duyên diệt, thì căn trần tự
mất. Như thế thì bát thức vô minh là cái chính trí của
bình đẳng như như bất sinh bất diệt. Cho nên Luận nói:
Cái si mà diệt thì tâm tướng cũng diệt theo. Trước đã
sinh thì lại sinh lẫn nhau, may diệt thì cũng diệt lẫn nhau.
Những
điều nói trên là lấy pháp để làm cho rõ cái chân duy thức
lượng. -Tiếp theo, Phật nói những điều để phá các
tà tông của ngoại đạo, hiển thị bảy thứ đệ nhất nghĩa,
chỉ thị sự quan tâm thành tựu và quan hành đắc quả. -
Cuối cùng, đoạn này Phật nói: Ly tâm, ý, ý thức, thị
Bồ-tát tiệm thứ chuyển thân, đắc Như-Lai thân: Lìa
bỏ tâm, ý và ý thức, ấy là bậc Bồ-tát lần lần chuyển
thân, được Như-Lai thân. (Ghi chú:Tâm
là A-lại-da, Ý là Mạt na, Ý-thức là thức thứ sáu)
Đó
là kết thúc cái quan hành vậy. Sự tu hành của bật Bồ-tát
là phải theo cái duy tâm thức quan, để lìa bỏ cá cảnh giới
của tâm, ý, ý thức. Ấy là nói bậc Bồ-tát lần lần chuyển
cái sinh- tử- thân, để chứng được cái bản pháp-thân của
Như-Lai, tức là cái phương tiện về hai sự chuyển cái
y - quả, nghĩa là chuyển sự nương tựa vào cái quả mà thành
tựu.
Phật
nói cái pháp môn mà về sau phái Thiền Tông lấy làm căn bản,
lập thành môn Thiền học không lập văn tự, không dùng ngôn
thuyết, chỉ cốt ở cái tự tâm hiện lượng giới, bỏ hết
nhất thiết ngoại tướng, là cái tướng của vọng tưởng,
không đúng với cái đệ nhất nghĩa là cái nghĩa thù thắng,
bất sinh bất diệt, trạm nhiên thường tịch, không động,
không lay chuyển, không thuộc những pháp do nhân duyên hòa
hợp mà khởi sinh ra.
Cái
đệ nhất nghĩa siêu nhiên tuyệt đãi, không có cái tướng
ngôn ngữ về các pháp tương đãi tự với tha.
Vậy nên Thiền học lập cái học nhất thặng tức là Phật
thặng, theo cái tông chỉ đệ nhất nghĩa mà bỏ ngôn thuyết
và mọi tướng của vọng tưởng, tức là cái pháp môn lìa
bỏ sự tham sự của tâm, ý và ý thức, lìa bỏ sự sưu cầu
cái vọng tưởng cảnh giới. Cho nên nói rằng nên nương theo
cái nghĩa mà chớ chấp trược ngôn thuyết.
Đại-Tuệ
Bồ-tát hỏi Phật về cái đệ nhất nghĩa,
Phật
đáp: Ngôn thuyết không phải là đệ-nhất-nghĩa mà
cái sở thuyết cũng không phải là đệ-nhất-nghĩa. Như thế
là sao? Đệ-nhất-nghĩa là bậc thánh nhân vui thích nói chỗ
sở nhập. Đó là đệ-nhất-nghĩa, chứ không phải là lời
nói ấy là đệ-nhất-nghĩa.
Ý
nói đệ nhất nghĩa là thánh nhân vui thích nói ra để đưa
đến chỗ ấy, chứ không phải là chỗ thánh nhân vui thích,
tức là chỗ chư Phật tự thự dụng cảnh giới, lìa bỏ
tâm, ý và ý thức, không phải là ngôn thuyết có thể đến
(diễn tả) được. Tựa như ngón tay chỏ mặt trăng. Ngón
tay chỉ có thể làm cho trông thấy mặt trăng mà thôi, chứ
không đến mặt trăng được. Nhân có ngón tay mà thấy mặt
trăng, chứ mặt trăng không phải là ngón tay. Vậy nên nói:
Ngôn thuyết sở nhập là đệ nhất nghĩa, chứ không
phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa. Tức là nói ngôn thuyết
là cái phương tiện dùng để làm cho người ta biết cái đệ
nhất nghĩa, không phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa.
Phật
nói: Đệ-nhất-nghĩa là cái sở đắc của thánh-trí tự giác,
không phải là cái cảnh-giới do ngôn thuyết vọng tưởng
mà biết. Vậy nên ngôn thuyết vọng tưởng không hiển thị
được đệ-nhất-nghĩa.
Tức
là nói mình phải tự chứng được cái đệ nhất nghĩa, chứ
không phải lấy ngôn thuyết mà biết được.
Phật
muốn tuyên rõ cái nghĩa ấy , bèn nói kệ rằng:
Bản
dịch đời Lưu Tồng
Bản dịch đời Đường
Chư
tính không tự tính
Chư pháp không tự tính
Lại
cũng không ngôn thuyết
Lại cũng không ngôn thuyết
Thậm
thâm không không nghĩa
Không thấy nghĩa không không
Ngu
phu không hiểu được
Ngu phu nên lưu chuyển
Nhất
thiết tính tự tính
Nhất thiết pháp không tính
Ngôn
thuyết pháp như ảnh
Ly ngôn thuyết phân biệt
Tự
giác con thánh trí
Chư hữu như mộng hóa
Thực
tế, cái ta nói
Không sinh tử niết bàn
Bài
tụng này chỉ rõ là có ly ngôn mới là thực tế, phải rửa
sạch những danh- ngôn tập-khí, mới có thể thực chứng được.
Trước,
Phật đã thuyết bao nhiêu pháp đều là lời nói tương tự,
chưa rõ cái chân thực, chờ có căn cơ đã thuần thục, bấy
giờ mới nói cái đạo tự chứng chân thực ly ngôn, Chính
như trong kinh Pháp-Hoa nói: Trước lấy tam xa mà dẫn đạo
lũ con, rồi sau cho đại ngưu xa cùng bảo vật trang nghiêm
để dong duổi, đùa chơi vui sướng. Ấy đó là nghi thức
của thánh nhân thuyết pháp vậy.
Cổ
đức nói: Chư Phật lấy một đại sự nhân duyên, cho nên
xuất hiện ra ở đời, là vì muốn cho chúng sinh khai, thị,
ngộ, nhập cái tri kiến của Phật. Cái tri kiến
của Phật, tức là cái duy tâm hiện lượng, cái tự giác
thánh trí. Nhất thiết chúng sinh vốn có sẵn đủ cái như-lai-tạng
tâm, chân thực Phật tính. Duy chỉ có một cái đó thôi, chứ
không có cái nào khác nữa. Các vị Phật thánh lấy đó làm
nhân, lấy đó làm duyên, xuất hiện ra thế gian, cho nên những
điều thuyết pháp của Phật từ đầu chí cuối chỉ cốt
mở rõ một việc ấy. Vì chưng chúng sinh đức mỏng, dơ cáu
nhiều, không muốn vội bảo ngay, e chúng kinh hãi, ngờ vực,
không tin, lại mắc phải cái tội báng pháp. Cho nên bậc Đại
Từ phải ẩn nhẫn, chỉ lấy những điều rìa cạnh
mà chỉ bảo, chờ đến khi cái chí của chúng sinh đã tinh
thuần, mới chịu nói thực. Vậy nên cái yếu chỉ kinh Lăng-ca
này là trỏ ngay cái như-lai tâm, cái tự-giác thánh-trí. Nếu
có người ngộ được cái tâm ấy, thì chỉ một niệm là
lên ngay cõi Phật, không phải khó nhọc bao nhiêu kiếp tu hành.
Đó là Đốn Giáo Pháp Môn vậy.
Vì
muốn bỏ cái tiệm tệ của tam thặng, cho nên mới nói là
Đốn-Giáo Đại-Thặng . Song thánh nhân thỉ chung nhất quán,
trước sau đợi nhau, nên có những giáo bí mật, bất định.
Vả những pháp nói ra, tuy cónhiều thứ, nhưng đại ước
không ra ngoài bốn pháp là: lý, hạnh, nhân, quả.
Bốn pháp ấy, mỗi pháp có quyền, có thực, mà rút lại qui
về chỗ cực, vào một cái thực.
Trong
hơn 40 năm, những pháp của Phật nói ra, không pháp nào là
không bảo lìa tâm cảnh đối đãi, năng sở, chân vọng, sinh
tử, niết bàn. Ai nghe những điều ấy tuy cho là thực pháp,
nhưng không bỏ được danh ngôn tập khí, rốt cục cứ đứng
ngoài cửa, đêm ngủ ở lều tranh. Đến kinh Lăng-ca này, thì
triệt để lật ngược lại, phá vỡ mọi hang hố, lìa bỏ
hết thảy mọi điều, trỏ thẳng vào nhất tâm, tự giác
thánh trí. Thế là bày rõ cái lý đến chỗ cùng cực. Song
sự khai hiển ấy là khai trừ cái quyền lý của tam thặng,
để hiển cái thực lý của nhất thặng, tức là Phật thặng.
Lấy cái thực lý ấy, cái chính trí ấy làm thực nhân, tức
là nói lấy cái tâm bất diệt làm cái nhân cho sự bản tu
vậy.
Kinh
Pháp-Hoa thì mượn cái chân trí làm nhân để giúp cái diệu
hạnh, cho nên một cành hoa, một nén hương, ngẩng đầu, cúi
cổ, chắp tay, niệm Phật, đều thành Phật đạo. Ấy là
lấy cái chân hạnh khế hợp với cái chân quả. Song việc
khai hiển là khai trừ cái quyền hạnh của tam thặng, để
hiển hiện cái thực hạnh. Lấy cái thực hạnh ấy để bước
lên đến cái thực quả. Cho nên người trong tam thặng cứ
lần lượt được thụ ký, trải thờ nhiều Phật mới thành
Phật đạo. Nếu không mượn cái chân nhân, thì dù có trải
muôn trần kiếp, cũng sợ chỉ ngưng trệ ở hoá thành mà
thôi.
Kinh
Lăng-ca và Pháp-hoa tuy có cái tông chỉ và cái ý nghĩa khác
nhau, nhưng cái lý thực là phù hợp ngầm. Đến kinh Lăng-nghiêm
thí lý, hạnh, nhân, quả, mỗi thứ đều chân thực.
Ấy là thông hội tiền quyền, điều về một thực.
Tam thặng đã thống thu, ngũ tính tề nhập, dung hội cả nhân,
pháp, lý, hạnh, nhân quả, tóm cả vào Như-lai Diệu Trang-Nghiêm
Hải. Ấy là càng rõ sự thuyết pháp của Như-Lai thỉ chung
nhất quán vậy.
Ngưòi
quan sát không rõ cái nghi thức thuyết pháp ở con đường
thông đồ ấy, thì dù có ngộ cái tự tâm, cũng không khai
thị được những cái mờ tối. Thế gọi là tông thông
thuyết bất thông, như mặt trời bị mây lồng, chẳng
thấy cái cứu cánh thực tế, là bởi chưa đạt được lòng
của Như-Lai.
Ghi
chú: Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh, Vô Tướng Tụng có câu:
Thuyết thông cập tâm thông - Như nhựt xử hư không (=Thuyết
thông lại tâm thông, Như mặt trời giữa hư không) . Ý nói:
lời giảng trôi chảy thông suốt lại thêm với tâm chứng
ngộ, đạt lý, tức là kiến tánh, thì như mặt trời chói
chang không mây. Ở đây Cụ Trần nói: Tông thông thuyết bất
thông, nghĩa là đã hiểu biết lý giải tông pháp, mà lời
nói không thông suốt. Như vậy thì dù tông thông mà cũng có
thuyết thông thì vẫn chưa hẳn đã là tâm thông, mặt trời
vẫn cứ bị mây lồng, chưa chói rọi được giữa hư không
quang đãng. Cụ nói "ngộ cái tự tâm", ở đây chỉ là giải
ngộ, không phải là chứng ngộ của Thiền gia.
Có
chỗ Phật nói: Những người tu hành đã chuyển tâm, ý, ý
thức, lìa bỏ năng sở, thủ, xả, thì yên trụ ở cảnh giới
của Như-Lai tự chứng, tức là ở trong cái tự chứng thánh
trí pháp. Song phải biết rằng: nếu đã ở trong cái tự chứng
thánh trí mà còn khởi phát ra cái chấp hữu vô thì cái trược
ngã, nhân, chúng sinh, thọ, giả, lại hiện ra. Hễ còn có
cái ý về tồn ngã, giác ngã, đều gọi là chướng ngại.
Hỏi
vặn rằng: Chân-như tự tính, niết bàn, chứng được những
Phật chủng duyên khởi, há lại không phải là lời Phật
nói hay sao? Sao lại còn nói vô trí khả đắc?
Phật
đáp: Trong cái tự chứng thánh trí pháp kia thực có tự
tính, để đợi cái duyên sinh, đó là lời Hóa Phật nói,
chứ không phải lời Pháp Phật nói. Hóa Phật nói như thế
cũng không phải là bản hoài của Phật, nhưng vì chúng ngu
si mong muốn có cái sở chứng được, lấy đó làm quả,
thì mới chịu tiến đến. Nếu nói vô ngã, vô trí, vô đắc,
thì sợ sinh ra lo ngại, cho nên mới bất đắc dĩ mà tùy thuận
cơ nghi, thi thiết phương tiện, chứ không phải là thực pháp.
- Ý nói cái Đốn-giáo Đại-thặng này là để cho bậc
người thượng thượng căn, đốn thị sự lìa bỏ cái cảnh
giới của tâm, ý, ý thức, tự giác thánh trí, đó mới là
cái pháp chân thực của Phật Pháp nói vậy.
Phật
nói: Ví như trong nước có bóng cây hiện ra. Cái bóng cây
kia phi ảnh, phi phi ảnh, phi thụ hình, phi phi thụ hình. Bọn
ngoại đạo kế trược những cái kiến tập sở duyên vọng
tưởng, y theo cái tướng có nhất và dị, câu và bất câu,
hữu và vô, phi hữu và phi vô, thường và vô thường, mà
không biết được cái tự tâm hiện lượng.
Đó
là làm cho rõ cái ý nói vốn không có thánh trí khả đắc.
Vì cái hiện thân của Phật như cái bóng ở trong nước. Nước
ví cái tâm của chúng sanh. Cây ví Phật-Pháp-thân, bồ đề
tâm, nguyện thân. - Nguyên Pháp-thân không phải là thân, chỉ
thừa cái nguyện lực mà hiện ra. Cho nên tâm chúng sinh mà
trong lặng, thì cái bóng bồ đề hiện ra trong tâm ấy (chúng
sinh tâm nhược tịnh, bồ đề ảnh hiện trung). Thế là nói
cái sở hiện ra, nguyên là chúng sinh vốn có pháp thân, có
cái tự tâm hiện lượng. Lấy cảm ứng đạo giao, bất khả
tư nghì, mà chỉ là một tâm, cho nên bóng và cây đều
không phải. - Ngoại đạo không đạt cái duy tâm sở
hiện, cho nên mới vọng chấp những kiến nhất với nhị.
---==0==---
Trong
quyển thứ 2 kinh Lăng-ca Phật nói có bốn thứ thiền là:
ngu phu sở hành thiền, quán sát nghĩa thiền, phan
duyên như thiền, và như lai thiền.
1.
Thiền là cái phương tiện vào lý, tức là nói nhân với hạnh
mà thôi. Ngu phu sở hành thiền là cái thiền của
Thanh-văn, Duyên-giác với ngoại đạo dùng để tu hành, quán
sát cái tính nhân vô ngã, tự tướng, cộng tướng, cốt tỏa
(xương nát), vô thường, khổ, bất tịnh tướng, rồi chấp
trược những điều đó, không quên, cho nên cái ngã kiến
càng tăng lên, thành ra không bỏ được cái tướng. Cái nhân
địa đã không chân thực, thì cái quả tất phải cong queo,
ngay đến cái gọi là niết bàn cũng không phải là chân thực.
Bởi chưng nhị thặng và ngoại đạo không đạt tới cái
tâm hiện lượng và cái lý chân vô ngã, tuy có quan sát cái
ngã không, mà vẫn không quên cái chấp trược, cho nên mới
gọi là phàm phu sở hành thiền.
2.
Quán
sát nghĩa thiền là cái phương tiện tu hành của Bồ-tát
để biểu thị cái chính nhân. Tu phép thiền này là đã biết:
nhân vô ngã, tự tướng, cộng tướng, ngoại đạo tự và
tha đều không có tự tính, rồi cứ quan sát cái pháp vô ngã
và cái tướng nghĩa ở chỗ ấy, rồi cứ tùy thuận mà quan
sát mãi. Ấy gọi là quan sát nghĩa thiền. Cái thiền này vẫn
còn thuộc vào môn tiệm giáo.
3.
Phan
duyên như thiền là cái hành tướng đến giải thoát
đạo, nói cái vọng tưởng và hai cái vô ngã tướng (nhân/pháp
vô ngã) đến chỗ như thực, không sinh vọng tưởng, nhân
pháp bản vô, bình đẳng như như, không khởi phân biệt. Ấy
là không ở trong phân biệt tâm, được cái cảnh giới tịch
tĩnh. Ba cái thiền nói trên là cái hành tướng của tam thặng.
4.
Như-Lai thiền là nói vào Như-Lai địa, được
cái tướng tự giác thánh trí, tâm chủng lạc trụ, thành
biện chúng sinh bất tư nghị sự. Cái thiền này là cái hành
tướng của tối thượng nhất thặng . Nói Như-Lai thiền không
phải là nói cái thiền của Như-Lai sở hành, mà nói lấy
cái giác của Như-Lai quả địa làm bản nhân tâm, tức
lấy bất sinh bất diệt tâm làm cái nhân cho sự tu của mình.
Vậy nên mới nói rằng vào Như-Lai địa, được tự giác
thánh trí, ấy là cái đại phương tiện của người tu hành.
Hai
cái thiền nói trên, thứ hai và thứ ba, tuy gọi là chính hành,
nhưng còn thuộc về môn tiệm tu. Cái thiền thứ tư này là
môn thiền đốn ngộ nhất tâm, đốn đăng Phật địa, tam
đức (pháp thân, bát nhã, giải thoát) bí tàng, một niệm
đắc đốn tức là thành tựu cái bất tư nghị của
chúng sinh, cho nên gọi là Như-Lai thanh tịnh thiền.
Cái
Như-Lai thanh tịnh thiền này chính là cái thiền của Tổ Đạt-Ma
đem truyền sang nước Tàu, tức là cái tâm ấn của tam thế
chư Phật, lịch đại Tổ-Sư, đời đời truyền cho nhau. Cái
tông chỉ, cái ý nghĩa trong kinh Lang-ca ở cả chỗ ấy. Những
người tu hành phải lấy đó làm chân nhân mà ru, thì rồi
mới được cái Như-Lai vô thượng đại niết bàn quả. Thế
là nhân chân, quả chính, thấy rõ trong những lời thuyết
pháp của đức Như Lai.
Tôi
xem kinh Lăng-ca, thấy có nhiều ý nghĩa huyền diệu vô cùng,
mà trước sau chỉ lấy nhất tâm làm tông, lấy tự giác thánh
trí làm cứu cánh. Tuy không thể kể hết ra đây được, nhưng
có ba điểm rất hệ trọng là tâm, thức và thiền.
Những yếu điểm ất đều là then chốt trong Phật-Giáo Đại
Thặng, cho nên tôi trích mấy đoạn, đem trình bày ra đây,
để biểu hiện đại khái một cái học cực ký cao siêu.
Thiết tưởng những nhà Phật học nên xem kỹ kinh này thì
mới có thể hiểu được rõ cái căn nguyên Thiền Tông là
một học phái rất cao sâu trong Phật-Giáo Đại Thặng.
Hết
Cụ
Lệ Thần TRẦN TRONG KIM trích giảng, nhà xuất bản Tân Việt
in lần thứ nhất tại Hà-nội xong ngày 1-9-1964
(Cụ
Ngô Huy Đài thỉnh tại Saigon tặng cho Truyền-Đan trước ngày
Cụ xuất cảnh. Chép sao mùa hè năm 2004 tại Vancouver Canada.)