Phẩm
Ðề Bà Ðạt Ða
Thứ
Mười Hai
Đức
thế Tôn đã dùng phương tiện chỉ rõ các pháp tự tánh là
không, để chúng sinh thoát vòng nhiễm chấp. Nhận chân được
“pháp giới tánh nhiệm mầu”. Nhận chân được pháp thân
bất động, liễu liễu minh minh, không ngoài tâm tánh của
chúng sinh. Và tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật.
Do vậy phẩm Đề Bà Đạt Đa lại một lần nữa minh chứng
rõ ràng về tính thể nhiệm mầu của “Như Lai tạng tâm”
vậy.
“Lúc
bấy giờ Đức Phật bảo các vị Bồ Tát hàng trời, người,
bốn chúng : Ta ở trong vô lượng kiếp về quá khứ cầu kinh
Pháp Hoa không hề lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm
vị quốc vương phát nguyện cầu đạo Vô thượng Bồ đề
lòng không thối chuyển. Vì muốn đầy đủ sáu Pháp Ba la
mật nên làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc. Bố thí voi,
ngựa, vợ con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu, mắt, tủy
óc, thân thịt, tay chân. Vua vì mến pháp nên giao việc trị
nước cho thái tử, đánh trống tuyên lệnh cầu pháp bốn
phương: ai có thể vì ta nói pháp Đại thừa thì ta sẽ trọn
đời cung cấp hầu hạ”.
Cầu
được nghe “Diệu Pháp Liên Hoa” là ý chỉ thâm diệu được
nói lên rằng: nếu muốn hướng về “lý đạo Nhất thừa”
thì những pháp hữu vi như danh vị: quốc vương, các món báu,
đầu mắt, tủy óc, vợ con không nên đắm nhiễm mới có
thể thâm nhập được “lý đạo Nhất thừa” ấy.
Sự
tuyên bày của quốc vương là “ai có thể vì ta nói pháp
Đại thừa thì ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ”.
Đó
là một sự kiện phi thường vừa rời bỏ sự nhiễm chấp
nơi các pháp hữu vi, vừa chấp nhận tùy thuận nơi các pháp
hữu vi ấy. Để hiển bày chân thật tướng, hiển bày tánh
thể viên minh, tự tại dung thông không ngằn mé.
“Khi
ấy có vị tiên nhân đến thưa cùng vua rằng : Ta có pháp
Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, nếu Đại vương chẳng
trái ý ta, ta sẽ vì Đại vương mà tuyên nói”.
“Vua
nghe vị tiên nhân nói, vui mừng hớn hở, liền đi theo vị
tiên nhân để cung cấp việc cần dùng hoặc hái trái, gánh
nước, hoặc lượm củi, nấu ăn, cho đến dùng thân mình
làm giường ghế... thân tâm không biết mệt mỏi. Thuở đó
theo phụng thờ vị tiên nhân trải qua một nghìn năm. Vì trọng
pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ cho tiên nhân không thiếu
thốn”.
Như
thế việc tiến đến “lý đạo Nhất thừa” không phải
là một sự kiện giản đơn. Như quốc vương kia đã theo hầu
hạ tiên nhân cả ngàn năm mà không một lời thán oán, không
mệt mỏi, dùng “thân làm giường ghế” đủ biết là phải
chịu vô lượng nhẫn nhục, vô lượng tinh tấn”.
Thuở
xưa kia cầu “Diệu Pháp Liên Hoa” đã như thế, thì nay ta
cầu “Diệu Pháp Liên Hoa” thế nào?
Và
Đức Thế Tôn đã bảo các Tỳ kheo rằng: “Nhà vua thuở
ấy là thân ta, còn tiên nhân kia chính là Đề Bà Đạt Đa.
Do nhờ thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa làm cho ta đầy đủ
sáu pháp Ba la mật, từ bi, hỷ xả, 32 tướng tốt thành bậc
Chánh đẳng Chánh giác rộng độ chúng sinh, tất cả công
đức đó đều là nhân thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa ca”.
Đề
Bà Đạt Đa là người có nhiều hành động tỏ ra thù nghịch
với Đức Thế Tôn. Ông là người ác, manh tâm hãm hại Phật,
người tán tận lương tâm. Nhưng chính con người ác tâm ấy,
chính những hành động trái nghịch đó là thước đo về
đức tính từ bi nhẫn nhục, là phương tiện để đạt thành
lý đạo.
Lại
nữa, Đề Bà Đạt Đa (Kinh A Hàm) đã viện dẫn với những
ác tâm như vậy, sau khi chết sẽ dọa vào ác đạo không thể
cứu được. Nhưng ở đây lại cho là thiện tri thức, như
thế lời của Đức Thế Tôn nói có mâu thuẫn không?
Bởi
lẽ, trước vì Nhị thừa, tâm tánh chưa thuần thục, nên
Đức Thế Tôn đã chừng mực chỉ bày chúng sinh tránh việc
ác, làm việc lành, xa lánh kẻ ác tâm, có thể làm chướng
ngại sự tu dưỡng.
Cũng
như trong gia đình, cha mẹ thường dạy con cái lúc còn nhỏ
nên chọn bạn mà chơi, chê trách kẻ dữ, khen người hiền.
Nhưng khi con đã lớn khôn, giúp người, giúp nước, giúp đời,
bấy giờ mới khuyên con đem khả năng ấy huấn dục kẻ ác
xấu, trở thành người tốt, như thế mới là người giỏi,
người tài.
Nay
thuyết về “Tri kiến Như Lai” tâm nhất như bình đẳng,
có đầy đủ trí tuệ, từ bi và nhẫn nhục.
Do
vậy, mỗi hành động, mỗi cử chỉ, ngôn ngữ đều hàm chứa
ba đức tính trên. Trước chướng duyên nghịch cảnh, trước
kẻ ác xấu là những phương tiện để hiển bày “tánh trí
nhất như”. Chúng ta nói nhẫn nhục, nhưng nếu có người
kêu tên mình chửi thì mình đối xử thế nào? Mình không
có hành động xấu mà người ta cho mình là kẻ xấu thì sao?
Thực
hành hạnh Bồ Tát mà thuận cảnh duyên thì đâu có gì phải
nói.
Gặp
nghịch cảnh, nghịch duyên, gặp kẻ xấu ác mà dẫn độ
được thì mới thấy mình có từ bi, nhẫn nhục và trí tuệ.
Như vậy những đức tính trên được thể hiện một
cách rõ nét là nhờ kẻ nghịch, duyên nghịch. Chính kẻ nghịch,
duyên nghịch là bạn lữ, là pháp lành đem đến cho ta huân
dưỡng tánh thể nhiệm mầu. Do vậy, Đề Bà Đạt Đa chính
là thiện hữu tri thức, chính là bậc Bồ Tát hiện thân đồng
thời với Đức Thế Tôn để giúp cho chúng hội thể nhận
“lý đạo Nhất thừa”, thể nhận “tri kiến Như Lai”,
thể hiện “tánh trí nhất như”. Không gì cao quý bằng sự
thị hiện của Đề Bà Đạt Đa, để chỉ rõ Đại thừa
giáo pháp mới có khả năng vượt thoát sự tương phân đối
đãi.
Chính
nhờ Bồ Tát Đề Bà Đạt Đà thị hiện nghịch cảnh, phá
hòa hiệp Tăng, làm thân Phật ra huyết, để cho chúng hội
nhận rõ rằng thiện hay ác không hai. Tất cả các pháp đều
bình đẳng, tâm thể nhất như kia không lay chuyển. Đức Thế
Tôn đã thương xót muôn loài. Ngài chỉ rõ rằng dù ở hạng
nào loại nào đều có khả năng thành Phật.
Do
đó Phật bảo hàng tứ chúng: “Qua vô lượng kiếp về sau,
ông Đề Bà Đạt Đa sẽ thành Phật hiệu là Thiên Vương
Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri... Phật Thế Tôn. Cõi nước
tên Thiện Đạo”.
Điều
đó đủ nói lên rằng: chỉ có Đại thừa Diệu pháp mới
thống nhiếp thiện pháp, ác pháp, thống nhiếp căn cơ của
chúng sinh, khiến tất cả chúng sinh đều thấu rõ chân tánh
nơi chính tự thân mình vậy.
Đức
Thế Tôn bảo các Tỳ kheo: “Trong đời vị lai, nếu có kẻ
thiện nam, thiện nữ nào nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm
Đề Bà Đạt Đa đem lòng trong sạch kính tin chẳng sinh nghi
lầm, thời chẳng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, được
sinh ở trước các Đức Phật trong mười phương... chỗ người
đó sinh ra thời được nghe kinh này”.
Nghe
đến phẩm Đề Bà Đạt Đa trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà
kính tin thì chúng ta đủ biết người đó tin mình có “Phật
pháp thân”, tin mình có khả năng thành Phật. Mà đã tin như
thế thì phải biết rằng người đó có trí tuệ tuyệt vời
không còn dính mắc nơi tiểu pháp vậy. Đối với họ không
pháp nào không phải là Phật Pháp.
Tuy
nhiên, nghe nói rằng những kẻ ác, những kẻ tạo nhiều tội
lỗi mà cũng thành Phật, thì đó là một sự hi hữu, khó
tin, khó hiểu, nên trong kinh đã viện dẫn.
“Bấy
giờ ở Hạ Phương có vị Bồ Tát theo hầu đức Đa Bảo
Như Lai, tên là Trí Tích, bạch với Đức Đa Bảo Phật nên
trở về bổn quốc”.
Do
tâm trí còn hạ liệt nghe pháp vi diệu chưa từng nghe nên
không hiểu, không tin, cho đó là điều không thể nghe được,
làm gì có kẻ xấu ác cũng thành Phật, cho nên Bồ Tát Trí
Tích đã thị hiện “ở phương dưới xin trở về bổn quốc”.
Vì
chữ Tích là nhóm chứa, Trí ấy còn có chỗ nhóm chứa nên
còn nhóm vướng mắc, còn suy lường chưa thấu rõ điều này.
Do
vậy, môt lần nữa Đức Thế Tôn đã bị mẫn mời Trí Tích
ở lại để luận pháp mầu với Đại Trí Văn Thù.
Bởi
lẽ, chúng ta thường ở trong vũng lầy sinh tử, trong
biển ái nguồn ân, vỏ vô minh còn dày, nên nghe nói “Tri
kiến Phật”, nghe Diệu Pháp Liên Hoa, khó mà tin nhận ngay
được, chỉ có bậc đại trí mới có thể nhận được.
Chúng
hội đã thể nhận “Phật pháp thân” nơi chính tự thân
mình. Sự thể nhận được dễ dàng như thế, nhưng vẫn còn
nghi ngại, đối với những kẻ xấu ác, liệu họ có trở
thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không?
Do
vậy mà có sự luận pháp mầu giữa Trí Tích và Đại Trí
Văn Thù vậy.
Lúc
đó Ngài Văn Thù Sư Lợi ngồi hoa sen nghìn cánh lớn như bánh
xe, các vị Bồ Tát cùng theo cũng ngồi hoa sen báu từ nơi
cung rồng Ta Kiệt La Long Vương trong biển lớn, tự nhiên vọt
lên trụ giữa hư không đến núi Linh Thứu, làm lễ xong qua
chỗ Trí Tích cùng hỏi thăm nhau rồi ngồi một phía”.
Đoạn
kinh trên cho chúng ta thấy rõ rằng chỉ có đại trí mới
có khả năng vượt thoát nơi biển ái nguồn ân, dù cho sóng
gió vô minh có dẫy đầy, nhưng vẫn bình thản tự tại. Mà
đại trí hiển bày được là nhờ có Diệu Pháp Liên Hoa.
Chính Diệu Pháp ấy có khả năng làm cho chúng sinh thoát khỏi
vòng nhiễm chấp “ngã và pháp” để đạt thành đại trí,
nên kinh đã viện dẫn : “Ngài Văn Thù Sư Lợi ngồi hoa sen
lớn nghìn cánh, từ trong biển lớn vọt lên trụ giữa hư
không đến núi Linh Thứu”.
Chỉ
có đại trí mới có khả năng vượt ra biển khổ Ta Bà.
Chỉ
có đại trí mới nhận ra “Phật pháp thân” không còn bị
không gian, thời gian làm chướng ngại, nên kinh đã viện dẫn:
“Đại
Trí Văn Thù từ trên hoa sen bước xuống chỗ Phật, đầu
mặt kính lạy hai Đức Thế Tôn”.
Đại
Trí đã nhận được quá khứ, hiện đại, vị lai Phật, đều
không ngoài tâm tánh, nên kinh đã viện dẫn: “gặp hai Phật
và cả chúng hội”.
“Lúc
bấy giờ Ngài Trí Tích hỏi Ngài Văn Thù: Ngài qua cung rồng
hóa độ chúng sinh số được bao nhiêu? Ngài Văn Thù nói:
số đó vô lượng không thể tính kể, chẳng phải miệng
nói được, chẳng phải tâm lường được, chờ chừng giây
lát sẽ tự chứng biết”.
“Ngài
Văn Thù nói chưa dứt lời có vô số Bồ Tát ngồi tòa sen
báu từ biển vọt lên đến núi Linh Thứu trụ giữa hư không.
Các vị Bồ Tát này đều đã được Ngài Văn Thù hóa độ.
Ngài Văn Thù nói với Ngài Trí Tích rằng: Tôi giáo hóa ở
nơi biển bạc việc như thế đó”.
Và
cũng chỉ có đại trí mới thấy được hằng sa công đức
quý báu trong biển tâm pháp sinh, mà đoạn kinh đã viện dẫn:
“Vô số Bồ Tát ngồi tòa sen từ biển vọt lên trụ giữa
hư không”.
Hằng
sa công đức ấy phát sinh được là nhờ đại trí khéo giáo
hóa nên đã nhận chân được tự tánh các pháp là không.
Với cái không tịnh diệu trang nghiêm đó chẳng thể dùng
lời nói, tâm suy lường mà nhận ra được.
Lúc
đó Ngài Trí Tích Bồ Tát nói kệ khen rằng:
Đại
trí đức dũng kiện,
Hóa
độ vô lượng chúng,
Nay
trong đại hội này,
Lòng
tôi đều đã thấy,
Diễn
nói nghĩa thực tướng,
Mở
bày pháp Nhất thừa.
Ngài
Văn Thù Sư Lợi nói: “Tôi ở biển chỉ thường tuyên nói
kinh “Diệu Pháp Liên Hoa”.
Sự
khen ngợi của Ngài Trí Tích và sự minh chứng của Ngài Văn
Thù về Diệu Pháp Liên Hoa đó là một ý chỉ thâm diệu để
chúng hội thể nhận được rằng: chỉ có Diệu Pháp Liên
Hoa mới có thể đưa chúng hội tiến nhanh vào “lý đạo
Nhất thừa”.
Ngài
Trí Tích hỏi Ngài Văn Thù rằng: “Kinh này rất sâu vi diệu
là báu trong các kinh, trong đời rất ít có. Vậy có chúng
sinh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau đặng thành
Phật chăng?
Một
lần nữa Ngài Trí Tích đã từ mẫn hỏi Ngài Văn Thù: Nếu
nghe hiểu được kinh Pháp Hoa, một bộ kinh vị diệu quý báu
trong đời ít có, vậy chúng sinh tinh tấn tu hành thì có thể
thành bậc Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác mau hay chậm?
Ngài
Văn Thù đã trả lời: “Có con gái của vua rồng Ta Kiệt
La mới 18 tuổi, căn tánh lanh lẹ có trí tuệ, đặng pháp
tổng trì, do nhờ kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà trong khoảng sát
na phát tâm Bồ đề, đặng bất thối chuyển, biện tài vô
ngại, công đức tự lợi, lợi tha, chứng thành đạo quả”.
Ngài
Trí Tích đã viện dẫn: Như Đức Thích Ca trong vô lượng
kiếp làm những khổ hạnh khó làm, chứa nhiều công đức
cầu đạo Bồ đề chưa từng thôi dứt. Trong cõi tâm thiên
muôn hạnh lành của Bồ Tát tỏa khắp muôn nơi, bỏ cả thân
mạng vì lợi ích của chúng sinh, sau mới thành đạo Bồ Đề.
Tôi
chẳng tin là loài rồng có thân súc sinh, lặn hụp trong biển
cả vô minh, làm sao trong khoảnh khắc mà chứng thành đạo
quả được?
Ngay
khi đó lời luận bàn chưa xong, con gái Long Vương bỗng hiện
ra nơi trước, đầu mặt lễ kính Phật, rồi dùng kệ khen
rằng:
Thấu
rõ tướng tội phước,
Khắp
soi cả mười phương,
Pháp
thân tịnh vi diệu,
Không
ai không tôn phục,
Lại
nghe thành Bồ đề,
Chỉ
Phật sẽ chứng biết,
Tôi
diễn pháp Đại thừa,
Độ
chúng sinh thoát khổ.
Long
Nữ đã ngợi khen pháp thân Phật, kế đó đã tự nói sẽ
thành Phật. Duy có Đức Phật mới chứng biết, mà chẳng
đợi Ngài Văn Thù trả lời cho Ngài Trí Tích.
Với
ý chỉ thâm diệu là Đại Trí Văn Thù đã vô ngôn diệu đáp,
lời đáp ấy khởi ngay từ câu hỏi (vì hỏi xong là tâm tánh
nhiệm mầu đã tự bừng sáng). Cho nên Trí Tích Bồ Tát đã
thể hiện một cách vi diệu, biết rõ thâm ý của chúng hội
còn vi tế, vướng mắc ở điểm này nên khởi hỏi và thật
đúng như vậy. Ngay lúc đó Ngài Xá Lợi Phất nói với Long
Nữ rằng: “Ngươi nói không bao lâu chứng đặng đạo Vô
thượng, việc đó khó tin”. Và Ngài đã viện dẫn: Thân
nữ nhơ uế, chẳng phải pháp khí, thân gái còn có năm điều
chướng:
- Chẳng
đặng làm Phạm Vương
- Chẳng
đặng làm Đế Thích
- Chẳng
đặng làm Ma Vương
- Chẳng
đặng làm Chuyển Luân Thánh Vương
- Chẳng
đặng làm Phật
Sao
loài súc nữ lại thành Phật mau như thế được.
Sự
vướng chấp vi tế ở các pháp nên trần sa hoặc chưa dứt
trừ, khó mà thể nhận được.
“Lúc
đó Long Nữ có một hột châu báu giá trị bằng cõi tam thiên
đại thiên đem dâng lên Phật, Phật liền nhận lấy. Long
Nữ nói với Trí Tích Bồ Tát cùng Tôn Giả Xá Lợi Phất
rằng: Tôi hiến châu báu, Đức Thế Tôn nạp thọ việc đó
có mau chăng?
Đáp:
rất mau.
Long
Nữ nói: Tôi thành Phật lại mau hơn việc đó.
Đúng
lúc đó cả chúng hội đều thấy Long Nữ thoạt nhiên biến
thành nam tử, đủ hạnh Bồ Tát, liền qua cõi Vô Cấu ở
Phương Nam, ngồi tòa sen báu, đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp,
khắp vì tất cả chúng sinh trong mười phương mà diễn nói
Diệu Pháp”.
Điều
đó đủ chứng minh rằng: Nếu đem ngọc báu hay thanh tịnh
tâm vốn sẵn có dâng cho Phật. Hay nói cách khác là hướng
về “thể tánh chân thường” thì ngay lúc đó tự nhận
ra được “bản lai diện mục” của chính mình.
Lại
nữa, vô tướng pháp thân không là nam, là nữ, chỉ cần một
niệm tương ứng tự khắc viên thành đạo quả, đầy đủ
y báo chánh báo, thị hiện trang nghiêm và cũng chính lúc đó
Diệu Pháp Liên Hoa đã dung thông tuyên thuyết được vậy.
Phật
tánh bình đẳng, không phân biệt loài nào, hạng nào, nam hay
nữ, thông minh học nhiều chữ nghĩa hay mê muội. Nếu một
khi đã nhận ra “tự tánh nhiệm mầu” vô thỉ vô chung ở
nơi mình, sống xứng hợp với tánh ấy, thì ngay lúc đó sẽ
đạt thành đạo quả.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch