CHƯƠNG
1
TÊN
VÀ NGUỒN GỐC KINH TAM DI ĐỀ
1.1
Nguồn Gốc Tên Kinh
Kinh
Tam Di Đề hiện giờ ta có ba bản, một bản tiếng Pali và
hai bản chữ Hán (Tạp A Hàm và Biệt Dịch Tạp A Hàm). Kinh
Tam Di Đề mà ta đang đọc được dịch từ Hán Tạng, đó
là kinh số 1078 trong Tạp A Hàm.
Tam
Di Đề tiếng Phạn là Samiddhi, Samiddhi là tên của một thầy
còn trẻ, khoảng 22, 23 tuổi. Thầy Samiddhi được sinh ra trong
một gia đình trâm anh thế phiệt, sống tại thủ đô Vương
Xá (Ràjagaha).
Ngày
xưa trước khi thành đạo, Bụt có hứa với vua Tần Bà Xa
La (Bimbisara) là sau khi thành đạo thế nào Ngài cũng về để
giúp vua. Lúc đó Bụt còn là một vị sa môn đang đi tìm đạo
và hai người đã gặp nhau trên một khu đồi ở gần Thành
Vương Xá. Vua Tần Ba Xa La rất cảm phục Bụt và đã khẩn
khoản mời Ngài về làm Quốc Sư, nhưng Bụt đã nói: "Bần
đạo xin cảm tạ tấm lòng chiếu cố của Đại Vương, nhưng
quả thật giờ đây bần đạo chỉ có một ước vọng mà
thôi, đó là ước vọng tìm cho ra chánh đạo để cứu giúp
muôn loài. Cuộc sống rất vô thường, cái khổ của sinh,
lão, bệnh, tử luôn luôn rình rập ta, những ngọn lửa phiền
não từ nội tâm như tham vọng, giận dữ, oán thù, si mê,
ganh ghét và kiêu mạn đang nung nấu tâm hồn ta, và ta chỉ
có thể đạt tới an lạc thật sự nếu ta tìm được con
đường tu tập. Chỉ khi nào Đạo Lớn được tìm ra thì mọi
loài mới có con đường giải thoát. Nếu Bệ Hạ có lòng
yêu mến bần đạo, xin Bệ Hạ để cho bần đạo được
theo đuổi con đường mà kẻ tu hành này đã hướng đến
từ lâu. Bần đạo xin hứa là khi nào tìm ra được đạo,
bần đạo sẽ trở về chia xẻ với Đại Vương".
Vì
vậy sau khi thành đạo, lập được tăng thân ở Vườn Nai,
trở về thăm cây bồ đề, điều phục ba anh em ông Ca Diếp
thờ Thần Lửa, và thu nhận gần một ngàn môn đồ của ba
vị này làm đệ tử xuất gia, Bụt đã đưa cả giáo đoàn
đó về thủ đô Vương Xá, cư trú tại Rừng Kè mới trồng
ở ngoại ô, cách thủ đô hai dặm về phía Nam. Buổi sáng
giáo đoàn được phép vào thành để khất thực. Các vị
khất sĩ tổ chức thành từng chúng hai mươi lăm người, bước
từng bước khoan thai và có ý thức, tay ôm bình bát, mắt
nhìn thẳng về phía trước, dáng điệu rất uy nghi. Dân chúng
trong thành rất ngạc nhiên khi thấy có một giáo đòan khất
sĩ mới, đông đảo nhưng rất trang nghiêm. Bụt cũng đã đi
khất thực chung với các thầy. Cgỉ trong vòng nửa tháng,
phần lớn dân chúng thủ đô đã biết tới sự có mặt của
giáo đoàn khất sĩ do Bụt lãnh đạo. Tiếng đồn tới tai
vua và vua biết là Người xưa đã trở về, Bụt chưa kịp
đi thăm vua thì một buổi chiều, vua cùng hoàng hậu và thái
tử đã ngồi xe tứ mã tìm về Rừng Kè để thăm Bụt. Tháp
tùng vua có nhiều nhân sĩ, trí thức và lãnh đạo cao cấp
trong giới Bà la môn, trong đó có thân phụ của Samiddhi. Lúc
đó Samiddhi là một người trẻ, cũng được đi theo phái đoàn.
Cố nhiên chàng không phải là một thanh niên tầm thường.
Nếu không có tài, không có ưu thế trong xã hội thì đâu
dễ gì chàng được tham dự vào phái đoàn để đi thăm Bụt.
SƯ
CHÚ SAMIDDHI VÀ MA VƯƠNG
Ngay
lần đầu được gặp Bụt và chứng kiến cuộc nói chuyện
giữa Bụt và vua Tần Bà Xa La, Samiddhi đã có ý định muốn
xuất gia, và người trai trẻ này là một trong những thanh
niên đầu tiên ở thành Vương Xá được chấp nhận vào giáo
đoàn của Bụt và thầy sống rất an lạc. Sau vài ba năm tu
học, trong một đêm thiền tọa thầy Samiddhi quán chiếu thấy
mình thật may mắn đã được chấp nhận vào trong giáo đoàn
mầu nhiệm này và thầy cảm thấy rất hạnh phúc. Bỗng nhiên
thầy nghe một tiếng nổ kinh hoàng giống như là trái đất
vỡ tung, làm thầy rất hoảng sợ.
Ngày
hôm sau tìm tới Bụt thầy kể lại câu chuyện đã xảy ra:
"Bạch Đức Thế Tôn, con đang thiền tọa rất an lạc, đang
ý thức được sự may mắn của con vì được xuất gia từ
lúc còn trẻ tuổi, thì tự nhiên có một tiếng nổ giống
như quả đất này đang vỡ tung. Con đã rất sợ nên đến
với Đức Thế Tôn để hỏi Ngài là con phải đối trị với
cái sợ ở trong con như thế nào?" Bụt nói: "Này Samiddhi Đó
là ma phiền não trong tâm quấy nhiễu con. Con chỉ cần biết
đó là ma phiền não thôi thì tự nhiên con sẽ bình an, hết
sợ. Con đừng đi trốn ở một nơi khác, cứ ở ngay chỗ
đó để tu học".
Vài
ngày sau khi trở về trung tâm đó, cũng vào nửa đêm, trong
khi thiền tọa, thầy Samiddhi lại nghe một tiếng nổ kinh hoàng
giống như kỳ trước. Thầy mỉm cười, thở vào, thở ra,
và nói: "Đây là ma phiền não, ta nhận biết cái hạt giống
sợ hãi ở trong ta rồi". Và mầu nhiệm thay tất cả những
sợ hãi đó đều biến mất và tiếng nổ kia không bao giờ
còn được nghe nữa. Từ đó trở đi thầy Samiddhi sống rất
an lạc và tu học rất tinh chuyên trong giáo đoàn mầu nhiệm
này.
Câu
chuyện trên đây có nghĩa là trong thời gian tu học, có thể
sự nghi ngờ và sợ hãi xảy ra trong tâm ta. Đôi khi sự nghi
ngờ hoặc sợ hãi đó rất lớn, giống như một tiếng nổ
kinh hoàng, giống như trái đất sắp nổ tung. Nhưng ta không
nên lo lắng, tại vì tất cả những sợ hãi và nghi ngờ đó
đã từ tâm ta phát sinh. Ta chỉ cần nhận diện sự có mặt
của chúng thì chúng sẽ không làm gì được ta. Trong khi tu
hành, nếu ta sinh ra tâm niệm chán nản, thì tâm niệm chán
nản đó cũng là ma phiền não. Đó là một hạt giống trong
tâm địa đã nảy mầm. Ta không cần phải chạy trốn, ta
chỉ cần mỉm cười, thở vào, thở ra, và nói rằng: Hạt
giống của chán nản ơi! Người vừa xuất hiện, ta biết
sự có mặt của ngươi, thì hạt giống đó không làm gì được
ta.
Một
lần khác, thầy Samiddhi đã gặp và đàm luận với một vị
ngoại đạo khá nổi tiếng, vị này là một nhà triết học.
Lúc đó Đức Thế Tôn đã được vua Tần Bà Xa La (Bimbisara)
cúng dường cho một khu rừng tre rất đẹp ở cạnh thành
Vương Xá, gọi là Tu Viện Trúc Lâm. Trong rừng có rất nhiều
con sóc hiền lành. Hôm ấy thầy Samiddhi đang ngồi trong một
cái thất ở rừng tre thì có một vị du sĩ ngoại đạo tên
là Totali Budtha đến gặp thầy và hỏi về giáo lý đạo Bụt.
Ông ta hỏi về thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và về
cảm thọ. thầy Samiddhi đã giảng, đã giải thích cho vị
du sĩ đó, Kiến thức của thầy lúc bấy giờ chưa vững,
cho nên khi biết chuyện, Bụt có hỏi lại Samiddhi. Samiddhi
đã nói vài điều không đúng lắm với chánh pháp nên bị
Bụt quở. Hôm đó Samiddhi hơi có nội kết, tự giận mình
mới tu nên còn non yếu. Nhưng nội kết đó đã rất tốt
cho quá trình tu học của thầy.
Đây
là những điều quí vị nên biết trước khi đọc Kinh Tam
Di Đề, nếu không mình sẽ không hiểu một vài chi tiết ở
trong kinh. Câu chuyện thầy Samiddhi bị Bụt rầy được ghi
lại trong Kinh Đại Nghiệp Phân Biệt, tức là Kinh 136 ở trong
Trung bộ Kinh.
1.2
Trưòng Hợp Bụt Nói Kinh
Đây
là những điều tôi được nghe vào một thời mà Bụt đang
cư trú ở Tu viện Trúc Lâm Ca Lan Đà, tại kinh thành Vương
Xá. Một sớm mai nọ có vị khất sĩ ra sông cởi y áo để
trên bờ, rồi xuống nước tắm gội. Tắm xong vị ấy ấy
lên
bờ đợi cho khô mình mẩy rồi mặc áo vào. Bấy giờ có
một vị thiên nữ xuất hiện, hào quang từ thân hình phát
ra sáng chói, soi rõ cả bờ sông. Thiên nữ nói với vị khất
sĩ:
"Thầy
là một người mới xuất gia, tóc còn xanh, tuổi còn trẻ,
giờ này đáng lý phải xông ướp hương thơm, trang điểm
châu báu, đeo tràng hoa thơm mà hưởng thọ năm thứ vui thú
ở đời. Trong khi đó thì thầy lại bỏ những người thương,
quay lưng lại với cuộc đời thế tục, chịu đựng sự biệt
ly, cạo bỏ râu tóc, khoác áo Cà sa, tin tưởng vào con đường
xuất gia học đạo. Tại sao lại bỏ cái lạc thú hiện tại
mà đi tìm cái lạc thú phi thời như thế?".
Đó
là đoạn đầu của kinh theo bản văn Hán tạng. Trong bản
văn tiếng Pali cũng nói giống như vậy và có ghi rõ tên vị
khất sĩ là Tam Di Đề. Trong bản văn Hán tạng tuy không nêu
rõ tên vị khất sĩ trẻ, nhưng ta biết chắc rằng vị khất
sĩ đương sự mang tên Samiddhi.
Chúng
ta cũng có một bản dịch khác trong Hán tạng là Biệt Dịch
Tạp A Hàm Kinh. Trong bản kinh này có ghi là khi thầy Samiddhi
cởi áo đi xuống nước tắm thì trời còn mờ tối, chưa
sáng hẳn. Khi bước lên thì thầy để lộ cái thân hình của
một người con trai trẻ tuổi, và thầy đứng như vậy đợi
cho khô ráo chứ không mặc vào một cái áo để che thân như
đã được mô tả trong Tạp A Hàm Kinh số 1078 hay là trong
kinh văn Pali. Biệt Dịch Tạp A Hàm nói "lộ hình xuất thủy",
tức là đi ra khỏi nước để lộ thân hình và đứng đợi
cho khô thôi, không nói có mặc áo vào. Tôi nghĩ rằng bản
kinh nói "lộ hình xuất thủy" có tính cách gần với kinh nguyên
thủy hơn. Sau này có lẽ người ta thấy cái hình ảnh đó
không được thuần phong mỹ tục cho lắm, nên bản Tạp A
Hàm cũng như bản Pali đều cho thầy mặc vô một cái áo để
đứng đợi cho khô mình mẩy.
Ở
gần núi Linh Thứu có nhiều nước suối nóng, các thầy ưa
tới đó tắm. Có nhiều thầy trẻ, tắm hơi nhiều nên bị
Bụt quở. Vì vậy sau đó đã phải qui định lại là nên
tắm bao nhiêu thì đủ, vì tắm ở suối nước nóng là một
sụ thích thú của rất nhiều thầy. Trong khu vực những suối
nước nóng có một tu viện. Nói là tu viện nhưng kỳ thực
không có những tòa nhà lớn mà chỉ có những thảo am, những
tịnh xá nho nhỏ cất lên rải rác đó đây cho các thầy lớn
tuổi thôi, còn các thầy nhỏ thì sống ở dưới các gốc
cây. Những dòng suối nước nóng đó chảy vào một con sông
tên là Tapoda, và tu viện ở đó gọi là tu viện Tapodarama.
Nước sông không còn nóng như ở suối, và thầy Samiddhi đã
tắm ở dòng sông này.
Chúng
ta nên biết rằng ngày xưa các vị Thiên giả hiện xuống
sống chung với người thường rất thường. Hiện nay ta chỉ
thấy người thường thôi chứ không thấy Chư Thiên xuống
nghe Pháp. Thật ra chúng ta phải nghĩ rằng giữa Thiên với
Nhân khoảng cách cũng không xa bao nhiêu. Có những người sống
nhẹ nhàng như tiên và như vậy thì dưới trần thế cũng
có những vị Thiên giả chứ không phải là không.
Trong
đoạn này, ta nhận thấy vị Thiên giả xuất hiện khi thầy
Samiddhi mới tắm xong và chưa mặc áo, Có lẽ nhìn thấy thầy
là một người con trai mới lớn, thân hình tráng kiện là
lại xuất gia, cho nên cô đã hỏi: "Thầy tuổi còn trẻ, tóc
còn xanh, giờ này đáng lý phải xông ướp hương thơm, trang
điểm châu báu, đeo tràng hoa mà hưởng thọ năm thứ vui ở
đời. Tại sao thầy lại bỏ những người thương, quay lưng
lại với cuộc đời thế tục, chịu đựng sự biệt ly, cạo
bỏ râu tóc, khoác áo Cà sa, tin tưởng vào con đường xuất
gia học đạo. Tại sao thầy lại bỏ cái lạc thú hiện tại
mà đi tìm cái lợi phi thời như thế?" Chuyện này xảy ra
trong quá khứ nhưng cũng đang xảy ta trong hiện tại. Người
ta thường hay nói: mình còn trẻ mà đi tu làm gì? Mình phải
xông pha trong cuộc đời hưởng thọ năm thứ dục lạc trước,
rồi sau đó mình tu cũng không muộn. Truyền thống Đạo Bà
la môn chủ trương như vậy. Nhưng truyền thống của Đạo
Bụt là một truyền thống mới, khác với đạo Bà la môn,
vì vậy mà thầy Samiddhi đã trả lời câu hỏi của vị Thiên
nữ:
"Tôi
đâu có bỏ cái lạc thú hiện tại mà đi tìm cái lạc thú
phi thời? Chính tôi đã bỏ cái lạc thú phi thời để tìm
tới cái lạc thú chân thật trong hiện tại đó chứ!"
Phi
thời nghĩ là không đúng lúc. Theo vị Thiên nữ thì năm thứ
dục lạc (tài, sắc, danh, thực, thụy) là lạc thú hiện tại,
còn lạc thú mà người xuất gia đi tìm, tức là giải thoát
và Niết Bàn, là lạc thú phi thời. Ai lại bỏ cái lạc thú
hiện tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời như vậy? Đó là
lời nói của vị Thiên nữ. Thầy Samiddhi đã trả lời rất
hay: "Tôi đâu có bỏ cái lạc thú hiện tại để đi tìm cái
lạc thú phi thời? Chính tôi đã bỏ cái lạc thú phi thời
để tìm tới cái lạc thú chân thật trong hiện tại đó chứ!"
Câu trả lời này rất đúng chánh pháp. Nếu không học nhiều
kinh khác nói về Bụt, về Pháp và về Tăng thì chúng ta sẽ
không hiểu được câu này.
Vị
Thiên nữ hỏi:
- "Thế
nào là bỏ cái lạc thú phi thời để tìm cái lạc thú chân
thật trong hiện tại?"
Vị
khất sĩ đáp:
- "Đức
Thế Tôn có dạy: trong cái vui phi thời của ái dục, vị ngọt
rất ít mà chất cay đắng rất nhiều. Cái lợi rất bé mà
cái tai họa rất lớn. Tôi giờ này đang an trú trong hiện
pháp, lìa bỏ được những ngọn lửa phiền não đốt cháy.
Hiện pháp này vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy,
tự mình thông đạt, tự mình có thể giác tri. Này Thiên nữ,
đó gọi là bỏ cái lạc thú phi thời để đạt tới cái
lạc thú chân thực trong hiện tại".
Đoạn
kinh văn này rất quan trọng. Ta phải nghiên cứu mới hiểu
sâu được.
Vị
Thiên nữ lại hỏi vị khất sĩ:
-
Tại sao Đức Thế Tôn lại nói trong cái vui phi thời của
ái dục vị ngọt rất ít mà chất cay đắng rất nhiều, cái
lợi rất bé mà tai họa rất lớn? Tại sao Đức Thế Tôn
lại nói an trú trong hiện pháp là lìa bỏ được những ngọn
lửa phiền não đốt cháy, vượt ngoài thời gian, đến để
mà thấy, tự mình thông đạt, tự mình có thể giác tri?"
Vị
khất sĩ trả lời:
- "Tôi
mới xuất gia được có mấy năm, không đủ sức giảng bày
rộng rãi những giáo pháp và luật nghi mà Đức Như Lai tuyên
thuyết. Hiện Đức Thế Tôn đang cư ngụ gần đây, nơi rừng
tre Ca Lan Đà, Thiên nữ có thể tới với Người để trình
bày những nghi vấn của Thiên nữ, Đức Như Lai sẽ dạy cho
Thiên nữ chánh pháp để tùy nghi thọ trì".
Câu
nói đó của thầy Samiddhi chứng tỏ thầy đã cẩn thận trong
khi trả lời. Thầy không dám giảng rộng ra và câu mà thầy
vừa nói trên là một câu thầy đã thuộc lòng, nó nằm trong
công thức về phép niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Trước
đây thầy Samiddhi đã một lần giảng giải rộng, nhưng vì
giảng giải chưa được đúng nên thầy đã bị Đức Thế
Tôn quở, thành ra bây giờ thầy cẩn thận hơn.
Hồi
đó Bụt ở tại tu viện Trúc Lâm. Tu viện này ở miền Nam
thủ đô Vương Xá, cách thủ đô chừng vài cây số. Trong
tu viện Trúc Lâm có một cái hồ lớn, gọi là Hồ Ca Lan Đà
(Kalandala). Ngày xưa tu viện có rất nhiều loại tre quí do
Vua tần Bà Xa La đem từ các nơi về. Trong vườn tre có rất
nhiều con sóc hiền lành. Khi đến thăm Bụt ở rừng Kè, Vua
Tần Bà Xa La đã thỉnh Bụt và giáo đoàn về cung thọ trai.
Mấy tuần lễ sau, vào ngày trăng tròn, buổi sáng Bụt khoác
áo Cà sa, mang bình bát cùng với giáo đoàn 1250 vị khất sĩ
đi vào thành Vương Xá để đáp lại lời mời của Quốc
Vương Tần Bà Xa La. Trong dịp thiết trai tăng cúng dường
này, Vua Tần Bà Xa La đã hiến cúng cho Bụt và giáo đoàn
khu vưòn tre đó. Vườn tre này trở thành tu viện đầu tiên
của giáo đoàn Đạo Bụt. Về sau giáo đoàn lại có thêm
tu viện Nalanda ở tám cây số phía bắc thủ đô.
Ngày
xưa Tu viện Nalanda là một tu viện rất phồn thịnh, quê hương
của thầy Xá Lợi Phất. Tu viện này có hàng ngàn sinh viên
xuất gia tới học. Thầy Huyền Trang cũng có qua học ở đây.
Bây giờ tu viện đã tan nát rồi. Sau này, một học giả người
Pháp nói rằng sở dĩ ở Ấn Độ đạo Bụt bị tiêu mòn
không còn dấu vết nữa là tại Bụt đã nhận đất cúng
dường! Từ một người khất sĩ không cửa, không nhà, Bụt
đã trở thành một địa chủ, vì vậy mà sau này đạo Bụt
đã gặp khó khăn. Theo nhà học giả này thì nếu ngày xưa
Bụt đừng nhận đất, đừng trở thành địa chủ thì các
giáo phái khác có muốn đánh cũng không đánh được, vì có
nơi nào mà đánh đâu? Ví như giáo đoàn lõa thể của giáo
chủ Mahavira đạo Jain, họ vẫn trường tồn từ thời của
Bụt cho đến bây giờ.
Đọc
những lời nhận xét này của nhà học giả Pháp, tôi chỉ
mỉm cười thôi. Theo tôi thì nguyên so suy đồi của đạo
Bụt là vì vào thế kỷ thứ VII và thứ VIII, giới Phật tử
ưa tranh luận quá nhiều, lý thuyết quá nhiều, mà không chú
tâm mấy đến sự thực tập hành trì. Quan trọng hơn nữa
là trong đời sống hàng ngày lúc đó, đạo Bụt đã không
đặt nền tảng và cơ sở thực tập của mình trong quảng
đại quần chúng mà chỉ lo tiếp xúc nhiều với giới quyền
quí. Đó mới là những nguyên do căn bản đã đưa đến sự
suy đồi của đạo Bụt tại Ấn Độ.
Trở
lại Kinh Tam Di Đề, khi nghe thầy Samiddhi mời đi gặp Bụt
thì vị Thiên nữ nói:
"Thưa
khất sĩ, Đức Như Lai đang được các vị Thiên giả có nhiều
uy lực túc trực bao quanh, tôi không dễ gì có cơ hội để
tới gần Người mà hỏi Đạo. Nếu thầy có thể đến trực
tiếp gặp Đức Thế Tôn để thỉnh vấn trước giùm tôi
thì tôi sẽ xin đi theo thầy".
Vị
khất sĩ nói:
- "Tôi
sẽ đi giúp Thiên nữ".
Vị
Thiên nữ nói:
- "
Thưa Tôn giả, vâng, tôi sẽ đi theo Tôn giả".
Chi
tiết này cho ta thấy rằng ngày xưa được gặp Bụt cũng
hơi khó. Lý do là vì chung quang Bụt luôn luôn có những vị
có y lực lớn, tuy vậy các vị khất sĩ và nữ khất sĩ thì
tới với Bụt rất dễ. Thầy Samiddhi tuy còn nhỏ nhưng cũng
được phép tới gần Bụt, dễ dàng hơn là những vị Thiên
giả. Chúng ta có thể nghĩ rằng, một vị Thiên giả có hào
quang, có quyền phép mà tại sao không tới gần Bụt được,
trong khi đó một vị Tỳ kheo trẻ như thầy Samiddhi mà muốn
tới với Bụt lúc nào cũng được? Chi tiết đó rất hay.
Điều này cũng đúng trong hoàn cảnh hiện giờ của chúng
ta. Các Sư Cô, Sư Chú tới với Thầy rất dễ, trong khi đó
thì những vị có địa vị và danh lợi tới với Thầy rất
khó. Điều đó chứng tỏ rằng khi ta đã xuất gia rồi, đã
hoàn toàn đem cuộc đời mình đi vào trong Chánh Pháp, thì
ta đã trở thành một loại đất tốt, một loại ruộng phước
(phước điền) tốt, và vì vậy ta được Bụt để ý và
chăm sóc nhiều hơn. Một người đã bỏ hết gia sản, công
danh, sự nghiệp để đi xuất gia, thì tự nhiên được Bụt
coi như là đối tượng của sự giáo hóa. Vì vậy cho nên
dầu họ không phải là các bậc Thiên giả có hào quang sáng,
có uy tín nhiều, có địa vị lớn trong xã hội, nhưng họ
có thể tới với Bụt bất cứ lúc nào. Cũng vì lý do đó
mà vị Thiên giả mới phải nhờ thầy Samiddhi dẫn đi diện
kiến với Bụt.
Lúc
ấy vị khất sĩ kia đi đến nơi Bụt ở, cúi đầu làm lễ
dưới chân Người, lui ra đứng một bên và đem câu chuyện
đã nói với vị Thiên nữ thuật lên cho Bụt nghe. Rồi thầy
tiếp:
- "Bạch
Đức Thế Tôn, nếu vị Thiên nữ kia có tâm thành khẩn thì
giờ này vị ấy đã có mặt ở đây rồi. Nếu không thì
có lẽ vị ấy đã không tới".
- "Thưa
Tôn giả, tôi đang có mặt đây, tôi đang có mặt đây". Và
vị Thiên nữ tới gần.
Đức
Thế Tôn liền nói cho Thiên nữ nghe bài kệ sau đây:
Chúng
sanh theo dục tưởng,
Trú
trong dục tưởng ấy,
Không
biết dục là gì,
Nên
đi vào nẻo chết.
Rồi
Bụt hỏi vị Thiên nữ:
- "Con
hiểu bài kệ không? Nếu chưa hiểu thì cứ nói".
- "Con
thật tình chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con thật tình chưa
hiểu, bạch Đức Thiện Thệ".
Lúc
bấy giờ Bụt lại đọc cho vị Thiên nữ nghe một bài kệ
khác:
Biết
bản chất của dục,
Sẽ
không sinh dục tâm,
Dục
không, dục tưởng không,
Không
ai xúi được mình.
Rồi
Bụt hỏi vị Thiên nữ:
- "Còn
bài kệ này con có hiểu không? Nếu không hiểu thì con cứ
nói".
Vị
Thiên nữ bạch Bụt:
- "Con
cũng chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con cũng chưa hiểu, bạch
Đức Thiện Thệ".
Bụt
lại đọc cho vị Thiên nữ một bài kệ khác:
Mặc
cảm hơn, thua, bằng,
Tạo
thành mọi tranh luận,
Ba
mặc cảm dứt rồi,
Tâm
không còn khuynh động.
Đọc
xong Bụt lại hỏi vị Thiên nữ:
- "Bây
giờ con đã hiểu bài kệ ấy chưa? Nếu chưa hiểu thì con
cứ nói".
Vị
Thiên nữ bạch Bụt:
- "Con
vẫn chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con vẫn chưa hiểu, bạch
Đức Thiện Thệ".
Bụt
lại đọc cho vị Thiên nữ một bài kệ khác nữa:
Cắt
ái và danh sắc,
Trừ
mạn hết buộc ràng,
Chấm
dứt mọi sân hận,
Nội
kết và hy cầu,
Là
giải thoát mọi cõi,
Đời
này và đời sau.
Rồi
Bụt hỏi vị Thiên nữ:
- "Lần
này con có hiểu được ý nghĩa của bài kệ không? Nếu không
thì con vẫn có thể hỏi thêm".
Thiên
nữ bạch Bụt:
- "Con
đã hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con đã hiểu, bạch Đức Thiện
Thệ".
Nghe
Bụt nói kinh xong vị Thiên nữ vui vẻ mừng vâng theo, biến
đi và không ai còn trông thấy tăm dạng cô đâu nữa.
Đó
là trường hợp mà Bụt đã nói Kinh Samiddhi. Kinh này trích
từ Bộ Tạp A Hàm. Khi học kinh này chúng ta sẽ xét luôn văn
bản bằng tiếng Pali và văn bản bằng chữ Hán trong bộ Biệt
Dịch Tạp A Hàm. Có một vài kinh khác cũng có liên hệ tới
Kinh Samiddhi, chúng ta sẽ có dịp tham cứu.
PHI
THỜI: MỘT CHỦ ĐỀ LỚN CỦA KINH TAM DI ĐỀ.
Đối
thoại với Thiên nữ, câu trả lời đầu tiên của thầy Samiddhi
là: "Tôi đâu có bỏ cái lạc thú hiện tại mà đi tìm cái
lạc thú phi thời (akalika)? Chính tôi đã bỏ cái lạc thú
phi thời để đi tìm cái lạc thú chân thật trong hiện tại
đấy chứ". Tiếng Phạn kala có nghĩa là thời gian, còn kalika
là nằm trong thời gian và khi thêm chữ "a" vào thì thành akalika,
nghĩa là không nằm trong thời gian, nghĩa là phi thời. Cách
dùng chữ trong kinh điển rất là mầu nhiệm, ta phải cẩn
thận lắm mới hiểu được.
Kinh
có ghi lại lời Bụt đã nói với vua Ba Tư Nặc về vấn đề
vượt thoát thời gian. Khi nhà vua đến thăm Bụt lần đầu
tiên thì Bụt mới có 38 tuổi. Vua đã hỏi Bụt: "Sa môn Gotama,
người ta thường ca ngợi Ngài là Bụt, là người đã đạt
tới quả vị giác ngộ cao nhất, trẫm băn khoăn tự hỏi:
tuổi Ngài còn nhỏ, năm tu của Ngài cũng còn ít thế mà tại
sao Ngài lại có thể đạt tới thành quả đó được? Trẫm
đã nghe nói đến nhiều vị đạo cao đức trọng như Purana
Kassapa, như Makkhali Gosala v.v... họ là những vị tu lâu năm
tuổi tác đều lớn tại sao họ không tự nhận là bậc Chánh
Biến Tri Giác?" Bụt ôn tồn trả lời: "Đại Vương, vấn
đề chứng ngộ không phải là vấn đề tuổi tác, vấn đề
chứng ngộ không phải là vấn đề thời gian". Rồi Ngài đem
ra bốn ví dụ để khai thị cho vua. Ngài nói: "Đại Vương,
có những cái bé nhỏ mà ta không nên khinh thường: một vị
Vương tử bé, một con rắn con, một đốm lửa nhỏ, và một
nhà tu trẻ. Vị Vương tử tuy còn bé, mới có 3, 4 tháng thôi
nhưng cũng có Vương tính của một Đức Vua như Bệ Hạ bây
giờ. Một con rắn độc tuy nhỏ bằng chiếc đũa, nhưng nó
có thể làm ta mạng trong chốt lát. Một đốm lửa hồng có
thể làm thiêu rụi một khu rừng hay một thành phố lớn.
Một nhà tu trẻ có thể đạt tới quả vị giác ngộ hoàn
toàn, vì tuy trẻ nhưng vị ấy có giác ngộ tính bên trong.
Đại Vương! Người khôn ngoan không bao giờ khinh thường một
Vương tử bé, một con rắn nhỏ, một đốm lửa hồng hay
một nhà tu trẻ".
Câu
trả lời của Bụt bao gồm trong mấy chữ "giác ngộ không
phải là vấn đề thời gian, không thuộc về thời gian". Chữ
kalika ở đây có nghĩa là thuộc về thời gian, bị thời gian
chi phối. Còn akalika là vượt ra khỏi thời gian, không bị
thời gian chi phối. Akalika là một danh từ dùng để diễn
tả Pháp của Bụt. Trong văn học Phật Giáo có một từ rất
hay, đó là kiếp ngoại. Kiếp tức là Kalpa, có nghĩa là thời
gian. Ngoại tức là ngoài. Ngày xưa thầy Trọng Ân có làm
một bài thơ nói về Ngày Đản Sanh, trong đó thầy viết:"
Hoa nở trong kiếp ngoại". Đây là một thứ hoa không tàn phai
vì thời gian. Ta có thể dùng chữ thời ngoại, nhưng không
hay bằng chữ kiếp ngoại. Kinh Tam Di Đề thì dùng chữ phi
thời. Nhưng kinh này được dịch vào khoảng thế kỷ thứ
IV, do đó ta có thể thay bằng những chữ mà ta thấy nó hợp
thời gian, ví dụ như kiếp ngoại hay thời ngoại.
Hôm
trước quí vị đã cùng thực tập tụng kinh Pali, chúng ta
đã tụng: Svàkkhàto bhagavatà dhammo, sanditthiko, akaliko, chipassiko
... Akaliko là phi thời, tức là vượt thoát thời gian. Ban đầu
vị thiên giả nói rằng sự tu học xuất gia hành đạo có
tính cách phi thời, ở đây cô có ý nói là không đúng lúc.
Tại sao thầy còn trẻ mà lại đi xuất gia? Cô đã dùng chữ
phi thời theo nghĩa đó. Nhưng trong giáo pháp, chữ phi thời
lại có nghĩa là vượt thoát thời gian, không bị thời gian
chi phối. Cũng trong giáo pháp, ta học rằng dục vọng nằm
trong thời gian và bi thời gian chi phối. Cái hay của câu kinh
là ở chỗ đó. Nó gần giống như một sự chơi chữ. Hai
bên nói hai ngôn ngữ khác nhau. Một bên thế tục thì nói:
"Tại sao lại bỏ cái vui hiện tại để đi tìm cái vui phi
thời?". Một bên đã xuất gia thì nói: "Cái mà cô gọi là
thú vui hiện tại là cái đang bị thời gian chi phối, vì nó
nằm ở trong thời gian. Cái mà tôi đang thực hiện, đang sống
đây là cái vượt thời gian, nó không bị thời gian chi phối.
Muốn
hiểu rõ hơn đoạn này, quí vị có thể đọc thêm Kinh Người
Áo Trắng, trong đó tôi có giải thích tường tận những danh
từ này (Akalika, Ehipassika, Samditthika, Opanayika). Những danh từ
đó là một tả tính chất mầu nhiệm của giáo Pháp đạo
Bụt.
"Tôi
đâu có bỏ cái lạc thú hiện tại mà đi tìm cái lạc thú
phi thời, chính tôi đã bỏ cái lạc thú phi thời để tìm
tới cái lạc thú chân thực trong hiện tại đấy chứ!" Câu
nói này cố nhiên là vị thiên giả không hiểu, tại vì thầy
Samiddhi chưa giảng cho cô hay Bụt có dạy rằng tu học thì
mình có hạnh phúc ngay trong hiện tại và giáo pháp mà mình
đang tu tập có thể cho mình niềm vui ngay trong hiện tại.
Mình có hạnh phúc ngay trong khi mình tu học.
Có
một mệnh đề được ghi lại trong rất nhiều kinh nhưng không
thường được nhắc tới, đó là mệnh đề Hiện Pháp Lạc
Trú. Hiện Pháp tức là cái gì đang xảy ra trong hiện tại.
An trú một cách có hạnh phúc ở trong giây phút hiện tại
thì gọi là hiện pháp lạc trú (Ditthadhamma Sukhavihari). Ditthadhamma
là hiện pháp; Sukha là lạc; Vihari tức là trú; Sukhavihari là
lạc trú. Đây là tinh túy của giáo pháp đạo Bụt: "Trong
khi tu học, ta phải để tâm tiếp xúc với hiện tại mầu
nhiệm và phải có an lạc ngay trong khi tu học". Ví dụ khi
đi thiền hành, ta không đi thiền hành cho tương lai mà đi
cho hiện tại, mỗi bước chân phải đem lại an lạc, mỗi
bước chân phải có tác dụng nuôi dưỡng ta. Khi ngồi thiền
cũng vậy, ta không ngồi cho tương lai mà phải ngồi làm sao
để có an lạc và có hạnh phúc ngay bây giờ. Khi rửa nồi,
nấu cơm, rửa bát, ta đều phải thực tập cái pháp gọi
là Hiện Pháp Lạc trú. Trong câu trả lời kể trên, tuy rằng
thầy Samiddhi không nói thẳng ra, nhưng thầy đã có ý nói
với vị thiên giả là tôi đang có hạnh phúc đây, tại vì
tôi đang thực tập theo cái nguyên tắc gọi là hiện pháp
lạc trú. Tôi đang có hạnh phúc thật sự ngay trong giờ phút
hiện tại, chứ tôi không đang chạy theo một bóng dáng của
hạnh phúc trong tương lai. Bóng dáng của hạnh phúc là danh,
là lợi, là tài, là sắc. chúng chỉ mới là bóng dáng thôi,
và chính đó mới là phi thời, còn trong sự thực tập của
một khất sĩ thì cái hạnh phúc đó là cái hạnh phúc đang
có, cho nên cô không thể nói rằng tôi đang đi theo một cái
gì phi thời được.
1.3
Chủ Đề Hạnh Phúc Trong Vài Kinh Khác
Trong
kho tàng kinh điển của đạo Bụt, có nhiều kinh khác cũng
đề cập đến hạnh phúc trong hiện tại. Ta kể ra đây một
kinh bằng chữ Hán và một bằng chữ Pali. Kinh ngắn nhưng
rất hay. Nhưng kinh này vì ngắn nên ta có thể đọc nguyên
văn bằng chữ Hán hay là bằng tiếng Pali, rất dễ và rất
vui. Mỗi kinh gồm có ba bài kệ và mỗi bài chỉ có mấy câu
thôi. Về bài kinh chữ Hán ta có hai bản văn: Bản thứ nhất
trích từ bộ Biệt Dịch Tạp A Hàm, kinh thứ 132. Bản thứ
nhì từ trong bộ Tạp A Hàm, kinh thứ 995.
Bài
dịch từ Biệt Dịch Tạp A Hàm kinh thứ 132 như sau:
" Đây
là những điều tôi nghe vào một thời Bụt đang cư trú ở
vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc. Có một vị thiên giả hào quang
vả vẻ đẹp sáng tốt bội phần, trong đêm hiện đến chỗ
Bụt ngồi. Sau khi làm lễ dưới chân Bụt, vị thiên giả
ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ hào quang của vị thiên
giả bừng sáng lên một cách rực rỡ, soi chiếu khiến cho
tu viện Kỳ Hoàn trở nên sáng rực. Rồi vị thiên giả, trong
khi ngồi một bên Bụt, nói lên bài kệ sau đây:
Ở
chốn A Lan Nhã,
Tu
phạm hạnh vắng lặng,
Mỗi
ngày một bữa ăn,
Sao
nhan sắc vui tươi
Bụt
trả lời:
Không
cần sầu luyến quá khứ,
Không
cầu mong tương lai,
Hiện
tại nuôi chánh trí,
Đoạn
dục để giữ mình,
Sáu
tình đều nhẹ nhõm,
Nên
nét mặt vui tươi.
Bụt
dạy tiếp:
Tương
lai còn mong cầu,
Quá
khứ còn truy niệm,
Như
cỏ non xanh tốt,
Cắt
rồi phơi giữa nắng,
Kẻ
phàm phu khô héo,
Chỉ
vì ngần ấy thôi.
Lúc
đó vị thiên giả rất vui mừng, liền đọc một bài kệ
để tán dương Bụt:
Quá
khứ đã từng thấy,
Trượng
phu đạt Niết Bàn,
Lìa
sợ hãi nghi ngờ,
Vượt
qua biển ân ái.
Ta
thử tìm hiểu nghĩa từng câu. Ở chốn A Lan Nhã có nghĩa
là ở nơi chốn núi rừng. A Lan Nhã tức là núi rừng, àrajnã
(tiếng phạn: àranya) là thuộc về rừng. Ở Chợ lớn có
một ngôi chùa gọi là Bồ Đề Lan Nhã. Các thầy ngày xưa
ở trong rừng cho yên tĩnh nên gọi là "ở chốn A Lan Nhã".
Tu
phạm hạnh vắng lặng. Tu phạm hạnh tức là hành trì giới
luật tinh khiết.
Mỗi
ngày một bữa ăn, sao nhan sắc vui tươi? Các thầy ở chỗ
vắng hoe, không có xe hơi, không có truyền hình, không có rạp
hát, không có phố xá, mỗi ngày một bữa thôi, tại sao mặt
mày người nào người nấy sáng rỡ và vui tươi như vậy?
Trong sáu câu kệ kế tiếp Bụt dạy rằng người không biết
tu tập là người phàm phu, cứ ngồi thắc mắc lo lắng và
mong cầu về tương lai hoặc than khóc, tiếc thương và truy
niệm về quá khứ. Họ giống như những ngọn cỏ non bị
người ta cắt đứt đem phơi giữa nắng. Sau đó bốn câu
tán dương Bụt của vị thiên giả, nó có nghĩa rằng: "Con
đã từng thấy một vị Đại trưỡng phu đạt tới Niết
Bàn, lìa bỏ tất cả những sợ hãi nghi ngờ và vượt qua
được tất cả những biển ân ái trong đời, chặt đứt
được những cái dây mà kẻ khác cứ khăng khăng mình buộc
lấy mình vào trong".
Dựa
vào văn bản trích từ Tạp A Hàm. Kinh thứ 995, tôi dịch như
sau:
Khất
sĩ trong rừng cây,
Sống
vắng lặng nhẹ nhàng,
Tu
phạm hạnh thanh tịnh,
Mỗi
ngày một bữa ăn,
Lý
do nào khiến họ,
Mặt
mày luôn sáng rỡ?
Bụt
trả lời:
Không
sầu luyến quá khứ,
Không
mong mỏi tương lai,
Chánh
trí luôn hành trì,
Sống
trong giờ hiện tại,
Ăn
cơm trong chánh niệm,
Nên
mặt mày tươi vui.
Kẻ
ngu si sầu héo,
Như
cỏ tươi bị cắt,
Vì
vướng mắc quá khứ,
Vì
theo đưổi tương lai.
Vị
thiên giả tán dương:
Đã
từng thấy trượng phu,
Đạt
niết bàn vững chãi,
Mọi
khổ nạn qua rồi,
Vượt
thoát ngàn ân ái".
Ta
thấy ý Kinh trong Tạp A Hàm cũng giống như trong Biệt Dịch
Tạp A Hàm. Tuy vậy trong Biệt Dịch Tạp A Hàm có thêm câu
"Sáu tình đều nhẹ nhõm".
Kinh
thứ hai nằm ở trong tạng Pali. Kinh này cũng nói về đề
tài sống hạnh phúc và thảnh thơi. Đó là Kinh Samyutta 194,
dịch là Kinh Ở Rừng. Kinh này không phải do Bụt nói mà là
do một thầy kể lại những điều của một vị thiên giả
nói ở trong rừng.
"Một
thuở nọ có nhiều vị khất sĩ kiết hạ tại một khu rừng
thuộc miền quê nước Kosala. Các vị khất sĩ sau khi đã hoàn
mãn khóa an cư ba tháng, bắt đầu rời khu rừng đi du hành.
Một vị thiên giả trú ở trong khu rừng này thấy vắng bóng
các vị khất sĩ, liền than thở, buồn bã nói lên bài kệ
sau đây:
Hôm
nay trong lòng ta,
Trống
vắng không niềm vui.
Những
chỗ ngồi hôm qua,
Giờ
đây không người ngồi.
Các
bậc đa văn ấy,
Thuyết
pháp thật là giỏi.
Đệ
tử Đức Thế Tôn,
Hiện
đi đâu hết rồi?
Vị
thiên giả này rầu lắm vì trước đó ngày nào ông ta cũng
được thấy các thầy ngồi ăn cơm im lặng, ngồi thiền và
đi kinh hành. Ngày nào cũng được nghe các thầy thuyết pháp
nhưng bây giờ các thầy đã đi hết và khu rừng vắng hoe!
Khi
nghe bài kệ đó, một vị thiên giả khác bèn dùng một bài
kệ để đáp lại:
Họ
đi Ma Kiệt Đà!
Họ
đi Cô Sa La!
Còn
những vị khất sĩ khác,
Lại
đi về Vajja!
Như
nai thoát bẫy sập,
Chạy
nhảy khắp bốn phương,
Đời
sống người xuất gia,
Là
thảnh thơi như thế!
"Họ
đi Ma Kiệt Đà", Ma Kiệt Đà là một nước ở miền Nam sông
Hằng, tức là Vương quốc Magadha của vua Tần Bà Xa La (Bimbisara).
"Họ
đi Cô Sa La", Cô Sa tức là Vương quốc Kosala ở thượng lưu
sông Hằng, xứ của Vua Ba Tư Nặc (Prasanajit).
"Còn
những khất sĩ khác, lại đi về Vajja". Vajja có khi gọi là
Vajji, là một nước nhỏ ở miền Bắc sông Hằng. Thủ đô
của nó là Tỳ Xá Ly (Vaisali). Đây là nước đầu tiên ở
Ấn Độ thiết lập được một nền dân chủ. Họ có quốc
hội sớm nhất trên thế giới. Bụt có một tu viện ở đó
và đó cũng là quê hương của Ambapali, người đã cúng dường
cho Bụt một khu vườn xoài rất mát. Ambapali là một cô ca
sĩ nổi tiếng đương thời, trước kia đã là tình nhân của
Vua Tần Bà Xa La.
"Như
nai thoát bẫy sập, chạy nhảy khắp bốn phương, đời sống
người xuất gia, là thảnh thơi như thế". Ta phải hiểu rằng
bẫy sập này là cái bẫy của năm thứ dục lạc: tài (tiến
bạc); sắc (sắc đẹp); danh (tiếng tăm); thực (thức ăn ngon);
và thụy (mê ngủ). Như nai thoát bẫy sập là những con người
không bị những "cái bẫy của năm thứ dục vọng" giam cầm.
Thoát khỏi những cái bẫy như vậy rồi thì bày nai có thể
chạy nhay khắp bốn phương. Những người khất sĩ cũng vậy,
đời sống của người xuất gia là thảnh thơi như thế. Thảnh
thơi ở đây có nghĩa là không bị vướng vào cái vòng kềm
chế của năm thức dục lạc. Những kinh như kinh này đều
nói về cái hạnh phúc mà chúng ta thực tập theo chánh pháp.
Ngay trong thời gian tu học với nhau trong hiện tại.
Trở
lại với Kinh Tam Di Đề:
Vị
thiên nữ hỏi:
- "Thế
nào là bỏ cái lạc thú phi thời để đi tìm cái lạc thú
chân thật trong hiện tại?"
Vị
khất sĩ đáp:
- "Đức
Thế Tôn có dạy: trong cái vui phi thời của ái dục, vị ngọt
rất ít mà chất cay đắng rất nhiều. Cái hưởng thụ rất
bé mà cái tai họa rất lớn. Tôi giờ này đang an trú trơng
hiện pháp. Lìa bỏ được những ngọn lửa phiền não đốt
cháy. Hiện pháp này vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy,
tự mình thông đạt, tự mình có thể giác tri. Này thiên nữ,
đó gọi là bỏ cái lạc thú phi thời để đạt tới cái
lạc thú chân thực trong hiện tại".
Khi
đọc một đoạn kinh như trên, ta thường nghĩ rằng chúng
ta có thể hiểu được dễ dàng, nhưng khi đi sâu vào từng
từ ở trong kinh ta mới thấy những đoạn kinh này rất sâu
sắc, rất thâm diệu. Ta sẽ từ từ nghiên cứu trong các bài
Pháp thoại sau này.