CHƯƠNG
3
NỘI
DUNG KINH TAM DI ĐỀ
3.1
Pháp Thoại Ngày 4 tháng 9 năm 1994
3.2
Pháp Thoại Ngày 8 tháng 9 năm 1994
3.3
Pháp Thoại Ngày 11 tháng 9 năm 1994
3.4
Pháp Thoại Ngày 14 tháng 9 năm 1994
3.5
Pháp Thoại Ngày 29 tháng năm 1994
3.6
Pháp Thoại Ngày 2 tháng 10 năm 1994
3.1
Pháp Thoại Ngày 4 tháng 9 năm 1994
TU
TẬP LÀ TRỒNG TỈA TRÊN ĐẤT TÂM
Thưa
đại chúng, hôm nay là ngày mùng 4 tháng 9 năm 1994, chúng ta
đang ở xóm Hạ trong khóa tu mùa Thu.
Kỳ
trước tôi có ví sự thực tập tu học với việc cày bừa,
gieo trồng, và tưới tẩm ruộng vườn. Nghe chuông, đi thiền
hành, ngồi thiền, ăn cơm trong im lặng, thực tập hơi thở
theo những bài kệ đều là những phương pháp cày bừa, gieo
trồng trên mảnh đất tâm của mình. Quí vị có nhớ thầy
Đ.T khi mới tới Làng không? Nếu chúng ta chụp được một
tấm hình khi thầy mới đến, rồi đem so với hình mà chúng
ta chụp sau ngày thầy rời Làng, thì chúng ta sẽ thấy có
sự khác nhau rất lớn. Hình đầu là hình của "một mảnh
đất chưa cày, chưa bừa", và hình sau là hình "đất đã cày,
đã bừa, đã vun xới". Nhờ Bụt, nhờ Thầy, nhờ Pháp, nhờ
Tăng thân, không tu thì thôi chứ tu là có kết quả. Có người
đạt tới kết quả mau, có người có kết quả chậm, nhưng
tất cả mọi người qua công phu đều được chuyển hóa cả.
Điều này là một điều có thể có thể xác quyết được,
vì vậy chúng ta không nên bỏ đi một giây phút nào trong đời
sống hằng ngày mà không tu tập. Chữ Bhavana dịch là tu tập.
Nó có nghĩa là gieo trồng, là cày cấy, cho nên mình cũng có
thể dịch ra tiếng Pháp là culture. Chữ culture có nghĩa là
trồng tỉa nhưng đồng thời nó cũng có nghĩa là văn hóa,
điều này rất có ý nghĩa. Khi trồng trọt trên đất đai
ở ngoài thì gọi là agriculture, còn khi trồng trọt trong mảnh
đất tâm thì ta tạm dịch là psychoculture vì cả hai đều
là đất.
Loại
đất ở ngoài, khi trồng trọt thì ta có mùa màng, có rau ráng,
có đậu bắp; còn loại đất trong tâm thì khi trồng, ta có
an lạc, hiểu biết, thương yêu và hạnh phúc. Cho nên cả
hai thứ trồng trọt đều gọi là culture hết. Ở ngoài đời,
khi làm ruộng người ta cũng biết tìm cách làm cho công việc
đồng áng vui vẻ thêm lên, Đi thăm những ruộng nho ơ vùng
này quí vị thấy rằng ở đầu các luống nho người ta trồng
hoa hồng. Chủ ý của việc trồng những khóm hồng ở đầu
những hàng nho là để cho cuộc đời đẹp lên, chứ không
phải trồng nho là chỉ có mục đích để bán nho hay làm rượu
mà thôi. Ở Việt Nam trong khi cày cấy hay gặt hái thì những
chàng nông dân, những cô thôn nữ cũng vui đùa hát hò và
họ cũng biết giã gạo dưới trăng. Tất cả những việc
đó đều nhằm tạo niềm vui ngay trong khi làm việc. Trong sự
tu học cũng vậy. Sự tu học của chúng ta phải mang lại niềm
vui cho chúng ta ngay trong khi tu học. Đừng nói rằng tu học
thì phải cực khổ, phải đợi mười năm, hai mươi năm sau
ta mới bắt đầu có niềm vui, Điều đó không đúng với
lời Bụt dạy. Có một bài thơ thật buồn cười:
Thiên
hạ đua nhau nói khổ vui,
Biết
chi là khổ biết chi vui,
Vui
trong tham dục vui là khổ,
Khổ
để tu hành khổ ấy vui.
"Khổ
để tu hành" có ý nói tu hành là phải chịu khổ. Điều này
chống lại giáo lý của Bụt. Trong tinh thần giáo lý của
Bụt. Trong tinh thần giáo lý của Bụt, ta phải có hạnh phúc,
phải có niềm vui ngay trong khi tu tập. Cái vui trong khi tu tập
sẽ đem lại cái vui của tương lai. Cho nên giáo lý Hiện Pháp
Lạc Trú rất là quan trọng.
HIỆN
PHÁP LẠC TRÚ LÀ SỐNG HẠNH PHÚC TRONG KHI TU TẬP
Bây
giờ ta đi sang kinh Samiddhi. Trong đoạn đầu của Kinh, vị
Thiên giả hỏi "Tại sao lại bỏ cái lạc thú hiện tại mà
đi tìm cái lạc thú phi thời như thế?".
Chúng
ta thấy trong câu này có hai chữ "hiện tại" và "phi thời",
chữ hiện tại cũng như chữ phi thời mà vị thiên giả dùng
là theo nghĩa ngoài đời, nó có nghĩa rất khác với chữ hiện
tại và phi thời trong văn học đạo Bụt. Phi thời ở đây
có nghĩa là không đúng lúc, nó nằm trong tương lai chứ không
có mặt trong hiện tại, nhưng đọc tiếp Kinh này, ta sẽ thấy
rõ hai danh từ phi thời và hiện tại được dùng với ý nghĩa
trong tinh thần đạo Bụt.
Ban
đầu thầy Samiddhi cũng sử dụng hai danh từ đó theo cái nghĩa
của vị thiên giả, và thầy trả lời: "Tôi đâu có bỏ cái
lạc thú hiện tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời. Chính
tôi đã bỏ cái lạc thú phi thời để tìm tới cái lạc thú
chân thật trong hiện tại đấy chứ". Nói như vậy tức là
thầy dựa vào giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú mà Đức Thế Tôn
đã dạy cho thầy. Hiện Pháp Lạc Trú là sống trong hiện
tại với tất cả những niềm vui và sự an lạc của mình
trong khi tu tập, chứ không phải tu để mong ước niềm vui
trong tương lai, không phải "khổ để tu hành, khổ ấy vui".
Điều này rất là quan trọng. Ví như khi thiền hành mà quí
vị nghĩ rằng đi thiền hành khổ cực bây giờ để mười
năm sau sẽ có hạnh phúc, thì tất cả công phu đi thiền hành
của quí vị đổ xuống biển hết. Đi thiền hành như vậy
thì quí vị có đi mười năm cũng không ích lợi gì, tại
vì quí vị cho rằng đi thiền hành là một lao tác, một cực
hình để đi tới một kết quả hạnh phúc an lạc trong tương
lai. Vì vậy phương châm của sụ thực tập là phải có hạnh
phúc ngay trong khi thực tập. Đi thiền hành ta phải có an lạc
ngay từ trong mỗi bước chân. Đây là nguyên tắc dẫn đạo
cho sự tu học. Nếu trong khi đi thiền hành mà chúng ta không
có an lạc thì đừng mong gì ta sẽ có an lạc trong tương lai,
Phải đi thiền hành như thế nào để mỗi bước chân nuôi
dưỡng được mình và đem lại được niềm vui và sự an
lạc cho mình ngay trong lúc đi. "Từng bước chân thảnh thơi"
có nghĩa như vậy.
Vua
Trần Thái Tông, trong Khóa Hư Lục, có nói "Bộ bộ đạp trước
thật địa"; bộ bộ tức là mỗi bước; trước tức là dính,
bàn chân dính đất; thật địa là mảnh đất của thực tại.
Mảnh đất thực tại tức là mảnh đất của Niết Bàn, của
Bản môn, không phải là mảnh đất của vô minh, của vọng
tưởng. Muốn cho đất thật, ta phải có chánh niệm. Nếu
không có chánh niệm, ta chỉ bước đi trong giấc mơ, chỉ
đi trong mộng. Người không tu, người không thực tập chánh
niệm là người đi trong giấc mơ. Bài kệ ngồi thiền buổi
sáng có một câu rất hay: "Ngày mới nguyện đi trong tỉnh
thức (This is a new day, I vow to go through it in mindfulness). Thức
dậy hôm nay, tôi biết rằng tôi có hai mươi bốn giờ tinh
khôi và tôi không muốn đi qua hai mươi bốn giờ đó như là
đi trong mộng, tôi muốn đi trên miếng của thật tại, vì
vậ tôi phải thắp lên ngọn đèn của chánh niệm, của tỉnh
thức. Mỗi bước chân của tôi đều dẫm lên đất thật
chứ tôi không muốn dẫm lên trên thế giới của mộng mơ.
Ở
đời có một chứng bệnh gọi là bệnh mộng du (Sleep walking),
mình đang ngủ mà mình đang đi. Mộng du tiếng Pháp là Somnambulence.
Có những người ban đêm tự nhiên chổi dậy và đi. Họ đi
trong giấc mơ mà họ không biết. Chúng ta nghĩ rằng chỉ có
những người đó mới đang mộng du thôi. Kỳ thực trong đời
sống hằng ngày, nhiều lúc chúng ta là những người mộng
du! Chúng ta đi trên đất, bước trên đất mà giống như chúng
ta bước trên mặt trăng. Có một thiền sư một hôm đi chơi
trong vườn chùa với một số khách tới viếng thăm mà trong
đó có thể có những vị xuất gia, đã dừng lại, chỉ vào
một bụi cây có những cành lá rất xanh, rồi mỉm cưới
nói: "Người đời bây giờ nhìn những lá này, họ chỉ thấy
được những cái lá này ở trong mộng. Tôi đang cùng đi với
quí vị, nhưng có thể quí vị đang đi trong một giấc mơ".
Chúng ta thấy có những người học Phật, nhưng trong khi học,
hoặc bay bổng trên hư không. Sự học Phật của họ, cái
giáo lý mà họ học không dính líu gì đến đời sống hằng
ngày của họ hết. Thành ra không hẳn là họ đang học đạo
giải thoát, học đạo tỉnh thức. Họ đánh mất họ trong
thế giới của suy luận, trong cái thế giới của siêu hình.
Ăn một miếng cơm mà họ ăn trong giấc mơ, họ không thật
sự ăn cơm tại vì cái tâm của họ hiện không có mặt (tâm
bất tại). Họ bước một bước mà họ không thật sự bước
trong giờ phút hiện tại, tại vì họ không có chánh niệm.
Cho nên "bộ bộ đạp trước thật địa" (mỗi bước dẫm
chân lên trên miếng đất của thật tại) là phương châm
của người tu. Khi dẫm chân trên thực tại ta tiếp xúc được
với chân như, tiếp xúc được với bản môn, tiếp xúc được
với Niết Bàn và kết quả là ta được nuôi dưỡng bằng
cái chân như, bằng bản môn, bằng Niết Bàn, chứ ta không
bị nuôi dưỡng bằng những cái hình bóng giả tạo trong mộng.
Vua
Trần Thái Tông không phải là một người xuất gia, nhưng
kiến thức về Phật học cũng như sự hành trì của Vua đã
vượt rất nhiều người xuất gia. Vua đã làm ra những tác
phẩm rất nổi tiếng, trong đó có tác phẩm "Lục thời sám
hối khoa nghi" để tự mình thực tập sám hối mỗi ngày sáu
lần. Nhnữg nghi thức sám hối này rất ngắn, như trong bài
kệ sám hối buổi sáng:
Xú
xác hưu tham bảo
Mai
đầu tảo nguyện đài
Ân
cần chuyên lục niệm
Thứ
đắc khế phương lai,
Vua
đã dùng một câu rất mạnh là Xú xác hưu tham bảo. Xú xác
nghĩa là xác chết hôi thối, hưu tham bảo là mình đừng có
ôm lấy xác chết hôi thối nữa. Mình đừng có ôm lấy cái
xác chết của mình mà nằm nữa, mình phải tỉnh đậy! Trong
đời sống của chúng ta, chúng ta thường ôm lấy cái xác
chết của chúng ta mà đi trong giấc mộng. Vua Trần Thái Tông
khuyến cáo chúng ta đừng làm như vậy nữa. Thức dậy và
bước những bước tỉnh táo trong cái thế giới của thật
tại.
Vậy
thì trong khi ta đi hành thiền, mỗi bước chân phải giúp ta
trở lại tiếp xúc với mặt đất, ta dẫm chân trên mặt
đất chớ không để ta bồng bềnh trôi nổi trong cái thế
giới của mộng tưởng điên đảo. Viễn ly điên đảo mộng
tưởng là như vậy. Khi có thể bước được những bước
chân trên miếng đất của thực tại, ta tiếp xúc được
với những nhiệm mầu của sự sống đang có mặt trong giây
phút hiện tại, mà tiếp xúc được với những nhiệm mầu
của sự sống trong hiện tại thì ta được nuôi dưỡng bởi
những nhiệm mầu đó, và những nhiệm mầu đó ta chỉ có
thể tiếp xúc được trong giờ phút hiện tại mà thôi.
Trong
khi ngồi thiền cũng vậy, mỗi hơi thở cần đưa ta về với
thực tại. Ngồi thiền không có nghĩa là đóng cửa đối
với thế giới thực tại để đi vào một cái thế giới
của sự mơ tưởng, dầu là mơ tưởng về Niết Bàn, về
Giác ngộ. Niết Bàn là sự tỉnh táo, Giác ngộ là sự tỉnh
táo. Ngồi và ta biết là ta dang ngồi với tăng thân và mọi
người đều đang thực tập đạo lý tỉnh thức, Thực tập
chánh niệm là tạo ra sự có mặt đích thực vì phép lạ
đầu tiên của chánh niệm là làm cho ta thực sự có mặt.
Có mặt trong khi ngồi, khi đi, khi ăn, khi nói. Có chánh niệm
thì có sự có mặt. Vì vậy ngồi thiền là thực tập sự
có mặt đích thực của ta. Với cái ngồi rất vững chải,
ta làm cho sự sống của ta có mặt.
Khi
thầy Samiddhi nói rằng thầy không bỏ cái hạnh phúc trong
hiện tại để chạy đi tìm cái lạc thú không đúng lúc mà
chính thầy đã bỏ cái hạnh phúc không đúng lúc để tìm
cái hạnh phúc trong hiện tại, là thầy nói ngược lại với
những điều mà vị thiên giả đã nói. Vì vậy vị thiên
giả mới không hiểu và hỏi lại: "Thế nào là bỏ cái lạc
thú phi thời để tìm tới cái lạc thú chân thật trong hiện
tại?". Lúc ấy thầy Samiddhi đã dùng những lời dạy của
Đức Thế Tôn để trả lời vị thiên giả: "Đức Thế Tôn
có dạy: trong cái vui phi thời của ái dục, cái lợi rất
ít mà chất cay đắng rất nhiều, cái lợi rất bé mà tai
họa rất lớn". Trong ngôn ngữ này của thầy Samiddhi, những
danh từ thầy sử dụng vẫn còn mang cái nghĩa ở ngoài đời.
Chữ phi thời này là chữ phi thời của vị thiên giả đã
dùng, nó vẫn còn có nghĩa là bị thời gian chi phối, nó chưa
có nghĩa là vượt thoát thời gian, như trong danh từ Akakika
mà chúng ta đã nhắc tới kỳ trước. Trong phần đầu của
kinh thì nghĩa của chữ phi thời là như vậy, nhưng về sau,
chúng ta sẽ đi đến một nghĩa cao siêu hơn.
Trong
cái vui phi thời của ái dục, vị ngọt rất ít mà chất cay
đắng rất nhiều, cái lợi rất bé mà tai họa rất lớn.
Đây là một điều mà ta phải luôn luôn tự nhắc nhở vì
thường thường ta bị chính ta đánh lừa. Cái vị ngọt của
năm thứ dục lạc thường nằm ở trong tâm chúng ta nhiều
hơn là nằm ở trong thực tại. Năm thứ dục lạc là năm
cái bẫy, khi bị sa vào trong những cái bẫy đó thì ta sẽ
bị nhận chìm trong đau khổ, nóng bức và phiền não triền
miên. Nếu may mắn không bị sụp vào trong năm cái bẫy đó
thì ta có tự do, có hạnh phúc thật sự, giống như trong một
bài kệ ta đã đọc trước đây: Như nai thoát bẫy sập, chạy
nhảy khắp bốn phương.
Thầy
Samiddhi nói Tôi nay đang an trú trong hiện pháp, hiện pháp ở
đây là các pháp đang thật sự xảy ra trong giây phút hiện
tại, tiếng Pali là Ditthadhamma, tiếng Phạn là Drstàdharma;
Lìa bỏ được những ngọn lửa phiền não đốt cháy. Biệt
Dịch Tạp A Hàm dùng chữ Vô chư nhiệt não. Nhiệt là nóng,
là thiêu đốt, là làm cho não phiền. Vô chư nhiệt não tức
là không có sự đốt cháy, tiếng Phạn là Nirjvaro; jvaro này
tức là cơn sốt, là fièvre, là fever. Đây là một danh từ
mà trong hai bản tiếng Hán đều có. Giáo sư Démiéville dịch
là sans fièvre (without fever). Vướng vào ái dục thì sẽ lên
cơn sốt, vì phiền não làm cho mình vương vấn và bị đốt
cháy. Đây là tâm trạng não phiền mà Vũ Hoàng Chương đã
diễn tả qua hai câu thơ:
Kiều
Thu này Tố em ơi
Ta
đang lửa đốt tơi bời mái tây
Cái
khổ đó gọi là nhiệt não. An trú trong giáo pháp của Đức
Thế Tôn để tu tập, tiếp xúc với những mầu nhiệm của
hiện tại, có tự do, không bị sập vào bẫy ái dục tức
là vô chư nhiệt não. Người nào đã từng rơi vào trong bẫy
tham dục, bẫy danh, bẫy tranh đua lợi dưỡng hay bẫy tình
ái đều đã biết điều này rồi, đã được nếm cái mùi
vị của cơn sốt này rồi.
Tôi
nay đang an trú trong hiện pháp, lìa bỏ được những ngọn
lửa phiền não đốt cháy. Hiện pháp này vượt thoát thời
gian. Vượt thoát thời gian tức là Akàlika, bây giờ mới đúng
là nghĩa của chữ phi thời, nó có nghĩa là kiếp ngoại. Đây
là những danh từ để diễn tả Chánh Pháp của Bụt. Từ
thứ nhất là Hiện Pháp (Ditthadamma). Khi ta có thể bước được
những bước chân dẫm lên thực tại, ta tiếp xúc được
với những nhiệm mầu của sự sống có mặt trong giây phút
hiện tại, thì ta được nuôi dưỡng bởi những nhiệm mầu
đó, và những nhiệm mầu đó ta chỉ có thể tiếp xúc được
trong cái giờ phút hiện tại mà thôi. Từ thứ hai là Vô Chư
Nhiệt Não (Nrjvaro). Từ thứ ba là Phi Thời (Akàlika).
BẢY
ĐẶC TÍNH CỦA CHÁNH PHÁP
Hôm
thứ Năm vừa qua chúng ta đã nói về danh từ Akàlika và có
nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa vua Ba Tư Nặc và Bụt Thích
Ca hồi Ngài còn ba mươi tám tuổi. Bụt đã nói: "Đại Vương,
vấn đề giác ngộ không phải là vấn đề thời gian". Đó
là ý nghĩa vượt thoát thời gian, không phải già thì mới
giác ngộ mà trẻ thì không giác ngộ được. Tu học không
phải là công chuyện chỉ nên làm khi chúng ta lớn tuổi. Trong
Minh Tâm Bảo Giám, một cuốn sách mà tất cả các học sinh
Việt Nam và Trung Hoa thời xưa học thuộc lòng, có câu:
Mạc
đãi lão lai phương học đạo,
Cô
phần đa thị thiếu nhiên nhân.
Nghĩa
là đừng đợi tuổi già rồi mới học đạo, những nấm
mộ cô độc ở ngoài nghĩa địa phần lớn là những nấm
mồ của người trẻ.
Trong
truyền thống Bà la môn giáo ngày xưa, khi còn trẻ ta phải
hưởng những thú vui dục lạc, phải cưới vợ, phải lấy
chồng, phải sinh con. Đến khi con lớn rồi mới có quyền
đi tu. Vua Tịnh Phạn đã hơn một lần trích dẫn quan niệm
đó với Thái tử Tất Đạt Đa, nhưng Thái tử đã thưa với
vua cha rằng: "Tuổi trẻ với tất cả năng lượng của nó
mới có đủ sức để chọc thủng bức màn vô minh và đem
lại ánh sáng giải thoát, nếu đợi đến khi già rồi thì
làm sao còn có đủ sức để làm chuyện vĩ đại kia được?
Hiện
pháp này vượt thoát thời gian, đến để mà thấy, tự mình
thông đạt, tự mình có thể giải thoát". Đến để mà thấy,
tiếng Pali là Ehipassiko và tiếng Phạn là Arhipasyikah. Nói rõ
ra, giáo pháp này không phải để giới thiệu, để nói, để
diễn bày, để hứa hẹn mà có mục đích đến để mà thấy.
The dharma said: come and see for yourself! Elle est sans fièvre, elle
est indépendante du temps, elle dit: "Venez et voyez par vous même!".
Khi ta thực sự thực tập nghe chuông, thực tập thiền hành,
ăn cơm yên lặng v.v... là ta đem thân của ta tới để chứng
kiến pháp, để kinh nghiệm pháp, để thấy được pháp. Pháp
này không phải là vấn đề quá khứ hay chuyện tương lai.
Pháp này là cái ta có thể sờ mó được, kinh nghiệm trực
tiếp được trong hiện tại.
Tự
mình có thể giác tri, tiếng Pali là Paccatam veditabbo, vĩnnuhìti,
tiếng Phạn là Pratyàtmavedaniyo vijnaih; Paccatam tức là mỗi
người, Vedi là biết, là hiểu. Veditabbo tức là có thể được
biết, có thể được hiểu bởi từng người, còn "vĩnnu"
cũng có nghĩa là giác ngộ hiểu biết, mà cũng có nghĩa là
giác tri (vijna).
Tự
mình thông đạt, danh từ Hán Việt là "năng tự thông đạt".
Chữ tự ở đây có nghĩa là mỗi người, còn thông đạt
là hiểu biết, tức là mỗi người phải tự hiểu biết lấy,
chứ không nhờ người khác thông đạt giùm được. Người
có chánh niệm, có trí tuệ, khi tìm tới giáo pháp thì tự
mình có thể hiểu, có thể đạt. Thành ra tự mình thông đạt
ở đây đồng nghĩa với tự mình có thể giác tri, nhưng "năng
tự thông đạt" là dịch từ tiếng Pali "opanayiko". Tiếng Phạn
là "aupanàyika", tiếng Pháp dịch là "elle conduit au bon endroit",
có nghĩa là có khả năng hướng thượng, có khả năng đi
lên. Tôi dịch là dẫn dạo đi lên. Cho nên tuy bản chữ nho
dịch là tự mình thông đạt, nhưng ta có thể sửa lại "Có
khả năng dẫn đạo đi lên" để cho gần với nguyên bản
hơn.
"Tôi
nay đang an trú trong hiện pháp. Lìa bỏ được những ngọn
lửa phiền não đốt cháy. Hiện pháp này vượt thoát thời
gian, đến để mà thấy, có khả năng đẫn dạo đi lên, tự
mình có thể giác tri".
Như
vậy theo bài tụng bằng tiếng Pali, giáo pháp của Bụt có
nhiều đặc tính.
Đặc
tính thứ nhất là thiện thuyết, tiếng Pali là Svàkkhàto,
tiếng Phạn là Svàkhyàta. Thiện thuyết tức là khéo trình
bày, giáo lý của Đức Như Lai đã được khéo trình bày.
Đặc
tính thứ hai là hiện chứng hay là hiện thân thọ chứng.
Tiếng Pali là Sandithiko, tiếng Phạn là Sàmdrstiko tức là một
cái gì rất hiện thực, mình có thể chứng nghiệm bằng chính
cái thân thể này của chính mình, mình có thể sờ mó được,
chứ không phải chuyện mơ tưởng.
Đặc
tính thứ ba là vượt thoát thời gian (Akalika).
Đặc
tính thứ tư là đến để mà thấy (Ehipassiko).
Đặc
tính thứ năm là dẫn đạo đi lên (Opanayiko).
Đặc
tính thứ sáu là tự mình có thể giác tri (Paccatam veditabbo
vĩnnuhiti).
Sáu
đặc tính của chánh pháp được lập đi lập lại trong nhiều
kinh thuộc tạng Pali cũng như trong nhiều kinh Hán tạng. Trong
các chùa Nam Tông ngày nào cũng tụng các đặc tính này của
Chánh Pháp cả. Vì vậy ta nên đem bài này vào trong Nghi Thức
Tụng Niệm của Bắc Tông cho thống nhứt. Tuy vậy ta nên thêm
vào một đặc tính nữa của Chánh Pháp mà bài này thiếu,
đó là không có phiền não, vô chư nhiệt não.
Câu
trả lời này thầy Samiddhi lấy trực tiếp từ trong những
kinh Bụt dạy mà thầy đã học thuộc lòng. Sau khi nói xong
câu đó, thầy tiếp: Này thiên nữ, đó gọi là bỏ cái lạc
thú phi thời, để đạt tới cái lạc thú hiện tại. Diệu
pháp của Đức Thế Tôn có ngần ấy đặc tính mầu nhiệm,
cho nên sống với giáo pháp của Đức Thế Tôn thì rất an
lạc và hạnh phúc. Vì vậy không thể nói rằng tôi bỏ cái
an lạc trong hiện tại để đi tìm cái an lạc không phải
thời ở tương lai.
QUÊ
HƯƠNG ĐÍCH THỰC VÀ THIÊN ĐƯỜNG TRONG GIẤC MƠ
Ngày
xưa có thể chúng ta đã có cơ hội sống với hiện pháp,
nhưng đã bỏ cái thiên đường thật đó để chạy theo một
thiên đường mà ta mơ tưởng, không bao giờ có thật. Trong
một bài giảng bằng tiếng Anh trước khóa tu này, tôi có
nói rằng mỗi người trong chúng ta đều có cảm tưởng là
đã đánh mất cái thiên đường của mình và trong cuộc sống
hiện tại, ta đang tìm lại cái thiên đường đó. Ta tin rằng
có một nơi, có một cảnh mà trong đó nếu trở về được
thì sẽ có an lạc, hạnh phúc, sẽ được che chở và có an
ninh. Vì vậy mà suốt đời chúng ta cứ đi tìm một thiên
đường trong giấc mơ.
Người
tu Tịnh độ đầu tư vào việc "tìm về" bằng cách mỗi ngày
lần bao nhiêu xâu chuổi, niệm bao nhiêu chục ngàn danh hiệu
Bụt. Qua sự hành trì đó ta cũng nhận diện được ước
muốn được trở về với quê hương đích thực của họ.
Trong bài giảng tiếng Anh nói trên tôi có nói rất rõ rằng,
một ý niệm về quê hương hay là một cảm nghĩ về quê hương,
chưa phải là quê hương đích thực. Khi nghe chuông ta thực
tập: Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu
đưa về nhất tâm; có khi ta nói "đưa về quê hương" (listen,
listen this wonderful sound brings me back to my true home). Như vậy
chúng ta là những người đã mất quê hương đích thực và
trong cuộc sống hằng ngày ta cứ mãi đi tìm cái quê hương
đích thực đó.
Quê
hương đích thực là gì? Ý niệm của chúng ta về quê hương
đích thực là gì? Quê hương đích thực là một nơi mà ta
cảm thấy có an ninh, cảm thấy được che chở, không phải
lo sợ, không đánh mất chúng ta. Quê hương đích thực, "True
home" không phải là một cái ý niệm mà cũng không phải là
một cảm tưởng.
Ngay
từ đầu, ý niệm về quê hương đích thực là một ý niệm
mà ta cần phải cứu xét. Mỗi chúng ta đều giữ lại cái
kỷ niệm của thời mà ta còn là bào thai trong lòng mẹ. Mỗi
chúng ta đều cư trú khoảng chín tháng trong bụng mẹ. Bụng
mẹ tiếng Hán Việt gọi là tử cung, nó có nghĩa là cung điện
của đứa bé, rất hay! Trong cái cung điện đó ta cảm thấy
rất an ninh, không sợ gió, không sợ mưa, không sợ lạnh.
Ta không cần phải đốt lò, tại vì trong đó ấm lắm, trong
đó độ ấm tuyệt hảo. Ta không phải lo chuyện ăn sáng,
ăn trưa, ăn chiều. Ta không lo chuyện quấn khăn, đi giày,
tại vì mẹ làm tất cả cho ta. Thở thì đã có mẹ thở giùm,
ăn cũng có mẹ ăn giùm, uống cũng có mẹ uống giùm, và giữ
gìn cũng có mẹ giữ gìn giùm, thành ra ta khỏi làm gì hết,
và chín tháng ở trong cung điện của đứa con ta rất có hạnh
phúc. Nhưng từ khi ra đời ta đã mất cái thiên đường đó.
Sự kiện này ghi lại trong ta một hoài vọng. Cái ước vọng
của những người muốn trở vê thiên đường với Chúa, trở
về quê hương đích thực, để được che chở bảo hộ, để
khỏi phải làm gì cả! Trong ý niệm đi về cõi Tịnh Độ
cũng có cái ước vọng đó, Đi sang "bên đó" khỏi phải nấu
ăn, đến giờ tự nhiên có thức ăn! Ước muốn ấy đánh
đúng vào cái nhu cầu của chúng ta, ngày nào cũng là ngày
làm biếng hết! Dù biết hay không biết thì trong tàng thức
của ta vẫn đã có hạt giống của hoài vọng muốn trở về
cái thiên đường cũ. Ta phải thấy được điều đó. Dù
đã bốn mươi, năm mươi tuổi rồi mà mình vẫn muốn trở
về trong bụng mẹ như thường. Hôm trước tôi có nói rằng,
tôi biết là hồi xưa trong bụng mẹ tôi đã ưa nằm trong
tư thế một chân để thẳng, một chân cong. Nhiều đêm thức
giấc, tôi thấy mình nằm trong tư thế đó. Nhờ tu chánh niệm
cho nên mình biết rằng ngày xưa, hồi mình được năm sáu
tháng, mình đã bắt đầu chơi trong bụng mẹ, mình đã cọ
quậy xoay trở và mình tìm ra cái thế nằm lý tưởng đó
của mình.
Nhưng
ta phải đặt câu hỏi: cung điện của đứa con có phải là
quê hương đích thực của chúng ta hay không? Chúng ta có đang
tự đánh lừa mình hay không, dù đánh lừa một cách có ý
thức hay là không có ý thức? Giả thiết bây giờ được
phép trở về thì bạn có muốn trở về hay không? Hay bạn
thấy trong đó tối hu? Quê hương đích thực của ta không
lý lại tối hu như vậy? Khi đã ra đời, đã thấy ánh sáng
, đã được nghe tiếng chim hót, đã thấy bầu trời mênh
mông xanh biếc rồi, ta có còn muốn bỏ những cảnh này để
chui vào trong cái cung điện của đứa con, để được nâng
niu, để được che chở như trước hay không? Thực tế mà
xét, chắc hẳn trí óc của ta có thể nhận thức được rằng
quê hương của ta không phải là một vùng tối tăm như là
cung điện của đứa con. Quê hương đích thực của chúng
ta phải là một cái gì khác hơn va chắc chắn một trăm phần
trăm là ta không muốn trở về nơi đó, tại vì nơi đó không
phải là quê hương đích thực của ta. Tuy vậy, dưới tiềm
thức ta vẫn có một sự thu hút cho nên đêm đêm ta vẫn mong
trở về quê hương, trở về với thiên đường đã mất đó!
Trong
tâm ta Tàng thức có cái lý luận và cái thấy của riêng nó
và ước muốn của nó đôi khi không phù hợp với ước muốn
của Ý thức. Có những điều mà trong trạng thái thức, ta
thấy rằng ta không cần, không thật sự ham muốn. Vậy mà
trong giấc mơ ta lại đi tìm chúng. Vì vậy cho nên ta biết
có sự bất đồng ý kiến giữa Ý và Tàng trong tâm ta.
Sư
Chú Pháp Dụng có kể cho tôi nghe hồi về Việt Nam chú đã
đi tìm những món quà ăn mà chú thường nằm mơ trong thời
gian còn là học sinh, sinh viên Hoà Lan. Không hiểu tại sao
mà mấy món quá đó hấp dẫn quá chừng! Xa quê hương từ
hồi còn bé và trong suốt thời gian mười mấy năm đó, chú
đã từng nằm mơ, đã từng chạy theo bóng dáng của những
món quà của quê hương và của tuổi thơ. Vậy mà khi về
đến quê nhà, đứng trước hàng quà, thấy được những
món quà mà chú đã từng ước mơ, chú giựt mình tự hỏi
"Cái này đây hả, cái này là cái mà trong bao nhiêu năm mình
mơ ước và thèm thuồng đây hả? Rõ ràng thực tại có khi
không hấp dẫn bằng trong giấc mơ. Vì vậy mà ta thường
nói "Đẹp như mơ!"
Trong
trạng thái thức, những đối tượng của sự thèm khát, của
sự ham muốn về danh, về lợi, về tài, về sắc không có
sức hấp dẫn lớn bằng trong cái thế giới của tiềm thức,
của ước. Trong giấc mơ, cảm giác của chúng ta có cường
độ lớn hơn, sâu hơn, đậm hơn so với khi ta còn thức. Trong
giấc mơ chúng ta sợ gấp mười lần lớn hơn, ta tham đắm
mười lần nhiều hơn, tại vì cảnh giới trong mộng bao giờ
cũng đẹp hơn là cảnh giới thực. Đó là chưa nói trong khi
tỉnh ta vẫn dùng màn nhung của cõi mộng để phủ lên trên
cảnh giới của thực tại rồi cho rằng cái cảnh giới đó
là rất đẹp.
NHỮNG
NUỐI TIẾC ÂM THẦM TRONG TÀNG THỨC
Trong
lý thuyết văn nghệ Mác Xít, người ta hay nói không được
bôi đen thực tại, mà cũng không được tô hồng thực tại.
Thực tại là thực tại, mình không nên bôi cho nó đen thêm,
cũng không nên tô cho nó hồng hơn. Trên lý thì như vậy, nhưng
thực tế thì các nhà văn, nhà thơ, nhà họa luôn luôn có
ý muốn bôi đen hoặc tô hồng. Tô hồng tức là làm cho đẹp
hơn sự thật và tàng thức của chúng ta thường làm công
việc đó.
Có
những điều mà trong khi tỉnh, ta biết rằng không đáng để
ta theo đuổi, vậy mà trong giấc mơ ta vẫn theo đuổi. Khi
nghe nói trong bụng mẹ tối hu và cung điện của đứa con
không phải là cái đích mà ta tìm tới, thì ta có thể đồng
ý một trăm phần trăm rằng đó không phải là quê hương
đích thực của ta. Nhưng có thể trong giấc mơ ta vẫn âm
thầm đi tìm về cái hướng đó. Và chính tôi có thể cũng
đang làm như vậy! Thức dậy buổi khuya tôi vẫn thấy mình
nằm ở trong tư thế ấy như thường. Thành ra ta phải biết
sự thật là trong con người của ta có một sự mâu thuẫn,
có một sự khác biệt giữa Ý và Tàng. Những đối tượng
của năm thứ dục lạc kia, khi quán chiếu bằng ý thức, ta
không thấy chúng có sức hấp dẫn như vậy, nhất là khi ta
đã thắp lên ngọn đèn chánh niệm, ta đã thấy rõ mặt mũi
chúng. Ta nghĩ rằng, ta đã được giải thoát rồi, nhưng than
ôi, khi đi vào giấc mơ, ta vẫn còn bị kẹt! Và vì vậy cho
nên phải tiếp tục thực tập quán chiếu để chuyển hóa
cái thấy của Tàng vì cái thấy của Ý chưa có nghĩa là ta
đã được hoàn toàn giải thoát. Ta đã có thể cắt đứt
những sợi dây kết sử phía trên phần Ý, nhưng mà những
sọi dây kết sử ở dưới phần Tàng, gọi là hạ phần kết
sử, hay là tùy miên, có thể ta chưa cắt đứt được, vì
vậy cho nên ta đừng khinh thưòng.
Có
một Sư Cô vì không gặp may mắn trên đường tu học, không
có thầy giỏi, không có tăng thân tốt, nên đã không thành
công trong việc chuyển hóa. Trong sự buồn đau và thất vọng
đó, cô ngã bệnh. Trên giường bệnh, chỉ còn mấy ngày nữa
là từ trần, cô bảo những người xung quanh hãy đem tới
cho cô một muỗng nước mắm để cô uống. Câu chuyện này
do nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ kể trong một cuốn tiểu thuyết.
Khi đọc đến đoạn này, tôi biết rằng đây là một chuyện
có thể có thật. Một Sư Cô trước khi chết đòi uống một
muỗng nước mắm là điều có thể có thật.
Nếu
không phải là người Việt thì quí vị không biết được
địa vị của nước mắm trong văn hóa Việt Nam. Các món ăn
Việt Nam sở dĩ thắm thiết ngon lành và đậm đà là nhờ
ở hương vị của nước mắm. Nước mắm là cái vị ngọt,
vị ngon của thức ăn, nó tượng trưng cho cái vị ngọt, vị
ngon của dục vọng. Khi đi tu ta bỏ cái dục lạc ở ngoài
đời vì một lý tưởng cao siêu hơn, vì một hạnh púc chân
thật hơn là hạnh phúc của dục lạc. Nhưng vì cuộc đời
tu hành của mình thất bại, cho nên âm thầm trong tàng thức,
mình tiếc là mình đã bỏ cái tuổi xanh, đã bỏ năm món
dục lạc để đi tìm cái hạnh phúc mà mình không đạt tới
được. Thành ra cái ý muốn đòi đem tới một muỗng nước
mắm để uống, đã phát sinh ra từ sự hối tiếc đó. Đối
với những người hầu cận xung quanh Sư cô lúc đó, thì hiện
tượng này là do ma làm. Suốt mất chục năm trời chay tịnh,
tụng kinh, niệm Phật, mà đến giờ phút sắp lâm chung lại
đòi uống nước mắm, thì quả thực là ma tới phá, làm đổ
vỡ cả một công trình tu học mấy mươi năm.
Nhưng
công trình tu học mấy mươi năm đó có gì đâu? Vì không
có thầy hay không có bạn giỏi, Sư cô đã không có hạnh
phúc trong mấy mươi năm tu học, thành ra cái công trình đó
chưa phải là một kiến trúc của hạnh phúc, của giác ngộ.
Tuy vậy đối với những người xung quanh Sư cô, họ cho đó
là một công trình đáng giá, một kiến trúc công phu và chỉ
cần một muỗng nước mắm là có thể xô đô được cái
công phu kia. Cho nên họ nhất không đem cho Sư cô muỗng nước
mắm đó. Một công trình thực sự đâu có thể dễ dàng bị
phá vỡ như vậy? Muỗn nước mắm đâu có khả năng như vậy?
Muỗng nước mắm chỉ tượng trưng cho tất cả những chất
ngọt ngào, những dục lạc mà Sư Cô đã bỏ lại sau lưng
khi đi xuất gia. Rốt cuộc Sư Cô tịch mà không thỏa mãn.
Khi đọc đến đây tôi nghĩ rằng nếu có tôi ở bên giường
bệnh thì tôi sẽ đi lấy một muỗng nước mắm lớn để
cho cô uống. Uống xong thì cô sẽ giác ngộ.
Người
đã trải qua những cơn sốt đều biết rằng trong khi bệnh
thì lưỡi rất nhạt, nên mình muốn có một cái gì mặn để
dánh tan cái chất nhạt đó đi, và tiềm thức của mình nói
rằng cái ngon nhất, cái vi diệu nhất, đậm đà nhất là
muỗng nước mắm. Chính lúc đó là lúc mà Sư Cô cần nếm
nước mắm, và nếm xong muỗng nước mắm mặn chát ấy, thì
Sư Cô sẽ có cơ hội giác ngộ. Chỉ tiếc là người ta đã
không đem tới cho Sư Cô một muỗng nước mắm! Theo cái nhìn
của tôi, lúc đó không phải Tâm Kinh hay Vãng Sang Tịnh Độ
Thần Chú sẽ cứu vãng được cô, mà là một muỗng nước
mắm thật đầy, thật mặn mới là phương tiện để giúp
cho Sư Cô bỏ được sự nuối tiếc năm thứ dục lạc. Đó
là cái nhìn của một Thiền sư. Rất tiếc là vị Thiền sư
không có mặt ở đó cho nên Sư cô đã chết đi trong sự nuối
tiếc một muỗng nước mắm, một biểu tượng của vị ngon
ngọt ở đời.
Sự
tu hành của chúng ta hiện giờ cũng như vậy. Ta phải đạt
cho được cái hạnh phúc trong khi tu học. Đi tu là vì ta đã
thấy được những cơn sốt, những đau khổ, những phiền
não trong cuộc đời và cái thấy đưa tới một cái tâm muốn
tạo hạnh phúc cho ta và cho người khác, muốn đem giọt nước
thanh lương để xóa tan cái sầu khổ trong lòng mình và trong
lòng người. Do đó mình phát ra một cái tâm rất đẹp, rất
tươi, rất mát, gọi là tâm Bồ Đề, có khi gọi là Sơ Tâm.
Sơ Tâm tức là cái tâm ban đầu của người đi xuất gia.
Không có cái gì đẹp cho bằng sơ tâm của một người đi
xuất gia. Cho nên các thầy luôn luôn nhắc nhở các đệ tử
là con làm sao thì làm nhưng phải giữ gìn cái sơ tâm cho đừng
bị hư nát. Sơ tâm đó, là bảo vật của người tu. Nếu
Sơ tâm còn được giữ gìn thì đường tu sẽ có tiến bộ.
Nếu Sơ tâm càng ngày càng co rút lại thì đạo nghiệp ssẽ
tiêu tan như trong trường hợp của Sư Cô nói trên. Nếu gặp
một vị thầy không hiểu được mình, không thấy được
những nỗi khổ niềm đau, những khó khăn, những ước vọng
của mình mà chỉ biết la mắng trách móc; nếu sống chung
với một tăng thân trong đó các anh, các chị, các em đều
không ai thật sự thương mình, không ai thật sự hiểu mình
và giúp đỡ mình, thêm vào đó mình lại đang hành trì những
pháp môn không đem lại hạnh phúc cho mình trong khi hành trì,
thì cố nhiên mình sẽ thất bại và cái Sơ tâm của mình,
cái tâm Bồ Đề của mình đã teo lại thì một cái gì khác
nó sẽ lớn lên. Cái đó là sự hối tiếc dục lạc, là ý
muốn ra đời. Nếu hạt giống của Bồ Đề tâm được thầy
được bạn vun tưới, thì nó trở thành một vùng năng lượng
rất lớn trong con người tu. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa
là những hạt giống của sự hưởng thụ, của sự yếu hèn
đã tiêu tan đi hết. Chúng vẫn còn và nếu ta để cho những
hạt giống đó được tưới tẩm thì chúng sẽ lớn lên.
Trong khi tu học, ta nên vun bón, tưới tẩm hạt giống của
Bồ Đề tâm và đừng để cho những hạt giống chống lại
Bồ Đề tâm có dịp được vun bón tưới tẩm. Khi mới đi
tu thì Bồ Đề tâm của ta rất lớn. Nhưng điều đó không
có nghĩa là lúc đó tất cả những hạt giống muốn sống
đời thế tục, muốn hưởng dục không có mặt hoặc đã
biến mất. Chúng vẫn còn đó. Tuy rằng mình muốn trở nên
người xuất gia, một người mang lý tưởng Bồ Tát, đem hiểu
biết, đem thương yêu làm đẹp cho cuộc đời, nhưng những
hạt giống ích kỷ, những hạt giống của sự hưởng thụ
năm món dục lạc vẫn còn núp sau đó, Nếu ta không làm cho
tâm Bồ Đề này, cho năng lượng này càng ngày càng lớn thì
những "hạt giống kia" sẽ có cơ hội lớn lên.
Tôi
còn nhớ năm 40 tuổi, tức là sau khi đã tu được mấy chục
năm rồi, vậy mà lúc đó "hạt giống kia" vẫn còn khá mạnh
trong tôi. Một hôm đi thiền hành trong một công viên ở thành
Nice miền Nam nước Pháp, tôi thấy một thiếu phụ đẩy một
chiếc xe có em bé bên trong. Hình ảnh đó đã đánh động
tới những hạt giống muốn sống đời thế tục của tôi.
Nên biết là trong thời gian đó tôi đang đi kêu gọi hòa bình,
sống xa Thầy, xa Chùa, xa Tăng thân, không có một chỗ để
trở về vì lúc đó chính quyền không cho tôi về nước. Cho
nên hình ảnh người thiếu phụ Pháp đẩy con dạo chơi trong
công viên Nice đã làm động tới cái hạt giống "có một
mái gia đình" ở trong tâm tôi, và tôi đã nghĩ rằng nếu
mình sống đời thế tục thì bây giờ mình cũng có một người
đàn bà như thế, và có một đứa con mũm mĩm xinh đẹp như
thế. Nhưng nhờ đang đi thiền hành cho nên chỉ trong vòng
một hai giây đồng hồ là tôi thoát được tư tưởng đó.
Tuy vậy tôi đã thấy rõ là "hạt giống kia" đang có ở trong
tôi. Thành ra cái "hạt giống muốn có một gia đình", có một
căn nhà ấm cúng, có một người chăm sóc cho mình, có một
đứa con mũm mĩm, nó đang có mặt trong bất cứ một Sư Cô
hay một Sư Chú nào, và hạt giống đó nó sẽ không lớn lên
được khi mình ở trong một môi trường mà Bồ Đề tâm của
mình, sơ tâm của mình được nuôi dưỡng, tưới tẩm hàng
ngày. Còn nếu tu học không thành công, không có hạnh phúc
trong sự tu học thì Bồ Đề tâm của mình sẽ bé đi từ
từ và cố nhiên "anh chàng kia" sẽ lớn từ từ, và một ngày
nào đó mình sẽ ra đời, mình sẽ đi lập gia đình, đó là
chuyện dĩ nhiên. Chỉ vì mình không để ý, chứ chuyện ra
đời không phải là chuyện được quyết định trong một
giờ hay một ngày. Chuyện đó đã âm ĩ trong tàng thức của
mình từ nhiều năm nhiều tháng. Có thể muời năm sau mình
mới ra đời, nhưng mà bây giờ mình đã bắt đầu ra đời
rồi. Tu chánh niệm là để thấy điều đó.
Cạo
sạch mái tóc
Nguyện
cho mọi người
Dứt
hết phiền não
Độ
thoát cho đời.
Bài
kệ này biểu dương một hùng lực lớn. Cố nhiên là trong
trường hợp này Bồ Đề tâm chiếm thượng phong, nhưng điều
đó không có nghĩa là Phi Bồ Đề tâm đã hoàn toàn tiêu diệt.
Nó vẫn còn nằm đó, phục kích, đợi cho Bồ Đề tâm yếu
đi là chiếm phần thượng phong trở lại. Trong cuộc sống
hàng ngày có những Sư anh, Sư em thỉnh thoảng hành xử khó
chịu với mình, có những Sư chị, Sư em thỉnh thoảng chua
chát với mình, điều này có thể đưa mình đến ước mơ
có một người thiếu nữ rất hiền, rất ngoan, chỉ biết
nghe lời mình và chỉ thương một mình mình thôi, lo lắng
cho mình đủ cách, luôn luôn mềm mỏng, ngọt ngào như một
bà tiên. Và mình nuôi hình ảnh đó trong đầu. Trong thực
tế có thể có một người như vậy hay không, chuyện đó
mình biết rất rõ. Nhưng trong tàng thức của ta, người đó
vẫn luôn luôn có mặt. Trong một bài thơ, Đinh Hùng đã viết:
"Chưa gặp em anh đã nghĩ rằng, có người thiếu nữ đẹp
như trăng ..." Đó là người thiếu nữ lý tưởng của bất
cứ một chàng trai nào, nhưng người đó chỉ có thể có trong
mộng mà thôi. Trong thực tế, có thể đó là một bà chằng
đội lốt nàng tiên. Tuy rằng Ý thức thấy được điều
đó, và hoàn toàn chấp nhận điều đó, nhưng trong thế giới
của Tàng thức thì lại khác. Giống như món quà của Sư chú
Pháp Dụng đã khám phá ở Việt Nam rất khác với món quà
nằm trong tàng thức của Sư chú.
Một
Sư cô tuy cạo sạch mái tóc, sơ tâm rất lớn, rất đẹp,
rất hùng tráng nhưng "hạt giống kia" vẫn còn, nó núp đằng
sau hạt Bồ Đề Tâm, nhỏ xíu nhưng sẽ lớn lên từ từ
nếu Sư cô đó không tu tập đàng hoàng. Cho nên sinh ra trong
phái nữ mình cũng có "hạt giống đó", mình cũng mơ ước
có một người đàn ông của riêng mình, chỉ riêng cho mình
thôi, và mình sẽ rất an toàn khi có một người đàn ông
như vậy đi bên cạnh. Đó là vị hoàng tử của đời mình,
vị hoàng tử trong giấc mơ của mình. Hoàng tử đó có hay
không trong thực tế là một chuyện khác, và hạt giống của
sự ước mơ này sẽ lớn lên khi sự tu học của mình không
thành công. Điều đó là điều mình phải biết. Mỗi khi tỉnh
dậy sau một giấc mơ, nếu thấy những "hạt giống" hiện
hành trong giấc mơ, thì khi thức dậy rồi ta phải mỉm cười
với chúng, phải mỉm cười và ý thức rằng những "hạt
giống đó" trong giấc mơ đã phát hiện và trong đời sống
tỉnh thức hàng ngày, ta phải thực tập và phải chấp nhận
sự phát hiện của những hạt giống đó trong giấc mơ. Trong
đời sống hàng này của một tu sĩ, ta ngồi thiền, đi thiền
hành v.v... và không bao giờ nghĩ rằng ta có thể nằm mơ thấy
một giấc mơ như vậy. Nhưng sự thực đêm qua ta vừa mơ
thấy là ta ôm một người con trai hay một người con gái!
Cách tu tập của ta là khi thức dậy mà nhớ được giấc
mơ, thì ta phải mỉm cười với hình ảnh đó và phải ý
thức rằng những hạt giống thế tục đó đang hoạt động
bên trong ta. Chỉ chừng đó là đủ rồi, không cần phải
có mặc cảm tội lỗi, không cần phải tự đày ải mình,
không cần đấm ngực, không cần bứt tóc, nhưng ta đã cạo
đầu rồi thì còn tóc đâu mà bứt!
Đó
là phương pháp nhận diện những hạt giống khi chúng phát
hiện trong tâm của ta. Có thể là trong giấc mơ, người ta
ôm có những nét hao hao giống Sư em của ta, khi thức dậy
rồi, phải ý thức ngay điều đó, và phải mỉm cười với
nó, tại vì tàng thức của ta làm việc một cách rất kỳ
lạ, rất bất khả tư nghì. Bất khả tư nghì là không thể
ngờ trước được, không thể tính toán được. Ta phải tỉnh
thức để thấy rằng Sư em của mình là một người đi tu,
một người đang mang chí nguyện độ đời trong vai trò Ni
Cô. Vậy mà trong giấc mơ, ta đã ôm một người con gái, và
người con gái đó lại có thể có những nét hao hao giống
người Sư em, cho nên ta cảm thấy tội lỗi và tự hỏi tại
sao chuyện này có thể xảy ta? Trong đời sống tỉnh thức
hàng ngày, ta kính phục Sư em, không bao giờ dám có tư tưởng
như vậy. Vậy mà trong giấc mơ nó đã xảy ra. Điều này
chỉ có nghĩa là những "hạt giống kia" vẫn nằm ở trong
tàng thức của ta, và đừng tưởng rằng trong thời gian tỉnh
thức của đời sống hàng ngày, ý thức có thể làm được
hết tất cả mọi công việc chuyển hóa.
CHUYỂN
HÓA TÀNG THỨC MỚI ĐẠT ĐƯỢC GIÁC NGỘ
Cái
thấy và cái hiểu của ý thức như ta đã biết không phải
là cái thấy và cái hiểu của tàng thức, vì vậy mà ta phải
hạ thủ công phu, phải tiến tới, phải đi sâu. Trong tàng
thức, có những cái nằm ngủ âm thầm ở dưới đáy mà chúng
ta gọi là tùy miên (Anusaya). Tùy là còn đi theo, và miên là
ngủ. Khi ngủ ta không những chỉ tu với Ý mà còn phải tu
với Tàng, vì chính Tàng mới cống hiến được hoa trái của
hạnh phúc, của giác ngộ. Vì vậy ta không cần phải có mặc
cảm tội lỗi, ta chỉ cần nhận diện những hạt giống của
tùy miên đó ở trong ta, và ta phải nổ lực quán chiếu để
thấy nếu người sư em của ta không hoàn thành được sự
nghiệp của người xuất gia, thì đó là sự hư hỏng cả
đời của người đó. Và nếu chính ta cũng không hoàn thành
được sự nghiệp xuất gia, thì đó cũng là sự hư hỏng
của cả cuộc đời ta. Và như vậy ta tạo ra đau khổ không
phải chỉ cho hai người mà còn cho biết bao nhiêu người xung
quanh, trong đó có thầy ta, gia đình, bạn bè và tăng thân
của ta. Quán chiếu như vậy mới có ích lợi, còn đấm ngực
và giựt tóc thì không có ích lợi gì cả.
Đã
là người tu ta đừng để cho đến khi nước tới chân mới
nhảy. Trong đời sống hàng ngày nếu có tín hiệu nào phát
ra, thì ta phải tiếp nhận và ta phải tìm hiểu xem tâm của
ta đang muốn nói gì với ta. Nếu ta chỉ mới bắt đầu thấy
chán nản và mệt mỏi, thì rất dễ chữa trị. Ta có thể
nhờ Thầy, nhờ bạn chuyển hóa cho, nhưng nếu chúng ta cứ
để vậy rồi mỗi ngày tưới thêm một chút chán nản, một
chút mệt mỏi, thì sẽ đến lúc những hạt giống tiêu cực
lớn lên, xeo, nạy, và xô đẩy cái Bồ Đề tâm của ta, khuynh
loát Bồ Đề tâm của ta, rất nguy hiểm, Bồ Đề tâm là
cái vốn của người xuất gia, ta phải chăm chút nuôi dưỡng
tâm ấy mỗi ngày. Nuôi dưỡng bằng những bài pháp thoại,
bằng những buổi thiền hành, bằng những buổi ăn cơm im
lặng, bằng tình thương của ta đối với những người đang
sống chung. Với chánh niệm, ta nhận thức được những giây
phút tiêu cực, bất lợi cho Bồ Đề tâm và cũng nhận thức
cả những giây phút tích cực có khả năng nuôi dưỡng Bồ
Đề tâm. Vì vậy cho nên thắp sáng chánh niệm trong đời
sống hàng ngày là điều rất quan trọng.