CHƯƠNG
3 (tt)
3.2
Pháp Thoại Ngày 8 tháng 9 năm 1994
Thưa
đại chúng, hôm nay là ngày mồng 8 tháng 9 năm 1994, chúng ta
đang ở xóm Thượng trong khóa mùa Thu, và học tiếp Kinh Samiddhi.
NGŨ
DỤC TẠO NÊN NHỮNG CƠN SỐT
Nhắc
lại một phần bài giảng hôm trước, thầy Samiddhi nói: Đức
Thế Tôn có dạy, trong cái vui phi thời của ái dục, vị ngọt
rất ít mà chất cay đắng rất nhiều, cái lợi rất bé mà
tai họa rất lớn. Tôi nay đang an trú trong hiện pháp, lìa
bỏ được những ngọn lửa phiền não đốt cháy, hiện pháp
này vượt thoát thời gian, đến để mà thấy, có tác dụng
đưa chúng ta đi lên và tự mình mỗi người có thể hiểu
được và thông đạt được.
Ta
biết rằng câu trả lời này thầy Samiddhi lấy trọn trong
kinh ra nên rất đúng với Chánh Pháp. Câu đó được dịch
từ tiếng Hán, và ta cũng đã đọc câu bằng tiếng Pali. Theo
văn học Phật Giáo Bắc Tông câu trả lời này còn có thêm
một danh từ nữa là vô chư nhiệt não, nghĩa là không có
sự nóng sốt, là lìa bỏ được những ngọn lửa phiền não
đốt cháy. Khi an trú trong giáo pháp và sống trong giờ phút
hiện tại, ta có thể tránh được những ngọn lửa phiền
não đốt cháy. Chúng ta đã biết rằng những ngọn lửa phiền
não này là những ngọn lửa phát sinh từ ao ước hưởng thụ
năm thứ dục lạc. Giáo sư Démiéville dịch là "sans fièvre",
tức là không có sự nóng sốt, không có cơn sốt. Danh từ
tiếng Phạn là Nirjvara. Vara nghĩa là con sốt. Chữ Hán dịch
là vô chư nhiệt não, không bị đốt cháy bởi những phiền
não. Khi đi lạc vào mê hồn trận của danh, của lợi, của
tài và của sắc, ta bị những ngọn lửa phiền não đốt
cháy. Nếu thoát ra được và an trú được trong giáo pháp
của Đức Thế Tôn, thì ta không bị những cơn sốt đó hãm
hại, cho nên gọi là vô chư nhiệt não. Vì vậy trong bài tụng
tiếng Pali quí vị nên thêm vào năm chữ "là xa lìa nhiệt
não" ngay sau câu "là hiện thân thọ chứng" cho đầy đủ.
Khi tụng, ta sẽ tụng như vầy:
Diệu
Pháp của Đức Thế Tôn là thiện thuyết,
Là
hiện thân thọ chứng,
Là
xa lìa nhiệt não,
Là
vượt thoát thời gian,
Là
đến để mà thấy,
Là
dẫn đạo đi lên,
Là
tự mình thông hiểu ...
Vậy
thì diệu pháp của Đức Thế Tôn là thiện thuyết, tức là
khéo diễn bày; là hiện thân thọ chứng (Sanditthika), nghĩa
là với kiếp này, với cái thân thể và tâm hồn này ta có
thể thực chứng được mà không phải mong ước ở tương
lai; là xa lìa nhiệt não, tức không có những cơn sốt của
phiền não; là vượt thoát thời gian (Akalika); là đến để
mà thấy (Ehipassika); là dẫn đạo đi lên (Upanayika); là tự
mình thông hiểu (Paccattamveditabbo Vinnuhiti).
Sau
khi nghe câu trả lời, vị Thiên giả thấy mình chưa hiểu
nên đã hỏi tiếp:
- "Tại
sao Đức Thế Tôn lại nói trong cái vui phi thời của ái dục
vị ngọt rất ít mà chất cay đắng rất nhiều, cái lợi
rất bé mà tai họa rất lớn? Tại sao Đức Thế Tôn lại
nói an trú hiện pháp là lìa bỏ được những ngọn lửa phiền
não đốt cháy, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy,
tự mình thông đạt, tự mình có thể giác tri".
Lúc
bấy giờ thầy Samiddhi hơi ngại vì đã một lần thầy giảng
nghĩa mà không đúng với ý của Đức Thế Tôn, nên lần này
thầy cẩn thận hơn trong khi trả lời:
- "Tôi
mới xuất gia được có mấy năm, không đủ sức giảng bày
rộng rãi những giáo pháp và luật nghi mà Đức Như Lai tuyên
thuyết. Hiện Đức Thế Tôn đang cư ngụ gần đây, nơi rừng
tre Ca Lan Đà, thiên nữ có thể tới với Người để trình
bày những nghi vần của thiên nữ. Đức Như Lai sẽ dạy cho
thiên nữ chánh pháp để tùy nghi thọ trì".
Đây
cũng là cái cơ hội để thầy đưa vị Thiên giả đến với
Đức Như Lai. Các Sư cô và Sư chú có thể học bài học này,
để khi gặp các vị Thiên giả đến hỏi chuyện lăng nhăng,
quí vị có thể đưa họ đến với tôi, tôi sẽ giúp quí
vị độ được các vị Thiên giả nào đó.
Vị
thiên nữ nói
"Thưa
khất sĩ, Đức Như Lai đang được các vị Thiên giả có nhiều
uy lực túc trực bao quanh, tôi không dễ gì có cơ hội để
tới gần Người mà hỏi Đạo. Nếu thầy có thể đến Đức
Thế Tôn để thỉnh vấn trước giùm tôi thì tôi sẽ xin đi
theo thầy".
Hôm
trước tôi đã giảng câu này rồi. Ngày xưa, muốn đến gặp
Bụt cũng khó, vì các thị giả không cho vô. Vì vậy tuy là
một vị thiên nữ, cô cũng không dễ dàng trực tiếp gặp
Đức Thế Tôn. Mà phải nhờ một Sư chú dẫn tới. Vậy mới
biết các Sư chú, Sư cô là phước điền tốt, là "thượng
đẳng điền" nên mới có thể tới với Đức Thế Tôn một
cách rất dễ dàng. Thầy Samiddhi biết được điều đó cho
nên thầy nói:
- Tôi
sẽ đi giúp thiên nữ.
Vị
thiên nữ nói: "Thưa Tôn giả vâng, tôi sẽ đi theo Tôn giả".
Lúc
ấy vị khất sĩ kia đến nơi Bụt ở, cúi đầu làm lễ dưới
chân Người, lui ra đứng một bên, và đem câu chuyện đã
nói với vị thiên nữ thuật lên cho Bụt nghe. Rồi thầy thưa
tiếp:
Bạch
Đức Thế Tôn, nếu vị thiên giả kia có tâm thành khẩn thì
giờ này cô ta đã có mặt ở đây rồi, còn nếu không thì
có lẽ vị ấy đã không tới.
Khi
nghe vị thiên giả đồng ý đi theo để gặp Bụt, thầy Samiddhi
liền đến nơi Bụt ở. Làm lễ Bụt xong thầy lui ra đứng
một bên và thuật lại hết cho Bụt nghe câu chuyện thầy
đi tắm sông, gặp thiên nữ chất vấn thế nào và thầy đối
đáp ra sao. Thầy Samiddhi thuật chuyện cho Bụt nghe xon mà không
thấy vị thiên nữ đâu. Có lẽ lúc này thầy đi vị Thiên
giả cũng đi theo, nhưng không đi theo sát bên thầy, cho nên
khi thầy vào tiếp xúc trực tiếp với Bụt thì không có vị
Thiên giả đứng gần đó, Vì vậy cho nên thầy mới nói:
Bạch Đức Thế Tôn, nếu vị thiên giả kia có tâm thành khẩn
thì giờ này cô ta đã có mặt ở đây rồi, còn nếu không
thì có lẽ vị ấy đã không tới.
Trong
bản Biệt Dịch Tạp A Hàm cũng như trong bản Pali Samyutta Niakaya
ta không thấy có câu ấy, nghĩa là không đặt vấn đề thành
khẩn. Tuy nhiên câu này cũng có cái nghĩa riêng của nó. Qua
câu này ta thấy rằng có thể vị Thiên giả có ý thao thức
hỏi đạo, hoặc vị Thiên giả không thật sự thao thức hỏi
đạo mà chỉ vì thấy người khất sĩ kia là một người
còn trẻ mà đi tu, bỏ gia đình, bỏ tất cả danh lợi ngoài
đời, không hưởng thụ dục lạc, nên hiếu kỳ muốn tìm
hiểu vậy thôi. Chúng ta nên biết rằng, không phải những
vị Thiên giả như thế chỉ có mặt ở thời xưa mà thôi.
Thời nay các vị Thiên giả như thế cũng có mặt, và thầy
Samiddhi không phải chỉ có mặt hai ngàn sáu trăm năm về trước
mà thầy Samiddhi cũng đang có mặt bây giờ và ở đây. Chừng
nào còn có thầy Samiddhi, thì chừng đó còn có những vị
Thiên giả đặt câu hỏi là tại sao còn trẻ mà bỏ gia đình,
bỏ xã hội để đi tu, và chừng nào còn những vị Thiên
giả như vậy thì chừng đó thầy Samiddhi vẫn còn phải trả
lời.
Lúc
bấy giờ có tiếng vị Thiên giả từ xa nói vọng lại: "Thưa
Tôn giả tôi đang có mặt đây, tôi đang có mặt đây".
Lúc
đó Đức Thế Tôn mới nói lên một bài kệ:
Chúng
sanh tuỳ ái tưởng,
Dĩ
ái tưởng nhi trú,
Dĩ
bất tri ái cố,
Tắc
vi tử phương tiện.
Tôi
dịch là:
Chúng
sanh theo dục tưởng,
Trú
trong dục tưởng ấy,
Không
biết dục là gì,
Nên
đi vào nẻo chết.
Có
thể Đức Thế Tôn đã dạy bằng văn xuôi, nhưng các thầy
không nhớ hết, và để khỏi quên cái tinh túy của lời Đức
Thế Tôn dạy, nên các thầy hồi đó đã đúc kết những
lời của Đức Thế Tôn bằng lại bằng lời kệ.
Chúng
sanh tùy ái tưởng, Dĩ ái tưởng nhi trú (Chúng sanh theo dục
tưởng, trú trong dục tưởng ấy). Chữ ái này đồng nghĩa
với chữ dục. Ta thường gọi là Dục Ái hay Ái Dục. Tiếng
Phạn thường dùng chữ Chandaraga, nghĩa là tham ái hay dục
ái. Tiếng Anh có thể dùng chữ Craving tức là sự thèm khát.
Còn chữ Tưởng ở đây là chữ Tưởng trong năm uẩn (Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức), có nghĩa là tri giác, tiếng Anh
là Perception. Hai câu trên có nghĩa là chúng sinh đi theo những
tri giác về ái dục của mình, và lấy cái tri giác về ái
dục đó làm chỗ cư trú. Nói như vậy có nghĩa là mình có
một ý niệm về hạnh phúc và mình có những ham muốn (ái
dục). Hạnh phúc là một chuyện, mà ái dục là một chuyện,
hai cái khác nhau nhưng thường ta hay lẫn lộn. Đây là vấn
đề chung của tất cả mọi người.
Ý
NIỆM VỀ HẠNH PHÚC LÀ NHỮNG CHƯỚNG NGẠI CỦA HẠNH PHÚC
Trong
ta, mỗi người đều có một ý niệm về hạnh phúc. Ta nghĩ
rằng hạnh phúc là phải như thế này hay như thế kia. Nếu
ta không được như thế này hay như thế kia thì ta kết luận
là ta không có hạnh phúc. Ta cho rằng bị kẹt vào ý niệm
về hạnh phúc của mình, và trong nhiều trường hợp, ý niệm
về hạnh phúc của mình là chướng ngại căn bản để mình
đạt tới hạnh phúc. Ví dụ mình ham muốn đậu được cái
bằng cấp đó, và nghĩ rằng nếu không có cái bằng cấp
đó thì không bao giờ mình có hạnh phúc cả. Như vậy tức
là mình đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc. Trong
khi mình đang có vô số cơ hội để có hạnh phúc, mình đánh
mất hết, chỉ vì mình đã tự đóng khung cái hạnh phúc của
mình vào trong cái ý niệm có bằng cấp kia. Đó là một cái
muốn, một thứ ái dục, ái dục về bằng cấp. Trong đời
sống tu hành cũng vậy. Là một ông thầy tu mình có thể nghĩ
rằng muốn nói cho thiên hạ nghe thì mình phải có một cái
bằng cấp vì có bằng cấp thì thiên hạ mới nể, thuyết
pháp người ta mới nghe. Vì vậy cho nên mình phải xông xáo
ra đời vài ba năm để học và giật cho được bằng cấp
đó. Mình đâu có biết rằng vì ý niệm về bằng cấp mà
sự nghiệp tu hành của mình có thể sẽ bị hư hỏng. Tóm
lại tất cả đều do ý niệm của mình mà ra, và ý niệm
thường rất dễ bị sai lạc.
Có
một anh chàng nói: "Hạnh phúc của đời tôi là phải cưới
cho được cô này, nếu không cưới được cô ấy thà rằng
chết còn hơn, hạnh phúc không thể nào có được!". Như vậy
anh chàng đã cột đời của mình vào trong ý niệm là phải
cưới cho được cô kia. Cưới không được thì đời không
còn có ý nghĩa gì cả. Tại sao đời không có ý nghĩa gì
nữa cả. Đời còn nhiều nghĩa lắm chứ! Nhưng tại mình
không thấy được tất cả những cái nghĩa khác của cuộc
đời mà chỉ thấy có một nghĩa đó mà thôi. Cái đó gọi
là ý niệm. Ý niệm đó ở trong trong đạo Bụt gọi là Tưởng,
một cái Tưởng của mình về hạnh phúc.
Muốn
sử dụng vô số những điều kiện để có hạnh phúc, muốn
đừng dẫm lên những điều kiện của hạnh phúc mà đi, ta
đừng nên bị ràng buộc vào một ý niệm nào về hạnh phúc
cả. Khi đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc là ta
không còn cơ hội nào khác để có hạnh phúc nữa. Ý niệm
hạnh phúc đó gọi là dục tưởng.
Ý
NIỆM VỀ HẠNH PHÚC HAY DỤC TƯỞNG LÀ ĐỐI TƯỢNG CẦN QUÁN
CHIẾU
Ý
niệm về hạnh phúc có thể là một ý niệm cá nhân, mà cũng
có thể là một ý niệm có tính cách cộng đồng, gọi là
tâm thức cộng đồng. Nếu ta hỏi một người Mỹ bình thường
phải có những điều kiện nào mới có hạnh phúc, thì người
ấy sẽ liệt kê những điều kiện tồi thiểu mà một người
Mỹ phải có để có thể gọi là một người có hạnh phúc.
Trước hết là phải có một trình độ học thức tương đương
với BA hay BS, nghĩa là phải tốt nghiệp Đại học cấp một.
Kế đến là phải có công ăn việc làm, tương đương với
trình độ học vấn, lương đủ cao để có thể thuê một
căn nhà, mua một chiếc xe. Trong nhà phải có TV, tủ lạnh.
Thiếu một trong những thứ ấy người đó sẽ chưa có hạnh
phúc. Cái hạnh phúc đó gọi là ước lệ. Đó là ý niệm
về những điều kiện mà mình tin là cần thiết và là căn
bản của hạnh phúc. Nhưng nếu xét kỹ lại, ta thấy rằng
rất nhiều người đang có những điều kiện như vậy, nhưng
không hạnh phúc gì cả. Họ có thể đang bị đau khổ cùng
cực. Ngay cả khi có nhiều hơn, trên cả những điều kiện
đã đòi hỏi, họ vẫn khổ đau vô cùng. Vậy thì ý niệm
về hạnh phúc (dục tưởng) là một điều cần phải được
quán chiếu, cần phải tìm hiểu vì ta có thể chết vì nó.
Đừng
nói gì ngoài đời, ngay ở trong đạo, người đã tu rồi,
cũng có thể có một ý niệm về hạnh phúc. Ví dụ mình nghĩ
là phải có một ngôi chùa riêng để tự do sắp đặt theo
ý mình, để không phải làm theo điều người khác sai phái.
Chừng nào làm trụ trì, làm viện chủ của một ngôi chùa
rồi thì mới có quyền, mình có thể bảo chú này, cô kia
làm theo điều này, điều nọ. Mình nghĩ: có một ngôi chùa
riêng để làm chủ là điều kiện của hạnh phúc. Nhưng than
ôi, khi đã có một ngôi chùa riêng rồi mình mới biết rằng
cái ý niệm về hạnh phúc có thể không đúng chút nào. Thật
ra có một ngôi chùa, có một trung tâm tu học không phải là
điều dỡ. Ta có thể căn cứ vào điều kiện đó để tạo
rất nhiều hạnh phúc cho mình và cho người. Nhưng không hẳn
phải làm chủ một ngôi chùa mới có thể làm được những
điều đó. Nếu mình là một người có hạnh phúc, có khả
năng hướng dẫn tu học và tạo dựng hạnh phúc cho người,
thì không có chùa mình vẫn làm được việc đó như thường.
Mình lại khỏi phải chăm sóc và lo lắng cho ngôi chùa như
một vị trụ trì. Nhiều khi không có chùa mình có thể tạo
hạnh phúc cho mình và cho người người gấp mười, gấp trăm
lần khi mình có một ngôi chùa! Được tấn phong là Thượng
Tọa hay Hòa Thượng có phải là điều kiện của hạnh phúc
không? Có nhiều người rất đau khổ vì không gọi bằng những
danh từ đó. Khi được gọi bằng một danh từ khác họ thấy
trong người như có lửa đốt, như bị sốt rét. Tại sao đáng
lý mình được gọi bằng danh từ ấy mà người ta gọi mình
bằnh danh từ này? Khi có sốt rét, khi bị một ngọn lửa
đốt cháy, mình biết rằng mình đang bị một dục tưởng
trấn ngự, dù đó là một cái danh rất nhỏ. Vì vậy dục
tưởng hay ý niệm về hạnh phúc là một đối tượng mà
mọi chúng ta cần phải quán chiếu. Khi quán chiếu và đập
vỡ được cái dục tưởng ấy rồi thì mình được giải
thoát, và tự nhiên ta có vô số hạnh phúc. Điều kiện hạnh
phúc có mặt rất nhiều trong ta và chung quanh ta, sở dĩ ta
không sử dụng được chúng là vì ta đang kẹt vào trong cái
gọi là dục tưởng.
Trong
hai câu cuối cùng của bài kệ Bụt nói cho vị Thiên giả,
Dĩ bất tri ái cố, Tắc vi tử phương tiện, Bụt dạy rất
rõ rằng "vì chúng sinh không biết bản chất của dục là
gì (cố nghĩa là lý do), cho nên cái dục ấy trở thành phương
tiện của sự chết". Phương tiện của sự chết tức là
công cụ của thần chết. Thần chết tiếng Phạn là Mara,
tức là Ma vương. Ma vương là biểu tượng cho con đường
đi về đau khổ, chết chóc. Vì vậy chữ chết ở đây còn
có nghĩa là con đường lầm lạc, con đường tối tăm, con
đường tà ma. Nẻo chết là nẻo của phiền não, của sự
đốt cháy, của sự vắng mặt hạnh phúc, vắng mặt thanh
tịnh, vắng mặt an lạc. Trong Tạp A Hàm Biệt Dịch bài kệ
đó rất hay:
Danh
sắc trung sinh tưởng,
Vị
vị chân thật giả,
Đương
tri như tư nhân,
Thị
danh thuộc tử kỉnh.
Danh
sắc trung sinh tưởng nghĩa là từ trong phạm vi danh và sắc,
đã phát sinh ra những tri giác, những nhận thức. Danh và Sắc
ở đây có nghĩa là tinh thần và vật chất. Danh (nama) tức
là những cảm thọ, tri giác, tâm tư và nhận thức của chúng
ta (Thọ, Tưởng, Hành, Thức); còn Sắc (rupa) là thân thể,
là sinh lý của chúng ta. Nói tóm lại, Danh tức là những yếu
tố làm ra con người thuộc về phương diện tinh thần, còn
Sắc là các yếu tố làm ra con người đứng về phương diện
vật chất. Trong lãnh vực của Danh và Sắc, ta đã làm phát
sinh ra những tri giác, nghĩa là ta có những tri giác về danh
và về sắc.
Vị
vi chân thật giả: chúng ta cho những tri giác đó chính xác,
là chân thực.
Đương
tri như tư nhân: phải biết rằng người này.
Thị
danh thuộc tử kỉnh: là những người đang đi trên con đường
dẫn về cái chết, kỉnh tức là con đường.
Bài
kệ này tôi dịch là:
Những
tri giác phát sinh từ danh và sắc,
Người
đời thường nhận lầm chúng là những gì có thật,
Kẻ
nào đang kẹt vào tình trạng này,
Là
kẻ đang đi trên con đường ma.
Con
đường ma là con đường của khổ đau, của thiêu cháy. Ta
phải học kỹ bài kệ này, vì nó là mấu chốt của Kinh Samiddhi.
Thầy Phật Âm (Buddghosa) tác giả Thanh Tịnh Đạo Luận, sống
vào thế kỷ thứ năm, đã hiểu bài này một cách rất tỏ
tường và đã giảng nghĩa bài này rất chính xác. Cố nhiên
là Thầy căn cứ trên văn bản tiếng Pali. Rất tiếc là bản
dịch của Pali Texts Society không phù hợp với các thấy của
thầy Phật Âm.
Thầy
Phật Âm nói "Con người có nhiều nhận thức về năm uẩn,
tức là về Danh và Sắc. Người có trí thì thấy những đối
tượng của tri giác đó không thật, không có có ngã, mà chỉ
là năm uẩn luôn luôn biến chuyển mà thôi". Như vậy cái
thấy của thầy rất phù hợp với hai câu trong Biệt Dịch
Tạp A Hàm "Danh sắc trung sinh tưởng, Vị vi chân thật giả",
nghĩa là trong lãnh vực của năm uẩn là Danh và Sắc, người
ta có những nhận thức sai lầm, cho nó là chân thật, vì vậy
cho nên người ta đang đi trên con đường khổ đau, đang đi
trên con đường chết. Trong khi đó, bản Pali Texts Society dịch
là:
Men
are alone of what is told by Names,
Take
up their stand on what is so expressed,
If
this they have not rightly understood,
They
go their ways under the yolk of Death.
Trong
bản tiếng Pali, akkeyya sannino sattà có nghĩa là chúng sinh có
những tri giác về những cái được phát hiện ra. Vì vậy
akkheyyàni này có thể dịch là những cái được tuyên bố
ra, những cái được nói ra. Nhưng cũng có thể được dịch
là những cái được phát hiện ra, được trình bày ra, chỉ
bày ra. Tiếng Anh là what is proclaimed, what has been proclaimed,
what has been shown, what has been expressed. Nghĩa chính của nó là
"sự biểu hiện ra". Năm uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức)
là phát hiện từ Danh Sắc, mà Danh Sắc là phát hiện từ
Thức (Thức này là viết hoa; còn thức trong các danh từ như
Tàng thức, Nhất Thiết Chủng thức thì không viết hoa). Từ
Thức mà phát sinh ra Danh Sắc, từ Danh Sắc mà phát sinh ra
năm uẩn. Sự biểu hiện đó, sự phát sinh đó được trình
bày, được chỉ bày ra. Khi dịch bản Pali ta có thể dịch
đúng như trong bản Biệt Dịch Tạp A Hàm. Bản dịch này rất
hay, còn hay hơn ở Tạp A Hàm, và rất dễ hiểu. Vì vậy từ
bài kệ tiếng Pali, ta có thể dịch ra tiếng Anh như sau:
Men
have notions of what that have been expressed, that have been shown, they
take up their stand on these perceptions, and that is why they go their
way under the yolk of Death.
Ta
thấy ba bản văn, bản Pali và hai bản tiếng Hán, cùng mang
một ý như nhau: Khi ta có một cái ý niệm về hạnh phúc,
ta có thể bị kẹt vào ý niệm về hạnh phúc đó, và ta đi
vào nẻo đường của khổ đau, là vì ta không biết được
bản chất của cái mà ta gọi là hạnh phúc. Chúng chỉ là
đau khổ trá hình mà thôi. Nhìn quanh ta thấy có vô khối người
đang đi như vậy vì họ không biết bản chất của đối tượng
mà họ đang đi tìm hay đi theo. Bài kệ này là câu trả lời
căn bản của Bụt về vấn đề hạnh phúc.
Thường
thì ta có một ý niệm về hạnh phúc và ta nắm lấy ý niệm
đó mà không biết rằng như vậy là ta đang đi trên con đường
của khổ đau. Ngôn ngữ của Kinh điển có khuynh hướng giải
thích về những cái nguy hại, những tính cách giả tạo của
ái dục, khuyên ta xa lìa ái dục, rũ bỏ những ảo tưởng,
mà chưa có đủ những ngôn từ, những lời nói để giúp
ta tìm thấy cái hạnh phúc chân thật. Vì vậy trong khóa tu
này ta phải thiết lập lại sự thăng bằng. Phần nói về
ái dục là phần khai thị bên phía tiêu cực. Phần trình bày
về hạnh phúc chân thật là phần khai thị về phía tích cực.
Thầy Samiddhi đã trích dẫn lời của Bụt nói "trong ái dục
vị ngọt thì rất ít, mà vị cay đắng rất nhiều; cái lợi
rất nhỏ mà cái hại rất lớn; nó làm cho chúng ta bị đốt
cháy, nó làm cho chúng ta đi theo con đường của thần chết",
rồi thầy Samiddhi cũng nói "tới với Chánh Pháp, sống với
cái Pháp và Luật của Thế Tôn thì chúng ta có thể hạnh
phúc trong giây phút hiện tại, chúng ta xa lìa được những
phiền não đốt cháy, chúng ta có thể hiện pháp lạc trú,
nghĩa là tìm thấy an lạc, hạnh phúc, giải thoát ngay trong
hiện tại". Vì vậy trong Kinh Samiddhi ta thấy sự diễn bày
về phần tích cực của hạnh phúc tương đối nhiều hơn
trong những kinh khác. Kinh Samiddhi không những chỉ nói về
các tai hại, quá hoạn của ái dục, mà chỉ nói về các tai
hại, quá hoạn của ái dục, mà còn nói tới cái tự do, cái
thênh thang của hạnh phúc chân thật. Trong danh từ "quá hoạn",
quá có nghĩa là những cái lỗi lầm, tiếng Pháp gọi là les
defauts; hoạn là sự nguy hiểm, les dangers.
NHỮNG
HÌNH ẢNH BỤT DÙNG ĐỂ TƯỢNG TRƯNG CHO BẢN CHẤT CỦA DỤC
LẠC
Ái
dục, trước hết được ví như một khúc xương trần. Xương
trần tiếng Anh là "bare bone", tức là một khúc xương không
còn một chút thịt nào hết. Khi ta quăng một miếng xương
trần cho con chó thì nó rất thích. Nó tranh với những con
chó khác để chiếm cho được miếng xưong ấy mà gặm. Nhưng
con chó không bao giờ thỏa mãn được sự thèm khát của nó
cả. Một miếng xương trần không thể làm thỏa mãn cơn đói
của một một con chó. Ái dục đối với ta cũng vậy. Ta nghĩ
rằng có được đối tượng của ái dục, ôm lấy đối tượng
ấy ta sẽ được thỏa mãn sự thèm khát của ta và ta sẽ
có hạnh phúc. Nhưng đó là một ý niệm về hạnh phúc cần
được quán chiếu. Nếu một miếng xương trần không thể
nào làm no một con chó, thì đối tượng của ái dục không
bao giờ làm thỏa mãn cái khát khao của một con người. Càng
theo ái dục, ta càng bị phiền não đốt cháy. Phiền não ở
đây là sự không được thỏa mãn. "Kiều Thu này Tố em ơi,
ta đang lửa đốt tơi bời mái tây", ta bị lửa đốt là vì
ta không được thỏa mãn cái tưởng của ta!
Hình
ảnh khúc xương trần là hình ảnh đầu tiên mà Bụt đưa
ra để nói về bản chất của dục. Con chó có biết rằng
khúc xương đó chỉ là một miếng xương trần hay không? Con
chó có biết khúc xương đó không bao giờ có thể làm cho
nó hết đói hay không? Có thể là nó biết, nhưng biết thì
biết, nó vẫn chạy theo miếng xương trần và gặm miếng
xương trần như thường. Gặm một ngày, hai ngày, ba ngày,
bốn ngày, năm ngày mà cứ gặm hoài. Người ta biết điều
đó cho nên họ mới làm ra những khúc xương trần bằng một
hợp chất plastic. Nhìn con chó gặm khúc xương trần, ta phải
nhìn lại bản thân của mình. Ta cũng có cái khuynh hướng
ấy, chạy theo khúc xương trần, gặm ngày qua ngày khác, và
không bao giờ ta thấy cơn thèm khát của ta được thỏa mãn
cả. Chúng sanh đi theo những tri giác của mình về ái dục,
và nương náu vào trong những ý niệm, những tri giác của
ái dục đó, mà không biết được bản chất của ái dục
cho nên chúng sinh trở thành công cụ của thần chết, đi vào
trong tử lộ. Thật không có gì rõ ràng hơn!
Hình
ảnh thứ hai mà Bụt đưa ra là một miếng thịt sống. Ái
dục là miếng thịt sống. Có một con chim bay ngang qua tiệm
bán thịt, đớp miếng thịt sống và bay lên trên không. Nó
tưởng sẽ được ăn miếng thịt đó, không ngờ từ đằng
xa có con chim lớn hơn bay tới. Chuyện này xảy ra ở Ấn Độ
rất thường, vì ở Ấn Độ có rất nhiều kên kên. Khi một
con chim nhỏ đang ngậm miếng thịt mà thấy một con chim lớn
bay tới, nếu muốn được an thân, muốn khỏi bị con chim
kia mổ chết, nó phải nhả miếng thịt ra lập tức. Nếu
không miếng thịt không còn mà nó cũng chưa chắc được yên
thân. Đó là những tai nạn của vật dục, của ái dục, gọi
là quá hoạn.
Hình
ảnh thứ ba của Bụt đưa ra là một bó đuốc rơm. Người
cầm bó đuốc rơm đi ngược gió thế nào tay người đó cũng
bị đốt cháy. Bó đuốc rơm cầm ngược gió là tượng trưng
cho những tai nạn của ái dục. Chui vào cái bẫy của ngũ
dục, thế nào ta cũng bị đốt cháy.
Hình
ảnh thứ tư mà Bụt đưa ra là hố than hồng. Ở Ấn Độ,
ngày xưa những người bị phong hủi không được sống chung
với làng xóm. Họ phải rủ nhau vào trong rừng để sống,
vì vậy có những cộng đồng riêng của người cùi. Đôi
khi họ phải sống trong những cái hang. Ngày nay ở Việt Nam
cũng có những trại cùi, trong đó người bệnh không có nhà
để ở. Làng Mai chúng ta có những chương trình để giúp
cho cộng đồng người cùi như vậy. Thầy Chân Phương ở
Việt Nam đã từng thay thế chúng ta đi thăm và làm nhà cho
những người cùi ở. Những người bị bệnh cùi đau khổ
rất nhiều vì sự ngứa ngáy. Ngày xưa họ đào những cái
hố, chặt cành cây quăng xuống, đốt thành một hố lửa
than, để những khi ngứa quá họ tới gần hơ tay, hơ chân
cho thật nóng và gãi cho đã ngứa. Đối với những người
không bị bệnh cùi, tới gần cái hố lửa than như vậy là
một cực hình vì nóng bức chịu không nổi. Tuy nhiên với
người cùi thì tới gần cái hố than nóng bức là một sự
khoái lạc. Bụt nói cái khoái lạc của dục vọng cũng giống
như thứ khoái lạc của những người cùi đang đưa tay chân
hơ trên lửa nóng. Với những người khỏe mạnh, đó là một
một khổ thọ, chỉ có những người bị bệnh mới cho đó
là hạnh phúc mà thôi. Vì vậy cho nên hạnh phúc tìm thấy
trong dục lạc là thứ hạnh phúc có bản chất của đau khổ.
Người có tu học thấy điều đó rất rõ, nhưng người không
tu thì không thấy được sự thật đó.
Hình
ảnh thứ năm của Bụt đưa ra là một con rắn đôc. Khi ta
bị rắn độc cắn cái nọc độc ấy đi vào trong cơ thể
làm cho ta mê man, đau đớn. Ái dục cũng tương tự như vậy.
Khi ôm lấy cái ái dục trong người, ta sẽ bị ái dục làm
cho khổ đau cùng cực, giống như khi bị nọc rắn độc chạy
vào người.
Hình
ảnh thư bảy là của vay mượn. Của vay mượn không phải
là của ta, không bao giờ nó thuộc về ta cả. Cũng như vậy,
đối tượng của ái dục không phải là của ta, nó không
thuộc về ta. Ai nghĩ rằng những đối tượng của ái dục
thuộc về mình là người đó đang nhận lầm của mà mình
vay mượn là của mình.
Hình
ảnh cuối cùng mà Bụt dùng là cây sây trái. Cây sây trái
dẽ bị người ta tới leo trèo, phá phách, làm cho tan nát.
Cũng vậy, khi có trong tay những yếu tố của tài, sắc, danh,
thực, thụy ta sẽ bị người tới cướp. Họ sẽ đánh, sẽ
phá làm cho ta thất điên bát đảo, cho đến khi ta không còn
gì trong tay họ mới chịu.
Đó
là những tai nạn của ái dục. Trong kinh, những hình ảnh
này được lập đi lập lại rất nhiều để nói về những
quá hoạn của năm thứ dục lạc.
Cách
đây chừng năm sáu năm, trong một khóa tu cho người Pháp tại
Paris, có một cô sinh viên Pháp nói: "Bạch Thầy, con biết
rất rõ ngũ dục là quá hoạn. Chúng con thường tổ chức
những buổi khiêu vũ riêng cho người trẻ, trong đó nhạc
mở lớn, tiếng reo hò và cười đùa rất lớn. Chúng con tìm
cách chôn vùi những niềm đau, nỗi khổ của chúng con dưới
âm thanh rộn rã, trong những tiếng cười đùa suốt sáng thâu
đêm. Nhưng chúng con biết rằng trong chiều sâu của tâm thức,
chúng con có rất nhiều đau khổ. Có những lúc đang khiêu
vũ, tự nhien con đứng khựng lại và thấy ràng âm nhạc ấy,
những bước nhảy ấy, tiếng ca hát, tiếng cười đùa ấy
chi là một lớp màn rất mỏng, không đủ để che dấu những
niềm đau nổi khổ đầy ắp trong chúng con. Những niềm đau
nỗi khổ đó đang tìm cách chọc thủng bức màn để chui
ra".
Vì
vậy, trên phương diện tiêu cực, Bụt đã dạy rằng "Trong
cái vui phi thời của ái dục, vị ngọt rất ít mà chất cay
đắng rất nhiều, cái lợi rất bé mà tai họ rất lớn".
Trên phương diện tích cực, Bụt cũng giải thích về hạnh
phúc chân thật. Hạnh phúc ở đây không khải là một sự
hứa hẹn mơ hồ nơi tương lai. Người không học đạo đã
buông lời phê bình rất cạn cợt. Họ nói đạo Bụt không
thực tế, đạo Bụt đi tìm cái hạnh phúc ở đâu xa vời.
Niết Bàn là một cái gì viễn vông, xa xôi và mơ hồ. Họ
nói giống cô thiên nữ đã nói với Thầy Samiddhi. Trong khi
đó thì không có một nền giáo lý thực tiễn cho bằng đạo
Bụt, không có một vị giáo chủ nào khuyên chúng ta nên mở
hai mắt thật lớn để tiếp xúc với những gì đang ở ngay
trước mặt chúng ta, và phải thấy được rất rõ rằng ái
dục là ái dục, phải thấy được rất rõ rằng khúc xương
trần chỉ là khúc xương trần, hố lửa cháy hừng chỉ là
một hố lửa cháy hừng, con rắn độc chỉ là con rắn độc.
Không có giáo thuyết nào, không có nền triết học nào thực
tế cho bằng Đạo Bụt, vì Bụt bảo chúng ta phải mở rộng
hai con mắt để nhận thức sự vật như tự tánh của thực
tại để thấy rõ được bản chất chân thực của từng
uẩn. Phải thấy vô thường là vô thường, phải thấy vô
ngã là vô ngã, phải thấy hiểm nguy là hiểm nguy, thì tại
sao lại có thể nói rằng Đạo Bụt đi tìm một thứ hạnh
phúc trong tương lai, mơ hồ, không thực tế?
Sau
khi nói xong bài kệ, Bụt hỏi vị thiên giả "Con có hiểu
bài kệ ấy không? nếu không thì cứ nói". Vị thiên giả
thưa "con chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con chưa hiểu bạch
Đức Thiện Thệ". Thiện Thệ tiếng Phạn là Sugata, nghĩa
là người đã khéo kéo bước qua, người đã khéo léo bước
tới. Bụt đọc cho vị thiên giả một bài kệ thứ hai để
giúp cho vị thiên giả có thể hiểu được bài kệ thứ nhất.
"Biết bản chất của dục, sẽ không sinh dục tâm, dục không
dục tưởng không, không ai xúi được mình". Một khi đã thấy
được bản chất của dục rồi thì dục tưởng sẽ không
còn phát sinh. Lúc đó dục cũng không mà dục tưởng cũng
không. Nhờ vậy không một người nào có thể xúi được
mình đi trở về con đường của đoạn trường, con đường
của thần chết. Trong Tạp A Hàm, bài kệ này là:
Nhược
tri sở ái giả,
Bất
ư bỉ thử ái,
Bỉ
thử vô sở hữu,
Tha
nhân mạc năng thuyết".
"Nhược
tri sở ái giả", nghĩa là nếu ta biết được cái bản chất
của sở ái, của ái dục, thì "Bất ư bỉ thử ái" đối
với với cái ái dục đó, mình sẽ không sinh ra ái tưởng
nữa. Như vậy, nếu ta biết được bản chất đối tượng
của tham dục rồi thì không vì cái dục tưởng kia mà sanh
tâm tham ái nữa. "Bỉ thử vô sỡ hữu". Bỉ thử là cả hai
cái (ái và ái tưởng), nghĩa là cả hai cái đều không còn
nữa. "Tha nhân mạc năng thuyết", nghĩa là kẻ kia không thể
nào còn nói được gì nữa. Kẻ kia có nói gì đi nữa, chúng
ta cũng không bị lung lay. "Kẻ kia" ở đây có nghĩa là trong
xã hội, chúng ta thường có một ý niệm về hạnh phúc có
tính cách cộng đồng. Ai cũng nghĩ rằng phải có cái đó
mới có hạnh phúc, vì vậy mà chúng ta chạy theo cái đó,
không suy nghĩ. Điều này cũng là một đối tượng quán chiếu
rất quan trọng của thiền quán.
CÓ
THỂ CÓ HẠNH PHÚC NGOÀI NĂM THỨ DỤC LẠC KHÔNG?
Hạnh
phúc là gì? Quan niệm của người đời về hạnh phúc là
gì? Trong thiền quán, khi chiếu ánh sáng vào, ta nhìn cho rõ
ràng bản thân của ái dục, để thấy rằng những hình ảnh
mà Bụt đưa ra là những hình ảnh rất tuyệt diệu. Hình
ảnh của một khúc xương trần, một miếng thịt sống, một
bó đuốc rơm cầm ngược gió, một hố than hồng, một con
rắn độc v.v... rất là dễ sợ. Nhìn chung quanh, ta thấy biết
bao người đã bị rắn độc cắn, biết bao người đã rơi
vào hố than hồng, đang lăn theo đối tượng của dục vọng
để gặm, để nhấm, để ham muốn, để hi cầu. Những người
ấy không bao giờ thỏa mãn cả. Không cần phải nhìn xa, chỉ
nhìn chung quanh là ta thấy được những điều Bụt dạy. Đó
gọi là quán chiếu. Trong khi đó, người có tự do là người
không ôm ấp một ý niệm về hạnh phúc, không ôm ấp dục
tưởng, những người ấy có vô số cơ hội để có hạnh
phúc ngay trong hiện tại. Trời mưa cũng có thể hạnh phúc,
mà trời nắng cũng có thể hạnh phúc.
Ta
học được gì từ bài kệ này của Bụt? Điều quan trọng
nhất là muốn có hạnh phúc chân thật, ta phải đặt vấn
đề nghi ngờ cái ý niệm của mình về hạnh phúc, tại vì
mỗi chúng ta đều có ý niệm rằng nếu được như thế này,
được như thế kia thì ta sẽ có hạnh phúc. Có thể ví cái
ý niệm đó mà trong quá khứ mình đã đau khổ vô cùng. Gạt
bỏ được ý niệm về hạnh phúc, mình sẽ bắt đầu có
cơ hội hạnh phúc. Trước khi gạt bỏ được ý niệm đó,
ta vẫn chưa có hạnh phúc. Tại sao?
Khi
có một ý niệm về hạnh phúc rồi thì ta không thể an trú
trong hiện tại được, vì ta cứ nghĩ rằng chừng tôi đạt
được cái đó, chừng nào tôi thành tựu được cái kia, thì
tôi mới có hạnh phúc. Khi có một dục niệm như vậy làm
sao mà có hạnh phúc ngay trong hiện tại được? Cho nên điều
kiện tiên quyết để có hạnh phúc là phải rời bỏ cái
ý niệm về hạnh phúc đi để có thể an trú trong hiện tại.
Bụt dạy rằng chúng ta có thể tiếp xúc với hạnh phúc ngay
trong giờ phút hiện tại, hiện tại lạc trú là có nghĩa
như vậy.
Trước
đây tôi đã nói về sự thầm mong trở về quê hương của
chúng ta. Hôm nay tôi nói thêm về quê hương đích thực.
Lắng
lòng nghe, lắng lòng nghe,
Tiếng
chuông huyền diệu đưa về quê hương.
Quê
hương này là quê hương đích thực. Quê hương này không phải
là quê hương Pháp, quê hương Mỹ, quê hương Hòa Lan, quê
hương Úc, hay quê hương Việt Nam, mà là cái quê hương tâm
linh của chúng ta, nơi ta cảm thấy thoải mái và hạnh phúc.
Mỗi người trong chúng ta đều có cơ hội trong bụng mẹ hơn
chín tháng. Thời gian đó ta không lo lắng về quá khứ hoặc
tương lai, còn hiện tại thì đã có mẹ lo hết. Ta có cảm
tưởng rất an lành dầu ta còn rất bé. Khi ra đời rồi, cảm
giác đó dần dần bị đánh mất, vì vậy trong ta có khuynh
hướng muốn trở vế cái cung điện của đứa con, muốn trở
về nằm trong bụng mẹ! Dầu ta có mỉm cười biết rằng
trở về nằm trong bụng mẹ để có sự an toan là chuyện
không thể làm được, nhưng trong tàng thức, cái ước muốn
thâm trầm đó vẫn còn. Tại sao? Tại vì sự khác nhau về
cách vận hành giữa ý thức và tàng thức. Ý thức biết rằng
không làm thế nào để trở về trạng thái bào thai để có
sự an toàn, đó là một chuyện không tưởng! Ý thức biết
rất rõ như vậy, nhưng A Lại Gia Thức vẫn còn mang cái ước
muốn đó. Quán chiếu xa thêm chút nữa, ta thấy rằng sự
an toàn đó chỉ là một ý niệm an toàn mà thôi. Thực tế
thì nơi êm ấm an toàn mà ta đã nằm là một phần thân thể
của mẹ. Vì vậy sự an toàn hay bất ổn của ta hoàn toàn
tuỳ thuộc vào những ái, ố, hỷ, nộ của mẹ, tùy thuộc
vào những chất dinh dưỡng hay độc tố mẹ dùng. Nếu một
thi sĩ có cảm tưởng mình đã đánh mất thiên đường, mình
đang đi lang thang, đang bị đày đọa, thì cái ý niệm về
thiên đường đó cũng đã tạo được tạo ra từ cảm giác
an toàn mà ta đã có trong thời gian còn trong bụng mẹ. Ra khỏi
bụng mẹ tức là ra khỏi thiên đường.
Xét
cho kỹ, ta vẫn còn thiên đường tới một mức độ nào đó.
Nằm trong nôi, vẫn còn là nằm trong loại thiên đường. Ta
nhớ rằng hồi còn bốn, năm tuổi, khi cha mẹ ta bận với
công này việc nọ, ta thường đi thơ thẩn một mình ra vườn.
Ta chơi với con ốc, con bướm, con sâu. Ta thơ thẩn một mình,
làm quen với những gì chung quanh ta. Có khi ta sang hàng xóm
chơi với bạn. Đến khi rảnh tay hay đi chợ về, mẹ gọi
ta, cho một cái bánh in, một khúc mía thì ta có hạnh phúc
rất nhiều. Tất cả những cái đó đều là những yếu tố
của một thiên đường mà hiện giờ ta đã mất. Thiên đường
ở đây có thể gọi là quê hương. Quê hương đầu tiên là
bụng mẹ. Quê hương thứ hai là thời thơ ấu, là cây khế
ngọt v.v...
Ngày
xưa ta không cần phải có những điêu kiện lớn lao mới có
hạnh phúc, chỉ cần một cây khế để leo lên hái ăn là
đã có đủ hạnh phúc rồi. Cây khế đó bây giờ có còn
hay không? Trong thiên đường của ta chắc chắn lúc nào cũng
có một cây khế. Ngày xưa tôi có nói với thầy bổn sư "Nếu
cõi tịnh độ mà không có cây khế thì con không chịu về
tịnh độ đâu!". Nói thế tại vì cây khế là một yếu tố
rất cần thiết trong thiên đường của tôi. Cách đây hai
hôm, lúc ở Sơn Cốc, tôi ngồi dưới một cây táo loại Golden
Apple, trái bắt đầu chín và ăn một trái táo vừa mới hái
trên cành, ăn rất thảnh thơi, ăn với tất cả sự có mặt
của mình. Hồi còn nhỏ, tôi được ăn chuối, ăn cam, ăn
xoài, ăn đủ thứ trái cây ngon, nhưng trái táo thì rất hiếm.
Tôi thường nghĩ rằng sau này có cơ hội đi sang các nước
tây phương, thế nào mình cũng tìm cách leo lên một cây táo
và ăn một trái táo ngay trên cây thì mới đã! Cái ước mơ
đó của tôi đã được thực hiện. Nhưng ngày hôm kia, khi
ngồi dưới cây táo và ăn trái táo đó một cách rất chánh
niệm, rất sâu sắc và rất hạnh phúc thì tôi biết rằng
cái thiên đường kia nó nằm ở đó chứ không nằm ở đâu
cả.
Cây khế ngày xưa có còn hay không, đó là tùy theo nhận thức
của mình. Cây khế ngày xưa còn đó, và nó có thể nằm dưới
hình thức một cây táo hay cây mận. Tại sao lại phải cái
thời gian đó, cái địa phương đó, cái cây tên đó thì nó
mới thuộc về thiên đường của mình? Ta đã thực sự đánh
mất cái thiên đường của ta hay chưa? Tại sao các Sư Chú,
Sư Cô, Sư Anh, Sư Chị không phát giác ra được cái thiên
đường của mình, mà cứ đi tìm hoài?
Quê
hương là đường đi học,
Con
về đuổi bướm vàng bay
Những
hình ảnh ấy đã mất hay chưa? Những con đường thiền hành
ở xóm Thượng, những con đường thiền hành ở xóm Hạ,
những con bướm, những hạt sỏi, những lối rẽ đi quanh
có bóng mát trưa hè ... những cái ấy có hay không?
Tại
sao ta phải ước mơ, phải hoài vọng về một thiên đường
trong quá khứ? Tại sao chúng ta không có khả năng thấy được
rằng con đường đi học vẫn còn có mặt ngay trong giờ phút
hiện tại? Nếu biết an trú trong hiện tại, biết nắm lấy
hơi thở, thì ta có thể trở về ngay với quê hương của
ta. Tại sao trong khi thầy trò đi thiền hành với nhau ta lại
không cảm thấy được cái hạnh phúc cực kỳ mà ta đã có
trong khi đi học trên những con đường quê hương? Ta phải
có khả năng dừng lại trong giây phút hiện tại để khám
phá ra cái sự thật đơn giản là quê hương của ta vẫn còn
đó, quê hương đích thực của ta vẫn còn đó. Quê hương
đích thực không phải và không thể nào chỉ nằm trong quá
khứ! Quê hương đích thực cũng không thể chỉ nằm trong
tương lai! Nếu đã là một quê hương đích thực thì nó phải
có ngay trong hiện tại, nó phải có ngay bây giờ và ở đây.
Cái
gì cấm ta, không cho ta trở về quê hương, trở về với thế
giới của hạnh phúc, với thiên đường của ta? Cái gì bắt
chúng ta phải than phiền rằng "thiên đường của ta đã mất"?
Cái gì bắt ta phải đi tìm kiếm một thiên đường khác?
Cái đó là dục tưởng, là ý niệm về hạnh phúc. Quê hương
đích thực đã mất đâu? Thầy Samiddhi hiên đang có mặt bên
cạnh chúng ta. Con sông mà thầy Samiddhi tắm, con đường mà
thầy Samiddhi đi thiền hành cũng vẫn đang có mặt. Bụt cũng
đang có mặt ở bên cạnh chúng ta. Sở dĩ ta chỉ than khóc,
chỉ hoài niệm là tại ta đang kẹt vào một ý niệm về hạnh
phúc xa vời. Nếu có khả năng buông bỏ cái ý niệm đó về
hạnh phúc thì ta có thể trở về an trú trong hiện tại, và
bắt đầu khám phá ra được tất cả những yêu tố và điều
kiện của hạnh phúc đang nằm ngay bây giờ và ở đây. Ngày
xưa sở dĩ ta chơi được với một hòn sỏi, với một con
bướm, với một giòng suối là vì ta không kẹt về tương
lai, không tiếc nuối quá khứ. Sở dĩ ngày xưa ngồi trên
bãi cát, ta say mê chơi với cát, tạo ra một lâu đài bằng
cát, đem hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để
vui chơi, không kể đến hết tất cả tâm tư và thân thể
của mình để vui chơi, không kể đến mặt trời đã lặn,
không kể đến giờ cơm chiều đã qua, là tại sao? Tại vì
lúc đó ta có khả năng an trú trong hiện tại và giờ đây
ta đã đánh mất cái khả năng đó. Lỗi tại ai nếu không
phải là lỗi của ý niệm về hạnh phúc mà ta đã đưa vào
trong đầu của ta?
Vì
vậy tưởng là những đối tượng quán chiếu quan trọng.
Ta phải chiếu ánh sáng vào dục tưởng, phá cho nó tan tành
để ta có thể thực hiện sự trở về với quê hương đích
thực. Trở về được thì có hạnh phúc ngay trong giờ phút
hiện tại.
"Quê
hương là chùm khế ngọt", chùm khế còn đó nhưng bây giờ
nó có thể gọi là chùm mận; "Quê hương là đường đi học",
đường đi học còn đó mà bây giờ nó có thể được gọi
là đường thiền hành. Không phải chỉ nằm ở tỉnh đó,
trong xã đó nó mới là đường đi học. Nó có thể ở xóm
Thượng hay xóm Hạ. Quê hương là một cơn mưa và trong cơn
mưa đó, ta xúm xít lại ăn bắp rang với nhau. Những cái đó
là những cái vẫn còn cho ta tiếp xúc. Ta đã mất thiên đường
hay chưa? Quê hương của ta đã mất hay chưa? Hạnh phúc của
ta có thể có được hay không? Có thể có hạnh phúc ngoài
năm thứ dục lạc hay không? Đó là những câu hỏi rất căn
bản và cấp thiết. Và câu trả lời là câu trả lời của
Bụt: Hạnh phúc ấy đang có mặt, và hạnh phúc ấy rất lớn.
Để
tiếp nhận được hạnh phúc này ta cần thực tập, và trong
khi thực tập ta có anh, có chị, có em, có bạn cùng thực
tập với ta. Nếu mọi người đều cùng thực tập, thì sẽ
trở thành rất dễ dàng và ta dễ có hạnh phúc.