CHƯƠNG
3 (tt)
3.3
Pháp Thoại Ngày 11 tháng 9 năm 94
Thưa
đại chúng, hôm nay là ngày 11 tháng 9 năm 1994, chúng ta đang
ở xóm Hạ, trong khóa tu mùa Thu, và học tiếp Kinh Samiddhi.
THẦN
CHÚ ĐỂ DIỆT TRỪ TRI GIÁC SAI LẦM
Tuần
tồi chúng ta đã đọc tới bài kệ thứ hai:
Biết
bản chất của dục,
Sẽ
không sinh dục tâm,
Dục
không, dục tưởng không,
Không
ai xúi được mình,
Nguyên
văn trong Biệt Dịch Tạp A Hàm là:
Nhược
thức ư danh sắc
Bản
không vô hữu tính
Thị
danh tôn kính Phật
Vĩnh
ly ư chư thú.
Tôi
dịch là:
Thấy
chân tướng ái dục
Tâm
ái dục không sinh
Tâm
ái dục không sinh
Ai
cám dỗ được mình.
Nếu
mình biết được bản chất của điều mình gọi là hạnh
phúc, thì mình sẽ không bị níu kéo bởi ý niệm sai lầm
về hạnh phúc. Khi đã biết được tính cách sai lầm, cái
không tưởng của ý niệm ấy thì mình sẽ không bị kẹt
vào trong ý niệm ấy nữa, nhờ vậy mà không một người
nào, một vị thiên gia nào có thể xúi biểu hoặc lay chuyển
được mình, tại mình đang an trú trong thực tại của vạn
pháp.
Nguyên
văn chữ Hán trong Biệt Dịch Tạp A Hàm, Nhược thức ư danh
sắc, nghĩa là nếu chúng ta biết rõ cái bản chất, có được
một nhận thức thật chính xác về danh (tức là những hiện
tượng về tinh thần), và sắc (những hiện tượng thuộc
về vật chất).
Bản
không vô hữu tính, nghĩa là bản tính của chúng ta là vô
hữu. Chữ "không" ở đây có nghĩa là không phải như vậy,
không phải như mình tưởng. Chữ không này đã có từ lâu.
Trong Áo Nghĩa Thư (Upanisad) nó có nghĩa là không phải như
vậy, không phải như vậy, (Neti, neti). Ví dụ mình có một
ý niệm về hạnh phúc và mình cho ý niệm đó là chính xác,
là đích thực. Người có trí tuệ nhìn vào thì thấy điều
đó không phải là hạnh phúc chân thật nên bảo rằng đó
không phải là hạnh phúc đâu, không phải đâu. Chữ Sunyata
còn có nghĩa là "không" của Bát Nhã. Tuy nhiều nghĩa, nhưng
một trong những nghĩa căn bản là neti, neti, "không phải như
vậy, không phải như vậy".
Thông
thường ta có những nhận thức và những tri giác (perception)
mà ta cứ tin chắc là thật. Ví dụ khi đi trong chạng vạng
tối, thấy con rắn, ta la hoảng lên. Người có trí tuệ nói:
"Không phải đâu, cái đó không phải là con rắn đâu, cái
đó chỉ là một sợi dây thừng vắt ngang đường thôi". Nhận
thức này gọi là nhận thức sai lầm, danh từ chuyên môn là
vọng tưởng.
Trong
đời sống hàng ngày, phần lớn nhận thức của ta đêu sai
lầm. Tất cả những khổ đau mà ta chịu đựng đều phát
xuất từ nhận thức sai lầm của ta. Cho nên phương pháp tu
là mỗi khi thấy, nghe và nhận thức điều gì, ta đừng vội
quả quyết đó là sự thật. Trong ta có rất nhiều chất liệu
mê mờ, cho nên phải cẩn thận lắm mới được. Tôi thường
cho các thiền sinh một câu thần chú để bảo vệ thân tâm:
mỗi khi có một nhận thức làm cho trong người thấy bực
bội thì phải đọc câu thần chú:
- Are
you sure? (Mình có chắc là như vậy hay không?)
Are
you sure? Là một câu nói rất thường đời sống hàng ngày,
nhưng nếu động tới, ta có thể biến nó thành một câu thần
chú rất thâm diệu. Pháp Phật tức là Pháp thế gian là như
vậy. Biết cách thì tất cả các pháp thế gian có thể biến
thành Phật Pháp. Chuyện Chàng Trương là một ví dụ. Chàng
Trương là một người đi quân đội. Khi ra đi thì con chưa
sinh, khi được giải ngũ về thì con đã biết nói bập bẹ.
Tropng khi cô vợ đi chợ để mua thức ăn về nấu mâm cơm
cúng tạ, chàng Trương chơi với con và nói: "Con, con gọi ba
là ba đi con". Đứa bé không chịu, nó nói "Ông không phải
là Ba của tôi, ba tôi ban đêm mới về. Mẹ nói chuyện với
ba nhiều lắm và mẹ thường khóc với ba. Mỗi khi mẹ ngồi
thì ba ngồi xuống, mỗi khi mẹ nằm thì ba cũng nằm theo".
Đứa
bé nói sự thật, Mỗi lúc đêm về, người thiếu phụ thường
nhớ chồng. Thắp đèn lên, nhìn bóng mình trên tường, nàng
dạy con "Ba con đây, Ba con đêm nào cũng về thăm con đó".
Cố nhiên là bóng làm theo hình. Mình ngồi xuống thì bóng
ngồi xuống, mình đứng dậy thì bóng đứng dậy, mình nằm
thì bóng nằm xuống theo. Đứa bé chỉ nói sự thật, nhưng
chàng Trương có tri giác sai lầm, nhận lầm sợi dây là con
rắn, cho nên niềm đau khổ trào dâng và không thấy được
sự thật nữa. Bao nhiêu hạnh phúc khi về được gặp lại
vợ con đột nhiên tan biến hết. Bây giờ chỉ còn thuần
đau khổ! Tất cả đều vì một tri giác sai lầm, Nếu lúc
đó chàng gặp một vị thánh nhân hoặc một vị thầy nói
"Neti, neti" thì chàng Trương mới có cơ hội thoát khỏi cái
thế giới khổ đau của mình. Nhưng vì không có ai giúp đỡ
khai thị nên từ lúc đó chàng ta không nói năng gì nữa hết.
Niềm đau và nỗi khổ lớn lao quá, chàng không còn muốn nói
nữa.
Từ
lúc người vợ đi chợ về, chàng lạnh lùng, tự nhiên biến
thành một tảng băng. Người vợ đi nấu cỗ cúng, chàng không
nói với vợ một lời nào. Đến khi dọn cơm lên cúng, dâng
hương, khấn vái và lạy xong, chàng lui ra, cuốn chiếu lại
không cho vợ lạy. Anh tin chắc vợ mình là một người đàn
bà ngoại tình, không xứng đáng được lạy trước ông bà.
Vợ chàng Trương không hiểu tại sao từ khi đi chợ về tình
trạng đã biến đổi một cách đột ngột như vậy, nàng
thầm lặng đau khổ.
Chàng
Trương lạnh lùng với vợ như vậy trong ba ngày ba đêm, người
vợ chịu không nổi nên đâm đầu xuống sông tự tử. Lúc
đó nếu có ai hỏi tại sao anh quá tin tri giác của anh, thì
chàng Trương sẽ trả lời: "Trẻ con nói làm sao mà nghi ngờ
được?" Trẻ con thường nói sự thật, tuy vậy mình đã nghe
và hiểu một cách khác, từ sợi giây mà mình có một con
rắn. Nếu chàng Trương biết sử dụng cái câu thần chú "are
you sure?" thì chàng đã có cơ hội thoát khỏi cái địa ngục
kia rồi. Nếu mình không chắc thì mình phải hỏi lại vợ:
"Em, tại sao con nó nói rằng tối nào cũng một người đàn
ông tới và em thường nói chuyện với ông ta, em còn bảo
con gọi người đàn ông đó là ba, và tại sao khi em đứng
dậy thì người đó cũng đứng dậy, khi em nằm xuống, người
đàn ông đó cũng nằm xuống?" Nếu chàng Trương hỏi được
câu đó thì sự thực sẽ bung ra và bao nhiêu nỗi đau khổ
của chàng sẽ tan biến, nhưng chàng đã không hỏi được
câu đó, tại chàng đã quá tin ở tri giác của mình.
Trong
đời sống hàng ngày, sở dĩ chúng ta làm khổ nhau, để rồi
tự làm khổ mình là tại chúng ta không biết sử dụng câu
thần chú "Are you sure" Mình có chắc đó là sự thật không?
Là người con Bụt, tin ở giáo pháp của Bụt và thực hành
theo giáo pháp đó thì mỗi khi nghe một điều gì, thấy một
cái gì, học nghĩ đến một việc gì, ta phải lập tức kiểm
soát lại, soi chiếu lại, tại vì có thể cái mà ta nhận
thức là một tri giác sai lầm. Nếu không, ta sẽ làm nô lệ,
sẽ là nạn nhân của ý niệm đó.
Ở
đây Bụt muốn nói tới cái ý niệm về hạnh phúc, về cái
dục mà chúng ta gọi là hạnh phúc. Nếu thấy được cái
bản chất của danh, sắc (tức là của sắc, thọ, tưởng,
hành, thức) và thấy được chúng không phải như ta tưởng,
chúng không phải như vậy (Không ở đây có nghĩa là vô hữu),
thì:
Thị
danh tôn kính Phật, nghĩa là chúng ta biết đi trên con đường
của Bụt đi, biết tôn kính Bụt, không đi theo con đường
ma, và:
Vĩnh
ly ư chư thú, nghĩa là sẽ vĩnh viễn xa lìa được những
nẻo đường tăm tối (thú ở đây có nghĩa là những nẻo
đường tăm tối). Ngũ thú dục lục đạo là sáu nẻo tăm
tối (Thiên, Nhân, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh).
Chữ thú ở đây còn có nghĩa là nẻo về, những nẻo về
tăm tối mà ta sẽ xa lìa vĩnh viễn nếu ta có thực tập quán
chiếu về danh sắc và thấy được bản chất của những
tri giác của ta. Hạnh phúc cũng vậy. Bóng dáng của hạnh
phúc đã làm bao nhiêu người lạc đường, rơi xuống địa
ngục, rơi xuống chỗ tận cùng của khổ đau. Bóng dáng của
hạnh phúc không phải là hạnh phúc chân thật, ta phải luôn
luôn tâm niệm điều đó.
CÁI
TƯỞNG TẠO NÊN BÓNG DÁNG CỦA HẠNH PHÚC
Kinh
Samiddhi là Kinh dạy về niềm hạnh phúc chân thật mà ta có
thể kiểm soát được, có thể thừa hưởng được. Người
Việt có câu ca dao:
Tóc
mai sợi ngắn sợi dài,
Lấy
nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.
Nếu
lấy nhau được thì ta sẽ không thương nhau đến ngàn năm,
đôi khi chỉ thương được có một năm thôi. Chính vì không
lấy nhau được nên ta mới thương một ngàn năm! Thương như
vậy là thương cái ý niệm về người kia, thương cái hình
bóng đẹp mà ta đã tạo ra từ người kia. Còn nếu lấy người
kia thì ta bắt buộc phải sống với cái thực tại của người
kia. Mà sống với thực tại thì cố nhiên là ý niệm mơ hồ
và đẹp tuyệt vời về người kia sẽ dần dần tan biến.
Câu ca dao đó là một câu ca dao chỉ nói về chuyện tình mà
thôi. Cố nhiên khi một người thương một người khác thì
bóng dáng của người con trai hay của người con gái kia là
bóng dáng tuyệt vời mà ta mơ mộng. Một sợi tóc mai đủ
để cột ý chí của một đấng anh hùng. Ngưòi Việt hay dùng
tiếng kép tóc tơ. Tơ là những sợi rất mỏng, nhưng cột
thì rất chắc.
Có
một ông gọi là ông Tơ. Ông này chuyên đi cột người ta
và làm người ta khổ suốt đời. Khi cạo đầu đi tu, trên
hình thức ta không còn tóc để trói, nhưng sự thực, trên
nội dung ta phải không có tơ nữa mới được. Tất cả những
sợi tơ lòng kia phải cắt hết thì ta mới có tự do, mới
có hạnh phúc, vì hạnh phúc không có thể có được nếu
không có tự do.
Chúng
ta thấy trong Áo Nghĩa Thư, chữ Neti thường được lặp lại
hai lần: Neti, Neti, nghĩa là không phải, không phải, tại vì
nói một lần chưa chắc người ta đã thấm.
Hình
ảnh tuyệt vời của người yêu "tóc mai sợi vắn sợi dài"
là một cái tưởng, mọi tri giác. Mình yêu là yêu cái bóng
dáng đó, cái ý niệm đó, cái tri giác đó chứ không phải
là yêu cái thực tại của con người kia. Giữa ý niệm về
người yêu và cái thực tại của người yêu, có thể có
sự xa cách một trời một vực, Vì vậy nếu muốn giữa lại
cái hình ảnh đẹp tuyệt vời đó, tốt hơn là đừng cưới.
Nếu cưới thì có thể trong vòng nửa năm hay một năm hình
ảnh đó sẽ tan vỡ và mình sẽ phải va chạm với thực tế.
Những người không biết tu có thể làm tan vỡ hạnh phúc
của họ rất mau chóng, dầu buổi ban đầu rất đẹp. Đẹp
vì hình ảnh lý tưởng của người yêu tan vỡ. Nếu không
tu, đến khi hình ảnh lý tưởng đó tan vỡ rồi, chỉ còn
lại đau khổ mà thôi. Không tu thì không biết cách xây dựng
cho mình và cho người ấy.
Tạp
chí Pháp có đăng một chuyện hài hước như sau: "Sau đám
cưới của một cặp vợ chồng trẻ, sáu tháng đầu chàng
nói và nàng nghe. Sáu tháng sau nàng nói và chàng nghe. Sáu năm
sau thì chàng và nàng cùng nói, và lần này thì hàng xóm nghe!"
Nói mà nói lớn đến độ hàng xóm nghe tức là hai người
đang cãi lộn và làm khổ nhau. Lúc đó thì chân tướng của
cả chàng lẫn nàng đều hiện ra, và cái hình ảnh đẹp tuyệt
vời của "tóc mài sợi ngắn sợi dài" đã tan biến. Đó là
trường hợp của những người không biết tu.
Với
người biết tu, khi cái hình ảnh lý tưởng tan vỡ, ta biết
cách để làm cho nó chuyển hóa, vì nếu hình ảnh tuyệt đẹp
của người kia tan biến nơi ta thì hình ảnh tuyệt đẹp của
ta cũng tan biến nơi tâm của người kia. Vậy cho nên năm đầu
của hôn nhân là năm học tập cải tạo. Chúng ta biết được
sự thật, chung sống 24 giờ đồng hồ và bắt đầu thấy
được sự thật, thực tại không còn những cái tưởng nữa.
Chàng
Trương sở dĩ đau khổ cùng cực như vậy là vì chàng quá
tin ở tri giác của mình. Nhưng cũng vì trong con người chàng
còn có những yếu đuối khác, như tự hào và tự ái. Người
kia là vợ mình, người kia là người thân yêu nhất trong đời
mình, vậy mà mình đã để cho tự ái chen vào giữa mình và
người kia để gây thành ngăn cách. Tại sao chàng Trương không
hỏi ngay người vợ về điều đang làm cho mình đau khổ?
Trong tình thương chân thật không có chỗ đứng cho sự tự
ái. Nếu tự ái có mặt thì tình chưa phải là chân tình,
chưa phải là "true love". Điều này không những đúng trong
trường hợp vợ chồng, mà còn đúng trong trường hợp bạn
bè. Nếu bạn bè thương nhau chân thật thì đừng để cho
lòng tự ái chia rẽ. Có những đau khổ nào, mình nói cho người
kia biết, đừng vì tự ái mà nín thinh. Chàng Trưong vì tự
ái nên trở thành một tảng băng sơn, không có khả năng tới
với vợ để chia xẻ cái đau khổ của mình. Phải nói cho
người mình thương những khổ đau của mình, và người ấy
cũng cần nói những đau khổ của người đó cho mình nghe.
Tình thương là ở chỗ mình phải có mặt trong khi người
kia đau khổ. Cái đó mới gọi là Bi (Karuna). Khi người kia
đau khổ mà mình có mặt một bên, mình nói: "Anh ơi, em biết
anh dang đau khổ nên em đang có mặt với anh đây", "I know you
are suffering, therefore I am here for you". Đôi khi không cần nói
lên mà câu đó vẫn có thể được nghe, được thấy, được
chấp nhận khi mình thực sự có mặt. Cách mình ngồi, cách
mình nhìn cũng đủ chứng tỏ cho người kia biết rằng mình
đang có mặt với họ, đang có mặt cho họ vì họ đang đau
khổ, nhờ vậy tự nhiên họ bớt khổ. Đó là tình thương
đích thực.
Có
nhiều khi đau khổ của ta là do người ta thương tạo ra, hoặc
ta nghĩ do người ta thương tạo ra! Khi mình nghĩ rằng chính
người mình thương đã làm cho mình có thương tích trong lòng,
mình lại có khuynh hướng lạnh lùng, không nhìn người đó,
không nói với người đó và lánh trốn người đó. Đó là
sự dại dột lớn. Theo nguyên tắc thương yêu mà chúng ta
học được trong đạo Bụt, khi nghĩ rằng nỗi khổ của ta
là do chính người mà ta thương gây ra, ta phải tới với người
đó và nói rằng "Chị ơi em khổ quá, chị giúp em với, em
cần chị". Dầu người kia đã tạo ra cái khổ cho mình, khi
mình nói câu đó, người kia sẽ không thể nào mà không có
mặt cho được. Khi có mặt, người đó sẽ hỏi "Em có thể
nói cho chị nghe được không?". Lúc đó mình có thể nói "Hôm
qua cách nói của chị làm em khổ lắm. Em không biết làm sao
cho nên phải tới hỏi lại".
Khi
mình làm được như vậy thì niềm đau nỗi khổ của mình
không còn kéo dài và hạnh phúc có thể trở về một cách
rất mau chóng. Chúng ta đừng bắt chước chàng Trương, cũng
đừng bắt chước thiếu phụ Nam Xương. Đáng lý nàng nên
tới với chàng và hỏi:"Anh ơi, tại sao ba ngày ba đêm nay
anh thèm nhìn mặt em? Tại sao anh không nói với em lời nào
hết? Em đã làm những gì để anh đối xử với em như vậy?"
Nếu nàng hỏi được một câu như vậy thì chàng sẽ nói:
"Tại sao? tại vì ..., tại vì ...". Khi đó vợ chàng Trường
sẽ có cơ hội minh oan và nhờ đó mà hai người sẽ tìm lại
được hạnh phúc sau bao năm xa cách.
Những
bi kịch xảy ra hàng ngày, lớn hay không lớn bằng bi kịch
của chàng Trương, đều do chúng ta quá tin chắc ở tri giác
của mình. Nó làm khổ bản thân ta và làm khổ người ta thương.
Người ta thương có thể là thầy ta, có thể là học trò
ta, có thể là sư anh, sư chị, sư em ta, hoặc người bạn
tu của ta. Ta đừng để cho bi kịch ấy xảy ra trong đời
sống hàng ngày. Thầy đã trao truyền truyền cho ta những tám
kính để chiếu soi. Đó là "Are You Sure?". Đó là "Anh có chắc
như vậy không?". Đó là "Neti, Neti". Nếu biết rằng "Sunyata",
"Neti, Neti", "Are you sure", là những tấm kính chiếu soi có thể
giúp ta thoát khổ đau, vưọt thoát tri giác sai lầm, thì ngày
đêm ta phải mang những tấm kinh đó theo, phải sử dụng chúng
để soi chiếu, để nhận ra cái tính chất sai lầm của nhận
thức. Được như vậy ta sẽ có an ninh, ta sẽ không tạo ra
những bi kịch trong và quanh ta. Nếu có đọc cuốn Cửa tùng
đôi cánh ngài, quí vị chắc còn nhớ câu chuyện của một
chàng tráng sĩ. Trước khi người tráng sĩ xuống núi, thầy
đã trao cho một cái kính. Nhưng người tráng sĩ chỉ dùng
kính trong mấy tháng đầu, sau đó thì không dùng nữa. Vì
vậy sáu năm sau, người tráng sĩ trở thành một ác ma mà
cứ tưởng mình là người tráng sĩ cần thiết cho cuộc đời.
Cho đến khi về tới núi, người sư đệ hỏi "Cái kính thầy
cho anh đâu?, tráng sĩ đưa kính ra soi, mới nhận ra rằng mình
không còn là người tráng sĩ của cuộc đời nữa mà là một
con ác quỷ. Do đó cho nên kính của Bụt trao, mình phải lau
chùi hàng ngày để soi sáng tất cả mọi tâm ý của mình,
mỗi nhận thức, mỗi cảm giác của mình. Nếu biết soi chiếu,
mình sẽ mỉm cười với nhận thức mình, nhờ đó mình sẽ
có tự do và giải thoát.
Khi
một người bạn tới than thở với mình là người ấy đang
đau khổ, đang buồn phiền vì người này nói câu này, vì
người kia nói điều nọ, mình phải ngồi yên và lắng nghe
với tất cả chánh niệm của mình. Nếu lỡ bạn mình quên
câu thần chú thì mình phải nhắc "Chị có chắc như vậy
không? Chị có chắc là người đó đã nói như vậy hay làm
như vậy không? Có thể nhận thức của mình sai lầm, mình
đến để hỏi lại". Tuyệt đối đừng thêm dầu vào lửa.
Bổn phận của mình là phải lắng nghe. Sau khi lắng nghe, phải
tìm cách giúp người kia nhớ lại những câu thần chú. Nếu
chị khổ như vậy tại sao chị không tới với người kia
để hỏi lại? Nếu chị không muốn đi một mình, em sẽ đi
với chị. Đây là những điều thực dụng mà mình phải áp
dụng trong đời sống hàng ngày, vì đó là hạnh phúc của
bản thân mà cũng là hạnh phúc của người mình thương và
hạnh phúc của cả đại chúng.
Nói
tóm lại, ta có thể hiểu của bài kệ này như sau: "Nếu có
được nhận thức chính xác đối với danh, với sắc, và
thấy được tính cách sai lạc, tính cách không có thật của
chúng, thì ta được gọi là những người biết đi theo con
đường của Bụt dạy, vĩnh viễn xa lìa được những nẻo
về tối tăm".
QUÁN
CHIẾU VỀ VÔ NGÃ SẼ DIỆT ĐƯỢC BA MẶC CẢM
Sau
khi Bụt đọc bài kệ đó cho vị thiên giả nghe (và cũng để
cho thầy Samiddhi cùng nhiều thầy khác và các vị thiên giả
có mặt trong hội chúng cùng nghe) thì Bụt hỏi: "Con có hiểu
bài kệ ấy hay không? nếu không hiểu thì cứ nói". Nếu không
hiểu thì cứ nói, đừng sợ bị chê rằng mình chậm hiểu,
mình không có trí tuệ. Vị thiên nữ thật tình bạch Bụt:
"Con chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con chưa hiểu, bạch Đức
Thiện Thệ". Bụt lại đọc cho vị Thiên giả một bài kệ
khác:
Mặc
cảm thua, hơn, bằng,
Tạo
thành mọi tranh luận,
Ba
mặc cảm dứt rồi,
Tâm
không còn khuynh động.
Một
bản dịch khác:
Mặc
cảm hơn, kém, bằng,
Tạo
ra nhiều rối rắm,
Ba
mạn đã vượt rồi,
Tâm
không còn khuynh động.
Ngôn
luận là chữ dùng trong Kinh Tạp A Hàm, nhưng Biệt Dịch Tạp
A Hàm lại dùng chữ tranh luận. Tranh luận có nghĩa là so sánh
hơn thua. Vì vậy chữ tranh luận hay hơn. Bản chữ Hán của
bài kệ là:
Kiến
đẳng, thắng, liệt giả,
Tắc
hữu ngôn luận sinh,
Tam
sự bất khuynh động,
Tắc
vô nhuyễn trung thượng.
Đẳng
tức là bằng nhau, thắng là hơn, và liệt là thua. Cả ba cái
đều là mặc cảm cả. Cả ba đều là những "complexes" mà
người tu phải vượt qua. Người ta không được nói mình
hơn người, mình thua người, hoặc mình bằng người. Chẳng
những không được nói, mà còn không được nghĩ và không
được hành xử theo. Người tu phải quán chiếu vô ngã, nghĩa
là phải thấy mình là người đó, và người đó là mình,
mình có mặt trong người đó, người đó có mặt trong mình.
Chúng ta là một. Thành ra dưới ý niệm về tâm mạn, có ý
niệm về ngã. Nếu quán chiếu về ngã thành công thì ba cái
mạn tức là ba cái mặc cảm đó sẽ tan tành. Giáo lý này
sâu sắc lắm, chúng ta không thể đọc qua mà hiểu ngay được.
Nó có liên hệ mật thiết với đời sống hàng ngày của
chúng ta nên rất hữu dụng. Luận Đại Tỳ Ba Sa có nói tới
bảy thứ mạn, chúng ta sẽ học sau.
Mạn
là Màna. Cả ba mặc cảm hơn, thua, bằng đều sai lầm vì
chúng được tạo nên bằng một kiến chấp sai lầm. Cái thấy
sai lầm ấy gọi là ngã chấp. Chữ ngã mạn mà chúng ta thường
dùng không có nghĩa là mình hơn người khác. Theo đúng nghĩa
của nó thì ngã mạn là bị kẹt vào cái ý niệm về ngã.
Vì bị kẹt vào cái ý niệm về ngã cho nên ta mới thấy mình
hơn, bằng hoặc thua người kia. Cả ba đều xấu hết, vì
mặc cảm tự ti cũng có hại như mặc cảm tự tôn. Cái mặc
cảm bằng người cũng có hại, vì trong ý niệm bằng người
vẫn còn có sự so sánh, vẫn còn có sự tự hào. Ví dụ mình
nói rằng "Anh nói tiếng Anh được thì tôi cũng nói tiếng
Anh được", đó là mạn. Như vậy cái "bằng" cũng được
làm bằng chất mạn. Nếu không có mặc cảm hơn thua, bằng
thì mình là người giải thoát. Vấn đề không phải là có
bằng cấp hay không, biết tiếng Anh hay không, có học xong
trường Cao Cấp Phật Học hay không. Vấn đề là mình có
ngã chấp hay không? Hạnh phúc là ở chỗ đó. Tất cả giáo
lý nguy nga của Đạo Bụt đều được xây dựng trên một
giáo lý cơ bản gọi là Vô Ngã, tức là thực tại không có
một cái ta riêng biệt. Chúng ta cùng chia xẻ sự sống. Sự
sống đó không thể được cắt xén thành ra những vùng riêng
biệt. Vì vậy mỗi khi người kia nói một câu làm cho mình
buồn, làm một điều khiến mình bực, đó là một cơ hội
để ta thực tập vô ngã. Chính nhờ những dịp như vậy ta
mới có thể tiến bộ trên con đường tu tập. Nếu chung quanh
chúng ta đều là những vị Bồ Tát thì chúng ta sẽ không
thể nào tu được. Cứ tưởng tượng quanh quí vị toàn là
Bụt và Bồ Tát, người nào cũng toàn mỹ, chắc quí vị sống
không nổi! Vì vậy đừng đi tìm một tăng thân toàn là thánh
Tăng! Phải có người có yếu kém về mặt này, mặt kia, mình
mới có dịp so sánh và học hỏi được. Vì vậy tăng thân
của chúng ta không cần phải là một tăng thân tuyệt hảo,
những yếu kém của tăng thân là những chất lượng rất
cần thiết cho việc tu tập của ta. Trong ta có những yếu
kém, và trong các phần tử khác của tăng thân cũng có những
yếu kém. Nhưng ta cũng như tất cả những phần tử khác đều
có cái nguyện là sẽ đi trên con đường chuyển hóa, vì vậy
mà chúng ta có cái chất thánh của một trong ba viên ngọc
quý: tăng bảo. Một tăng thân trong đó còn có phiền não,
lỗi lầm, khuyết điểm thì vẫn là một viên ngọc quý như
thường. Ta chấp nhận những yếu kém của bản thân và chấp
nhận những yếu kém của những phần tử khác trong tăng thân,
đó là chuyện phải làm. Cùng nhau tu học là cùng đi trên
một con đường và giúp đỡ lẫn nhau chuyển hóa những yếu
kém. Vì vậy khi người kia nói một câu hay làm một việc
gì có tính cách phát xuất từ sự vô ý, sự vụng về hay
là sự giận hờn, ta phải biết đó là một cơ hội bằng
vàng để ta thực tập. Còn nếu người kia không bao giờ nói
một câu không dễ thương, không bao giờ làm một điều gì
không dễ thương, thì chúng ta đâu có cơ hội để tu? Quanh
ta, nếu tất cả đều là toàn mỹ thì ta tu sao được?
NƯƠNG
TỰA HẢI ĐẢO TỰ THÂN
Một
hôm có một sư cô trẻ lên than thơ với thầy: "Bạch thầy,
tại sao ngồi nói chuyện với sư chị mà con cảm thấy không
có an ninh? Trước đây con không thấy như vậy, con đã thấy
sư chị rất dễ thương, có thể tin cậy được, có thể
hướng dẫn cho con được. Nhưng có một lúc, tự nhiên con
thấy sư chị không còn là sư chị nữa, và ngồi nói chuyện
với sư chị, con cảm thấy không còn an ninh nữa!" Đến than
thở với Thầy như vậy là đúng vì có tuệ giác, Thầy có
thể soi sáng cho mình. Thật ra hồi còn nhỏ sư cô ấy đã
sống trong một khung cảnh phập phồng, sợ hãi, không có an
ninh. Ngưòi lớn thường thay đổi bất ngờ, và đôi khi giông
bão tới một cách rất đột ngột, không biết làm thế nào
mà đoán trước được. Có những trẻ em khác sống trong những
hoàn cảnh tệ hại hơn nhiều, bị người lớn lạm dụng,
bị người lớn áp bức hơn nhiều. Vì vậy cho nên khi nhìn
chung quanh, chúng có cảm tưởng không có an ninh, thấy người
nào cũng có cảm giác người đó sắp lợi dụng mình, sắp
vi phạm quyền làm người của mình, sống như một con chim
đã từng bị trúng tên, luôn luôn sợ hãi, thấy cái gì cũng
là mối đe dọa cho chính mình.
Khi
không có an ninh, mình hay tìm cách tự vệ trước. Mình dựng
lên một bức thành để che đỡ cho mình bốn phía. Khi dựng
lên bức thành như vậy, mình tạo ra sự ngăn cách giữa mình
và người khác, đồng thời làm cho người khác khổ đau.
Mình nói một câu không phải để làm khổ người kia, mà
nói để tự vệ, và trong khi nói mình tạo ra những bức tường
để bao quanh mình thì tự mình biệt lập, và tạo những khổ
đau cho những người chung quanh. Sư cô trẻ này không đến
nỗi như vậy. Cái khổ đau của sư cô nhỏ bé hơn nhiều.
Hỏi
thăm, Thầy tìm ra đầu đuôi câu chuyện: Sư chị cũng như
mình, cũng như bất cứ người nào, đã có những giai đoạn
khó khăn trong đời sống. Khi gặp một trường hợp khó khăn,
khi bị người này trách móc, người kia la rầy, sư chị cũng
có phản ứng muốn tự vệ, và sư chị cũng đã dựng lên
một bức thành để bao bọc lấy sư chị. Đó là khuynh hướng
của tất cả chúng ta, khi có cảm sắp bị tấn công, chúng
ta đứng về phía tự vệ, nói theo tiếng Pháp là "à la défense!".
Người kia chưa nói, chưa làm gì hết, mình đã tự vệ rồi.
Ví dụ thầy mời lên ăn sáng để mình có dịp ngồi chơi
với thầy thôi, nhưng mà mình sợ: "Chết rồi, chết rồi,
lên đó chắc thế nào cũng bị cạo gió, không biết đường
nào xoay sở!". Đôi khi thầy nhớ mình, muốn mình lên ăn sáng
với thầy cho vui thôi, nhưng mình lại sợ, vì mình không có
cảm giác an ninh. Bạn mình cũng vậy, mới nghe "Chiều này
chị muốn gặp em để bàn chuyện này một chút", mình đã
sợ run, nghĩ rằng chắc là có chuyện gì đây. Cái khuynh hướng
muốn tự vệ phát sinh làm mình khổ, và cũng làm người kia
khổ, nhưng biết làm sao? Trong quá khứ mình đã từng đau
khổ, nên bây giờ mình có khuynh hướng xây lên những bức
thành tự vệ. Tuy biết rất rõ hành động như vậy là tự
làm khổ mình và làm khổ những người chung quanh, nhưng cái
đó đã trở thành một tập khí, một thói quen khó chừa.
Vì vậy tu tập là phải nhận diện cho được rằng mình có
cái tập khí đó, có cái thói quen đó, để khi nào cảm thấy
không được an ninh, khi nào mình bắt đầu làm công việc
tự vệ, thì mình phải thở và phải biết mỉm cười để
thấy rằng mình đang "xây thành lũy" nữa đây!
Thầy
đã nói với sư cô trẻ ấy: "Chị của con chắc chắn là
đang khổ, có thể chị của con trong những ngày vừa qua đã
bị người này lên án, người kia trách móc. Chị khổ, cho
nên ngồi nói chuyện với con mà chị đang đứng vào thế
tự vệ, Tại vì có thể chị con sợ con trách chị, lên án
chị, cho nên chị đưa cái giáp sắt ra trước. Con thử nhìn
lại coi có phải như vậy không? Mấy tháng trước đây đâu
có chuyện đó, nhưng trong những ngày vừa qua, có phải là
chị của con bị người này nói, bị người kia nói, chị
con đau khổ và chị con đứng về phương diện tự vệ, con
có thấy điều đó không?. Sư cô trẻ đó nói: "Bạch Thầy
có, con có thấy như vậy". "Thấy như vậy con có thương chị
được không?", "Bạch Thầy, con thương được". Thấy được
thì thương được, hiểu được thì thưong được. Thành ra
ngồi với chị thì con phải nói rằng: "Chị ơi, em sẽ không
trách móc gì chị đâu, chị cứ ngồi thoải mái đi, em chỉ
muốn ngồi nói chuyện chơi với chị mà thôi". Con nói một
câu đó thì tự nhiên bao nhiêu áo giáp của chị sẽ sụp
xuống hết, và như vậy mình giúp chị mình, và mình giúp
chính mình. Thầy còn nhắc cho sư cô trẻ đó phương pháp
Quay về nương tựa. Khi con có cảm tưởng không an ninh thì
đừng đi tìm chỗ nương tựa ngoài con. Bụt đã dạy rằng
chỗ an trú, chỗ nương vững chãi nhất là Tam Bảo ở trong
tự thân".
Quay
về nương tựa,
Hải
đảo tự thân,
Chánh
niệm là Bụt,
Soi
sáng xa gần,
Hơi
thở là Pháp,
Bảo
hộ là thân, tâm,
Năm
uẩn là Tăng,
Phối
hợp tinh cần.
Khi
nương tựa vào cái thành trì kiên cố của Bụt, của Pháp
của Tăng và khi mình đã vững chãi rồi thì mình có thể
giúp được các sư anh, sư chị, và sư em của mình. Cố nhiên
vì mình là học trò, mình có thể nương tựa vào thầy của
mình. Nhưng thầy của mình cũng có thể có những lúc cao,
lúc thấp. Cũng như sư anh hay sư chị của mình, họ cũng có
những lúc cao lúc thấp. Không ai cấm mình nương tựa vào
thầy của mình, vào sư anh, sư chị, và vào tăng thân mình.
Nhưng tất cả những người đó đều có thể có lúc cao,
lúc thấp. Khi thấy thấp, mình đừng hoảng sợ và có cảm
giác mất chỗ nương tựa! Ngược lại, khi thấy như vậy
mình phải thương thêm và tìm cách đem lại sự an ủi, rồi
làm cho tình trạng của người đó và hoàn cảnh đó trở
nên vững chải hơn.
Sư
cô đã nghe lời Thầy, đã thực tập quay về nương tựa nơi
Bụt, nơi Pháp, nơi Tăng và chỉ trong một ngày là có kết
quả. Điều hay nhất là Thầy không phải dạy tới lần thứ
hai, chỉ dạy một lần thôi là cô thực tập được, đã
vượt thắng được, đã đem sự hiểu biết và lòng thương
yêu của mình mà đối đãi với người chị của mình. Tuy
là em nhưng sư cô đã giúp được chị. Chuyện em giúp được
chị, em giúp anh là chuyện xảy ra rất thường. Cũng như chuyện
học trò giúp thầy đã xảy ra nhiều lần.
Khi
thực tập như vậy, mình bắt đầu tiếp xúc được với
tính vô ngã nó nằm ở dưới nền tảng của mọi sự vật
đang có mặt. Vì chị mình là ai? Anh mình là ai? Chị mình
chính là mình! Anh mình chính là mình! Hạnh phúc của chị
mình cũng chính là hạnh phúc của mình, hạnh phúc của mình
cũng chính là hạnh phúc của anh mình. Nỗi đau khổ của em
mình cũng chính là nỗi đau khổ của mình. Trong đời sống
hàng ngày ta thấy điều đó rất rõ. Khi con ngựa đau, cả
tàu ngựa đều không ăn cỏ. Nếu có việc gì xảy đến cho
một người trong tăng thân, thì tất cả mọi người đều
đau khổ, chúng ta đã có kinh nghiệm về chuyện đó.
Có
một năm đang đi dạy ở Bắc Mỹ, tôi nhận một tin rất
dữ. Đó là tin tai nạn xe hơi của anh Hoàng và chị Tịnh
Thủy, và chị Tịnh Thủy bị thương trầm trọng. Lúc đó
tôi đang ở xa, không thể tiếp xúc được với nhà thương,
Tôi không biết chị Tịnh Thủy còn sống hay không? Vì vậy
cho nên đi một đoạn đường dài từ miền nam Cali lên đến
Bắc Cali mà trong lòng cứ ôm ấp hình bóng của người học
trò! Không biết cô học trò đó hiện bây giờ đang còn sống
hay đã chết rồi? Từ lúc đó trở đi có nhiều tin tức khác
nhau. Đến khi về lại Pháp, tôi biết rằng Tịnh Thủy không
đến nỗi nào, cô đã vượt thoát nguy tai, và đã bình phục
sau một thời gian điều trị. Lúc về, tôi nhìn Tịnh Thủy
bằng đôi mắt khác. Tôi cảm tạ đất trời, cảm tạ số
mạng, cảm tạ tất cả. Trái tim tôi tràn đầy sự biết
ơn, Biết ơn ai, biết ơn cái gì thì không rõ lắm, chỉ có
một sự thực rất rõ là mình biết ơn đối với cái sự
kiện là Tịnh Thủy còn sống. Từ đó đến nay, mỗi khi ngồi
gần Tịnh Thủy, tôi thấy rất rõ sự kiện Tịnh Thủy còn
sống là một sự kiện mầu nhiệm. Tịnh Thủy hay bất cứ
người nào trong tăng thân chúng ta cũng vậy, nếu lâm vào
tình trạng hiểm nguy đó, tai nạn đó, thì chúng ta cũng đau
khổ như nhau. Khi ngồi bên cạnh người sư anh, sư chị, sư
em, mình phải thấy sự kiện người đó còn sống và đang
ngồi bên mình là một ân đức, một phép lạ. Chỉ cần nhớ
tới điều ấy thôi thì bao nhiêu nỗi buồn phiền và giận
hờn của mình đối với người đó sẽ tan biến hết. Đó
là cách tiếp xúc với chiều sâu của sự thật. Nếu không
thì chúng ta chỉ có cái thấy cạn cợt trên bề mặt của
sự thật mà thôi.
QUÁN
CHIẾU VỀ TƯƠNG QUAN SẼ DẪN TỚI CÁI THẤY VÔ NGÃ
Cách
đây mấy tuần, một hôm ra vườn ngồi chơi trên bãi cõ,
có một con bọ xít nhỏ xíu bay bám vào áo mà tôi không hay.
Ngồi một lúc, thoáng có ý hay tôi vào phòng và ngồi vào
bàn để ghi lại kẻo sợ quên. Vừa cầm cây bút lên thì
thấy anh chàng bọ xít đang đậu bên vai trái. Tôi có cái
tập khí là không ưa bọ xít vì mùi hôi của nó. Do đó, với
phản ứng tự nhiên, tôi đua tay lên phủi một cái, và con
bọ xít rớt xuống. Lúc đó tập khí mạnh và chánh niệm
tới trễ. Quí vị có nhờ ngày xưa khi chưa đi tu, hễ biết
con muỗi đậu vào má mình thì mình đưa tay đánh một cái
bốp liền. Nhưng nhờ tu học nên chuyện đánh cái bốp cho
con muỗi chết, mình không làm nữa, mình chỉ đuổi cho nó
bay đi thôi. Điều này ta cần thực tập mới làm được.
Từ chỗ đánh cái bốp cho con muỗi chết cho đến chỗ mình
chỉ xua cho nó bay đi, phải cần một thời gian thực tập
tinh chuyên. Tôi cũng vậy. Sau khi phủi con bọ xít rồi, tôi
cúi xuống định ghi lại cái tư tưởng vừa có thì tự nhiên
chánh niệm tới và nó nói: "Trời đất ơi! Con bọ xít nhỏ
xíu mà phủi mạnh như vậy thì làm sao nó sống được. Bọ
xít cần có một môi trường, một khung cảnh mới có thể
sống, bây giờ mình đem nó vào thư viện, nơi chỉ sách, có
nhang và tọa cụ thôi, thì nó ăn gì để sống?". Tôi muốn
đứng dậy đi tìm con bọ xít để đưa nó ra ngoài, nhưng
ý nghĩ thứ hai lại đến: "Sao mình không ghi xong tư tưởng
kia rồi sẽ đi kiếm và đưa nó ra ngoài sau?" Tôi cúi xuống
ghi chép và bỏ bút đứng dậy đi tìm con bọ xít, Tìm nó
gần mười phút mà không thấy! Tôi liên tưởng đến người
Việt đi tị nạn được đưa vào xã hội Tây phương mà còn
khó sống, huống hồ đằng này "người ta" đang ở ngoài vườn,
có cây, có lá, có đất đai, có hạt sương tươi mát ... mà
lại đem bỏ vào một nơi chỉ có tọa cụ, kinh sách thì làm
sao "người ta" sống được? Cái hiểu đưa tới cái thương
và thôi thúc mình đi tìm. Tôi rất làm lạ là chỉ trong một
vùng chừng hai ba thước vuông, vậy mà lật mọi thứ lên
cũng vẫn không tìm thấy! Tôi hơi hối hận là tại sao lúc
đó mình không đi tìm ngay mà phải đợi ghi cho xong một câu
rồi mới đi tìm! Tu là phải đi theo tâm ý mình, phải có
chánh niệm từng giây từng phút.
Tìm
mãi không được, tôi thất vọng và hình dung rằng con bọ
xít này sẽ từ từ khô đi giống như những con ốc leo tường.
Nó sẽ khô như vậy, sẽ chết như vậy và tội nghiệp cho
nó quá! Tôi tự hứa lần sau sẽ hành động có chánh niệm
hơn. Với tâm trạng đó, tôi ngồi xuống tiếp tục làm việc.
Chừng nửa giờ sau, nhìn lên tôi thấy chàng bọ xít đã trở
về đậu trên vai áo, gần chỗ nó đậu hồi nãy! Sự trở
về của con bọ xít làm cho tôi mừng! Tôi có cải cảm giác
vui như vừa tìm lại được một người bạn cũ và cái buồn
cái hối hận đột nhiên biến mất. Tôi cúi xuống lượm
một tờ giấy, để con bọ xít lên rồi đi ra vườn đặt
nó lên một chiếc lá rất cẩn thận. Trong cuộc sống nhiều
lúc ta có những niềm vui đơn giản như vậy. Tôi thấy rất
rõ ràng việc làm lúc đó của tôi và niềm vui của tôi trong
khi làm việc đó, nếu có một quan sát viên nhìn vào, chắc
sẽ buồn cười. Có biết bao nhiêu sinh mạng ở ngoài trời
đang chờ chết, mình cứu được một con bọ như thế có
nghĩa gì đâu? Sự có mặt của con bọ đối với quan sát
viên kia không quan trọng gì hết, nhưng đối với tôi nó quan
trọng vô cùng, tại vì tôi biết rằng cái hạnh phúc của
mình tuỳ thuộc vào chỗ mình có lòng từ bi hy không. Một
người không có lòng từ bi thì không thể có hạnh phúc. Cho
nên tu tập là làm cho lòng từ bi càng ngày càng lớn để
hạnh phúc của mình ngày càng lớn hơn lên. Nếu ta có được
lòng thương đối với những sinh vật li ti như vậy thì ta
cũng có thể có lòng thương đối với những sinh vật lớn
hơn, trong đó có hư huynh, sư đệ và học trò của ta.
Ban
đầu khi nghe sư anh hay sư em của ta nói một câu không dễ
thương thì ta cũng theo cái tập khí, cái thói quen lâu đời
"phủi một cái rồi bỏ đi!" Nhưng sau đó ta phải có chánh
niệm, phải thấy rằng phủi như vậy là không dễ thương,
và phải đi tìm sư anh, sư chị của mình mà nói "Hồi nãy
em làm vậy, nói vậy là không dễ thương". Ta phải tập và
nếu tập được như vậy một vài lần thì sẽ không còn
cái phản ứng tập khí ban đầu. Nhờ vậy mà khi cảm thấy
một con muỗi đậu vào gò má, ta sẽ không đánh bốp một
cái cho nó chết nữa. Những cử chỉ, những hành động nho
nhỏ như vậy sẽ đưa ta tới thành công lớn trong việc tu
học. Tất cả đều nhờ thực tập tinh chuyên.
Một
hai tuần sau khi thấy được "cái tập khí con bọ xít" của
mình, tôi hành động khá hơn đối với những con sâu bám
vào áo mình. Vào mùa này tôi rất thích đi ra ngoài.Cứ làm
việc một hồi lại ra ngoài đi thiền hành, rồi ngồi dưới
cây táo để thực tập an trú với những gì đang có mặt
trong giây phút hiện tại. Dĩ nhiên ngoài vườn còn có những
sinh vật khác cũng muốn tới để làm tăng thân với mình.
Khi thấy được như vậy, mình làm khác hơn và nhờ vậy mà
thắng được cái tập khí của mình.
Tại
sao mình làm được? Tại vì mình biết con sâu cũng có sự
sống. Nếu mình cần môi trường thích hợp để sống, thì
con sâu cũng cần có môi trường thích hợp để sống. Mình
và con sâu đều thuộc về một thực tại duy nhất là sự
sống. Sự sống của ta tùy thuộc vào sự sống của son sâu.
Sự sống của con sâu tùy thuộc vào sụ sống của ta. Sự
sống của mọi loài đều dính dáng với nhau. Khi một loài
bắt đầu bị diệt chủng, thì đó là một tiếng chuông báo
động rất lớn. Người bạn tu của mình, người sư chị,
su em, sư anh của mình chính là mình. Nếu người đó bực
bội thì cũng như mình đã từng bực bội, nếu người đó
giận hờn thì cũng như mình đã từng giận hờn. Vì vậy
sau khi "phủi" một cái, mình phải trở về hàn gắn lại bằng
cử chỉ hiểu biết và thương yêu. Như vậy hạnh phúc của
mình ngày càng lớn, hạnh phúc của người kia cũng ngày càng
lớn, và nhờ vậy mà hạnh phúc của tăng thân cũng ngày càng
lớn hơn lên. Tất cả đều căn cứ vào một cái thấy, cái
thấy vô ngã. Trong trường hợp này vô ngã có nghĩa là không
có hạnh phúc riêng, không có một thực thể riêng gọi là
ta. Chúng ta đều là thành phần của một thực thể chung gọi
là sự sống. Hạnh phúc của anh có liên hệ tới hạnh phúc
của tôi. Đau khổ của anh cũng là đau khổ của tôi. Một
con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ là vậy.
Cho
nên khi quán chiếu về vô ngã không có nghĩa là ngồi đó
để suy nghĩ về vô ngã, mà mình phải sống đời sống hàng
ngày một cách có ý thức. tiếp xúc với con sâu, với hạt
lúa, với chén tương, với người bạn tu, với mặt trời
v.v... một cách có chánh niệm để thấy sự liên hệ mật
thiết giữa tất cả các hiện tượng tức là quán chiếu
vô ngã. Thí dụ khi ăn trái mận mình thấy một đám mây trong
trái mận. Trái mận không bao giờ có được nếu không có
đám mây, không có mặt trời, không có đại địa, không có
người trồng mận, không có anh, không có tôi ... Vì vậy mà
tôi có trong trái mận, và trái mận có trong tôi. Trái mận
cũng đồng thời là mặt trời, là đám mây. Trái mận bất
diệt và tôi cũng bất diệt. Đó là một bài thực tập quán
chiếu về tính vô ngã.
Mình
càng quán chiếu như vậy, càng sống có chánh niệm như vậy
thì tự nhiên trái tim mình càng ngày càng lớn thêm lên. Trái
tim ở đây tức là sự thương yêu, là lòng từ, và nhờ vậy
mà mình sẽ dung chứa được tất cả mọi người và mọi
loài trong đó. Trái tim của em có thể chứa được tôi không?
Trái tim của em có thể chứa được người kia không? có thể
chứa được người mà mình nghĩ là khó chịu hay không? có
thể bao dung được cô Francois Berthot không? Nếu hiểu rằng
Francois đã bị người ta giành mất con, đã từng sống một
đời sống rất khó khăn, đã lâm vào tình trạng mất trí,
thì tự nhiên cái hiểu đó đưa tới cái thương và ta có
một chỗ ngồi ấm áp cho Francois trong trái tim ta. Người thực
tập từ, thực tập bi là người làm cho trái tim ngày càng
lớn để có đủ chỗ cho con sâu, con bướm, cho con nít đói,
cho bà lão cô đơn và cả cho người mình ghét.