XI.
Phẩm Bất đãi
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Hãy
diệt một pháp, Ta sẽ chứng cho các Thầy thành A-na-hàm. Thế
nào là một pháp? Ðó là tham dục. Các Tỳ-kheo, hãy diệt
tham dục. Ta chứng cho các Thầy thành A-na-hàm.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Bị
nhiễm bởi tham dâm,
Chúng
sanh đọa đường ác,
Hãy
cần bỏ tham dục,
Liền
thành A-na-hàm.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Hãy
diệt một pháp, Ta sẽ chứng cho các Thầy thành A-na-hàm. Thế
nào là một pháp? Nghĩa là sân giận. Các Tỳ-kheo nên diệt
sân giận, Ta sẽ chứng cho các Thầy thành A-na-hàm.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Bị
nhiễm bởi sân giận,
Chúng
sanh đọa đường ác,
Hãy
cần bỏ sân giận,
Liền
thành A-na-hàm.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Hãy
diệt một pháp, xa lìa một pháp. Ta sẽ chứng cho các Thầy
thành A-na-hàm. Thế nào là một pháp? Ðó là ngu si. Thế nên,
các Tỳ-kheo hãy diệt trừ ngu si, Ta sẽ chứng cho các Thầy
thành A-na-hàm.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Bị
nhiễm bởi ngu si,
Chúng
sanh rơi đường ác,
Nên
cần bỏ ngu si,
Liền
thành A-na-hàm.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Hãy
diệt một pháp, xa lìa một pháp. Ta sẽ chứng cho các Thầy
thành A-na-hàm. Thế nào là một pháp? Ðó là xan tham. Thế
nên, các Tỳ-kheo, nên diệt xan tham, Ta sẽ chứng cho các Thầy
thành A-na-hàm.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Bị
xan tham làm nhiễm,
Chúng
sanh đọa đường ác,
Nên
cần bỏ xan tham,
Liền
thành A-na-hàm.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Ta
ở trong chúng này, ban đầu không thấy một pháp nào không
thể hàng phục, khó được thời nghi (tiện dụng), chịu các
khổ báo như là tâm. Này các Tỳ-kheo, tâm này chẳng thể
hàng phục, khó được thời nghi, chịu các khổ báo. Thế
nên, này các Tỳ-kheo, hãy phân biệt tâm, hãy tư duy tâm, khéo
nhớ các gốc lành. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Ta
ở trong chúng này, ban đầu không thấy một pháp nào không
dễ hàng phục, dễ được thời nghi, hưởng các báo lành
như là tâm. Này các Tỳ-kheo, hãy phân biệt tâm, khéo nhớ
các gốc lành. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Ta
ở trong chúng này, nếu có một người nghĩ điều gì, Ta đều
biết rõ. Về sau người này ở trong đại chúng, không vì
ăn uống mà nói lời hư vọng, nhưng hoặc vào lúc khác, Ta
xem thấy người này vì sanh tâm nhiễm trước, nghĩ nhớ tài
vật nên ở trong đại chúng nói lời hư dối. Sở dĩ như
thế, này các Tỳ-kheo, vì dính mắc tài vật thật là khó
bỏ, khiến người đọa vào ba đường ác, chẳng được đến
chỗ vô vi. Thế nên, này các Tỳ-kheo, đã sanh tâm này liền
nên rời bỏ, dù người chưa sanh chớ có khởi lòng dính mắc
tài vật. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Ta
ở trong chúng này, nếu ai nghĩ rằng: 'Thà mất mạng chứ
chẳng ở trong chúng mà nói dối'. Ở lúc khác, Ta lại xem
thấy người này sanh tâm dính mắc nghĩ nhớ tài vật, rồi
ở trong chúng mà nói dối. Sở dĩ như thế, này các Tỳ-kheo,
vì tài vật làm dính mắc rất là khó bỏ, khiến người đọa
vào ba đường ác, chẳng được đến chỗ vô vi. Thế nên,
này các Tỳ-kheo, đã sanh tâm này liền nên rời bỏ, nếu
người chưa sanh, chớ có khởi lòng dính mắc tài vật. Như
vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành La-duyệt, tại vườn trúc Ca-lan-đà, cùng
đại chúng năm trăn Tỳ-kheo.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Các
Thầy có thể thấy pháp của Ðề-bà-đạt-đa thanh tịnh chăng?
Ngược lại, Ðề-bà-đạt-đa tạo ác sâu nặng, sẽ chịu
tội nhiều kiếp không thể chữa trị. Ðối với pháp của
Ta, chẳng thấy được một ngày mảy may điều lành có thể
kể ra được. Nay Ta nói đầu mối các tội của Ðề-bà-đạt-đa
chẳng thể chữa trị. Ví như có người rơi vào cầu tiêu
sâu, thân hình chìm lỉm, không một chỗ sạch. Có người
muốn đến cứu vớt vị ấy lên chỗ sạch, họ xem khắp
bờ xí và thân người đó xem có chỗ nào sạch, liền nghĩ:
'Ta muốn nắm vị ấy kéo lên'. Họ nhìn kỹ không một chỗ
sạch để có thể nắm được, liền bỏ mà đi. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, Ta xem Ðề-bà-đạt-đa là người ngu si, chẳng
thấy chút gì đáng nhớ, sẽ chịu tội nhiều kiếp chẳng
thể chữa trị. Sở dĩ như thế vì Ðề-bà-đạt-đa một
mực ngu si, thiên về lợi dưỡng, tạo tội ngũ nghịch, thân
hoại mạng chung sẽ sanh trong đường ác. Như vậy, này các
Tỳ-kheo, lợi dưỡng sâu nặng khiến người chẳng đến được
chỗ an ổn. Thế nên, này các Tỳ-kheo, đã sanh tâm lợi dưỡng
hãy nên lìa bỏ. Nếu người chưa sanh, chớ khởi lòng nhiễm
trước. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
10.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành La-duyệt, tại vườn trúc Ca-lan-đà, cùng
đại chúng năm trăm Tỳ-kheo.
Bấy
giờ có một Tỳ-kheo nghe Như Lai thọ ký riêng Ðiều-đạt
(Ðề-bà-đạt-đa) sẽ chịu tội một kiếp không thể chữa
trị. Tỳ-kheo ấy liền đến chỗ Tôn giả A-nan, chào hỏi
nhau xong rồi ngồi một bên.
Bấy
giờ Tỳ-kheo kia hỏi Tôn giả A-nan rằng:
- Thế
nào, thưa Tôn giả A-nan, Như Lai xem hết nguồn gốc của Ðề-bà-đạt-đa
rồi sau đó thọ ký riêng cho ông ta chịu tội một kiếp không
thể chữa trị sao? Lại có lý do có thể thọ ký được ư?
Tôn
giả A-nan nói:
- Lời
Như Lai trọn không hư dối, thân hành với khẩu hành không
khác nhau. Như Lai chân thật thọ ký Ðề-bà-đạt-đa chịu
tội sâu nặng sẽ suốt kiếp không thể chữa trị.
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan liền từ chỗ ngồi đi đến chỗ Thế
Tôn, cúi lạy rồi đứng một bên, bạch Thế Tôn:
- Có
một Tỳ-kheo đến chỗ con nói rằng: 'Thế nào, thưa Tôn giả
A-nan! Như Lai xem hết nguồn gốc của Ðề-bà-đạt-đa, sau
đó thọ ký riêng cho ông ta chịu tội một kiếp không thể
trị liệu sao? Lại có lý do có thể thọ ký được ư?' Nói
như thế xong bỏ đi.
Thế
Tôn dạy rằng:
- Tỳ-kheo
đó chắc là xuất gia tu học trễ muộn, mới đến trong pháp
Ta chưa được bao lâu. Lời Như Lai trọn không hư vọng, tại
sao lại khởi do dự?
Bấy
giờ Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
- Thầy
đến chỗ Tỳ-kheo ấy bảo: 'Như Lai gọi Thầy'.
A-nan
đáp:
- Xin
vâng, Thế Tôn.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan vâng lời Thế Tôn liền đến chỗ Tỳ-kheo
kia, đến rồi, bảo Tỳ-kheo kia rằng:
- Như
Lai gọi Thầy.
Tỳ-kheo
kia đáp:
- Xin
vâng, Tôn giả.
Bấy
giờ Tỳ-kheo kia liền sửa sang pháp y phục, cùng A-nan đến
chỗ Thế Tôn, đến rồi cúi lạy Thế Tôn và ngồi một bên.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo Tỳ-kheo kia:
- Này
người ngu! Thầy không tin lời Như Lai sao? Như Lai dạy không
có hư vọng. Nay Thầy lại muốn tìm hư vọng của Như Lai?
Tỳ-kheo
kia bạch Thế Tôn:
- Tỳ-kheo
Ðề-bà-đạt-đa có đại thần lực, có oai thế lớn, làm
sao Thế Tôn thọ ký Thầy ta một kiếp chịu tội nặng được?
Phật
bào Tỳ-kheo:
- Hãy
giữ mồm miệng của Thầy, chớ để mãi mãi chịu khổ vô
lượng.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Dạo
Thiền thế tục không,
Rốt
cuộc không giải thoát,
Chẳng
đến chỗ diệt tận,
Trở
lại đọa địa ngục.
Giả
sử Ta thấy Ðề-bà-đạt-đa, thân có một chút pháp lành
thì Ta trọn không thọ ký Ðề-bà-đạt-đa chịu tội một
kiếp không thể chữa trị. Thế nên, này người ngu! Ta chẳng
thấy Ðề-bà-đạt-đa có một chút pháp lành, vì thế nên
thọ ký Ðề-bà-đạt-đa chịu tội một kiếp không thể chữa
trị. Sở dĩ như thế vì Ðề-bà-đạt-đa ngu si, tham đắm
lợi dưỡng, khởi tâm nhiễm trước, tạo năm điều nghịch
ác, thân hoại mạng chung rơi vào địa ngục. Sở dĩ như thế
là vì tâm lợi dưỡng nặng, làm hư hỏng gốc lành của người,
khiến người không đến được chỗ an ổn. Thế nên, các
Tỳ-kheo, nếu có tâm lợi dưỡng khởi lên, liền nên cầu
diệt. Nếu không có tâm, chớ khởi tưởng dính mắc. Như
vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ Tỳ-kheo kia từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục,
cúi lạy Thế Tôn và bạch:
- Nay
con tự hối lỗi, cúi mong Thế Tôn rũ lòng tha thứ, vì con
ngu si tạo hạnh chẳng lành. Như Lai không nói hai lời mà con
ngu si khởi tưởng do dự. Cúi mong Thế Tôn nhận lời cho con
sám hối điều cũ để tu sửa về sau.
Thưa
như thế đến ba lần. Thế Tôn dạy:
-Lành
thay, Tỳ-kheo! Thầy biết hối hận về ý niệm của mình.
Ta tha thứ cho Thầy, vì Thầy không hiểu kịp. Chớ đối với
Như Lai mà khởi ý tưởng do dự! Nay Ta nhận cho Thầy hối
lỗi, sau chớ làm đến ba bốn lần.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Dù
có làm tội nặng,
Hối
lỗi rồi không phạm,
Người
này nên cấm giới,
Nhổ
căn nguyên tội này.
Bấy
giờ Tỳ-kheo kia và bốn bộ chúng nghe Phật dạy xong, vui vẻ
vâng làm.
Bốn
loại A-na-hàm,
Hai
tâm và hai thực (quả),
Bà-đạt
và khế kinh,
Người
trí hãy giác tri.
--------------------------------------------------------------------------------
XII.
Phẩm Nhập đạo
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
một lối vào đạo làm trong sạch hạnh của chúng sanh, trừ
bỏ sầu lo không có các não, được đại trí tuệ, thành
tựu chứng quả Niết-bàn. Ðó là nên diệt Ngũ cái, tư duy
Tứ ý chỉ (Tứ niệm xứ). Thế nào là một lối vào? Nghĩa
là chuyên nhất tâm. Ðó là một lối vào. Thế nào là đạo?
Nghĩa là Tám đạo phẩm của Hiền Thánh:
1.
Chánh kiến.
2.
Chánh chí (tư duy).
3.
Chánh nghiệp.
4.
Chánh mạng.
5.
Chánh phương tiện (tinh tấn).
6.
Chánh ngữ.
7.
Chánh niệm.
8.
Chánh định.
Ðó
gọi là đạo. Ðó là một lối vào Ðạo. Thế nào là nên
diệt Ngũ cái? Nghĩa là tham dục cái, sân nhuế cái, điều
hí cái (trạo cử), thùy miên cái, nghi cái. Ðó là nên diệt
Ngũ cái. Thế nào là tư duy Bốn ý chí? Ở đây, Tỳ-kheo bên
trong tự quán thân, trừ bỏ niệm ác, không có sầu lo, bên
ngoài tự quán thân trừ bỏ miệng ác, không có sầu lo, trong,
ngoài quán thân trừ bỏ niệm ác, không có sầu lo. Trong quán
thọ khổ mà tự vui thích, ngoài quán thọ khổ, trong ngoài
quán thọ khổ, trong quán tâm mà tự vui thích, ngoài quán tâm,
trong ngoài quán tâm; trong quán pháp, ngoài quán pháp, trong ngoài
quán pháp mà tự vui thích.
Thế
nào là Tỳ-kheo trong quán thân mà tự vui thích? Ở đây Tỳ-kheo
quán thân này tùy theo tánh mà hành: từ đầu đến chân, từ
chân đến đầu; quán trong thân này thảy đều chẳng sạch,
không có gì đáng tham đắm. Lại quán thân này có lông, tóc,
móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, não, mỡ miếng, mỡ
nước, ruột, bao tử, tim, gan, tỳ, thận đều quán biết hết,
phẩn, tiểu, sanh tạng, thục tạng, nước mắt, đờm dãi,
huyết mạch, mỡ, mật, đều nên quán biết, không có gì đáng
tham đắm. Như thế, các Tỳ-kheo quán thân tự vui thích, trừ
bỏ niệm ác, không có sầu lo. Lại nữa, này Tỳ-kheo, lại
quán thân này có phải là địa chủng chăng? Là thủy, hỏa,
phong chủng chăng? Tỳ-kheo quán thân này như thế.
Lại
nữa, Tỳ-kheo quán thân này phân biệt các giới có bốn loại.
Giống như người khéo mổ trâu, hoặc học trò người mổ
trâu, xẻ từng phần để tự xem xét: đây là chân, đây là
tim, đây là đốt xương, đây là đầu. Như thế Tỳ-kheo ấy
phân biệt giới này mà tự quán sát: thân này có các giới
đất, nước, gió, lửa. Tỳ-kheo quán sát thân như thế mà
tự vui thích.
Lại
nữa, Tỳ-kheo quán thân này có các lỗ rỉ chảy chẳng sạch,
giống như người kia quán vườn trúc hay quán bụi lau. Như
vậy Tỳ-kheo quán thân này có các lỗ chảy ra các thứ bất
tịnh.
Lại
nữa, Tỳ-kheo quán tử thi hoặc chết một ngày hoặc hai ngày,
hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, sáu ngày, bảy
ngày, thân thể sình trướng, hôi thối chẳng sạch. Tỳ-kheo
lại tự quán thân cùng kia không khác, thân ta chẳng thoát
khỏi hoạn này. Hoặc Tỳ-kheo lại quán tử thi bị quạ, thước,
kên kên ăn nuốt, hoặc bị hổ lang, chó sói, các loài trùng
thú trông thấy ăn thịt. Tỳ-kheo lại tự quán thân mình cùng
kia không khác, thân ta chẳng lìa khỏi hoạn này. Ðó là Tỳ-kheo
quán thân mà tự vui thích.
Lại
nữa, Tỳ-kheo quán tử thi hoặc bị ăn một nửa rơi rớt
trên đất hôi thúi chẳng sạch. Tỳ-kheo lại tự quán thân
mình cùng kia không khác, thân ta chẳng lìa pháp này.
Lại
nữa, quán tử thi bị ăn hết thịt chỉ còn có xương bê
bết máu. Tỳ-kheo lại đem thân này quán như thân kia cũng
không có khác. Tỳ-kheo quán thân này như thế.
Lại
nữa, Tỳ-kheo quán tử thi gân ràng rịt như bó củi. Tỳ-kheo
lại tự quán thân cùng thân kia không khác. Tỳ-kheo quán thân
này như thế.
Lại
nữa, Tỳ-kheo quán tử thi từng đốt xương phân tán rơi vãi
khắp nơi. Hoặc xương tay, xương chân mỗi thứ một nơi,
hoặc xương đùi, hoặc xương hông, hoặc xương cùng, hoặc
xương tay, hoặc xương vai, hoặc xương sườn, hoặc xương
sống, hoặc xương cổ, hoặc đầu lâu. Lại nữa, thân này
cùng kia chẳng khác. Ta chẳng thoát khỏi pháp này. Thân ta
cũng sẽ bại hoại. Như thế Tỳ-kheo quán thân mà tự vui
thích.
Lại
nữa, Tỳ-kheo quán tử thi màu trắng, màu ngọc trắng. Tỳ-kheo
lại tự quán thân này cùng kia không khác, ta chẳng lìa khỏi
pháp này. Ðó là Tỳ-kheo tự quán thân.
Lại
nữa, Tỳ-kheo nếu thấy tử thi, tưởng xương xanh bầm, không
có gì đáng tham đắm, hoặc cùng màu tro đất chẳng thể
phân biệt, thời như thế Tỳ-kheo tự quán thân trừ bỏ niệm
ác không có sầu lo. Thân này vô thường là pháp phân tán.
Như thế Tỳ-kheo nội tự quán thân, ngoại quán thân, nội
ngoại quán thân hiểu rằng không có.
Thế
nào là Tỳ-kheo nội quán thọ khổ? Ở đây, Tỳ-kheo, lúc
được thọ vui thì tự giác tri mình được thọ vui, lúc bị
thọ khổ thì tự giác tri mình bị thọ khổ, lúc được thọ
không vui không khổ tức tự giác tri ta được thọ không khổ
không vui. Nếu lúc thọ vui, liền tự giác tri ta thọ vui. Nếu
lúc thọ khổ, liền tự giác tri ta thọ khổ. Nếu lúc thọ
không khổ không vui, liền tự giác tri ta thọ không khổ không
vui. Nếu lúc không thọ vui, liền tự giác tri ta không thọ
vui. Nếu lúc không thọ khổ, liền tự giác tri ta không thọ
khổ. Nếu lúc thọ không khổ kho vui, liền tự giác tri ta
thọ không khổ không vui. Tỳ-kheo nội tự quán thọ như thế.
Lại
nữa, nếu Tỳ-kheo lúc được thọ vui, lúc ấy không bị thọ
khổ, thời tự giác tri ta được thọ vui. Nếu lúc thọ khổ,
lúc ấy không được thọ vui thời tự giác tri ta thọ khổ.
Nếu lúc được không khổ không vui, lúc đó không phải khổ,
không phải vui thời tự giác tri ta thọ không khổ không vui.
Người đó tập pháp mà tự vui thích, cũng quán diệt pháp,
lại quán pháp tập và diệt. Hoặc lại có thọ hiện ở trước,
có thể biết, có thể thấy, suy nghĩ nguồn gốc của nó thì
không có chỗ y cứ, bèn tự vui thích, không khởi tưởng thế
gian. Ở trong đó cũng không kinh sợ. Vì không kinh sợ liền
được Niết-bàn: 'Sanh tử đã dứt, Phạm hạnh đã thành,
việc phải làm đã làm xong, không còn thọ thân nữa', như
thật mà biết. Tỳ-kheo nội tự quán thọ như thế, trừ bỏ
loạn niệm không có sầu lo, ngoại tự quán thọ, nội ngoại
quán thọ, trừ bỏ loạn niệm không có sầu lo. Như thế Tỳ-kheo
nội ngoại quán thọ.
Thế
nào là Tỳ-kheo quán tâm, tâm pháp mà tự vui thích? Ở đây,
Tỳ-kheo có tâm ái dục, liền tự giác tri có tâm ái dục,
không có tâm ái dục cũng tựgiác tri không có tâm ái dục.
Có tâm sân nhuế, liền tự giác tri có tâm sân nhuế; không
tâm sân nhuế cũng tự giác tri không tâm sân nhuế. Có tâm
ngu si, liền tự giác tri có tâm ngu si; không có tâm ngu si cũng
tự giác tri không có tâm ngu si. Có tâm ái niệm, liền tự
giác tri có tâm ái niệm; không tâm ái niệm cũng tự giác
tri không có tâm ái niệm. Có tâm thọ nhận, liền tự giác
tri không tâm thọ nhận. Có tâm loạn niệm, liền tự giác
tri có tâm loạn niệm; không có loạn tâm cũng tự giác tri
không có loạn tâm. Có tâm tán lạc, liền tự giác tri có
tâm tán lạc; không tâm tán lạc cũng tự giác tri không tâm
tán lạc. Có tâm phổ biến cũng tự giác tri có tâm phổ biến.
Có tâm lớn, liền tự giác tri có tâm lớn; không có tâm lớn
cũng tự giác tri không có tâm lớn. Có tâm vô lượng, liền
tự giác tri có tâm vô lượng; không có tâm vô lượng cũng
tự giác tri không có tâm vô lượng. Có tâm tam muội, liền
tự giác tri có tâm tam muội; không có tâm tam muội cũng tự
giác tri không có tâm tam muội. Tâm chưa giải thoát, liền
tự giác tri tâm chưa giải thoát; tâm đã giải thoát cũng
tự giác tri tâm đã giải thoát.
Như
thế, Tỳ-kheo! Hãy quán ý chỉ, quán tập pháp, quán diệt
pháp, cùng quán pháp tập diệt; suy nghĩ về pháp để tự
vui thích. Hãy biết, hãy thấy, hãy tư duy, chớ suy nghĩ việc
không có chỗ nương tựa, không được khởi tưởng thế gian.
Ðã không khởi tưởng liền không sợ hãi, đã không sợ hãi
liền được vô dư, đã được vô dư liền nhập Niết-bàn:
'Sanh tử đã dứt, Phạm hạnh đã thành, việc phải làm đã
xong, không còn thọ thân sau nữa', như thật mà biết.
Như
vậy, Tỳ-kheo! Nội quán tự tâm, tâm ý dừng bặt, trừ bỏ
loạn tưởng, không có sầu lo, ngoại quán tâm, nội ngoại
quán tâm, tâm ý dừng bặt, trừ bỏ loạn niệm, không có
sầu lo. Ngoại quán tâm, nội quán tâm, tâm ý dừng. Như vậy
Tỳ-kheo tâm tâm quán nhau, ý dừng.
Thế
nào là Tỳ-kheo pháp pháp tương quán ý dừng? Ở đây, Tỳ-kheo
tu niệm giác ý, y quán, y vô dục, y diệt tận, bỏ các pháp
ác, tu pháp giác ý, tu tinh tấn giác ý, tu niệm giác ý, tu
hỷ (khinh an) giác ý, tu tạm muội giác ý, tu hộ (xả) giác
ý, y quán, y vô dục, y diệt tận, bỏ các pháp ác. Như vậy
là Tỳ-kheo pháp pháp tương quán ý dừng.
Lại
nữa, Tỳ-kheo đối với ái dục giải thoát, trừ pháp ác
bất thiện, có giác, có quán, có buộc niệm vui ở Sơ thiền
mà tự vui thích. Như thế là Tỳ-kheo pháp pháp tương quán
ý dừng.
Lại
nữa, Tỳ-kheo bỏ giác, bỏ quán, bên trong phát hoan hỉ chuyên
nhất ý, thành tựu không giác, không quán niệm niệm nương
vào hỷ mà an; vui ở Nhị thiền mà tự vui thích. Như vậy
là Tỳ-kheo pháp pháp tương quán ý dừng.
Lại
nữa, Tỳ-kheo xả niệm, tu ở hộ. Hằng tự giác tri thân
(giác), vui chỗ cầu của chư Hiền Thánh, hộ niệm thanh tịnh
hành ở Tam thiền. Như vậy là Tỳ-kheo pháp pháp tương quán
ý dừng.
Lại
nữa, Tỳ-kheo xả tâm khổ vui, lại không lo mừng, không khổ
vui, hộ niệm thanh tịnh vui ở Tứ thiền. Như vậy là Tỳ-kheo
pháp pháp tương quán ý dừng.
Vị
ấy hành tập pháp, hành diệt pháp cùng hành pháp tập diệt
mà tự vui thích, liền được pháp ý dừng hiện ở trước,
có thể biết, có thể thấy, trừ bỏ loạn tưởng không chỗ
nương tựa, chẳng khởi tưởng thế gian. Ðã chẳng khởi
tưởng liền không sợ hãi. Ðã không sợ hãi thời: 'Sanh tử
đã dứt, Phạm hạnh đã thành, việc phải làm đã xong, không
còn thọ thân sau nữa', như thật mà biết.
Này
các Tỳ-kheo, nương một lối vào đạo, chúng sanh sẽ được
thanh tịnh, xa lìa buồn lo, lại không có tưởng vui, liền
có trí tuệ, chứng được Niết-bàn. Ðó là diệt Năm triền
cái, tu Bốn ý chỉ.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Ta
ở trong đây, không thấy một pháp nào mau đưa đến hoại
diệt như là ganh ghét, đố kỵ Phạm hạnh. Thế nên các Tỳ-kheo!
Hãy tu hành từ nhẫn, thân hành từ, miệng hành từ, ý hành
từ. Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
có một người xuất hiện ở đời, tối tôn, tối thượng
trong các Trời, Người, Ma và Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, không
ai sánh bằng, là phước điền đệ nhất, đáng phụng sự,
đáng cung kính.
Thế
nào là một người? Nghĩa là Như Lai Chí Chân Ðẳng Chánh
Giác. Ðó là một người xuất hiện ở đời vượt hẳn Trời,
Người, A-tu-la, Ma và Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, là bậc tối
tôn, tối thượng, không ai sánh bằng, là phước điền bậc
nhất, đáng phụng sự, đáng cung kính. Như vậy, các Tỳ-kheo,
hãy thường nên cung dường Như Lai. Như thế, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
có người săn sóc người bệnh là đã săn sóc Ta. Người
trông nom người bệnh tức là đã trông nom Ta. Sở dĩ như
thế là vì nay Ta đích thân coi sóc người tật bệnh.
Này
các Tỳ-kheo, Ta không thấy một người nào trong chư Thiên,
thế gian, Sa-môn, Bà-la-môn mà bố thí tối thượng hơn sự
bố thí này. Người hành bố thí này mới đúng là thí, sẽ
thu hoạch quả báo lớn, được công đức lớn, tiếng tăm
trùm khắp, được vị cam lồ. Nghĩa là Như Lai Chí Chân Ðẳng
Chánh Giác biết rằng bố thí tối thượng không gì hơn thí
này. Người hành bố thí này mới đúng là thí, thu hoạch
quả báo lớn, được công đức lớn. Nay Ta vì nhân duyên
này mà nói như thế. Săn sóc người bệnh tức là đã săn
sóc Ta không khác. Các Thầy sẽ luôn luôn được phước đức
lớn.
Như
vậy, này các Tỳ-kheo, nên học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
có người tán thán A-lan-nhã (tịch tĩnh) là đã tán thán Ta.
Sở dĩ như thế, vì nay Ta thường tự tán thán hạnh A-lan-nhã.
Nếu có người phỉ báng A-lan-nhã tức là phỉ báng Ta. Nếu
có người tán thán khất thực tức là đã tán thán Ta. Sở
dĩ như thế, vì Ta hằng tán thán người hay khất thực. Nếu
người hủy báng khất thực là đã hủy báng Ta. Có người
tán thán độc cư tức là tán thán Ta. Sở dĩ như thế là
vì Ta hằng tán thán người độc cư. Có người hủy báng
người độc cư là đã hủy báng Ta. Có người tán thán người
ngồi một chỗ, ăn một bữa, tức là đã tán thán Ta. Sở
dĩ như thế, vì Ta hằng tán thán người ngồi một chỗ, ăn
một bữa. Ai hủy báng người này tức là đã hủy báng Ta.
Nếu có người tán thán người ngồi dưới gốc cây tức
là tán thán Ta không khác. Sở dĩ như thế là vì Ta hằng tán
thán người ngồi dưới gốc cây. Nếu có ai hủy báng người
ngồi dưới gốc cây tức là đã hủy báng Ta. Nếu có ai tán
thán người ngồi chỗ đất trống, tức là đã tán thán Ta.
Sở dĩ như thế, là vì Ta hằng tán thán người ngồi nơi
đất trống (lộ tọa). Ai hủy nhục người ngồi nơi đất
trống tức là đã hủy nhục Ta. Ai tán thán người ở chỗ
vắng vẻ an nhàn tức là đã tán thán Ta. Vì sao như thế?
Vì Ta hằng tán thán người ở chỗ vắng vẻ an nhàn. Ai hủy
nhục người ở chỗ vắng vẻ an hành tức là đã hủy nhục
Ta. Ai tán thán người mặc áo năm mảnh là đã tán thán Ta.
Vì sao như thế? Vì Ta hằng tán thán người mặc áo năm mảnh.
Ai hủy nhục người mặc áo năm mảnh tức là đã hủy nhục
Ta. Ai tán thán người giữ ba y tức là đã tán thán Ta. Vì
sao như thế? Vì ta hằng tán thán người giữ ba y. Ai hủy
nhục người giữ ba y tức là đã hủy nhục Ta. Ai tán thán
người ngồi ở gò mả là đã tán thán Ta. Vì sao như thế?
Vì Ta hằng tán thán người ngồi ở gò mả. Ai hủy nhục
người ngồi ở gò mả tức là đã hủy nhục Ta. Ai tán thán
người ăn một bữa, tức là đã tán thán Ta. Vì sao như thế?
Vì Ta thường tán thán người ăn một bữa. Ai hủy nhục người
ăn một bữa tức là đã hủy nhục Ta. Ai tán thán người
ăn đúng ngọ là đã tán thán Ta. Vì sao như thế? Vì ta hằng
tán thán người ăn đúng ngọ. Ai hủy báng người người
ăn đúng ngọ tức là hủy báng Ta. Ai tán thán người hành
đầu đà tức là đã tán thán Ta. Vì sao như thế? Vì Ta hằng
tán thán các người hành đầu đà. Ai hủy nhục người hành
đầu đà tức là đã hủy nhục Ta. Nay Ta dạy các Tỳ-kheo
hãy như sở hành của Ðại Ca-diếp, không có sơ sót. Vì sao
như thế? Vì Tỳ-kheo Ca-diếp có các hạnh này. Thế nên các
Tỳ-kheo, hãy thường nên học như Ðại Ca-diếp.
Như
vậy, này các Tỳ-kheo, nên học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành La-duyệt, vườn trúc Ca-lan-đà, cùng với
đại chúng Tỳ-kheo năm trăm vị.
Bấy
giờ Tôn giả Ðại Ca-diếp trụ A-lan-nhã. Ðến giờ khất
thực, Tôn giả không phân biệt giàu nghèo. Tôn giả ở một
nơi, ngồi một chỗ hoặc dưới gốc cây, hoặc ngoài đồng
trống, hoặc ở chỗ vắng vẻ trọn không dời đổi, mặc
áo năm mảnh, hoặc giữ ba y, hoặc ở gò mả, hoặc ăn một
bữa, hoặc ăn chính ngọ, hoặc hành đầu đà mặc dù tuổi
cao già cả. Bấy giờ Tôn giả Ðại Ca-diếp ăn xong liền
đến dưới một cội cây thiền định, thiền định xong,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, đi đến
chỗ Thế Tôn. Bấy giờ Thế Tôn từ xa trông thấy Ca-diếp
đến. Thế Tôn bảo rằng:
- Khéo
đến, Ca-diếp!
Ca-diếp
đến chỗ Phật cúi lạy rồi ngồi một bên. Thế Tôn dạy
rằng:
- Ca-diếp!
Nay Thầy đã lớn tuổi, già cả, quá suy, lọm khọm, vậy
Thầy nên bỏ hạnh khất thực, cho đến các hạnh đầu đà,
mà nên nhận lời mời của các Trưởng giả và nhận y áo.
Ca-diếp
đáp:
- Con
không dám theo lời Như Lai dạy. Vì sao? Vì nếu Như Lai không
thành đạo Vô thượng Chánh chân, thì con ắt thành Bích-chi
Phật, mà Bích-chi Phật trọn hành A-lan-nhã. Ðến giờ khất
thực, con không phân biệt giàu, nghèo. Con ở một nơi, ngồi
một chỗ hoặc ngồi dưới gốc cây, hoặc ngoài đồng trống,
hoặc chỗ vắng vẻ trọn chẳng dời đổi, hoặc mặc áo
năm mảnh, hoặc giữ ba y, hoặc ở gò mả, hoặc ăn một bữa,
hoặc ăn đúng ngọ, hoặc hành đầu đà. Nay con chẳng dám
bỏ thói cũ mà học hạnh khác.
Thế
Tôn bảo rằng:
- Lành
thay! Lành thay Ca-diếp! Thầy có nhiều lợi ích, độ người
vô lượng, rộng đến tất cả Trời, Người đều được
độ. Vì sao? Ca-diếp! Nếu hạnh đầu đà này được ở đời
thì pháp của Ta cũng sẽ được lâu dài ở đời. Nếu có
pháp ở đời, thì Thiên đạo tăng thêm, ba đường ác liền
giảm. Cũng vậy thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, đạo
Tam thừa đều còn ở đời. Này các Tỳ-kheo, hãy học như
Ca-diếp tu tập.
Như
vậy, các Tỳ-kheo, nên học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Lợi
dưỡng quá nặng khiến người không đến được đạo Vô
thượng Chánh chân. Vì sao như thế? Này các Tỳ-kheo, Ðề-bà-đạt-đa
ngu si kia nhận năm trăm nồi cơm của Vương tử Ba-la-lưu-chi
(A-xà-thế) cúng dường. Nếu ông ta không cho, Ðề-bà-đạt-đa
ngu si trọn không tạo việc ác này. Vì Vương tử Ba-la-lưu-chi
hằng ngày đem năm trăm nồi cơm đến cúng dường nên Ðề-bà-đạt-đa
mới khởi năm điều nghịch ác, thân hoại mạng chung sanh
trong địa ngục A-tỳ. Do phương tiện này mà biết lợi dưỡng
quá nặng khiến người chẳng đến được đạo Vô thượng
Chánh chân. Nếu chưa sanh tâm lợi dưỡng, chớ nên sanh, đã
sanh thì nên diệt đi. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều
này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành La-duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật, cùng
với đại chúng Tỳ-kheo năm trăm vị.
Bấy
giờ Ðề-bà-đạt-đa làm rối loạn chúng Tăng, làm chân của
Như Lai bị thương, xúi A-xà-thế giết vua cha, lại giết La-hán
Tỳ-kheo-ni, rồi tuyên bố với đại chúng rằng: 'Chỗ nào
có ác, ác từ đâu sanh? Ai làm việc ác này, phải chịu quả
báo đó. Ta cũng chẳng làm việc ác này mà phải chịu quả
báo'.
Bấy
giờ có nhiều chúng Tỳ-kheo vào thành La-duyệt khất thực,
nghe nói Ðề-bà-đạt-đa ngu si tuyên bố ở trong đại chúng:
'Chỗ nào có ác, ác từ đâu sanh? Ai làm việc ác này phải
chịu quả báo đó'.
Bấy
giờ những Tỳ-kheo ấy ăn xong, liền cầm y bát, vắt tọa
cụ lên vai mặt, đi đến chỗ Thế Tôn đảnh lễ Thế Tôn
rồi ngồi một bên. Bấy giờ các chúng Tỳ-kheo bạch Thế
Tôn:
- Ðề-bà-đạt-đa
ngu si tuyên bố ở trong đại chúng rằng: 'Vì sao làm ác không
có tai ương, làm lành không có quả báo? Ðó là vì không có
quả báo thiện ác'.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
ác thì có tội, các hạnh thiện ác đều có báo ứng. Nếu
Ðề-bà-đạt-đa ngu si kia biết có quả báo thiện ác, thì
sẽ khô héo, sầu lo chẳng vui, máu sôi sẽ phun đầy mặt.
Vì Ðề-bà-đạt-đa chẳng biết quả báo của thiện ác, do
đó mới ở trong đại chúng mà tuyên bố không có quả báo
thiện ác, làm ác không tai ương, làm thiện không có phước
quả.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Người
ngu tự xét rõ,
Làm
ác không có phước báo,
Nay
Ta rõ biết trước,
Báo
ứng của thiện ác.
Như
thế, này các Tỳ-kheo, hãy xa lìa ác, làm phước chớ mệt
mỏi. Các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nhận
lợi dưỡng của người rất nặng, chẳng phải dễ, khiến
người chẳng đến được chỗ vô vi. Vì sao như thế? Vì
quả báo của lợi dưỡng cắt vào da người; vì cắt vào
da liền cắt thịt, vì cắt thịt liền đứt xương, vì đứt
xương liền thấu tủy. Này các Tỳ-kheo, hãy dùng phương tiện
này liền biết lợi dưỡng rất nặng. Nếu chưa sanh tâm lợi
dưỡng thì chớ sanh, đã sanh thì khiến cho diệt. Như vậy,
các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
10.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nhận
lợi dưỡng của người thật là chẳng phải dễ, khiến người
chẳng đến được chỗ vô vi. Vì sao như thế? Nếu Tỳ-kheo
Lợi-sư-la kia chẳng tham lợi dưỡng thì chẳng làm việc sát
sanh vô lượng như thế, thân hoại mạng chung sanh trong địa
ngục.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Nhận
lợi dưỡng người nhiều,
Hoại
hạnh thanh bạch người,
Thế
nên chế ngự tâm,
Chớ
tham đắm mùi vị.
Lợi-sư
được định rồi
Cho
đến trời Ðế Thích
Thần
thông bị tổn giảm,
Ðọa
vào ngục chém giết.
Các
Tỳ-kheo hãy dùng phương tiện này liền biết nhận lợi dưỡng
của người thật chẳng phải dễ. Như thế, các Tỳ-kheo,
hãy học điều này: 'Chưa sanh tâm lợi dưỡng phải chế ngự
khiến chẳng sanh, đã sanh tâm này hãy cầu phương tiện khiến
cho tiêu diệt'. Như vậy, các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
--------------------------------------------------------------------------------
XIII.
Phẩm Lợi dưỡng
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nhận
lợi dưỡng của người thật chẳng dễ, khiến người chẳng
đến được chỗ vô vi. Vì sao thế? Nếu Tỳ-kheo Tu-la-đà
không tham lợi dưỡng thì đã không ở trong pháp mà xa ba pháp
y để làm cư sĩ. Tỳ-kheo Ta-lu-đà vốn tu hạnh A-lan-nhã,
đến giờ khất thực, ở một nơi, ngồi một chỗ, hoặc
ăn chính ngọ, ở dưới gốc cây, ngồi ngoài trời, thích
chỗ nhàn cư, mặc áo năm mảnh, hoặc giữ ba y, hoặc thích
ở gò mả, khắc khổ thân thể, hành hạnh đầu đà này.
Lúc này, Tỳ-kheo Tu-la-đà thường nhận sự cúng dường của
quốc vương Mãn Hô, hàng ngày cung cấp món ăn trăm vị.
Bấy
giờ Tỳ-kheo kia ý nhiễm thức ăn này, dần dần bỏ hạnh
A-lan-nhã, đến giờ khất thực, ở một nơi, ngồi một chỗ,
ăn chính ngọ, ở dưới gốc cây, ngồi ngoài trời, ở chỗ
nhàn cư, mặc áo năm mảnh, hoặc giữ ba y, hoặc thích ở
gò mả, khắc khổ thân thể. Bỏ hết những điều này, bỏ
ba pháp y; vị ấy trở lại làm người bạch y, giết trâu
sát sanh chẳng thể tính kể, khi thân hoại mạng chung sanh
vào địa ngục.
Các
Tỳ-kheo, do phương tiện này mà biết lợi dưỡng rất nặng,
khiến người chẳng đắc đạo Vô thượng Chánh chân. Nếu
chưa sanh lợi dưỡng, hãy chế ngự khiến cho chẳng sanh; đã
sanh thì tìm phương tiện khiến tiêu diệt liền. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Hãy
diệt một pháp, Ta sẽ chứng cho các Thầy thành quả thần
thông, các lậu được dứt. Thế nào là một pháp? Ðó là
tham đắm mùi vị. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy diệt sự tham
vị này, Ta sẽ chứng cho Thầy thành quả thần thông, các
lậu được dứt.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Chúng
sanh đắm vị này.
Chết
đọa trong đường ác,
Nay
nên xả dục này,
Liền
thành A-la-hán.
Thế
nên, các Tỳ-kheo thường nên xả bỏ ý tưởng tham đắm vị
này. Như vậy, các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ trong thành Xá-vệ có một Trưởng giả vừa chết một
đứa con trai mà ông rất yêu thương chưa hề xa lìa. Ông ta
thấy con chết liền phát cuồng, đi lang thang khắp nơi, gặp
ai cũng hỏi:
- Có
thấy con tôi không?
Bấy
giờ ông ta đi dần dần đến Tinh xá Kỳ Hoàn, đến chỗ
Thế Tôn và đứng một bên. Bấy giờ, ông ta bạch Thế Tôn
rằng:
- Sa-môn
Cù-đàm! Có thấy con tôi không?
Thế
Tôn bảo Trưởng giả:
- Vì
sao mặt mày không vui, các căn rối loạn?
Bấy
giờ Trưởng giả thưa đức Cù-đàm:
- Không
như vầy sao được? Vì sao? Tôi chỉ có một đứa con, nó
lại bỏ tôi mà chết. Tôi rất nhớ thương nó, chưa hề rời
mắt, vì thương xót đứa con ấy nên tôi phát cuồng. Nay tôi
hỏi Sa-môn, có thấy con tôi không?
Thế
Tôn dạy rằng:
- Ðúng
vậy, Trưởng giả. Như lời Ông hỏi: sanh, già, bịnh, chết
là phép thường ở đời; ân ái biệt ly khổ; oán ghét gặp
gỡ khổ. Ðứa con vì vô thường mà bỏ Ông há không nghĩ
đến được sao?
Bấy
giờ ông ta nghe Thế Tôn nói, không bằng lòng bèn bỏ đi;
đi đường gặp người ông liền nói:
- Sa-môn
Cù-đàm nói rằng: 'Ái ân biệt ly liền có khoái lạc'. Sa-môn
nói như vậy, xét có đúng không?
Người
kia đáp:
- Ân
ái biệt ly mà vui cái gì?
Ngay
lúc đó, cách thành Xá-vệ không xa, có nhiều người đang
đánh bạc với nhau. Bấy giờ, ông ta liền nghĩ rằng: 'Các
ông này thông minh trí tuệ, không việc gì chẳng biết. Nay
ta nên đem nghĩa này hỏi họ'.
Bấy
giờ ông ta đến chỗ đánh bạc hỏi mọi người rằng:
- Sa-môn
Cù-đàm bảo tôi rằng: 'Ân ái biệt ly khổ, oán ghét gặp
gỡ khổ. Ðây là khoái lạc'. Nay các Ông nghĩ sao?
Bấy
giờ những người đánh bạc đáp ông ta:
- Ân
ái biệt ly có gì vui? Nói là khoái lạc, nghĩa này không đúng.
Bấy
giờ ông ta liền nghĩ: 'Xét lời Như Lai trọn không hư dối.
Sao nói xa lìa ân ái lại có vui ư?' Nghĩa này không đúng.
Bấy
giờ người kia vào thành Xá-vệ, đến ngoài cửa cung kêu
lên:
- Sa-môn
Cù-đàm dạy rằng: 'Ân ái biệt ly, oán ghét hội họp. Ðây
là khoái lạc.'
Bấy
giờ cả thành Xá-vệ và người trong cung truyền lời này
khắp nơi. Ngay lúc đó, đại vương Ba-tư-nặc và phu nhân
Mạt-lợi đang ở trên lầu vui vầy với nhau. Bấy giờ, vua
Ba-tư-nặc bảo phu nhân Mạt-lợi:
- Sa-môn
Cù-đàm thật có lời này: 'Ân ái ly biệt, oán ghét gặp gỡ.
Ðây đều là khoái lạc chăng?'
Phu
nhân đáp:
- Tôi
nghe Như Lai dạy lời này, nhưng nếu đúng Như Lai có dạy
như thế, cũng chẳng phải là việc hư dối.
Vua
Ba-tư-nặc bảo:
- Ví
như thầy dạy đệ tử: 'Làm điều này, bỏ điều này'. Ðệ
tử đáp rằng: 'Xin vâng, Ðại sư'. Nay phu nhân Mạt-lợi,
Bà cũng như thế. Sa-môn Cù-đàm kia tuy nói lời này mà Bà
ưng thuận nói rằng như thế chẳng khác, không có hư vọng.
Vậy Bà hãy đi mau, đừng có đứng trước mặt ta.
Bấy
giờ phu nhân Mạt-lợi bảo Bà-la-môn Trúc-bác:
- Nay
Ông đến Tinh xá Kỳ Hoàn, tới chỗ Như Lai, đem tên của
ta, quỳ dưới chân Như Lai lấy nghĩa này bạch đầy đủ
cho Thế Tôn rằng: 'Trong thành Xá-vệ và người trong cung có
luận bàn điều mà Sa-môn Cù-đàm nói: 'Ân ái biệt ly, oán
ghét hội họp. Ðây đều là khoái lạc'. Chẳng rõ Thế Tôn
có dạy như thế chăng?'. Nếu Thế Tôn có dạy điều gì,
Ông hãy khéo nhận lời rồi về nói lại cho ta.
Bấy
giờ Bà-la-môn Trúc-bác nhận sắc lịnh của phu nhân, tìm
đến Tinh xá Kỳ Hoàn. Ðến chỗ Thế Tôn chào hỏi, chào
hỏi xong ngồi một bên. Rồi Phạm chí kia bạch Thế Tôn:
- Phu
nhân Mạt-lợi cúi lạy Thế Tôn và thăm hỏi Như Lai có được
nhẹ nhàng dễ chịu, đi đứng có mạnh khỏe không, Giáo hóa
người mê muội có mệt nhọc không. Rồi lại nói rằng: 'Trong
thành Xá-vệ này loan truyền rằng Sa-môn Cù-đàm dạy: 'Ân
ái biệt ly, oán ghét hội họp. Ðây đều là khoái lạc'.
Chẳng rõ Thế Tôn có dạy như thế chăng?'
Bấy
giờ Thế Tôn bảo Bà-la-môn Trúc-bác rằng:
- Ở
trong thành Xá-vệ này có một Trưởng giả bị chết mất
một đứa con. Ông ta nhớ đứa con này đến cuồng loạn mất
tánh, chạy khắp Ðông Tây gặp ai cũng hỏi: 'Ai thấy con tôi?'.
Vậy thì, Bà-la-môn! Ân ái biệt ly, oán ghét tụ hội khổ.
Ðây đều không có hoan lạc.
Ngày
xưa trong thành Xá-vệ này, lại có người mất mẹ già, cũng
cuồng loạn chẳng biết gì cả. Lại có người mất cha già;
lại cũng có anh em, chị em thảy đều vô thường. Họ thấy
sự biến đổi vô thường này sanh ra cuồng loạn chẳng biết
Ðông Tây.
Này
Bà-la-môn! Ngày xưa trong thành Xá-vệ này, có một người
vừa rước một người vợ đoan chánh vô song về. Bấy giờ
ông ta không bao lâu bị nghèo cùng. Cha mẹ vợ ông ta thấy
ông ta nghèo liền nghĩ:
- 'Ta
hãy đoạt con gái về gả cho người khác'.
Người
kia rình nghe cha mẹ vợ muốn đoạt vợ mình để gả cho người
khác. Bấy giờ, ông ta dắt dao bên trong áo rồi đến nhà
vợ. Bà vợ ông ta đang ngồi dệt ở ngoài vách. Ông ta bước
vào nhà cha mẹ vợ hỏi:
- 'Nay
vợ tôi ở đâu?'
Mẹ
vợ đáp:
- 'Vợ
con đang dệt ở bóng mát ngoài bờ tường'.
Ông
ta liền đến chỗ vợ hỏi:
- 'Cha
mẹ nàng muốn đoạt nàng để gả cho người khác phải không?'
Vợ
đáp:
- 'Thật
có lời này, nhưng tôi không ưa nghe nói vậy.'
Bấy
giờ người kia rút dao bén đâm chết vợ, rồi lại tự đâm
vào bụng mình và nói:
- 'Cả
hai ta cùng chết'.
Này
Bà-la-môn, hãy dùng phương tiện này mà biết ân ái biệt
ly, oán ghét hội họp khổ. Ðây đều là buồn lo thật chẳng
thể nói được.
Bấy
giờ Bà-la-môn Trúc-bác bạch Thế Tôn:
- Ðúng
vậy Thế Tôn! Có các thứ khổ não này thực chẳng vui. Vì
sao thế? Xưa con có một đứa con trai nó chết đi, bỏ con,
ngày đêm con nhớ mãi chẳng rời tâm. Rồi con vì nhớ con,
tâm ý cuồng hoặc, chạy khắp Ðông Tây, gặp người liền
hỏi: 'Ai thấy con tôi?' Này Sa-môn Cù-đàm nói thật đúng
như thế. Việc nước bận rộn, con muốn về nhiệm sở.
Thế
Tôn dạy:
- Nay
là đúng lúc.
Bà-la-môn
Trúc-bác liền từ chỗ ngồi đứng lên, nhiễu quanh Phật
ba vòng rồi đi. Ðến chỗ phu nhân Mạt-lợi đem việc này
tâu đầy đủ cho phu nhân. Phu nhân Mạt-lợi liền đến chỗ
vua Ba-tư-nặc thưa:
- Bây
giờ tôi có chỗ muốn hỏi, mong Ðại vương nghe rồi trả
lời từng việc một. Thế nào? Ðại vương có nhớ vương
tử Lưu Ly chăng?
Vua
đáp:
- Rất
nhớ, thương xót không rời lòng.
Phu
nhân hỏi:
- Nếu
vương tử chết đi, Ðại vương có lo chăng?
Vua
lại đáp;
- Ðúng
vậy, phu nhân! Như lời bà nói.
Phu
nhân hỏi:
- Ðại
vương nên biết ân ái biệt ly đều gây sầu lo. Thế nào?
Ðại vương có nhớ Vương tử Y La chăng?
Vua
đáp:
- Ta
rất yêu kính.
Phu
nhân hỏi:
- Ðại
vương! Nếu vương tử chết đi, Ðại vương có sầu lo chăng?
Vua
đáp:
- Rất
sầu lo.
Phu
nhân bảo rằng:
- Hãy
lấy phương tiện này mà biết ân ái biệt ly không có hoạn
lạc. Thế nào? Ðại vương có nhớ Tát-la-đà dòng Sát-lợi
không?
Vua
đáp:
- Rất
yêu kính, nhớ nghĩ.
Phu
nhân nói:
- Thế
nào Ðại vương, giả sử phu nhân Tát-la-đà có sự biến
đổi, Ðại vương có lo không?
Vua
đáp:
- Có
lo sầu chứ!
Phu
nhân nói:
- Ðại
vương nên biết ân ái biệt ly, đây đều là khổ.
Phu
nhân lại nói:
- Vua
nhớ thiếp chăng?
Vua
nói:
- Ta
yêu nhớ Ái khanh.
Phu
nhân nói:
- Giả
sử thân thiếp biến đổi, Ðại vương có buồn lo không?
Vua
nói:
- Nếu
thân Khanh có gì biến đổi, thì ta buồn lo ngay.
- Đại
vương, hãy dùng phương tiện này mà biết ân ái biệt ly,
oán ghét gặp gỡ không có vui vẻ gì.
Phu
nhân lại nói:
- Thế
nào Ðại vương? Có nhớ nhân dân Ca-thi Câu-tát-la không?
- Ta
rất yêu nhớ nhân dân Ca-thi Câu-tát-la.
Phu
nhân nói:
- Nhân
dân Ca-thi Câu-tát-la giả sử biến đổi, Ðại vương có buồn
lo không?
Vua
nói:
- Nhân
dân Ca-thi Câu-tát-la nếu có biến đổi thì mạng ta cũng chẳng
còn, huống là chỉ buồn lo. Vì sao thế? Ta nhờ sức của
nhân dân nước Ca-thi Câu-tát-la mới được tồn tại. Dùng
phương tiện này biết mạng cũng chẳng còn, hà huống chẳng
sanh buồn lo!
Phu
nhân nói:
- Lấy
đây mà biết: ân ái biệt ly đều có cái khổ não, không
có vui vẻ.
Bấy
giờ vua Ba-tư-nặc, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng
về Thế Tôn mà nói:
- Thật
kỳ lạ! Thật kỳ lạ! Thế Tôn nói được pháp này. Nếu
Sa-môn Cù-đàm đến đây, tôi sẽ cùng bàn luận.
Vua
lại bảo phu nhân:
- Từ
đây về sau, ta sẽ lại xem trọng Khanh hơn ngày thường, cho
mang đồ phục sức không khác ta.
Bấy
giờ Thế Tôn nghe phu nhân Mạt-lợi cùng Ðại vương lập
căn bản luận này, liền bảo các Tỳ-kheo:
- Phu
nhân Mạt-lợi rất thông minh. Nếu vua Ba-tư-nặc hỏi Ta lời
này, Ta cũng lấy nghĩa này mà nói cho vua ấy giống như phu
nhân đã nói không khác. Ngài lại bảo các Tỳ-kheo:
- Trong
hàng Thanh văn của Ta, Ưu-bà-di chứng đắc lòng tin kiên cố
thuần thành bậc nhất là phu nhân Mạt-lợi.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Bạt-kỳ, trong vườn Nai rừng Quỷ, núi
Thi-mục-ma-la.
Bấy
giờ Trưởng giả Na-ưu-la-công đến chỗ Thế Tôn cúi lạy
rồi ngồi một bên, chốc lát lui ngồi bạch Thế Tôn:
- Nay
con già cả lại thêm bệnh tật, nhiều điều ưu não, cúi
mong Thế Tôn tùy thời dạy dỗ khiến chúng sanh được an
ổn lâu dài.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo Trưởng giả rằng:
- Ðúng
như lời Ông nói, thân có nhiều sợ hãi, đau đớn, đâu thể
nương cậy, chỉ có một lớp da mỏng che đậy bên ngoài.
Này Trưởng giả, nên biết người ỷ lại thân này, chính
là được cái vui trong chốc lát. Ðây là tâm ngu ngốc, chẳng
phải điều người trí tuệ quí. Thế nên Trưởng giả, tuy
thân có bệnh hãy khiến tâm không bệnh. Như thế, Trưởng
giả, hãy học điều này!
Bấy
giờ Trưởng giả nghe lời nói như thế liền từ chỗ ngồi
đứng dậy cúi lạy Thế Tôn rồi lui ra.
Bấy
giờ Trưởng giả lại nghĩ: 'Nay ta có thể đến hỏi Tôn
giả Xá-lợi-phất nghĩa này'.
Tôn
giả Xá-lợi-phất đang ngồi dưới gốc cây cách đó không
xa. Bấy giờ Na-ưu-la-công đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất,
quỳ lạy rồi ngồi một bên.
Tôn
giả Xá-lợi-phất bèn hỏi Trưởng giả:
- Nhan
mạo Ông vui hòa, các căn tịch tĩnh ắt có lý do. Này trưởng
giả, chắc Ông đã nghe Phật nói pháp phải không?
Trưởng
giả bạch Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Thế
nào Tôn giả Xá-lợi-phất? Làm sao nhan mạo không vui vẻ được?
Vì sao thế? Vì tôi được Thế Tôn đem pháp cam lồ tưới
rót vào lòng.
Trưởng
giả đáp tiếp:
- Tôn
giả Xá-lợi-phất, tôi đến chỗ Thế Tôn quỳ lạy rồi
ngồi một bên. Bấy giờ tôi bạch Thế Tôn; 'Con tuổi già
sức yếu hằng ốm bệnh tật, khổ đau rất nhiều không thể
tính kể, cúi mong Thế Tôn, phân biệt thân này khiến khắp
chúng sanh đạt được an ổn'. Bấy giờ Thế Tôn bảo tôi
rằng: 'Ðúng vậy Trưởng giả! Thân này có nhiều suy mòn
đau khổ, chỉ có lớp da mỏng che đậy bên ngoài. Trưởng
giả nên biết, người nương cậy thân này, chính có thể
vui chốc lát mà chẳng biết bị khổ vô lượng lâu dài. Thế
nên, Trưởng giả, thân này tuy có hoạn nạn, nên khiến cho
tâm đừng lo hoạn. Như thế Trưởng giả, nên học điều
này'. Thế Tôn dùng pháp cam lộ này tưới rót cho tôi.
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
- Thế
nào Trưởng giả? Sao không hỏi lại Thế Tôn nghĩa này: Thế
nào là thân có hoạn mà tâm không hoạn? Thế nào là thân
có bệnh, tâm không bệnh?
Trưởng
giả bạch Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Thật
sự tôi đã không đem việc này hỏi lại Thế Tôn là thân
có hoạn, tâm không hoạn; thân có bệnh, tâm không bệnh. Tôn
giả Xá-lợi-phất! Tôn giả chắc rõ việc này, mong phân biệt
đầy đủ cho.
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
- Hãy
lắng nghe, lắng nghe và khéo suy nghĩ! Ta sẽ giảng rộng nghĩa
này cho Ông.
- Xin
vâng, Tôn giả Xá-lợi-phất.
Trưởng
giả vâng lời dạy rồi, Tôn giả Xá-lợi-phất bảo Ông ta:
- Ở
đây, Trưởng giả! Người phàm phu chẳng gặp Thánh nhân,
chẳng được Thánh giáo, chẳng theo sự dạy dỗ này, cũng
chẳng gặp Thiện tri thức, chẳng theo hầu Thiện tri thức,
họ chấp sắc là ngã, sắc là của ngã, ngã là của sắc,
trong sắc có ngã, trong ngã có sắc, sắc kia sắc ta hội họp
một chỗ. Sắc kia sắc ta đã hội họp một chỗ rồi, sắc
liền bại hoại, dời đổi chẳng dừng, trong đó lại khởi
sầu lo khổ, não; cũng vậy đối với thọ, tưởng, hành thức
đều quán ngã có thức, trong thức có ngã, trong ngã có thức,
thức kia thức ta hội họp một chỗ. Thức kia thức ta đã
họp một chỗ rồi, thức liền bại hoại, dời đổi chẳng
dừng, trong đó lại khởi sầu, lo, khổ, não. Như thế Trưởng
giả, thân cũng có hoạn, tâm cũng có hoạn.
Trưởng
giả hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Thế
nào là thân có hoạn, tâm không có hoạn?
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
- Ở
đây, Trưởng giả! Ðệ tử bậc Hiền Thánh thừa sự Thánh
Hiền, tu hành cấm pháp, theo hầu Thiện tri thức, thân cận
Thiện tri thức. Người đó không quán ngã có sắc, chẳng
thấy trong sắc có ngã, trong ngã có sắc, chẳng thấy sắc
là của ngã, ngã là của sắc. Sắc kia dời chuyển chẳng
dừng. Sắc kia đã chuyển đổi, chẳng sanh hoạn sầu, lo,
khổ, não theo sắc, cũng lại không thấy thọ, tưởng, hành
thức; chẳng thấy trong thức có ngã, trong ngã có thức, cũng
chẳng thấy thức là của ngã, cũng chẳng thấy ngã là của
thức. Thức kia thức ngã đã hội một chỗ, thức liền bại
hoại, trong đây không khởi buồn, lo, khổ, não. Như vậy Trưởng
giả! Thân có hoạn mà tâm không hoạn. Thế nên Trưởng giả,
hãy học tập như thế, trừ thân bỏ tâm, cũng không nhiễm
trước. Này Trưởng giả, nên học điều này.
Bấy
giờ Na-ưu-la-công nghe Xá-lợi-phất dạy xong, vui vẻ vâng
làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn thuyết pháp cho vài ngàn muôn chúng vây quanh
trước sau. Lúc đó Bà-la-môn Giang Trắc thân gánh một gánh
nặng đến chỗ Thế Tôn, đến rồi đặt gánh xuống đến
một bên Thế Tôn, và đứng lặng yên. Bấy giờ Bà-la-môn
đó suy nghĩ thế này: 'Hôm nay Sa-môn Cù-đàm vì mấy ngàn
muôn chúng vây quanh trước sau mà thuyết pháp. Ta nay thanh tịnh
không khác gì Sa-môn Cù-đàm. Vì sao thế? Sa-môn Cù-đàm ăn
lúa gạo tốt, các thứ ngon lành. Nay ta ăn quả trái để tự
nuôi mạng sống'.
Bấy
giờ Thế Tôn đã biết tâm niệm Bà-la-môn liền bảo các
Tỳ-kheo:
- Nếu
có chúng sanh đem hai mươi mốt kiết làm dính mắc tâm, nên
biết người đó ắt đọa đường ác chẳng sanh cõi lành.
Thế nào là hai mươi mốt kiết? Ðó là sân tâm kiết, nhuế
hại tâm kiết, thùy miên tâm kiết, điều hý tâm kiết, nghi
tâm kiết, nộ tâm kiết, kỵ tâm kiết, não tâm kiết, tật
tâm kiết, tắng tâm kiết, vô tàm tâm kiết, vô quý tâm kiết,
huyễn tâm kiết, gian tâm kiết, ngụy tâm kiết, tranh tâm kiết,
kiêu tâm kiết, mạn tâm kiết, đố tâm kiết, tăng thượng
mạn tâm kiết, tham tâm kiết. Này các Tỳ-kheo, nếu người
có hai mươi mốt kiết làm dính mắc tâm này, nên biết người
đó ắt đọa đường ác chẳng sanh cõi lành. Ví như áo lông
dạ trắng mới, lâu ngày cũ nát có nhiều bụi bặm, ý muốn
nhuộm thành màu xanh, vàng, đỏ, đen trọn chẳng thành được.
Vì sao? Vì có bụi bặm. Như thế, này Tỳ-kheo, nếu có người
đem hai mươi mốt kiết làm dính mắc tâm này, hãy quán người
này ắt đọa đường ác chẳng sanh cõi lành. Nếu lại có
người không có hai mươi mốt kiết làm dính mắc tâm này,
nên biết người đó ắt sanh lên trời, không rơi trong địa
ngục; ví như dạ trắng sạch, mới tùy ý muốn nhuộm màu
nào: xanh, vàng, đỏ, đen ắt thành màu đó, trọn chẳng bại
hoại. Vì sao như thế? Vì nó sạch vậy. Ðây cũng như thế,
ai không có hai mươi mốt kiết này làm dính mắc tâm bên biết
người này ắt sanh lên Trời, không rơi đường ác. Nếu bậc
Hiền Thánh kia khởi sân nhuế tâm kiết, quán rồi liền có
thể dừng được; khởi nhuế hại tâm kiết, khởi thùy miên
tâm kiết, khởi điều hý tâm kiết, khởi nghi tâm kiết, khởi
nộ tâm kiết, khởi kỵ tâm kiết, khởi não tâm kiết, khởi
tắng tâm kiết, khởi vô tàm tâm kiết, khởi vô úy tâm kiết,
khởi huyễn tâm kiết, khởi gian tâm kiết, khởi ngụy tâm
kiết, khởi tranh tâm kiết, khởi kiêu tâm kiết, khởi mạn
tâm kiết, khởi đố tâm kiết, khởi tâm thượng mạn tâm
kiết, khởi tham tâm kiết. Nếu bậc Hiền Thánh kia không sân,
không nhuế, không có ngu hoặc; tâm ý vui hòa, dùng tâm từ
rải khắp một phương mà tự vui thú: phương thứ hai, phương
thứ ba, phương thứ tư cũng lại như thế; bốn phía trên,
dưới, đối với một trong tất cả cũng thế. Tất cả thế
gian vô hạn vô lượng không thể tính kể; tâm không giận
dữ mà tự du hí, tâm từ này rải khắp trong đó, được
hoan hỉ rồi, tâm ý liền chính.
Lại
dùng tâm bi rải khắp một phương mà tự vui thú phương thứ
hai, phương thứ ba, phương thứ tư cũng lại như thế; bốn
phía trên, dưới, một trong tất cả cũng vậy. Tất cả thế
gian dùng vô lượng, vô hạn cũng không thể tính kể; tâm
không giận dữ mà tự du hí, đem tâm bi rải khắp trong đó,
được hoan hỉ rồi, tâm ý liền chính.
Lại
dùng tâm hỉ rải khắp một phương mà tự vui thú; phương
thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư cũng vậy; bốn phía,
trên, dưới, một trong tất cả cũng vậy. Tất cả thế gian
dùng vô lượng, vô hạn không thể tính kể; tâm không giận
dữ mà tự du hí, dùng tâm hỉ này rải khắp trong đó, được
hoan hỉ rồi, tâm ý liền chính.
Lại
dùng tâm xả (hộ) rải khắp một phương mà tự vui thú; phương
thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư cũng vậy; bốn phía,
trên, dưới, một trong tất cả cũng vậy. Tất cả thế gian
dùng vô lượng, vô hạn không thể tính kể; tâm không giận
dữ mà tự du hí, đem tâm hỉ này tràn khắp trong đó, được
hoan hỉ rồi, tâm ý liền chính.
Lại
đối với Như Lai thành tựu tín căn, căn bản không dời,
dựng cờ cao hiển không thể di động. Chư Thiên, Long Thần,
A-tu-la, Sa-môn, Bà-la-môn hoặc Người đời, trong đây được
hoan hỉ, tâm ý liền chính. Ðây là Như Lai Chí Chân Ðẳng
Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Ðạo PHáp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, trong đây
được hoan hỉ, tâm ý liền chính.
Cũng
lại thành tựu đối với pháp. Pháp của Như Lai rất là thanh
tịnh, không thể dời đổi, được người yêu kính. Như vậy
người trí nên quán điều này, liền ở trong đó được hoan
hỉ, tâm ý liền chính.
Cũng
lại thành tựu đối với chúng. Thánh chúng của Như Lai rất
là thanh tịnh, tánh hạnh thuần hòa, pháp pháp thành tựu,
giới thành tựu, tam-muội thành tựu, trí tuệ thành tựu,
giải thoát kiến tuệ thành tựu. Thánh chúng gồm bốn đôi
tám bậc. Ðây là Thánh chúng của Như Lai, đáng yêu, đáng
quý, thật đáng thừa sự, trong đây được hoan hỷ, tâm ý
liền chính.
Người
ấy lại dùng tam-muội này, tâm được thanh tịnh không có
vết nhơ. Các kiết liền dứt sạch, cũng không nhiễm ô, tánh
hạnh nhu nhuyến, có được thần thông, liền tự biết được
việc của vô lượng đời trước. Từ nơi nào đến đều
biết hết, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm
đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi
đời, năm mươi đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời;
kiếp thành bại, kiếp không thành, hoại, vô số kiếp thành,
hoại, vô số kiếp không thành, hoại. 'Ta từng ở chỗ kia,
tự là gì, tên gì, họ gì, sanh như thế, ăn như thế, chịu
khổ vui như thế, thọ mạng ngắn hay dài. Từ chỗ kia chết
sanh ở đây.' Như thế tự biết việc vô số kiếp trước.
Lại
do tam-muội này, tâm thanh tịnh không có vết nhơ, biết tâm
chúng sanh nghĩ việc gì. Người đó lại dùng Thiên nhãn xem
có người sanh, có người chết, sắc đẹp, sắc xấu, đường
lành, đường ác, hoặc tốt hoặc xấu tùy hạnh của chúng
sanh, đã tạo quả báo thảy đều biết hết. Hoặc có chúng
sanh thân làm ác, miệng làm ác, tâm làm ác, phỉ báng Hiền
Thánh, tạo hạnh tà kiến, thân hoại mạng chung sanh trong ba
đường ác, trong địa ngục. Hoặc lại có chúng sanh thân
làm thiện, miệng nói thiện, tâm nghĩ thiện, không phỉ báng
Hiền Thánh, chánh kiến không có tà kiến, thân hoại mạng
chung sanh chỗ lành, lên Trời. Ðó là thiên nhãn thanh tịnh
xem các loài chúng sanh, có người sanh, có người chết, sắc
đẹp, sắc xấu, đường lành, đường ác, hoặc tốt, hoặc
xấu tùy hạnh chúng sanh, quả báo tạo ra thảy đều biết
hết.
Người
đó lại dùng tam-muội này, tâm thanh tịnh không vết nhơ,
không có kiết sử, tâm tánh nhu nhuyến được thần thông.
Lại dùng lậu tận thông mà tự vui thú. Người đó quán khổ
này, biết như thực. Lại quán khổ tập, lại quán khổ tận,
lại quán khổ xuất yếu, biết như thực. Người đó quán
như thế xong, tâm dục lậu được giải thoát, tâm hữu lậu,
tâm vô minh lậu được giải thoát. Ðược giải thoát rồi
liền được trí giải thoát: 'Sanh tử đã dứt, Phạm hạnh
đã lập, việc phải làm đã làm xong, không còn thọ thân
sau nữa', biết như thực.
Như
thế, này Tỳ-kheo, bậc Hiền Thành tâm được giải thoát,
tuy có ăn cao lương mỹ vị, các thứ ngon lành nhiều như Tu-di
cũng trọn không tội. Vì sao? Vì không dục ái, đã dứt sạch
dục ái vậy; vì không sân, đã dứt sân vậy, vì không ngu
si, đã dứt ngu si vậy. Ðây là Tỳ-kheo ở trong Tỳ-kheo, đã
tắm rửa sạch sẽ hoàn toàn bên trong.
Bấy
giờ Bà-la-môn ở cạnh bờ sông bạch Thế Tôn rằng:
- Sa-môn
Cù-đàm có thể đến bên sông Tôn-đà-la tắm rửa.
Thế
Tôn bảo rằng:
- Thế
nào Bà-la-môn, sao gọi đó là nước sông Tôn-đà-la?
Bà-la-môn
bạch Thế Tôn:
- Nước
sông Tôn-đà-la, phước của nó rất thâm sâu, là ánh sáng
của đời. Nếu có nhân vật nào tắm tại nước sông đó,
tất cả các ác đều trừ sạch cả.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Thân
này vố số kiếp,
Từng
đến tắm sông kia,
Và
các ao vũng nhỏ,
Không
đâu không trải khắp.
Người
ngu thường thích đó,
Mờ
ám không thanh tịnh,
Tội
cũ đầy trong thân,
Sông
kia sao cứu được.
Người
tịnh thường an lạc,
Người
giữ giới cũng vậy,
Người
sạch làm hạnh sạch,
Kìa
nguyện tất quả thành,
Hộ
trì, không chấp thủ
Hành
từ không sát sanh,
Giữ
thành thật không dối,
Tâm
bi không tăng giảm.
Nay
Ông tắm ở đây,
Ắt
được chỗ an ổn,
Sông
kia đến chỗ nào,
Như
mù nhảy vào tối.
Bấy
giờ Bà-la-môn bạch Thế Tôn:
- Thật
đầy đủ, thật đầy đủ! Thưa Cù-đàm! Ví như người gù
được thẳng, người tối được sáng, người mê được
thấy đường, như đèn sáng trong nhà tối, làm con mắt cho
người không mắt. Như vậy, Sa-môn Cù-đàm đã dùng vô số
phương tiện thuyết diệu pháp này. Nguyện xin cho con hành
đạo.
Bấy
giờ Bà-la-môn ở cạnh bờ sông liền được nhập đạo,
thọ giới cụ túc. Cũng như người nào có tâm xuất gia học
đạo, tu Phạm hạnh vô thượng mong đạt đến: 'Sanh tử đã
dứt, Phạm hạnh đã lập, việc phải làm đã làm xong, không
còn thọ thân sau nữa', vị ấy như thực rõ biết. Lúc này,
Tôn giả Tôn-đà-la-đế-lợi thành bậc A-la-hán.
Bấy
giờ Tôn giả Tôn-đà-la-đế-lợi nghe Phật dạy xong, vui vẻ
vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành la-duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật cùng chúng
đại Tỳ-kheo năm trăm người.
Bấy
giờ Thích-đề-hoàn-nhân lúc trời đã về chiều liền đến
chỗ Thế Tôn, quỳ lạy rồi ngồi một bên. Bấy giờ Thích-đề-hoàn-nhân
liền dùng kệ tụng hỏi nghĩa Như Lai:
Hay
thuyết, hay tuyên bố,
Vượt
dòng thành vô lậu,
Ðể
qua vực sanh tử,
Nay
hỏi nghĩa Cù-đàm.
Con
quán chúng sanh này,
Việc
tạo nghiệp phước đức,
Tạo
các hạnh dường ấy,
Thí
ai, phước tối tôn?
Nay
con tại Linh Thứu,
Xin
mong giảng nghĩa này,
Biết
ý thú của Ngài,
Cũng
vì người thí nói.
Bấy
giờ Thế Tôn dùng kệ đáp:
Bốn
đường tạo phước khm
Bốn
quả đầy đủ thánh,
Các
người học được vết,
Nên
tin phụng pháp này.
Không
dục cũng không giận,
Hết
si thành vô lậu,
Vượt
hết tất cả vực,
Thí
kia thành quả lớn.
Các
loại chúng sanh này,
Chỗ
tạo nghiệp phước đức,
Tạo
hạnh bao nhiêu thứ,
Thí
Tăng, được phước nhiều,
Chúng
này độ vô lượng,
Như
biển xuất trân bảo,
Thánh
chúng cũng như vậy,
Diễn
pháp tuệ quang minh.
Cù-đàm
chỗ lành kia,
Người
hay thí chúng Tăng,
Ðược
phước không thể kể,
Bậc
tối thắng đã nói.
Khi
Thích-đề-hoàn-nhân nghe Phật dạy xong, quỳ lạy Phật rồi
lui ra.
Bấy
giờ Thích-đề-hoàn-nhân nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành La-duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật cùng với
chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người.
Bấy
giờ Tôn giả Tu-bồ-đề, cũng tại thành Vương Xá, bên cạnh
núi Kỳ-xà-quật, làm riêng một thất lợp lá để tự thiền
tư. Khi ấy, Tôn giả Tu-bồ-đề thân bị khổ hoạn rất trầm
trọng, liền nghĩ rằng: 'Các thống khổ của ta đây sanh ra
từ đây, từ đâu diệt, rồi đi về đâu?'
Bấy
giờ Tôn giả Tu-bồ-đề liền ở ngoài trời trải tọa cụ,
chánh thân chánh ý, chuyên chú nhất tâm, ngồi kiết-già, suy
nghĩ các nhập, dục hại thống khổ.
Bấy
giờ Thích-đề-hoàn-nhân, biết ý nghĩ của Tôn giả Tu-bồ-đề,
liền dùng kệ sai Ba-giá-tuần rằng:
Thiện
nghiệp, thoát trói buộc,
Ở
tại núi Linh Thứu,
Nay
bị bịnh rất nặng,
Vui
không, các căn định.
Mau
đến thăm hỏi bịnh,
Săn
sóc tôn thượng nhân,
Sẽ
thâu được phước lớn,
Trồng
đức không gì hơn.
Ba-giá-tuần
đáp:
- Xin
vâng, Tôn giả.
Bấy
giờ Thích-đề-hoàn-nhân đem năm trăm Thiên nhân và Ba-giá-tuần;
ví như trong khoảng lực sĩ co duỗi cánh tay, liền biến mất
khỏi cõi trời Ba mươi ba; hiện đến núi Linh Thứu, cách
Tôn giả Tu-bồ-đề không xa, lại dùng kệ bảo Ba-giá-tuần
rằng:
Nay
Ông biết Thiện Nghiệp,
Vui
Thiền định tam-muội,
Tiếng
nhu hòa thanh tịnh,
Nay
khiến từ thiền dậy.
Ba-giá-tuần
đáp:
- Xin
vâng!
Bấy
giờ Ba-giá-tuần nghe lờ