XX.
Phẩm Thiện Tri Thức
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nên
gần gũi Thiện tri thức, chớ lập theo hạnh ác, chớ tin vào
nghiệp ác. Vì sao thế? Gần gũi Thiện tri thức rồi, niềm
tin liền tăng thêm, giới, văn, thí, trí tuệ thảy đều tăng
thêm. Nếu Tỳ-kheo gần gũi Thiện tri thức thì chớ tập theo
hạnh ác. Vì sao thế? Nếu gần gũi Ác trí thức, sẽ không
có tín, giới, văn, thí, trí tuệ. Thế nên các Tỳ-kheo! Hãy
gần gũi Thiện tri thức, chớ gần gũi Ác tri thức. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành La-duyệt, vườn trúc Ca-lan-đà, cùng với
đại chúng Tỳ-kheo gồm năm trăm vị vây quanh trước sau mà
thuyết pháp.
Bấy
giờ Ðề-bà-đạt-đa dẫn năm trăm Tỳ-kheo đi qua, các Thế
Tôn không xa. Thế Tôn từ xa trông thấy Ðề-bà-đạt-đa dẫn
môn đồ liền nói kệ:
Chớ
gần Ác tri thức,
Cũng
chớ ngu theo hầu.
Nên
gần Thiện tri thức,
Bậc
tối thắng trong Người.
Người
vốn không có ác,
Tập
gần Ác tri thức,
Sau
ắt trồng cội ác,
Ở
mãi trong tăm tối.
Lúc
đó năm trăm đệ tử của Ðề-bà-đạt-đa nghe Thế Tôn nói
bài kệ này, liền đến chỗ Thế Tôn cúi lạy, ngồi xuống
một bên. Chốc lát, lui ngồi hướng về Thế Tôn hối lỗi:
- Chúng
con ngu mê không hiểu biết gì. Cúi mong Thế Tôn cho chúng con
sám hối.
Bấy
giờ Thế Tôn nhận lời sám hối của năm trăm Tỳ-kheo kia,
liền thuyết pháp cho họ được tín căn. Lúc ấy, năm trăm
Tỳ-kheo ở chỗ nhàn tĩnh, suy nghĩ pháp thâm sâu. Sở dĩ như
vậy, con nhà vọng tộc xuất gia học đạo, do lòng tin kiên
cố tu Phạm hạnh vô thượng. Bấy giờ năm trăm Tỳ-kheo ấy
liền thành A-la-hán, sanh tử đã dứt, Phạm hạnh đã lập,
việc phải làm đã làm xong, không còn thọ thân sau nữa, như
thật mà biết. Bấy giờ năm trăm Tỳ-kheo thành A-la-hán.
Các
Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn vì vô số chúng vây quanh thuyết pháp.
Lúc
đó ngài Ðàm-ma-lưu-chi ở trong thất vắng, một mình suy nghĩ,
nhập tam-muội thiền, xem thấy tiền thân ở trong biển lớn
làm một con cá thân dài bảy trăm do-tuần, liền từ tịnh
thất đứng lên như trong khoảng lực sĩ co duỗi cánh tay đến
trên tử thi cũ trong biển lớn đi kinh hành. Bấy giờ Ðàm-ma-lưu-chi
liền nói kệ này:
Sanh
tử vô số kiếp,
Lưu
chuyển không thể kể,
Mỗi
mỗi cầu chỗ yên,
Thường
thường chịu khổ não.
Dù
thấy lại thân rồi,
Ý
muốn tạo nhà cửa,
Tất
cả chi tiết hoại,
Hình
thể chẳng được toàn.
Tâm
đã lìa các hạnh,
Ái
trước trọn không sót,
Lại
không thọ thân này,
Vui
mãi trong Niết-bàn.
Bấy
giờ Tôn giả Ðàm-ma-lưu-chi nói kệ này xong, liền từ chỗ
đó biến mất, đến chỗ Thế Tôn ở tinh xá Kỳ Hoàn, thuộc
Xá-vệ. Khi ấy Thế Tôn thấy ngài Ðàm-ma-lưu-chi đến bèn
bảo rằng:
- Lành
thay,
Ðàm-ma-lưu-chi! Lâu lắm mới đến đây!
Ngài
Ðàm-ma-lưu-chi bạch Phật:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn! Ðã lâu con mới đến đây.
Bấy
giờ, Thượng tọa và các Tỳ-kheo đều nghĩ:
- Ông
Ðàm-ma-lưu-chi này hằng ở bên cạnh Thế Tôn mà nay Thế
Tôn bảo là: 'Lành thay, Ðàm-ma-lưu-chi! Lâu lắm mới đến
đây!'.
Thế
Tôn biết tâm niệm các Tỳ-kheo như thế, muốn dứt sự hồ
nghi nên lại bảo các Tỳ-kheo:
- Không
phải vì Ðàm-ma-lưu-chi lâu đến đây mà Ta nói nghĩa này.
Sở dĩ như thế vì khi xưa, vô số kiếp thời quá khứ có
Ðịnh Quang Như lai Chí Chân Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðạo Pháp Ngự,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, xuất hiện ở đời, giáo hóa
tại nước Bát-ma-đại, cùng với mười bốn vạn tám ngàn
đại chúng Tỳ-kheo. Bấy giờ, bốn bộ chúng chẳng thể tính
kể, quốc vương, quần thần, nhân dân đều đến cúng dường,
cung cấp chỗ cần dùng.
Khi
ấy có Phạm chí tên Da-nhã-đạt ở cạnh Tuyết Sơn xem các
bài sấm bí mật, thiên văn, địa lý đều rành rẽ thông
suốt, thư sớ văn tự cũng đều rõ biết; phúng tụng một
câu năm trăm lời, tướng của bậc đại nhân cũng rõ biết
nữa. Ông ta thờ các thần lửa, mặt trời, mặt trăng tinh
tú. Ông dạy năm trăm đệ tử cả đêm không mệt mỏi. Da-nhã-đạt
có đệ tử tên Vân Lôi, nhan mạo đoan chánh ít có ở đời,
tóc màu xanh biếc. Phạm chí Vân Lôi thông minh thấy rộng,
không việc gì chẳng thông, hằng được Da-nhã-đạt yêu mến
không rời một khoảnh khắc.
Bấy
giờ Bà-la-môn đưa ra tất cả những chú thuật mình hành
hết rồi, Phạm chí Vân Lôi nghĩ rằng: 'Nay ra đã học đầy
đủ những chỗ đáng học rồi'. Và lại tự nghĩ: 'Sách vở
ghi các Phạm chí có học, người đã hành chú thuật xong,
nên báo ân thầy. Ngày nay, chỗ đáng học ta đã đều biết
hết. Nay ta phải nên báo ân thầy. Nhưng ta lại nghèo khó,
trống trơn, không có gì để cúng dường thầy, phải nên
đi xuống các cõi nước để tìm những vật cần'.
Phạm
chí Vân Lôi liền đến chỗ thầy, bạch với thầy rằng:
- 'Pháp
kỹ thuật mà Phạm chí phải học, nay con đã biết hết rồi.
Nhưng sách vở ghi chép những người có học kỹ thuật qua
rồi, nên báo ân Thầy, mà con nghèo thiếu, không có vàng bạc
trân bảo có thể dùng cúng dường, nay muốn đến các cõi
nước tìm kiếm tiền của để cúng dường thầy'.
Bà-la-môn
Da-nhã-đạt liền nghĩ: 'Phạm chí Vân Lôi này là người ta
yêu mến không rời tâm, dù ta có chết cũng chẳng thể chia
lìa, huống là hôm nay muốn bỏ ta đi. Nay ra phải làm cách
gì để lưu hắn lại được đây?'
Bấy
giờ, Phạm chí Da-nhã-đạt liền bảo Vân Lôi:
- 'Này
Phạm chí! Nay vốn có điều Bà-la-môn nên học mà Ông vẫn
chưa biết'.
Phạm
chí Vân Lôi liền đến trước bạch thầy:
- 'Cúi
mong Thầy chỉ dạy, điều gì con chưa tụng?'
Vị
thầy bảo Vân Lôi rằng:
- 'Nay
có sách này tên là bài tụng năm trăm lời. Ông có thể thọ
trì'.
Vân
Lôi bạch:
- 'Mong
Thầy truyền dạy, con muốn được phúng tụng'.
Tỳ-kheo
nên biết! Khi ấy Da-nhã-đạt liền trao cho đệ tử bài tụng
năm trăm lời này. Chưa đầy mấy ngày, vị đệ tử đã thông
suốt hết. Bấy giờ Bà-la-môn Da-nhã-đạt bảo năm trăm đệ
tử:
- 'Phạm
chí Vân Lôi này kỹ thuật đầy đủ, không gì chẳng thông,
nay ta đặt tên là Siêu Thuật'.
Phạm
chí Siêu Thuật này thật là tài ba, thiên văn, địa lý đều
thấu suốt rộng rãi, thư sớ văn tự cũng rõ biết. Phạm
chí Siêu Thuật trải qua mấy ngày lại đến bạch thầy:
- 'Pháp
kỹ thuật mà Phạm chí phải học, nay con đều biết rồi.
Nhưng sách vở ghi chép: Các người có học thuật qua rồi,
nên báo ân Thầy; nhưng con nghèo thiếu, không có vàng bạc,
trân bảo có thể dùng cúng dường Thầy, nay con muốn đến
cõi nước tìm tiền của dùng cúng dường Thầy. Cúi mong Thầy
chấp thuận'.
Phạm
chí Da-nhã-đạt bảo:
- 'Ông
biết đúng lúc'.
Phạm
chí Siêu Thuật đến trước lễ chân thầy rồi lui đi.
Bấy
giờ nước Bát-ma-đại cách thành chẳng xa, có chúng Phạm
chí tập trung một chỗ, muốn cúng tế chung và cũng muốn
giảng luận, có đến tám vạn bốn ngàn Phạm chí nhóm chung.
Vị thượng tọa đệ nhất, cũng lại phúng tụng thư sớ
ngoại đạo, không gì không biết rành rẽ, thiên văn, địa
lý, tinh tú, biến quái đều biết rõ hết. Mỗi lúc muốn
giải tán, họ liền lấy năm trăm lượng vàng và một cây
gậy vàng, một bồn tắm bằng vàng, một ngàn con trâu dâng
lên vị thầy và thượng tọa đệ nhất.
Khi
ấy Phạm chí Siêu Thuật nghe cách nước Bát-ma-đại không
xa, có tám vạn bốn ngàn Phạm chí tụ tập một chỗ, họ
có thi học thuật, người nào hơn liền được năm trăm lượng
vàng và một cây gậy, một bồn tắm vàng với một con ngàn
con trâu.
Lúc
ấy Phạm chí Siêu Thuật tự nghĩ: 'Nay ta việc gì phải đi
xin từng nhà, chẳng bằng đến đại chúng kia cùng so kỹ
thuật'.
Bấy
giờ Phạm chí Siêu Thuật ấy liền đến chỗ đại chúng.
Lúc đó, rất đông Phạm chí trông thấy Phạm chí Siêu Thuật
từ xa, đều cất tiếng kêu lớn:
- 'Lành
thay, Từ chủ (Chủ tể)! Hôm nay được lợi lớn khiến cho
Phạm chí đích thân giáng xuống.'
Rồi
tám vạn bốn ngàn các Phạm Chí đều đứng lên nghinh đón,
khác miệng đồng âm mà nói rằng:
- 'Chào
mừng Ngài mới đến! Ðại Phạm Thần Thiên'.
Phạm
Chí Siêu Thuật liền sanh niệm này:
- 'Các
Phạm chí này gọi ta là Phạm Thiên, nhưng ta đâu phải là
Phạm thiên!'
Phạm
chí Siêu Thuật bảo các Bà-la-môn:
- 'Thôi,
thôi! Chư Hiền! Chớ gọi tôi là Phạm thiên, các ông chẳng
lẽ không nghe phía Bắc núi Tuyết có vị thầy của chúng
Phạm chí tên Da-nhã-đạt, thiên văn, địa lý đều thông
suốt sao?'
Các
Phạm chí nói:
- 'Chúng
tôi có nghe nhưng không được thấy.'
Phạm
chí Siêu Thuật nói:
- 'Tôi
là đệ tử của vị ấy, tên Siêu Thuật'
Bấy
giờ Phạm chí Siêu Thuật hướng về vị thượng tọa đệ
nhất của chúng ấy mà bảo rằng:
- 'Nếu
ngài biết kỹ thuật, xin nói cho tôi với.'
Vị
thượng tọa đệ nhất của chúng ấy liền hướng về Phạm
chí Siêu Thuật, tụng Tam tạng, kỹ thuật không có sơ sót.
Bà-la-môn Siêu Thuật lại bảo thượng tọa kia rằng:
- 'Còn
một câu năm trăm lời, nay hãy nói ra'.
Vị
thượng tọa kia nói:
- 'Tôi
không hiểu nghĩa này! Cái gì là một câu năm trăm lời?'
Phạm
chí Siêu Thuật bảo:
- 'Chư
Hiền! Hãy yên lặng lắng nghe tôi thuyết một câu năm trăm
lời về tướng của bậc đại nhân'.
Tỳ-kheo
nên biết! Bấy giờ Phạm chí Siêu Thuật thuật hết Tam tạng
và một câu năm trăm lời về tướng của bậc đại nhân.
Khi ấy tám vạn bốn ngàn Phạm chí khen ngợi:
- 'Chưa
từng có! Rất là kỳ quặc! Chúng ta chưa hề nghe một câu
năm trăm lời ta về tướng của bậc Ðại nhân. Nay Tôn giả
xứng đáng đứng trên vị thượng tọa đệ nhất.'
Bấy
giờ Phạm chí Siêu Thuật đổi chỗ vị thượng tọa kia,
đến ngồi chỗ cao nhất. Lúc ấy vị thượng tọa của chúng
kia hết sức giận sữ, phát lời thề nguyện rằng: 'Nay người
này dời chỗ ngồi của ta mà chiếm chỗ ấy. Nay phước mà
ta có được do tụng kinh, trì giới, khổ hạnh đều đem hết
để thề: Người này sanh chỗ nào, muốn làm gì, ta hằng
làm hư hỏng công lao của ông ta'.
Bấy
giờ vị thí chủ kia bỏ ra năm trăm lạng vàng và một gậy
vàng, một bồn tắm vàng, một ngàn con trâu và một cô gái
đẹp, đem đưa cho thượng tọa để chú nguyện. Lúc đó thượng
tọa bảo chủ nhân rằng:
- Nay
tôi nhận năm trăm lạng vàng này với gậy vàng, bồn vàng
để cúng dường Thầy tôi. Cô gái này và ngàn con trâu trả
lại chủ nhân. Vì sao thế? Vì tôi không tập dục, cũng không
chứa chất tài sản.
Phạm
chí Siêu Thuật nhận gậy vàng, bồn vàng rồi, liền đến
nước Bát-ma-đại. Vua nước này tên là Quang Minh. Lúc ấy,
quốc vương đang thỉnh Ðịnh Quang Như Lai và chúng Tỳ-kheo
để cúng dường y thực. Quốc vương ra lệnh nhân dân trong
thành: 'Ai có hương hoa đều không được bán, nếu có người
bán sẽ bị phạt nặng. Ta sẽ xuất tiền mua, không cần bán
cho người khác'. Vua lại ra lệnh cho nhân dân quét dọn sạch
sẽ, không cho đất cát dơ bẩn, treo giăng phướn lọng, rưới
nước hương trên đất, kỹ nhạc xướng ca không thể tính
kể.
Bấy
giờ Phạm chí kia thấy rồi, liền hỏi người đi đường:
- 'Hôm
nay là ngày gì mà quét dọn đường sá, dẹp bỏ rác rến,
treo giăng phướn lọng không thể tính kể, chẳng lẽ thái
tử của vua lấy vợ chăng?'
Người
đi đường đáp:
- 'Phạm
chí không biết sao? Hôm nay quốc vương Bát-ma-đại thỉnh
Ðịnh Quang Như Lai Chí Chân Ðẳng Chánh Giác để cúng dường
y thực, nên sửa sang đường sá, treo giăng phướn lọng.'
- 'Nhưng
bi ký của Phạm chí cũng có nói rằng: 'Như Lai ra đời rất
khó gặp được. Ðúng lúc bèn xuất hiện, thật không thể
thấy, ví như hoa Ưu-đàm-bát đúng thời mới nở. Ðây cũng
như thế, Như Lai xuất hiện ở đời thật chẳng thể gặp'.
Lại nữa, sách Phạm chí cũng có nói; 'Có hai người ra đời
rất khó được gặp. Thế nào là hai người? Là Như Lai và
Chuyển luân Thánh vương. Hai người này xuất hiện rất khó
gặp được'.
Bấy
giờ ông ta lại nghĩ rằng:
- 'Nay
ta đâu cần cấp tốc báo ân thầy. Nay hãy đem năm trăm lượng
vàng này, dâng lên Ðịnh Quang Như Lai'.
Ông
lại nghĩ: 'Sách vở ghi Như Lai không nhận vàng bạc trân bảo.
Ta có thể cầm năm trăm lượng vàng này mua hương hoa rải
lên Như Lai.'
Bấy
giờ Phạm chí liền vào trong thành tìm mua hương hoa. Mọi
người qua lại trong thành bảo:
- 'Phạm
chí không biết sao? Quốc vương có ra lệnh người nào bán
hương sẽ phạt nặng.'
Phạm
chí Siêu Thuật liền nghĩ: 'Ta thật phước mỏng, tìm hoa chẳng
được biết làm thế nào?'
Rồi
ông trở ra cửa thành mà đứng. Bấy giờ có một cô gái
Bà-la-môn tên là Thiện Vị, cầm bình đi lấy nước, tay cầm
năm cành hoa. Phạm chí thấy rồi hỏi cô gái ấy rằng:
- 'Ðại
muội, nay tôi cần hoa, mong Em bán cho tôi'.
Cô
gái Phạm chí nói:
- 'Tôi
em gái ông hồi nào? Ông có biết ba má tôi không?'
Phạm
chí Siêu Thuật lại nghĩ: 'Cô gái này tánh nết phóng khoáng,
có ý đùa cợt'. Rồi ông nói rằng:
- 'Hiền
nữ! Tôi sẽ trả giá phải chăng, mong cho tôi hoa này'.
Cô
gái Phạm chí nói:
- 'Há
Ông không nghe Ðại vương ra nghiêm lệnh không được bán
hoa sao?'
Phạm
chí nói:
- 'Hiền
nữ! Việc này không khó. Vua không làm gì cô đâu! Nay tôi
cần gấp năm cành hoa này. Tôi được hoa này còn cô được
giá hời.'
Cô
gái Phạm chí nói:
- 'Hoa
này đã lìa rễ, không thể sống được, làm sao lại nói
'tôi muốn trồng?'
Phạm
chí đáp:
- 'Như
chỗ ruộng tốt hôm nay tôi thấy, trồng tro nguội còn sống
hà huống hoa này!'
Cô
gái Phạm chí nói:
- 'Cái
gì là ruộng tốt? Trồng tro thế mà sống sao?'
Phạm
chí đáp:
- 'Hiền
nữ! Có Phật Ðịnh Quang Như Lai Chí Chân Ðẳng Chánh Giác
xuất hiện ở đời.'
Cô
gái Phạm chí nói:
- 'Ðịnh
Quang Như Lai là hạng người nào?'
Phạm
chí liền bảo cô gái ấy rằng:
- 'Ðịnh
Quang Như Lai có đức như thế, có giới như thế, thành tựu
các công đức.'
Cô
gái Phạm chí nói:
- 'Dù
người có công đức, nhưng Ông muốn cần phước gì?'
Phạm
chí đáp:
- 'Mong
đời sau tôi sẽ như Ðịnh Quang Như Lai Chí Chân Ðẳng Chánh
Giác, cấm giới, công đức cũng sẽ như thế.'
Cô
gái Phạm chí nói:
- 'Nếu
Ông hứa với tôi đời đời làm vợ chồng, tôi sẽ cho Ông
hoa.'
Phạm
chí nói:
- 'Nay
việc làm của tôi, ý không dính mắc dục tình.'
Cô
gái Phạm chí nói:
- 'Như
tôi, thân bây giờ không mong làm vợ Ông, cho tôi đời tương
lai làm vợ Ông.'
Phạm
chí Siêu Thuật nói:
- 'Hạnh
của Bồ-tát không có yêu tiếc. Nếu làm vợ tôi, ắt phá
hoại tâm tôi.'
Cô
gái Phạm chí nói:
- '
Tôi trọn không làm hỏng ý bố thí của Ông, ngay cho đem thân
tôi bố thí cho người, tôi trọn không làm hỏng tâm bố thí.'
Bấy
giờ Phạm chí liền đem năm trăm lạng vàng mua năm cành hoa,
cùng cô gái kia thề nguyền với nhau rồi từ biệt đi.
Lúc
ấy, Ðịnh Quang Như Lai Chí Chân Ðẳng Chánh Giác, đến giờ
đắp y ôm bát cùng Tỳ-kheo Tăng trước sau vây quanh vào nước
Bát-ma-đại. Phạm chí Siêu Thuật từ xa thấy Ðịnh Quang
Như Lai, nhan mạo đoan chánh, ai trông thấy cũng hoan hỉ, các
căn tịch tịnh, bước đi không rối loạn, có ba mươi hai
tướng, tám mươi vẻ đẹp, ví như nước lặng không có dơ
đục, ánh sáng chiếu suốt không có chướng ngại, ví như
núi báu xuất hiện vượt trên các núi. Ông ta thấy rồi liền
phát tâm hoan hỉ đối với Như Lai, ông cầm năm cành hoa đến
chỗ Ðịnh Quang Như Lai, đến rồi đứng một bên. Phạm chí
Siêu Thuật bạch Phật Ðịnh Quang rằng:
- 'Mong
Ngài nhận và thuyết pháp cho con. Nếu nay Ngài không truyền
yếu quyết cho con, con sẽ ở chỗ này chấm dứt mạng sống,
không mong sống nữa.'
Bấy
giờ Thế Tôn bảo rằng:
- 'Phạm
chí! Ðâu thể đem năm cành hoa này đòi truyền Vô Thượng
Ðẳng Chánh Giác.'
Phạm
chí bạch:
- 'Xin
Thế Tôn thuyết pháp 'Bồ-tát sở hành cho con'.
Phạt
Ðịnh Quang nói:
- 'Sở
hành của Bồ-tát là không chỗ yêu tiếc.'
Bấy
giờ Phạm chí liền nói kệ:
Chẳng
dám đem cha mẹ,
Cầm
thí cho người ngoài,
Phật,
Chân nhân, Sư trưởng,
Cũng
lại chẳng dám cho,
Nhật
nguyệt xoay ở đời.
Hai
thứ chẳng thể cho,
Thứ
khác đều cho hết,
Ý
quyết chẳng có khó.
Phật
Ðịnh Quang lại dùng kệ này đáp Phạm chí:
Như
điều Ông nói thí,
Chẳng
phải lời Như Lai,
Nên
nhẫn ức kiếp khổ,
Thí
đầu, thân, mắt, tai,
Vợ
con, nước, tiền của,
Xe
ngựa, người theo hầu,
Nếu
kham thí được vậy,
Ta
sẽ truyền yếu quyết.
Ma-nạp
(Phạm chí) liền nói kệ:
Núi
lớn hừng như lửa,
ức
kiếp kham đội đầu,
Chẳng
thể hoại ý đạo,
Cúi
mong truyền yếu quyết.
Bấy
giờ Ðịnh Quang Như Lai im lặng chẳng nói. Phạm chí kia tay
cầm năm cành hoa, quỳ gối mặt xuống đất, tung lên Ðịnh
Quang Như Lai và nói:
- 'Riêng
phước đức này dành cho đời sau, sẽ được như Ðịnh Quang
Như Lai Chí Chân Ðẳng Chánh Giác, không có sai khác.'
Rồi
ông trải tóc mình trên bùn, thầm nghĩ: 'Nếu Như Lai truyền
yếu quyết cho ta, thì sẽ lấy chân đạp trên tóc ta mà đi
qua.'
Tỳ-kheo
nên biết! Ðịnh Quang Như Lai quán sát tâm niệm của Phạm
chí, liền bảo Phạm chí rằng:
- 'Ông
đời tương lai sẽ làm Phật Thích-ca Văn Như Lai Chí Chân
Ðẳng Chánh Giác.'
Phạm
chí Siêu Thuật có bạn đồng học tên Ðàm-ma-lưu-chi ở bên
cạnh Như Lai. Vị này thấy Phật Ðịnh Quang truyền yếu quyết
cho Phạm chí Siêu Thuật, lại đạp chân trên tóc, thấy rồi
liền nói:
- 'Sa-môn
đầu trọc này, sao nỡ cất chân đạp trên tóc Phạm chí
thanh tịnh này. Ðây chẳng phải hạnh của người.'
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
- 'Bấy
giờ Phạm chí Da-nhã-đạt đâu phải người nào khác! Chớ
nên xem như thế. Vì sao? Bấy giờ Da-nhã-đạt nay là vua Bạch
Tịnh (Tịnh-phạn); thượng tọa của tám vạn bốn ngàn Phạm
chí nay là Ðề-bà-đạt-đa, Phạm chí Siêu Thuật là Ta; cô
gái Phạm chí bán hoa lúc đó, nay là Cù-di, vị từ chủ lúc
đó nay là Phạm chí chấp trượng; Ðàm-ma-lưu-chi lúc đó,
miệng tạo hạnh nói lời bất thiện nay là Ðàm-ma-lưu-chi.
Sau đó, Ðàm-ma-lưu-chi trải qua vô số kiếp hằng làm súc
sanh, thọ thân sau cũng làm thân cá dài bảy trăm do tuần ở
trong biển lớn. Từ đó mạng chung đến sanh ở đây, cùng
phụng sự thiện tri thức, hằng gần gũi thiện tri thức,
tập các pháp lành, các căn thông lợi. Do nhân duyên này, Ta
nói đã lâu mới đến đây. Ðàm-ma-lưu-chi cũng tự trình
bày: 'Ðúng vậy, Thế Tôn! Ðã lâu con mới đến đây'. Thế
nên, các Tỳ-kheo, thường nên tu tập thân, miệng, ý hành.
Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
Ta sẽ nói: Có người như sư tử và có người như dê. Các
Thầy hãy lắng nghe, khéo suy nghĩ đó.
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Xin
vâng, Thế Tôn.
Các
Tỳ-kheo bâng lời Phật dạy, Thế Tôn bảo rằng:
- Người
kia tại sao mà giống Sư tử? Ở đây, Tỳ-kheo! Có người
được cúng dường y phục, đồ ẩm thực, giường nằm, thuốc
men trị bịnh. Người đó được rồi liền tự ăn uống,
không khởi tâm dính mắc, cũng không có dục ý, chẳng khởi
các tưởng, hoàn toàn không có niệm này, tự biết pháp xuất
yếu. Cho dù không được lợi dưỡng, cũng không khởi loạn
niệm, không có tâm tăng giảm. Ví như sư tử ăn thịt thú
nhỏ. Bấy giờ vua loài thú ấy cũng không nghĩ rằng: 'Cái
này tốt, cái này chẳng tốt', không có tâm dính mắc, cũng
không dục ý, không khởi các tưởng. Người này cũng lại
như thế. Nếu được cúng dường y phục, đồ ẩm thực,
giường nằm, thuốc men, trị bịnh, người này được rồi
liền tự ăn uống, không khởi ý dính mắc; ví dù không được
cũng không có các niệm.
Ví
như có người nhân người cúng dường y phục, đồ ẩm thực,
giường nằm, thuốc men trị bịnh, được rồi liền ăn uống,
khởi tâm dính mắc, sanh ý ái dục, không biết đạo xuất
yếu. Giả sử không được, người ấy hằng sanh tưởng niệm
này. Người ấy được cúng dường rồi, hướng về các Tỳ-kheo,
mà tự cống cao hủy báng người khác: 'Chỗ ta hay được
y phục, đồ ẩm thực, giường nằm, thuốc men trị bịnh.
Các Tỳ-kheo này không hay được.' Ví như có một con dê trong
bầy dê lớn, ra khỏi bầy, đến đống phân lớn. Con dê này
ăn phân no rồi trở về bầy dê, liền tự cống cao: 'Nay ta
được ăn ngon, các con dê này không hay được ăn.' Ðây cũng
như thế, nếu có một người được lợi dưỡng y phục,
ẩm thực, giường nằm, thuốc men trị bịnh, khởi các loạn
tưởng, sanh tâm dính mắc, người ấy liền hướng về các
Tỳ-kheo mà tự cống cao: 'Ta hay được cúng dường, các Tỳ-kheo
này chẳng hay được cúng dường'. Thế nên, các Tỳ-kheo hãy
học như vua sư tử, chớ như dê. Như thế, này các Tỳ-kheo,
nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
có chúng sanh biết báo đền, người này đáng kính, ân nhỏ
còn chẳng quên huống là ân lớn. Cho dù người ấy rời nơi
đây ngàn do-tuần, trăm ngàn do-tuần mà chẳng là xa, vẫn
không khác gần Ta. Vì sao? Tỳ-kheo nên biết, Ta thường khen
ngợi người biết báo đền.
Có
các chúng sanh chẳng biết báo đền, ân lớn còn chẳng nhớ
hà huống nhỏ. Người đó chẳng gần Ta, Ta chẳng gần người
đó. Ngay cho họ đắp Tăng-già-lê ở sát bên Ta, người này
vẫn xa. Vì sao? Ta thường chẳng nói về người không báo
đền. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy nghĩ báo đền, chớ học
không báo đền. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều
này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
có người lười biếng, trồng hạnh bất thiện, có sự mất
mát đối với công việc. Nếu có người có thể không lười
biếng, tinh tấn, người này tối diệu, có sự tăng ích ở
các pháp lành. Vì sao? Bồ-tát Di-lặc trải qua ba mươi kiếp,
đáng lẽ làm Phật Chí Chân Ðẳng Chánh Giác. Ta do sức tinh
tấn, dõng mãnh, khiến Di-lặc ở sau. Hằng sa Như Lai Chí Chân
Ðẳng Chánh Giác thời quá khứ đều do dũng mãnh mà được
thành Phật. Do phương tiện này nên biết lười biếng là
khổ, làm các hạnh ác, có tổn hại cho việc làm. Nếu hay
tinh tấn, tâm dũng mãnh mạnh, các công đức lành co tăng thêm.
Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy nhớ tinh tấn, chớ có lười biếng.
Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Tỳ-kheo
tịch tĩnh (A-lan-nhã) nên tu hành hai pháp. Thế nào là hai pháp?
Nghĩa là Chỉ và Quán. Nếu Tỳ-kheo tịch tĩnh, được Chỉ,
thôi dứt, thì giới luật được thành tựu, chẳng mất oai
nghi, chẳng phạm cấm hạnh, tạo các công đức. Nếu Tỳ-kheo
tịch tĩnh lại được quán rồi, liền quán Khổ này, như
thật mà biết, quán Khổ tập, quán Khổ tận, quán Khổ xuất
yếu, như thật mà biết. Người đó quán như thế xong, tâm
dục lậu giải thoát, tâm hữu lậu, tâm vô minh lậu được
giải thoát, liền được trí giải thoát, sanh tử đã dứt,
Phạm hạnh đã lập, việc phải làm đã làm xong, không còn
thọ thân sau nữa, như thật mà biết. Chư Như Lai Chí Chân
Ðẳng Chánh Giác quá khứ đều do hai pháp này mà được thành
tựu. Vì sao thế? Giống như Bồ-tát lúc ngồi dưới gốc
cây thọ vương, trước suy nghĩ pháp Chỉ và Quán này. Nếu
Bồ-tát Ma-ha-tát được Chỉ rồi, liền có thể hàng phục
ma oán. Nếu Bồ-tát lại được Quán rồi, liền thành tựu
tam đạt trí, chứng đắc Vô Thượng Chí Chân Ðẳng Chánh
Giác. Thế nên, các Tỳ-kheo! Tỳ-kheo tịch tĩnh nên tìm phương
tiện hành hai pháp này. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học
điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
có Tỳ-kheo tu hạnh tịch tĩnh (A-lan-nhã) ở chỗ vắng vẻ,
không ở trong chúng, hằng nên cung kính, phát tâm hoan hỉ.
Nếu lại có Tỳ-kheo tu tịch tĩnh, ở chỗ vắng vẻ, không
có cung kính, không phát tâm hoan hỉ thì ngay cho ở trong đại
chúng, họ sẽ bị người đàm luận là không biết pháp tịch
tĩnh (A-lan-nhã): 'Thế là Tỳ-kheo tịch tĩnh này, không cung
kính, không phát tâm hoan hỉ'.
Lại
nữa Tỳ-kheo! Tỳ-kheo tịch tĩnh, ở chỗ vắng vẻ, không
ở trong chúng, thường nên tinh tấn, chớ có giải đãi, tất
sẽ hiểu rõ các pháp yếu. Nếu Tỳ-kheo tịch tĩnh (A-lan-nhã)
lại ở chỗ vắng vẻ, có tâm lười biếng, tạo các hạnh
ác thì họ ở trong chúng bị người luận bàn: 'Tỳ-kheo tịch
tĩnh (A-lan-nhã) này giải đãi, không có tinh tấn.' Thế nên,
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tịch tĩnh ở chỗ vắng vẻ, không ở trong
chúng thường nên thấp ý, phát tâm hoan hỉ, chớ có giải
đãi, không có cung kính, nhớ hành tinh tấn, ý không dời đổi,
ở các pháp lành tất sẽ đầy đủ. Như thế, này các Tỳ-kheo,
nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
hai người không thể khéo thuyết pháp ngữ. Thế nào là hai?
Là người không tin mà thuyết pháp tin cho họ, việc này rất
khó. Người tâm xan tham mà thuyết pháp thí cho họ, đây cũng
rất khó.
Lại
nữa, này Tỳ-kheo! Nếu người không tin mà thuyết pháp về
đức tin cho họ, họ liền nổi sân giận, khởi tâm làm hại.
Ví như chó dữ lại thêm mũi đau, càng giận dữ nhiều thêm.
Các Tỳ-kheo! Ðây cũng như thế, người không tin mà thuyết
pháp tin cho họ, họ liền nổi sân giận, sanh tâm tổn hại.
Lại
nữa, này Tỳ-kheo! Nếu người xan tham mà thuyết pháp bố
thí cho họ, họ liền sanh sân giận, khởi tâm tổn hại. Ví
như mụt nhọt chưa mùi, lại thêm dao khoét đau không chịu
nổi. Ðây cũng như thế, người xan tham mà thuyết pháp bố
thí cho họ, họ lại càng sân giận, khởi tâm tổn hại. Ðó
là, này Tỳ-kheo! Hai người này khó vì họ thuyết pháp.
Lại
nữa, này Tỳ-kheo! Có hai người dễ vì họ thuyết pháp. Thế
nào là hai? Người có lòng tin, thuyết pháp tin cho họ; người
không xan tham thuyết pháp thí cho họ. Này Tỳ-kheo! Nếu người
có lòng tin thuyết pháp tin cho họ, họ liền được hoan hỉ,
ý không hối hận biến đổi. Ví như người có bệnh, nói
thuốc trừ bệnh, liền được bình phục. Ðây cũng như thế,
người có lòng tin, thuyết pháp tin cho họ, họ liền được
hoan hỉ, tâm không biến đổi.
Lại
nữa, nếu người không tham, thuyết pháp thí cho họ, họ liền
được hoan hỉ, không có tâm hối hận. Ví như có trai, gái
đoan chính, tự ưa tắm rửa mặt mũi tay chân, lại có người
đến cầm hoa đẹp dâng lên tô bồi nhan sắc; lại lấy áo
tốt, phục sức dâng lên người ấy. Người ấy được rồi
càng thêm hoan hỉ. Ðây cũng như thế, người không lẫn tiếc,
thuyết pháp thí cho họ, họ liền được hoan hỉ, không có
tâm hối hận. Ðó là, này Tỳ-kheo, hai người này dễ vì
họ thuyết pháp. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy học có lòng tin,
cũng nên học bố thí, chớ có xan tham. Như thế, này các Tỳ-kheo,
nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
10.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
hai pháp dành cho người phàm phu, được công đức lớn, thành
quả báo lớn, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi. Thế nào
là hai pháp? Là cúng dường cha, mẹ. Ðó là hai người được
công đức lớn, thành quả báo lớn.
Lại
nữa, nếu cúng dường Bồ-tát một đời bổ xứ, được
công đức lớn, được quả báo lớn. Ðó là, này Tỳ-kheo!
Bố thí hai người này được công đức lớn, hưởng quả
báo lớn, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi. Thế nên, các
Tỳ-kheo, hãy thường nhớ hiếu thuận, cúng dường cha mẹ.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
11.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Dạy
hai người làm lành, không thể báo ân được. Thế nào là
hai? Nghĩa là cha, mẹ.
Này
Tỳ-kheo, nếu lại có người, vai phải cõng cha, vai trái cõng
mẹ đến ngàn vạn năm, lo y phục, thức ăn, giường nằm,
thuốc men trị bịnh, dù cha mẹ tiểu tiện, đại tiện ở
trên vai, người ấy vẫn chẳng thể báo ân được. Tỳ-kheo
nên biết, cha mẹ ân nặng, bồng ẵm, nuôi nấng, tùy lúc
gìn giữ chẳng lỡ thời tiết như được thấy mặt trời,
mặt trăng. Dùng phương tiện này, biết ân này, khó báo. Thế
nên, các Tỳ-kheo, hãy cúng dường cha mẹ, thường nên hiếu
thuận, chẳng lỡ thời tiết. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên
học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
12.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Tôn giả Bàn-đặc bảo em là Châu-lợi-bàn-đặc rằng:
- Nếu
em không thể trì giới được thì trở về làm cư sĩ.
Ngài
Châu-lợi-bàn-đặc nghe lời này xong, liền đến đứng ngoài
cửa Tinh xá Kỳ Hoàn khóc ròng. Bấy giờ đức Thế Tôn dùng
Thiên nhãn thanh tịnh, xem thấy Tỳ-kheo Châu-lợi-bàn-đặc
đứng ngoài cửa buồn khóc không dừng được. Thế Tôn liền
từ tịnh thất đứng lên, dường như đi kinh hành, đến ngoài
cửa Tinh xá Kỳ Hoàn hỏi Châu-lợi-bàn-đặc rằng:
- Tỳ-kheo,
cớ sao đứng đây khóc lóc?
Tôn
giả Châu-lợi-bàn-đặc đáp:
- Bạch
Thế Tôn, Anh con xua đuổi con, nói không thể trì giới thì
trở về làm cư sĩ, không nên ở đây. Vì thế, con buồn khóc.
Thế
Tôn bảo:
- Tỳ-kheo,
chớ ôm lo sợ, Ta thành Vô Thượng Ðẳng Chánh Giác, chớ
chẳng phải Bàn-đặc anh Thầy đắc đạo.
Bấy
giờ Thế Tôn tay nắm Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc, dẫn đến
tịnh
thất bảo ngồi, rồi Thế Tôn lại dạy cầm chổi quét;
- Thầy
tụng chữ này là chữ gì?
Bấy
giờ Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc tụng chữ 'quét' lại quên
chữ 'chổi'. Nếu tụng chữ 'chổi' lại quên chữ 'quét'.
Bấy giờ Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc tụng 'chổi quét' này
qua mấy ngày. Mà 'chổi quét' này gọi là trừ dơ. Tôn giả
Châu-lợi-bàn-đặc lại nghĩ: 'Cái gì là trừ? Cái gì là
dơ?'
Dơ
là tro, đất, ngói, gạch; trừ là thanh tịnh.
Tôn
giả lại nghĩ: 'Thế Tôn cớ sao dùng điều này dạy ta. nay
ta nên suy nghĩ nghĩa này'. Do suy nghĩ nghĩa này, Tôn giả lại
nghĩ: 'Nay trên thân ta cũng có bụi dơ, ta tự ví dụ. Thế
nào là trừ? Thế nào là dơ?'
Tôn
giả lại nghĩ: 'buộc kết là dơ, trí tuệ là trừ. Nay ta
có thể lấy chổi trí tuệ quét trói buộc này.'
Bấy
giờ Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc suy nghĩ Ngũ thạnh ấm, sự
thành, sự bại, nghĩa là sắc này, sắc tập, sắc diệt; thọ,
tưởng, hành, thức, sự thành sự bại cũng lại như vậy.
Lúc ấy, Tôn giả tư duy về Ngũ thạnh ấm này xong, tâm dục
được giải thoát, tâm hữu lậu, tâm vô mninh lậu được
giải thoát; đã được giải thoát liền được trí giải
thoát; sanh tử đã dứt, Phạm hạnh đã lập, việc phải làm
đã làm xong, không còn thọ thân nữa, như thật mà biết.
Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc liền thành A-la-hán. Ðã thành
A-la-hán, Tôn giả liền từ chỗ ngồi đứng lên, đến chỗ
Thế Tôn, cúi lạy rồi ngồi một bên, bạch Thế Tôn:
- Nay
con đã có trí, nay đã có tuệ, nay đã hiểu chổi quét.
Thế
Tôn nói:
- Tỳ-kheo,
Thầy hiểu thế nào?
Tôn
giả Châu-lợi-bàn-đặc đáp:
- Trừ
đó là tuệ, dơ là kết.
Thế
Tôn bảo:
- Lành
thay, Tỳ-kheo! Như lời Thầy nói, trừ là tuệ, dơ là kết.
Bấy
giờ Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc hướng về Thế Tôn mà nói
kệ:
Nay
tụng này đã đủ,
Như
chỗ Ngài đã nói,
Trí
tuệ hay trừ dơ
Chẳng
do hạnh nào khác.
Thế
Tôn bảo:
- Tỳ-kheo,
như lời Thầy nói, do trí tuệ chứ không do gì khác.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
13.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
hai pháp này, chẳng thể mong đợi cũng chẳng đủ yêu mến,
người đời ném bỏ. Thế nào là hai pháp? Là oán ghét gặp
gỡ. Ðiều này không thể mong đợi, cũng không đủ yêu mến,
người đời ném bỏ; và ân ái biệt ly, chẳng thể mong đợi
cũng không đủ yêu mến, người đời ném bỏ. Ðó là, Tỳ-kheo,
có hai pháp này, người đời chẳng vui, chẳng thể mong đợi.
Này
Tỳ-kheo, lại có hai pháp người đời chẳng bỏ. Thế nào
là hai pháp? Oán ghét biệt ly là chỗ người đời ưa và ân
ái tụ họp một chỗ, rất đáng yêu kính, là chỗ người
đời ưa thích. Ðó là, Tỳ-kheo, có hai pháp người đời ưa
thích. Nay Ta nói về oán ghét tụ họp, ân ái biệt ly này,
lại nói oán ghét biệt ly, ái ân tụ họp là có nghĩa gì?
Có duyên gì?
Tỳ-kheo
đáp:
- Thế
Tôn là vua các pháp, cúi mong Thế Tôn thuyết cho chúng con,
các Tỳ-kheo nghe xong sẽ vâng làm.
Thế
Tôn bảo:
- Lắng
nghe, khéo suy nghĩ, Ta sẽ vì Thầy phân biệt nói. Này các
Tỳ-kheo, hai pháp này do ái mà dấy lên, do ái mà sanh, do ái
mà thành, do ái mà khởi. Nên học trừ ái, chớ khiến cho
sanh. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
--------------------------------------------------------------------------------
XXI.
Phẩm Tam Bảo
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
ba đức tự quy y. Thế nào là ba? Nghĩa là quy y Phật, đức
thứ nhất; quy y Pháp, đức thứ hai; quy y Tăng, đức thứ
ba.
Thế
nào gọi là đức tự quy y Phật? Có các chúng sanh hai chân,
bốn chân, chúng nhiều chân; có sắc, không sắc, có tưởng
không tưởng đến trên Ni Duy Tiên Thiên (Trời Sắc cứu cánh);
trong đây, Như Lai là bậc tối tôn, tối thượng, không ai
bì kịp. Do bò được sữa, do sữa được bơ, do bơ được
tô, do tô được đề hồ; nhưng ở đây, đề hồ là thứ
tối tôn, tối thượng, không gì sánh kịp. Ðây cũng như thế,
có các chúng sanh hai chân, bốn chân, chúng nhiều chân, có
sắc, không sắc, có tưởng không tưởng đến trên Ni Duy Tiên
Thiên (Trời Sắc cứu cánh); ở trong đó, Như Lai là bậc tối
tôn, tối thượng, không ai sánh kịp. Có các chúng sanh thừa
sự Phật, đó là đức phụng sự đệ nhất. Ðã được đức
đệ nhất, liền hưởng phước trên Trời, hay trong loài Người.
Ðây gọi là đức đệ nhất.
Thế
nào gọi là đức tự quy ý Pháp? Nghĩa là các pháp hữu lậu,
vô lậu, hữu vi, vô vi, vô dục, vô nhiễm, diệt tận Niết-bàn;
nhưng pháp Niết-bàn ở trong các pháp là tối tôn, tối thượng,
không gì có thể bằng. Do bò được sữa, do sữa được bơ,
do bơ được tô, do tô được đề hồ; nhưng ở trong đó,
đề hồ lại là tối tôn, tối thượng, không gì sánh kịp.
Ðây cũng như thế, nghĩa là các pháp hữu lậu, vô lậu, hữu
vi, vô vi, vô dục, vô nhiễm, diệt tận, Niết-bàn; nhưng trong
đó, pháp Niết-bàn là tối tôn, tối thượng, không gì sánh
kịp. Có các chúng sanh thừa sự pháp, đó là đức thừa sự
đệ nhất. Ðã được đức đệ nhất, liền được hưởng
phước trên Trời, trong loài Người. Ðây gọi là đức đệ
nhất.
Thế
nào gọi là đực tự quy y Thánh chúng? Thánh chúng nghĩa là
trong các loại chúng sanh hữu tình nhóm lại thành nhóm lớn,
chúng lớn, thì ở trong chúng này, chúng Tăng của Như Lai là
tối tôn, tối thượng, không gì sánh kịp. Do bò được sữa,
do sữa được bơ, do bơ được tô, do tô được đề hồ;
nhưng trong đó đề hồ lại là tối tôn, tối thượng, không
gì sánh kịp. Ðây cũng như thế, Thánh chúng nghĩa là chúng
Tăng của Như Lai trong loài hữu tình nhóm họp lại thành chúng
lớn, là tối tôn, tối thượng, không gì sánh kịp. Ðó là
đức thừa sự đệ nhất. Ðã được đức đệ nhất, liền
được hưởng phước trên Trời, trong loài Người. Ðây gọi
là đức đệ nhất.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Ðệ
nhất thừa sự Phật,
Tối
tôn không ai hơn,
Kế
lại thừa sự Pháp,
Vô
dục không chỗ vương,
Kính
thờ chúng Hiền Thánh,
Là
ruộng phước tốt nhất,
Người
ấy trí đệ nhất,
Hưởng
phước trước hơn hết,
Nếu
ở trong Trời, Người,
Ở
chúng là chánh đạo
Cũng
đưọc tòa tối diệu
Tự
nhiên uống cam lộ,
Thân
mặc áo bảy báu.
Ðược
mọi người cung kính,
Giới
đầy đủ hoàn toàn,
Các
căn không sơ sót.
Cũng
được biển trí tuệ,
Dần
đến cõi Niết-bàn.
Người
có tam quy này,
Hướng
đến đạo chẳng khó.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
ba phước nghiệp này. Thế nào là ba? Bố thí là phước nghiệp,
bình đẳng là phước nghiệp, tư duy là phước nghiệp.
Thế
nào gọi bố thí là phước nghiệp? Nếu có một người mở
lòng bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, người hết sức bần cùng,
người cô độc, người không nơi nương tựa, cần ăn cho
ăn, cần nước cho nước, y phục, thức ăn, giường nằm,
thuốc men trị bệnh, hương hoa, chỗ ở, tùy theo sự thuận
tiện của thân, không có yêu tiếc. Ðây gọi là phước nghiệp
bố thí.
Thế
nào gọi bình đẳng là phước nghiệp? Nếu có một người
không giết hại, không trộm cắp, hằng biết hổ thẹn, không
dấy tư tưởng ác, cũng không trộm cắp, thích bố thí cho
người, không tâm tham lẫn, nói năng hòa nhã, không tổn thương
tâm người, cũng không dâm dục với vợ hay chồng người
khác, tự tu Phạm hạnh, tự đủ với sắc vợ hay chồng mình,
cũng không vọng ngữ, hằng nghĩ chí thành, không lời hư dối.
Người ấy được người đời kính nể, không có thêm bớt,
cũng không uống rượu, hằng biết tránh loạn động, lại
đem tâm từ rải khắp một phương, hai phương, ba phương,
bốn phương cũng thế; tám hướng, trên dưới, đầy khắp
trong đó không hạn, không lượng, không thể giới hạn, không
thể tính kể; dùng tâm từ này che khắp tất cả khiến được
an ổn; lại đem tâm bi, hỉ, xả (hộ) trải khắp một phương,
hai phương, ba phương, bốn phương cũng vậy, tám hướng, trên
dưới, đều tràn đầy trong đó không hạn, không lượng,
chẳng thể tính kể; dùng tâm bi, hỉ, xả, rải đầy trong
đó. Ðó gọi là bình đẳng là phước nghiệp.
Thế
nào gọi tư duy là phước nghiệp? Ở đây, Tỳ-kheo, tu hành
niệm giác ý, ý vô dục, ý vô quán, ý diệt tận, ý xuất
yếu, tu pháp giác ý, tu niệm giác ý, tu ý giác ý, tu định
giác ý, tu xả (hộ) giác ý, ý vô dục, ý vô quán, ý diệt
tận, ý xuất yếu. Ðó gọi là tư duy là phước nghiệp. Như
thế, Tỳ-kheo, có ba phước nghiệp này.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Bố
thí và bình đẳng,
Từ
tâm, xả, tư duy,
Có
ba xứ sở này,
Chỗ
người trí thân cận,
Trong
đây hưởng báo này,
Trên
trời cũng lại thế.
Do
có ba chỗ này,
Sanh
Thiên ắt chẳng nghi.
Thế
nên, các Tỳ-kheo, hãy tìm phương tiện đến ba chỗ này. Như
thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
ba nhân duyên khiến thức đi đến thọ thai? Thế nào là ba?
Ở đây, Tỳ-kheo! Mẹ có dục ý, cha mẹ ở chung một nơi,
cùng nghỉ ngơi chung, nhưng ngoại thức lại chưa ứng hướng
đến liền chẳng thành thai. Nếu thức muốn chạy đến mà
cha mẹ không giao hợp thì chẳng thành thai. Nếu người mẹ
lại không dục, cha mẹ cộng hợp một nơi, bấy giờ ý dục
của cha mẹ, mẹ không ân cần lắm thì không thành thai. Nếu
cha mẹ hợp lại một nơi, mẹ lòng dục mạnh mẽ mà cha chẳng
ân cần lắm thì không thành thai. Nếu cha mẹ lại ở một
nơi, cha có bịnh phong, mẹ có bịnh lạnh thì không thành thai.
Nếu cha mẹ lại ở một nơi, mẹ có bịnh phong, cha có bịnh
lạnh thì không thành thai. Nếu lại có lúc cha mẹ hợp một
chỗ, thân cha thủy khí hơi nhiều, mẹ không có bệnh này
thì không thành thai. Nếu lại có lúc, cha mẹ hợp một nơi,
tướng cha có con, tướng mẹ không con thì không thành thai.
Nếu có lúc, cha mẹ hợp một nơi, tướng mẹ có con, tướng
cha không con thì không thành thai. Nếu lại có lúc tướng cả
cha lẫn mẹ không con, thì không thành thai. Nếu lại có lúc
thức thần đến thai mà cha đi vắng thì không thành thai. Nếu
lại có lúc cha mẹ nên ở một nơi, mà mẹ đi xa thì không
thành thai. Nếu lại có lúc cha mẹ đáng lý ở một nơi, nhưng
thân cha gặp bịnh nặng lúc thức thần hướng đến thì không
thành thai. Nếu lại có lúc cha mẹ đáng nên hợp một nơi,
thức thần hướng đến như thân mẹ bị bịnh nặng thì không
thành thai. Nếu lại có lúc cha mẹ đáng nên hợp một nơi,
thức thần chạy đến, những thân cả cha và mẹ đều bịnh
tật thì không thành thai.
Lại
nữa, này Tỳ-kheo, nếu cha mẹ hợp một nơi, cha mẹ không
bịnh, thức thần hướng đến, mà tướng cha mẹ đều có
con, thì đây thành thai. Ðó là ba nhân duyên này mà đến thọ
thai. Thế nên, Tỳ-kheo, hãy tìm phương tiện đoạn dứt ba
nhân duyên. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
cho chúng sanh muốn khởi tâm từ, có lòng tin thuần thành,
vâng nhận phụng sự cha mẹ, anh em, dòng họ, nhà cửa, bằng
hữu, tri thức nên đặt ở ba nơi khiến không di động. Thế
nào là ba? Nên phát tâm hoan hỉ đối với Như Lai, tâm không
di động, bậc Như Lai Chí Chân Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thuợng Sĩ, Ðạo Pháp
Ngự, Thiên Nhân Sư hiệu là Phật, Thế Tôn.
Lại
nên phát ý ở trong Chánh pháp, pháp của Như Lai khéo thuyết,
vô ngại, rất là vi diệu, do đây mà thành quả vị. Như thế
người trí nên học để biết, cũng nên phát ý với Thánh
chúng này, Thánh chúng của Như Lai thảy đều hòa hợp, không
có lẫn lộn, pháp thành tựu, giới thành tựu, tam muội thành
tựu, trí tuệ thành tựu, giải thoát thành tựu, giải thoát
kiến tuệ thành tựu. Thánh chúng nghĩa là bốn đôi, tám bậc,
mười hai Hiền Thánh. Ðây là Thánh chúng của Như Lai, đáng
kính, đáng quý. Ðây là phước điền vô thượng của thế
gian. Có các Tỳ-kheo học ba điều này thì thành tựu quả
báo lớn. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Tỳ-kheo Cù-ba-ly đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi ngồi
một bên.
Lúc
ấy Tỳ-kheo kia bạch Thế Tôn:
- Tỳ-kheo
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên việc làm rất ác, tạo các
hạnh ác.
Thế
Tôn bảo:
- Chớ
nói thế! Thầy hãy phát tâm hoan hỉ đối với Như Lai. Tỳ-kheo
Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất việc làm thuần thiện, không
có các điều ác.
Tỳ-kheo
Cù-ba-ly hai ba phen bạch Thế Tôn:
- Như
Lai nói thật không có hư vọng, nhưng Tỳ-kheo Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên việc làm rất ác, không có gốc lành.
Thế
Tôn bảo:
- Thầy
là người ngu! Chẳng tin lời Như Lai, mới bảo Tỳ-kheo Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên việc làm rất ác. Nay Thầy tạo hạnh ác này,
sẽ chịu quả báo không lâu.
Bấy
giờ Tỳ-kheo kia ở ngay trên chỗ ngồi, thân mọc mụt nhọt
độc, lớn bằng hột cải, dần bằng hột đậu, dần dần
như trái a-ma-lặc, gần bằng bồ đào, lại bằng nắm tay,
máu mủ chảy tràn, thân hoại mạng chung, sanh trong địa ngục
hoa sen.
Bấy
giờ Tôn giả Ðại Mục-kiền-liên nghe Cù-ba-ly mạng chung,
liền đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy ngồi một bên. Chốc lát,
Tôn giả ngồi lùi ra bạch Phật:
- Tỳ-kheo
Cù-ba-ly bị sanh ở đâu?
Thế
Tôn bảo:
- Người
đó mạng chung sanh trong địa ngục hoa sen.
Bấy
giờ Tôn giả Mục-kiền-liên bạch Thế Tôn:
- Nay
con muốn đến địa ngục ấy giáo hóa Thầy ấy.
Thế
Tôn bảo:
- Mục-kiền-liên,
Thầy chẳng cần đến đó.
Mục-kiền-liên
lại bạch Thế Tôn lần nữa:
- Con
muốn đến địa ngục đó giáo hóa Thầy ấy.
Bấy
giờ Thế Tôn cũng im lặng không đáp. Tôn giả Mục-kiền-liên
như trong khoảng lực sĩ co duỗi cánh tay, từ Xá-vệ biến
mất, liền đến trong đại địa ngục hoa sen. Ngay lúc đó,
Tỳ-kheo Cù-ba-ly thân thể đang bị lửa đốt, lại có trăm
con trâu cày trên lưỡi.
Bấy
giờ Tôn giả Mục-kiền-liên ngồi kiết-già ở trong hư không,
búng móng tay báo cho Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo ấy ngước lên hỏi:
- Thầy
là ai?
Tôn
giả Mục-kiền-liên đáp:
- Cù-ba-ly,
Ta là đệ tử Phật Thích-ca Văn, tên Mục-kiền-liên, họ
Câu-lợi-đà.
Lúc
ấy, Tỳ-kheo thấy Mục-kiền-liên rồi liền thốt lời ác:
- Nay
ta đã đọa xuống cõi ác này, vẫn không thoát khỏi thấy
Thầy ở trước nữa sao?
Nói
lời này xong, lập tức có ngàn con trâu cày trên lưỡi. Tôn
giả Mục-kiền-liên thấy rồi tăng thêm buồn rầu, sanh lòng
hối hận, liền biến mất, trở về nước Xá-vệ, đến chỗ
Thế Tôn, cúi lạy rồi đứng một bên. Tôn giả đem nhân
duyên này bạch đủ với Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo:
- Trước
Ta đã nói với Thầy chẳng cần đến đó gặp người ác
ấy. Thế Tôn bèn nói kệ:
Phàm
người sanh ra,
Búa
ở trong miệng,
Sở
dĩ chém thân,
Do
lời ác này.
Kia
dứt ta dứt,
Cả
hai đều thiện,
Ðã
tạo hạnh ác,
Ðó
đọa cõi ác.
Ðây
là ác nhất,
Hữu
tận, vô tận,
Ác
với Như Lai,
Người
này nặng nhất.
Một
muôn ba ngàn,
Sáu
(mươi) mốt ngục tro.
Báng
Thánh đọa đó,
Do
thân miệng tạo.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nên
học ba pháp để thành tựu hạnh của mình. Thế nào là ba?
Thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành. Như thế, này
các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
có Tỳ-kheo thành tựu ba pháp, ở pháp hiện tại khéo được
khoái lạc, dũng mãnh tinh tấn, dứt sạch được hữu lậu.
Thế nào là ba? Ở đây, Tỳ-kheo các căn tịch tĩnh, ăn uống
biết tiết độ, chẳng bỏ kinh hành.
Thế
nào là Tỳ-kheo các căn tịch tĩnh? Ở đây, Tỳ-kheo nếu mắt
thấy sắc, chẳng khởi tưởng dính mắc, không có nghĩ nhớ
(thức niệm) ở nhãn căn được thanh tịnh, nhân kia cầu giải
thoát, hằng thủ hộ nhãn căn. Nếu tai nghe tiếng, mũi ngửi
mùi, lưỡi nếm vị, thân biết xúc chạm, ý biết pháp, chẳng
khởi tưởng dính mắc, không có nghĩ nhớ (thức niệm) ở
ý căn được thanh tịnh, nhân đó cầu giải thoát, hằng hộ
ý căn. Như thế là Tỳ-kheo các căn tịch tĩnh.
Thế
nào là Tỳ-kheo ăn uống biết điều độ? Ở đây, Tỳ-kheo
suy xét thức ăn uống từ chỗ nào đến, chẳng cầu mập
trắng, chỉ muốn thân hình được toàn vẹn tứ đại: 'Nay
ta nên trừ thọ cũ, chẳng cho cái mới sanh, khiến thân có
sức được tu hành theo đạo, để Phạm hạnh chẳng dứt
tuyệt'. Ví như thân nam, nữ sanh mụt nhọt độc, dùng cao
mỡ bôi nhọt. Sở dĩ bôi lên mụt nhọt là muốn cho nó lành.
Ðây cũng thế! Các Tỳ-kheo ăn uống biết tiết độ. Ở đây
Tỳ-kheo suy nghĩ thức ăn từ đâu tới, chẳng cầu mập trắng,
chỉ muốn thân hình được vẹn toàn tứ đại: 'Nay ta nên
trừ thọ cũ, khiến cái mới chẳng sanh, khiến thân có sức
được tu hành đạo, khiến Phạm hạnh chẳng dứt.' Ví như
xe chở nặng, sở dĩ bôi mỡ vào trục bánh, là muốn xe chở
nặng mà đi đến nơi được. Tỳ-kheo cũng như thế, ăn uống
biết tiết độ, suy nghĩ từ đâu đến, chẳng cầu mập trắng,
chỉ mong thân hình được vẹn toàn tứ đại: 'Nay ta nên trừ
thọ cũ, khiến cái mới chẳng sanh, khiến thân có sức được
tu hành đạo, khiến Phạm hạnh chẳng dứt'. Như thế là Tỳ-kheo
ăn uống có tiết độ.
Thế
nào là Tỳ-kheo không bỏ mất việc kinh hành? Ở đây, Tỳ-kheo
đầu đêm, cuối đêm hằng nhớ kinh hành không bỏ thời tiết,
thường nhớ buộc niệm ở trong đạo phẩm; nếu ở ban ngày,
hoặc đi, hoặc ngồi, suy nghĩ diệu pháp trừ khử ấm (ngũ
ấm), cái (ngũ cái); đầu hôm, hoặc đi, hoặc ngồi, suy nghĩ
diệu pháp trừ khử, cái; lại ở giữa đêm nằm nghiêng hông
bên phải, tư duy buộc ý ở chỗ sáng kia; lại ở cuối đêm
thức dậy hoặc đi, hoặc ngồi suy nghĩ thâm pháp, trừ khử
ấm, cái (sự che đậy); như thế là Tỳ-kheo không bỏ mất
kinh hành.
Nếu
có Tỳ-kheo các căn tịch tĩnh, ăn uống biết tiết độ, chẳng
mất kinh hành, thường nhớ buộc niệm trong đạo phẩm. Tỳ-kheo
này liền thành tựu Nhị quả, ở trong pháp hiện tại đắc
A-na-hàm. Ví như người khéo lái xe, ở giữa đường chánh
bằng phẳng, lái xe tứ mã không có ngưng trệ, thì đến nơi
mong muốn, quả nhiên không còn nghi ngờ. Tỳ-kheo này cũng
lại như thế, nếu các căn tịch tĩnh, ăn uống có tiết độ,
chẳng mất kinh hành, thường nhớ buộc ý trong đạo phẩm.
Tỳ-kheo này liền thành tựu Nhị quả, ở trong pháp hiện
tại lậu tận, đắc A-na-hàm.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
ba bịnh lớn. Thế nào là ba? Nghĩa là phong là bịnh lớn,
đàm là bịnh lớn, lạnh là bịnh lớn. Ðó là, Tỳ-kheo có
ba bịnh lớn này. Nhưng trị ba bịnh lớn này có ba thuốc
hay. Nếu bịnh phong thì tô là thuốc hay và lấy tô làm thức
ăn. Nếu bịnh đàm thì mật là thuốc hay và lấy mật làm
thức ăn. Nếu bịnh lạnh thì dầu là thuốc hay và lấy dầu
làm thức ăn. Ðó là, Tỳ-kheo, ba bịnh lớn này có ba thuốc
hay này. Như thế, Tỳ-kheo, cũng có ba loại bịnh lớn này.
Thế nào là ba? Ðó là tham dục, sân giận và ngu si. Ðó là,
Tỳ-kheo, có ba bịnh lớn này. Nhưng ba bịnh lớn này lại
có ba loại thuốc hay. Thế nào là ba? Nếu lúc tham dục khởi
lên, dùng (phép quán) bất tịnh để trị và suy nghĩ đạo
bất tịnh. Bệnh lớn sân giận thì dùng tâm từ để trị
và suy nghĩ về đạo từ tâm. Bệnh lớn ngu si thì dùng trí
tuệ để trị và đạo nhân duyên khởi. Ðó là, Tỳ-kheo,
ba bịnh lớn này có ba thuốc hay này. Thế nên, Tỳ-kheo, hãy
tìm phương tiện cầu ba thuốc này. Như thế, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
ba hạnh ác. Thế nào là ba? Ðó là thân làm ác, miệng nói
ác, ý nghĩ ác. Ðó là, Tỳ-kheo, có ba hạnh ác, nên tìm phương
tiện tu ba hạnh lành. Thế nào là ba? Thân làm ác hãy tu thân
làm lành, miệng nói ác hãy tu miệng nói lành, ý nghĩ ác hãy
tu ý nghĩ lành.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ này:
Hãy
ngăn thân làm ác,
Tu
tập thân làm lành,
Nhớ
bỏ thân làm ác,
Nên
học thân làm lành.
Hãy
ngăn miệng nói ác,
Tu
tập miệng nói lành,
Nhớ
bỏ miệng nói ác,
Nên
học miệng nói lành.
Hãy
ngăn ý nghĩ ác,
Tu
tập ý nghĩ lành,
Nhớ
bỏ ý nghĩ ác,
Nên
học ý nghĩ lành.
Thân
hành là lành thay!
Khẩu
hành cũng lại thế,
Ý
hành là lành thay!
Tất
cả cũng như thế,
Ngừa
miệng, ý thanh tịnh,
Tịnh
ba hạnh tích này,
Ðến
chỗ tiên vô vi.
Như
thế, các Tỳ-kheo, hãy bỏ ba hạnh ác, tu ba hạnh lành. Như
thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ có nhiều Tỳ-kheo, đến giờ đắp y, ôm bát vào thành
khất thực. Lúc ấy, các Tỳ-kheo liền nghĩ rằng; 'Chúng ta
vào thành khất thực mà ngày giờ còn sớm, bây giờ nên dẫn
nhau đến chỗ Phạm chí ngoại đạo'. Rồi chúng Tỳ-kheo liền
đến chỗ Phạm chí dị học, thăm hỏi nhau xong, ngồi xuống
một bên. Phạm chí liền hỏi Sa-môn rằng:
- Ðạo
sĩ Cồ-đàm thường thuyết về Dục luận, Sắc luận, Thọ
luận, Tưởng luận. Những luận như thế có gì sai khác? Chỗ
luận của chúng tôi cũng là chỗ thuyết của Sa-môn, chỗ
Sa-môn thuyết cũng là chỗ chúng tôi luận, thuyết pháp cũng
giống sự thuyết pháp của chúng tôi, sự dạy dỗ cũng giống
sự giáo hối của chúng tôi.
Chúng
Tỳ-kheo nghe lời này rồi, cũng không nói hay cũng chẳng nói
dở, liền từ chỗ ngồi đứng lên mà đi, cùng nghĩ rằng:
'Chúng ta nên đem nghĩa này đến hỏi Thế Tôn'.
Bấy
giờ chúng Tỳ-kheo sau khi ăn xong, liền đến chỗ Thế Tôn
quỳ lạy rồi ngồi một bên. Lúc ấy, các Tỳ-kheo đem sự
việc Phạm chí hỏi nhân duyên đầu đuôi bạch hết với
Thế Tôn. Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
Phạm chí kia hỏi thế. Các Thầy hãy đem nghĩa này đáp lại
câu hỏi ấy: Dục có vị ngọt gì? Có tội lỗi gì nên xa
lìa dục? Sắc có vị gì, có lỗi gì, nên xa lìa sắc? Thọ
có vị gì, có lỗi gì, nên xa lìa thọ? Các Thầy nếu đem
lời này đáp câu hỏi ấy, các Phạm chí kia sẽ im lặng không
đáp được. Dù có nói cũng không thể hiểu nghĩa thâm sâu
này, và tăng thêm ngu hoặc, đọa ở bờ mé. Vì sao thế? Vì
chẳng phải cảnh giới của họ. Sau đó, này các Tỳ-kheo,
trong Ma và Thiên ma, Thích, Phạm, Tứ Thiên vương, Sa-môn, Bà-la-môn,
Người và Phi nhân; không ai có thể hiểu nghĩa sâu xa này,
chỉ trừ Như Lai Ðẳng Chánh Giác và Thánh chúng của Như
Lai, thọ giáo với Ta thì chẳng kể.
Dục
có vị gì? Ðó là năm dục vậy. Thế nào là năm? Mắt thấy
sắc khởi nhãn thức, rất ưa thích nghĩ chỗ vui của thế
gian; tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc
chạm rất ưa thích nghĩ chỗ vui của người đời. Nếu lại
ở trong năm dục này mà khởi tâm khổ vui thì đó là dục
vị.
Thế
nào là lỗi của dục? Nếu có một người con nhà vọng tộc,
người đó hoặc học các kỹ thuật để tự mưu sống, hoặc
học làm ruộng, hoặc học viết thư sớ, hoặc học đủ nghề,
hoặc học toán số, hoặc học mưu mẹo, hoặc học điêu khắc,
hoặc học thông tin từ kia đến đây, hoặc học hầu hạ
vua, thân không tránh né lạnh, nóng, chịu đựng cần khô,
không được tự do; họ làm cực khổ như thế để thu hoạch
tiền tài sự nghiệp. Ðây là lỗi lớn của dục, hiện đời
khổ não do ân ái này đều vì tham dục. Nhưng sau, người
ấy làm lụng cần khô mà không thâu được tài bảo, liền
buồn lo khổ não vô kể, liền tự nghĩ rằng: 'Ta tạo công
lao này, mất nhiều phương kế mà chẳng được tài sản'.
So sánh như thế, nên người ấy nghĩ xa lìa. Ðó là nên xa
lìa dục.
Lại
nữa, gã dòng dõi vọng tộc kia, hoặc lúc làm phương kế
này mà thâu hoạch được tài sản; đã thâu được tài sản
rồi, lại phải tìm nhiều cách gìn giữ luôn luôn, sợ nhà
vua ra lệnh đoạt, bị giặc trộm cắp, bị nước trôi, bị
lửa đốt. Anh ta lại nghĩ: 'Chính muốn chôn giấu, lại sợ
sau quên mất; chính muốn bỏ ra sanh lời, lại sợ không xong,
hoặc nhà sanh con ác, nó tiêu phí tan tành tài sản của ta'.
Ðó là hoạn lớn của dục. Tất cả do gốc dục mà đến
tai biến này.
Lại
nữa, gã vọng tộc kia hằng sanh tâm này muốn bảo vệ tài
sản, mà sau vẫn bị quốc vương chiếm đoạt, bị giặc cướp,
bị nước trôi, bị lửa đốt, chỗ chôn giấu cũng lại không
xong, chính muốn xuất ra lấy lời cũng lại không thâu hoặc
được, nhà ở sanh con ác, tiêu tan tài sản, một vạn thâu
chẳng được một, liền ôm sầu lo, khổ não, đấm ngực
hô hoán: 'Tài sản vốn được của ta, nay đều mất hết.'
Anh
ta bèn trở nên ngu ngơ, tâm ý lầm lẫn. Ðó là hoạn lớn
của dục, do gốc dục này không đến được vô vi.
Lại
nữa, do gốc dục này mà mặc giáp, cầm gậy công phạt lẫn
nhau. Ðã công phạt lẫn nhau rồi, hoặc trước bầy voi, hoặc
trước đám ngựa, hoặc ở trước bộ binh, hoặc ở trước
đám xe, thấy ngựa đấu với ngựa, thấy voi đấu với voi,
thấy xe đấu với xe, thấy bộ binh đấu với bộ binh, hoặc
chém, bắn lẫn nhau, dùng giáo đâm chém nhau. So sánh như thế,
dục là hoạn lớn. Do dục làm gốc đưa đến tai biến này.
Lại
nữa, do gốc dục này mà mặc giáp, cầm gậy hoặc ở cửa
thành, hoặc ở trên thành, bắn chém lẫn nhau hoặc dùng giáo
đâm, hoặc lấy vòng sắt nghiến đầu, hoặc lấy sắt vụn
tung vào nhau, chịu khổ não như thế, người chết rất nhiều.
Lại
nữa, dục biến đổi, không thường, thay nhau biến chuyển
không ngừng. Người ta không hiểu dục này biến chuyển vô
thường. Ðây gọi là hoạn lớn của dục.
Thế
nào là nên xa lìa dục? Nếu người hay tu hành trừ tham dục.
Ðó là xả bỏ dục. Có các Sa-môn, Bà-la-môn chẳng biết
hoạn lớn của dục, cũng lại chẳng biết nguyên nhân xả
dục; như thực chẳng biết oai nghi Sa-môn, Bà-la-môn. Ðã chẳng
biết oai nghi Sa-môn, Bà-la-môn thì đây chẳng phải Sa-môn,
Bà-la-môn, cũng lại chẳng thể toàn thân tác chứng để tự
du hí. Nghĩa là các Sa-môn, Bà-la-môn xét biết dục là hoạn
lớn, hay xa lìa dục, như thực chẳng dối, biết Sa-môn có
oai nghi Sa-môn, Bà-la-môn có oai nghi Bà-la-môn, tự thân tác
chứng mà tự du hí. Ðó là xa lìa dục.
Thế
nào là sắc vị? Nếu có thấy các con gái dòng Sát-lợi, con
gái dòng Bà-la-môn, con gái dòng Trưởng giả, tuổi mười
bốn, mười lăm, mười sáu, chẳng cao, chẳng thấp, chẳng
mập, chẳng ốm, chẳng trắng, chẳng đen, đoan chánh vô song,
hiếm có trên đời; người kia vừa gặp nhan sắc ấy, khởi
tuởng hoan hỉ. Ðó là sắc vị.
Thế
nào là sắc đại hoạn? Lại nữa, nếu về sau thấy đàn
bà kia tuổi tám mươi, chín mươi cho đến một trăm, nhan sắc
đổi khác, đã qua tuổi thiếu, tráng niên, răng rụng, đầu
tóc bạc trắng, thân thể cáu ghét, da dùn mặt nhăn, xương
sống còng xuống, run rẩy, thân như chiếc xe mục nát, hình
thể lắc lư, nương gậy mà đi; thế nào, Tỳ-kheo, vừa thấy
sắc đẹp, sau lại biến đổi; há chẳng phải là hoạn lớn
sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn!
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo;
- Ðó
là hoạn lớn của sắc. Lại nữa, đây nếu thấy cô gái
kia mang bịnh nặng nằm trên giường, đại tiểu tiện chẳng
thể đứng lên; thế nào, Tỳ-kheo vốn thấy sắc đẹp nay
đến hoạn này; há chẳng phải là hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo:
- Các
Tỳ-kheo! Ðó là hoạn lớn của sắc. Lại nữa, Tỳ-kheo, nếu
thấy cô gái kia thân hoại mạng chung đưa đến gò mả; thế
nào, Tỳ-kheo, vốn thấy sắc đẹp, nay đã biến đổi, ở
trong đó khởi tưởng khổ vui; há chẳng phải là hoạn lớn
sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo:
- Ðó
là hoạn lớn của sắc. Lại nữa, nếu thấy cô gái kia chết
quá một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày cho đến
bảy ngày, thân thể sình trương, thối rữa hôi hám, vung vãi
mọi nơi; thế nào, Tỳ-kheo, vốn có sắc đẹp mà nay biến
đổi thế này; há chẳng phải là hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo:
- Ðó
là hoạn lớn của sắc. Nếu thấy cô gái kia bị quạ diều,
kên kên tranh nhau đến ăn thịt, hoặc bị cáo, cầy, hồ trông
thấy ăn thịt, hoặc bị loài giun trùng, bò bay máy cựa nhỏ
nhít thấy ăn thịt; thế nào, Tỳ-kheo, người ấy vốn có
sắc đẹp, nay biến đổi thế này, ở trong đó khởi tưởng
khổ vui, há chẳng phải là hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo:
- Ðó
là hoạn lớn của sắc. Lại nữa, nếu thấy cô gái kia, thân
bị trùng quạ ăn một nửa, ruột, bao tử, máu thịt dơ dáy
bất tịnh; thế nào, Tỳ-kheo, người ấy vốn có sắc đẹp,
nay biến đổi đến thế này, ở trong đó khởi tưởng khổ
vui. Ðây chẳng phải là hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn!
Thế
Tôn bảo:
- Ðó
là hoạn lớn của sắc. Lại nữa, nếu thấy thân cô gái
kia đã hết máu thịt, hài cốt liền nhau; thế nào, Tỳ-kheo,
người ấy vốn có sắc đẹp, nay biến đổi đến thế, ở
trong đó khởi tưởng khổ vui. Ðây há chẳng phải là hoạn
lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo:
- Ðó
là hoạn lớn của sắc. Lại nữa, nếu thấy thân cô gái
kia đã hết máu thịt, chỉ có gân ràng rịt như bó củi;
thế nào, Tỳ-kheo, vốn có sắc đẹp mà nay biến đổi thế
này, ở trong đó khởi tưởng khổ vui. Ðây chẳng phải là
hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo:
- Ðó
là hoạn lớn của sắc. Lại nữa, nếu lại thấy thân cô
gái kia, hài cốt tan rã, rơi vãi mỗi nơi, hoặc xương chân
một chỗ, xương tay một chỗ, hoặc xương đùi một nơi,
xương cánh tay một nơi, hoặc xương sườn một chỗ, xương
bả vai một chỗ, hoặc xương cổ một nơi, đầu lâu một
nơi; thế nào, các Tỳ-kheo, vốn có sắc đẹp mà nay biến
đổi dường ấy, ở trong đó khởi tưởng khổ vui. Ðây há
chẳng phải hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Ðúng
vậy, Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo: