XXXII.
Phẩm Thiện tụ
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
Ta sẽ thuyết về thiện tụ. Các Thầy hãy khéo suy nghĩ và
ghi nhớ.
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Xin
vâng, Thế Tôn!
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật, Phật dạy:
- Thế
nào gọi là thiện tụ? Nghĩa là năm căn. Thế nào là năm?
Nghĩa là tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ
căn. Ðó là, này Tỳ-kheo! Có năm căn này. Nếu có Tỳ-kheo
tu hành năm căn thì sẽ thành Tu-đà-hoàn, được pháp bất
thối chuyển, tất sẽ thành tựu chí đạo. Càng tu tiến lên
thành Tư-đà-hàm, trở lại cõi này, dứt hết mé khổ. Tiến
thêm đạo này thành A-na-hàm, không trở lại đây nữa mà
bát Niết-bàn. Tu hành tiến thêm, dứt hẳn các hữu lậu,
thành tựu vô lậu, tâm giải thoát, trí tuệ giải thoát, tự
thân tác chứng, tự du hí. Sanh tử đã dứt, Phạm hạnh đã
lập, việc làm đã xong, không tái sanh nữa, như thực mà biết.
Thiện
tụ là ngũ căn. Vì sao thế? Ðây là nhóm lớn nhất, hay nhất
trong các nhóm. Nếu chẳng hành pháp này thì chẳng thành Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Phật Bích-chi và Như Lai Chí
Chân Ðẳng Chánh Giác. Nếu được năm căn này, liền có đạo
Tứ quả Tam thừa. Nếu được năm căn này, liền có đạo
Tứ quả Tam thừa. Nói về thiện tụ thì năm căn này trên
hết. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy tìm phương tiện hành năm
căn này. Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
Ta sẽ thuyết về bất thiện tụ. Các Thầy nên khéo nghĩ
nhớ.
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Xin
vâng, Thế Tôn!
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
- Thế
nào gọi là bất thiện tụ? Nghĩa là năm món che đậy (ngũ
cái). Thế nào là năm? Tham dục cái, sân nhuế cái, thùy miên
cái, điệu hý cái, nghi cái. Ðó gọi là ngũ cái. Muốn biết
bất thiện tụ thì đây gọi là ngũ cái. Vì sao thế?
Tỳ-kheo
nên biết! Nếu có ngũ cái này, liền có phần súc sanh, ngạ
quỷ, địa ngục. Các pháp bất thiện đều từ đây khởi
lên. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy tìm phương tiện diệt tham
dục cái, sân nhuế cái, thùy miên cái, điệu hý cái, nghi
cái. Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Phụng
sự, lễ Phật có năm công đức. Thế nào là năm? Ðoan chính;
tiếng tốt; nhiều tiền lắm của; sanh dưỡng trong nhà trưởng
giả; chết sanh cõi lành, lên trời. Vì sao thế? Như Lai không
ai sánh bằng. Như Lai có tín, có giới, có văn, có tuệ, có
sắc lành thành tựu nên thành tựu năm công đức.
Lại
do nhân duyên gì lễ Phật được đoan chánh? Vì thấy hình
tượng Phật rồi phát tâm hoan hỷ. Do nhân duyên này được
đoan chánh.
Lại
do nhân duyên gì có âm thanh tốt? Vì thấy hình tượng Như
Lai rồi, ba lần xưng danh hiệu: Nam-mô Như Lai Chí Chân Ðẳng
Chánh Giác. Do nhân duyên này được âm thanh tốt.
Lại
do nhân duyên gì được lắm tiền nhiều của? Do họ thấy
Như Lai mà bố thí lớn: rải hoa, đốt đèn và thí những
vật khác. Do nhân duyên này được giàu có.
Lại
do nhân duyên gì sanh nhà trưởng giả? Nếu thấy thân Như
Lai rồi, tâm không dính mắc, gối phải chấm đất, quỳ thẳng
chắp tay chí tâm lễ Phật. Do nhân duyên này sanh nhà trưởng
giả.
Lại
do nhân duyên gì khi chết sanh cõi lành, lên trời? Theo phép
thường của chư Phật, Thế Tôn: Có các chúng sanh đem năm
việc nhân duyên lễ Như Lai sẽ sanh cõi lành, lên trời.
Ðó
là, Tỳ-kheo! Có năm nhân duyên lễ Phật được công đức.
Thế nên, các Tỳ-kheo! Nếu có thiện nam, tín nữ muốn lễ
Phật, nên tìm phương tiện thành tựu năm công đức này.
Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Ví
như phòng nhà có hai cửa đối nhau, có người đứng ở trong,
lại có người đứng ở trên nhìn người bên dưới ra vào,
đi đến thảy đều thấy biết. Ta cũng như thế, dùng thiên
nhãn quán chúng sanh, người sanh, người chết, cõi lành, cõi
ác, sắc lành, sắc ác, hoặc tốt hoặc xấu, đi theo loài
nào thảy đều biết hết.
Nếu
có chúng sanh thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành, chẳng
phỉ báng Hiền Thánh, hành pháp Chánh kiến, tương ưng với
Chánh kiến, chết sẽ sanh cõi lành, lên trời. Ðó gọi là
chúng sanh làm thiện.
Nếu
có chúng sanh làm pháp lành này, chẳng tạo hạnh ác, chết
sẽ sanh trong loài người.
Nếu
lại có chúng sanh thân, miệng ý làm ác, tạo hạnh bất thiện,
chết rồi sanh trong ngạ quỷ.
Hoặc
có chúng sanh, thân, miệng, ý làm ác, phỉ báng Hiền thánh,
tương ưng với tà kiến, chết sẽ sanh trong súc sanh.
Hoặc
có chúng sanh, thân, miệng, ý làm ác, tạo hạnh bất thiện,
phỉ báng Hiền Thánh, chết rồi sanh trong địa ngục. Lúc
ấy, ngục tốt đem tội nhân này đến gặp vua Diêm-la và
nói:
- Ðại
vương nên biết! Người này đời trước thân, ý làm ác,
tạo các hạnh ác đã sanh trong địa ngục này. Ðại vương
nên xét, dùng tội gì trị người này?
Vua
Diêm-la từ từ hỏi riêng người ấy về tội của người
ấy. Vua bảo người ấy:
- Thế
nào, kẻ kia! Xưa Ông đời trước làm thân người, không thấy
người sanh ra, lúc ở thai rất nguy khốn, đau đớn thực khó
ở và khôn lớn được nuôi dưỡng bú mớm, tắm rửa thân
thể nào?
Tội
nhân đáp:
- Thực
có thấy, Ðại vương!
Vua
Diêm-la nói:
- Thế
nào, kẻ kia! Ông không biết hạnh thiết yếu của pháp sanh
nào? Pháp thân, miệng, ý tu các đường lành?
Tội
nhân bảo:
- Ðúng
vậy, Ðại vương! Như Ðại vương dạy. Chỉ vì ngu hoặc
chẳng phân biệt hạnh lành.
Vua
Diêm-la nói:
- Như
chỗ Ông nói, việc này chẳng khác. Ta cũng biết Ông không
tạo thân, miệng, ý hạnh. Nhưng hôm nay, ta sẽ cứu xét tội
phóng dật của Ông làm, chẳng phải do cha mẹ làm, cũng chẳng
phải quốc vương, đại thần làm ra. Vốn tự mình tạo tội,
nay tự thọ báo.
Vua
Diêm-la hỏi tội trước rồi sau ra lệnh trị tội.
Kế
đó, vị Thiên sứ thứ hai hỏi người ấy rằng:
- Xưa
Ông làm người, chẳng thấy người già thân thể rất yếu,
bước đi khổ kiệt, áo quần nhớp nhúa, tới lui run rẩy,
hơi thở rên rỉ, không còn tâm trẻ trung sao?
Tội
nhân đáp:
- Ðúng
vậy, Ðại vương! Tôi đã thấy.
Vua
Diêm-la nói:
- Ông
nên tự biết: 'Nay ta cũng sẽ bị già như thế. Già là đáng
chán, nên tu hạnh lành'.
Tội
nhân đáp:
- Ðúng
vậy, Ðại vương! Lúc ấy, tôi thực chẳng tin.
Vua
Diêm-la bảo:
- Ta
thực biết Ông không tạo hạnh thân, miệng, ý. Nay ta sẽ
trị tội Ông để sau không phạm nữa. Ông làm ác, chẳng
phải do cha mẹ làm, cũng chẳng phải vua, quan, nhân dân tạo.
Nay Ông tự tạo tội, sẽ tự chịu quả báo.
Vua
Diêm-la đưa Thiên sứ thứ hai chỉ bảo rồi lại đưa Thiên
sứ thứ ba bảo người kia rằng:
- Ông
lúc trước làm người, không thấy có người bịnh nằm trên
phần tiểu, không thể ngồi dậy sao?
Tội
nhân đáp:
- Ðúng
vậy, Ðại vương! Tôi thực có thấy.
Vua
Diêm-la nói:
- Thế
nào Kẻ kia? Ông chẳng tự biết: 'Rồi ta cũng sẽ bị bịnh
như thế, há khỏi được hoạn này sao?'.
Tội
nhân đáp:
- Thực
vậy, Ðại vương! Tôi thực chẳng thấy.
Vua
Diêm-la nói:
- Ta
cũng biết Ông ngu hoặc chẳng hiểu. Nay ta sẽ xử tội Ông
để sau chẳng phạm nữa. Tội này Ông làm, chẳng phải cha,
chẳng phải mẹ làm, cũng chẳng phải quốc vương, đại thần
tạo.
Vua
Diêm-la dạy dỗ thế rồi. Sau lại đem Thiên sứ thứ tư bảo
người ấy:
- Thế
nào Kẻ kia? Ông có thấy thân như cây khô, gió thoát ra, lửa
cạn, không còn tình tưởng. Bà con vây quanh kêu khóc chăng?
Tội
nhân đáp:
- Ðúng
vậy, Ðại vương! Tôi đã thấy.
Vua
Diêm-la nói:
- Sao
ông không tự nghĩ: 'Ta cũng sẽ không thoát khỏi cái chết
này?'.
Tội
nhân đáp:
- Thưa
vậy, Ðại vương! Tôi thực chẳng biết.
Vua
Diêm-la nói:
- Ta
cũng tin Ông không biết pháp này. Nay sẽ trị Ông khiến sau
chẳng phạm. Tội bất thiện này chẳng phải cha, chẳng phải
mẹ làm, cũng chẳng phải quốc vương, đại thần, nhân dân
tạo. Xưa Ông tự làm nay phải tự chịu tội.
Vua
Diêm-la lại đưa Thiên sứ thứ năm bảo người ấy:
- Xưa
Ông làm người, không thấy có giặc đục tường phá nhà,
lấy tiền của người khác, hoặc dùng lửa đốt, hoặc che
giấu giữa đường. Nếu bị quốc vương bắt được hoặc
chặt tay chân, giết chết, hoặc giam ngục, hoặc trói ngược
mang đến chợ, hoặc khiến vác đá cát, hoặc đem treo ngược,
hoặc bắn tên, hoặc lấy nước đồng rót vào thân, hoặc
lấy lửa nướng, hoặc lột da, rồi bắt ăn, hoặc mổ bụng
lấy cỏ nhét vào, hoặc bỏ vào nước sôi nấu, hoặc dùng
dao chặt, bánh xe nghiến đầu, hoặc cho voi chà chết, hoặc
đóng cọc cho đến chết sao?
Tội
nhân đáp:
- Thực
tôi có thấy.
Vua
Diêm-la nói:
- Vậy
sao Ông ăn trộm vật của người khác? Thực biết có việc
ấy, sao còn phạm?
- Ðúng
vậy, Ðại vương! Tôi thật ngu dốt.
Vua
Diêm-la nói:
- Ta
cũng tin lời Ông. Nay trị tội Ông để sau không phạm nữa.
Tội này chẳng phải cha mẹ làm, cũng chẳng phải Quốc vương,
đại thần, nhân dân làm, tự mình tạo tội lại tự thọ
báo.
Vua
Diêm-la hỏi tội xong, liền sai ngục tốt:
- Mau
dẫn người này đến giam ngục.
Ngục
tốt nhận lệnh vua, đem tội nhân này bỏ ngục. Ðịa ngục
bên trái lửa cháy rất mạnh, thành quách bằng sắt, đất
cũng bằng sắt. Có bốn cửa thành hôi thúi nồng nặc như
thể phần tiểu, xem thật bẩn thỉu. Núi đao rừng kiến vây
quanh bốn mặt, lại dùng lồng sắt thưa chụp lên trên.
Thế
Tôn lại nói kệ:
Bốn
vách bốn cửa thành
Rộng
dài thật là chắc,
Lồng
sắt che trên đó,
Muốn
ra không có khi.
Lúc
ấy trên đất sắt,
Lửa
cháy hết sức mạnh,
Vách
vuông trăm do-tuần,
Rộng
rãi toàn một màu.
Ở
giữa có bốn trụ,
Xem
thật là dễ sợ,
Và
trên rừng cây kiếm,
Chỗ
quạ mỏ sắt nghỉ.
Hôi
thối thật khó ở,
Xem
đến lông áo dựng,
Các
thứ vật đáng sợ,
Có
mười sáu vách ngăn.
Tỳ-kheo
nên biết! Bấy giờ ngục tốt dùng bao thứ đau khổ đánh
đập người này. Tội nhân kia lúc đặt chân vào ngục máu
thịt văng hết, chỉ còn xương. Khi ấy, ngục tốt đem tội
nhân này dùng búa bén chặt thân, đau khổ khó kể xiết, muốn
chết chẳng được; đến khi tội diệt mới thoát được.
Lúc ở nhân gian, người ấy tạo nghiệp tội gì, cần phải
trừ cho hết sau mới ra được.
Bấy
giờ, ngục tốt đem tội nhân này cột trong cây đao kiếm,
ở trên hoặc ở dưới. Tội nhân đã ở trên cây liền bị
chim mỏ sắt ăn thịt, hoặc mổ đầu ăn não, hoặc quắp
tay chân, đập xương lấy tủy, mà tội chưa hết. Nếu tội
hết thì được ra khỏi.
Ngục
tốt lại bắt tội nhân ấy ôm trụ đồng nóng. Vì lúc ở
đời ưa dâm dật nên mắc tội này, bị tội truy đuổi không
thoát được. Ngục tốt rút gân từ gót chân đến cổ rồi
kéo về trước, hoặc cho xe chở, hoặc tới hoặc lui không
được tự tại. Ở đây, người ấy chịu khổ không thể
kế xiết, cần phải khiến cho tội trừ hết rồi cho ra.
Bấy
giờ, ngục tốt đem tội nhân kia đặt lên núi lửa, đuổi
chạy lên xuống cho chín nhừ sau đó mới cho ra. Lúc ấy, tội
nhân cầu chết chẳng được, phải khiến cho tội trừ hết,
sau mới cho ra.
Ngục
tốt lại bắt tội nhân, rút lưỡi ném ra sau lưng. Trong đó
tội nhân chịu khổ không thể tính kể, cầu chết chẳng
được. Bấy giờ, ngục tốt lại đem tội nhân đặt trên
núi đao, hoặc chặt chân, hoặc chặt đầu, hoặc chặt tay,
cần cho hết tội, sau mới ra khỏi.
Bấy
giờ, ngục tốt lại lấy lá sắt lớn nung nóng đặt lên
tội nhân như lúc sống mặc áo. Lúc ấy, đau khổ độc hại
rất khó chịu, đều do tham dục nên mắc tội như thế. Lúc
ấy, ngục tốt lại sai tội nhân làm năm thứ lao dịch, khiến
nằm xuống, lấy đinh sắt đóng vào tay chân, lại lấy đinh
đóng vào tim. Ở đó, chịu đau khổ khó tả, cốt cho hết
tội, sau mới ra được.
Bấy
giờ, ngục tốt lại đem tội nhân dốc ngược thân, bỏ vào
vạc, phía dưới thân bị chín nhừ trở lại phía trên cũng
chín nhừ, cho đến bốn bên cũng chín nhừ luôn, khổ sở
đau đớn khôn kể. Nổi lên cũng nhừ, không nổi lên cũng
nhừ. Ví như nồi lớn nấu đậu nhỏ, ở trên hay ở dưới.
Nay tội nhân này cũng vậy; hiện cũng nhừ, không hiện cũng
nhừ, trong đó chịu khổ khôn kể, cốt cho hết tội, sau mới
ra khỏi.
Tỳ-kheo
nên biết! Hoặc có lúc ở trong địa ngục kia, trải qua vài
năm cửa Ðông bèn mở. Bấy giờ, tội nhân chạy đến cửa,
cửa tự nhiên đóng, người kia té xuống đất. Ở đó chịu
khổ không nói hết, mỗi người tự oán trách, kêu ca:
- Tôi
vì các Ông mà chẳng được ra cửa!
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Người
ngu thường vui vẻ,
Cũng
như trời Quang Âm,
Người
trí thường lo sợ,
Tợ
như tù trong ngục.
Bấy
giờ, trong đại địa ngục, trải qua trăm, ngàn, vạn năm,
cửa Bắc lại mở. Tội nhân chạy đến cửa Bắc. Cửa liền
đóng lại, cốt cho hết tội, tội diệt mới ra được. Tội
nhân kia lại trải qua mấy trăm vạn năm bèn được ra. Tội
đã tạo trong kiếp người phải cho hoàn tất.
Ngục
tốt lại bắt tội nhân, lấy búa sắt chặt thân tội nhân,
trải qua bao nhiêu tội như thế, khiến cho thay đổi, cốt
khiến tội khổ hết sạch, sau mới cho ra.
Tỳ-kheo
nên biết! Hoặc có lúc, cửa Ðông lại mở một lần nữa.
Các chúng sanh kia lại chạy đến cửa Ðông. Cửa lại tự
đóng, không ra được. Nếu có người chạy ra được bên
ngoài, lại có núi lớn liền áp đến, họ vào trong núi, bị
hai núi ép lại như ép dầu mè. Ở trong đó họ chịu khổ
không thể tính kể, cốt chịu để tội cùng tận, sau mới
ra được.
Bấy
giờ, tội nhân kia được chuyển đến trước, lại gặp địa
ngục tro nóng, ngang dọc mấy ngàn vạn do-tuần. Trong đó người
ấy chịu khổ không tính kể, cốt chịu cho hết nguồn tội,
sau mới được ra.
Lại
chuyển đến trước, kể có địa ngục dao đâm. Bấy giờ,
tội nhân lại vào địa ngục dao đâm này. Gió lớn liền
nổi lên khiến thân thể, gân cốt tội nhân rời rã. Ở đó
người ấy chịu khổ không tính kể, cốt chịu đến tội
diệt, sau mới được ra.
Kể
lại có địa ngục tro nóng lớn. Bấy giờ, tội nhân lại
vào trong địa ngục tro nóng lớn này, hình thể nát nhừ,
chịu khổ vô lượng, cốt chịu đến tội diệt sau mới ra
được.
Bấy
giờ, tội nhân tuy ra khỏi được địa ngục tro nóng này,
lại gặp địa ngục đao kiếm, ngang dọc vài ngàn vạn dặm.
Bấy giờ, tội nhân vào trong địa ngục đao kiếm này. Trong
đó người ấy thọ khổ không tính kể, cốt chịu cho tội
diệt, sau mới ra được.
Kể
lại gặp địa ngục phí thỉ, trong đó có trùng nhỏ vào
tận xương tủy ăn tội nhân đó.
Rồi
tuy ra khỏi được địa ngục này, tội nhân lại gặp ngay
ngục tốt. Bấy giờ, ngục tốt hỏi tội nhân:
- Các
Ông muốn đi đâu? Và từ đâu lại?
Tội
nhân đáp:
- Chúng
tôi chẳng biết từ đâu đến, lại cũng chẳng biết sẽ
đi đâu! Nhưng bây giờ, chúng tôi đói khổ quá sức, muốn
được ăn.
Ngục
tốt đáp:
- Chúng
tôi sẽ cung cấp cho.
Bấy
giờ, ngục tốt bắt tội nhân nằm ngửa, lấy hoàn sắt nóng
lớn bắt tội nhân nuốt. Tội nhân chịu khổ không tính kể.
Lúc ấy, hoàn sắt nóng từ miệng rơi xuống bao tử, ruột
chín bấy, tội nhân chịu khổ khó lường, cốt chịu đến
tội diệt, sau mới được ra.
Những
tội nhân này, chẳng kham chịu đau khổ này, lại trở vào
địa ngục phân sôi, địa ngục đao kiếm, địa ngục tro
nóng lớn, qua lại những địa ngục như thế. Lúc ấy, chúng
sanh kia không kham chịu khổ, lại quay đầu đến địa ngục
phần nóng. Bấy giờ, ngục tốt bảo chúng sanh kia:
- Các
Ông muốn đi đâu? Và từ đâu tới?
Tội
nhân đáp:
- Chúng
tôi chẳng thể tự biết từ đâu đến. Nay cũng chẳng biết
sẽ đi về đâu?
Ngục
tốt hỏi:
- Nay
cần vật gì?
Tội
nhân đáp:
- Chúng
tôi hết sức khát, muốn cần nước uống.
Ngục
tốt bắt tội nhân nằm ngửa, lấy nước đồng chảy rót
vào miệng khiến cho chảy xuống. Trong đó tội nhân chịu
khổ không thể tính đủ, cốt chịu cho tội diệt, sau mới
được ra.
Bấy
giờ, người kia không chịu nổi khổ này, lại vào địa ngục
phần sôi, địa ngục cây kiếm, địa ngục tro nóng, lại
nhập vào đại địa ngục.
Tỳ-kheo
nên biết! Bấy giờ, tội nhân đau khổ không tính kể. Nếu
tội nhân kia mắt thấy sắc, tâm không ưa thích. Nếu tai nghe
tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi biết vị, thân biết xúc chạm,
ý biết pháp đều khởi sân giận. Sở dĩ như thế, vì xưa
không tạo quả báo lành, hằng tạo nghiệp ác nên mắc tội
này.
Bấy
giờ, vua Diêm-la dạy tội nhân:
- Các
Ông chẳng được lợi lành. Xưa ở loài người, hưởng phước
loài người, thân, miệng, ý hành không tương xứng, cũng chẳng
bố thí, nhân ái, lợi người, đẳng lợi; vì thế nên nay
chịu khổ này. Hạnh ác này chẳng phải cha mẹ làm, cũng
chẳng phải quốc vương, đại thần làm. Có các chúng sanh
thân, miệng, ý thanh tịnh không có ô nhiễm, giống như trời
Quang Âm. Có các chúng sanh tạo các hạnh ác, giống như trong
địa ngục. Các Ông thân, miệng, ý bất tịnh, nên bị tội
này.
Tỳ-kheo
nên biết! Vua Diêm-la liền nói:
- Ngày
nào ta sẽ thoát khỏi khổ nạn này và được sanh trong loài
người? Ðã được thân người, ta sẽ xuất gia, cạo bỏ
râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia học đạo.
Vua
Diêm-la còn nghĩ thế, hà huống các Thầy, nay được thân
người, được làm Sa-môn. Thế nên, các Tỳ-kheo! Thường
nên niệm hành thân, miệng, ý hạnh, chớ để thiếu sót.
Hãy diệt năm kiết sử, tu hành ngũ căn. Như thế, các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, trong vườn Lộc-mẫu phía Ðông,
cùng năm trăm người.
Bấy
giờ, Thế Tôn, ngày rằm tháng bảy, ở giữa đất hoang trống
trải tòa, Tỳ-kheo Tăng trước sau vây quanh. Phật bảo A-nan:
- Nay
Thầy ở chỗ trống, mau đánh kiền chùy. Vì sao thế? Vì nay
là ngày rằm tháng bảy, là ngày thọ tuổi.
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan gối phải sát đất, quỳ thẳng chắp
tay nói kệ:
Tịnh
nhãn không ai bằng
Không
việc gì chẳng rành,
Trí
tuệ không dính mắc,
Những
gì gọi thọ tuổi?
Thế
Tôn lại dùng kệ đáp A-nan:
Thọ
tuổi, ba nghiệp tịnh
Thân,
miệng, ý tạo tác
Hai
Tỳ-kheo đối nhau
Tự
trần việc làm trái
Lại
tự xưng tên tuổi
'Hôm
nay chúng thọ tuổi
Tôi
cũng tịnh ý thọ
Cúi
mong nói lỗi tôi'.
Ngài
A-nan lại dùng kệ hỏi nghĩa này:
Hằng
sa Phật quá khứ
Bích-chi
và Thanh Văn
Ðều
là pháp chư Phật
Hay
riêng Thích-ca-văn?
Phật
lại dùng kệ đáp A-nan rằng:
Hằng
sa Phật quá khứ,
Ðệ
tử tâm thanh tịnh,
Ðều
là pháp chư Phật,
Chẳng
chỉ Thích-ca-văn.
Bích-chi
không pháp này,
Không
tuổi, không đệ tử,
Riêng
đến không bạn lữ,
Không
thuyết pháp cho người.
Ðương
lai Phật, Thế Tôn,
Hằng-sa
không thể kể,
Kia
cũng thọ tuổi này,
Như
pháp Cù-đàm vậy.
Tôn
giả A-nan nghe lời này rồi, hoan hỉ mừng rỡ không kềm được,
liền lên giảng đường, tay cầm kiền chùy, nói:
- Nay
tôi đánh trống, đưa tin của Như Lai. Các vị chúng đệ tử
của Như Lai, hãy lại tụ tập.
Bấy
giờ, Ngài lại nói kệ:
Hàng
phục sức ma oán,
Trừ
kiết sử không dư,
Ðất
trống đánh kiền chùy,
Tỳ-kheo
nghe hãy nhóm.
Các
người muốn nghe pháp,
Qua
khỏi biển sanh tử,
Nghe
âm vang diệu này,
Hãy
tụ tập về đây!
Tôn
giả A-nan đã đánh kiền chùy rồi đến chỗ Thế Tôn, cúi
lạy Phật rồi đứng một bên, bạch Thế Tôn:
- Nay
đã đúng lúc, cúi mong Thế Tôn dạy bảo điều chi?
Thế
Tôn bảo A-nan:
- Các
Thầy theo thứ tự ngồi. Như Lai tự biết giờ.
Lúc
ấy, Thế Tôn ngồi trên tòa cỏ, bảo các Tỳ-kheo:
- Các
Thầy hãy ngồi xuống tòa cỏ hết đi!
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Xin
vâng, Thế Tôn!
Các
Tỳ-kheo mỗi người đều ngồi trên tòa cỏ. Thế Tôn làm
thinh nhìn các Tỳ-kheo. Rồi Ngài dạy các Tỳ-kheo:
- Nay
Ta muốn thọ tuổi. Ðối với đại chúng, Ta có lỗi gì không?
Và thân, miệng, ý không phạm ư?
Như
Lai nói xong, các Tỳ-kheo làm thinh chẳng đáp. Ðức Phật lại
hai, ba phen hỏi các Tỳ-kheo:
- Nay
Ta muốn thọ tuổi. Nhưng Ta không có lỗi gì với đại chúng
sao?
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
quỳ gối chấp tay bạch Thế Tôn:
- Các
chúng Tỳ-kheo quán sát Như Lai không có lỗi gì về thân, miệng,
ý. Vì sao thế? Ngày nay, Thế Tôn đã độ người chẳng được
độ; giải thoát cho người chẳng giải thoát; người chẳng
Bát-Niết-bàn khiến họ Bát-niết-bàn. Người không được
cứu, Ngài làm người cứu hộ, làm nhãn mục cho người mù.
Vì người bịnh làm Ðại Y Vương, tam giới độc tôn không
ai bì kịp; là bậc Tối tôn tối thượng. Người chưa khởi
đạo ý, Ngài khiến phát đạo ý. Mọi người chưa tỉnh,
Thế Tôn khiến tỉnh. Người chưa nghe pháp, Ngài khiến cho
nghe. Vì người mê Ngài làm đường tắt, hằng vì Chánh pháp.
Do nhân duyên này, Như Lai không có lỗi đối với mọi người,
cũng không có lỗi về thân, miệng, ý.
Xá-lợi-phất
bạch Thế Tôn:
- Nay
con hướng về Như Lai xin tự trình bày. Không biết con có
lỗi đối với Như Lai và Tỳ-kheo Tăng chăng?
Thế
Tôn bảo:
- Này,
Xá-lợi-phất thân, miệng, ý đều chẳng làm hạnh sai quấy.
Vì sao thế? Nay Thầy có trí tuệ không ai bì kịp, các thứ
trí tuệ, trí tuệ vô lượng, trí tuệ vô biên, trí không
ai bằng, trí tuệ nhanh nhẹn, trí mau lẹ, trí rất sâu, trí
bình đẳng; ít muốn, biết đủ, ưa chỗ tĩnh lặng, có nhiều
phương tiện, nhớ không lầm lẫn, tổng trì tam-muội, căn
nguyên đầy đủ; giới thành tựu, tam-muội thành tựu, trí
tuệ thành tựu, giải thoát thànht ựu, giải thoát kiến tuệ
thành tựu, dũng mạnh hay nhẫn, lời nói không ác, không làm
điều phi pháp, tâm tánh điềm đạm, tuần tự không có thô
tháo, xốc nổi, giống như thái tử lớn của Chuyển luân
Thánh vương, sẽ nối vương vị mà chuyển pháp luân. Xá-lợi-phất
cũng thế, chuyển pháp luân vô thượng. Chư Thiên, Người
đời và Rồng, Quỷ, Ma và Thiên ma vốn không thể chuyển.
Nay lời Thầy nói thường như pháp nghĩa, chưa hề trái lý.
Bấy
giờ Xá-lợi-phất bạch Phật:
- Năm
trăm Tỳ-kheo đây đều đáng thọ tuổi. Năm trăm người này
đều không có lỗi gì đối với Như Lai chăng?
Thế
Tôn bảo:
- Cũng
không có gì để trách năm trăm Tỳ-kheo này về hạnh của
thân, miệng, ý. Vì sao thế? Này Xá-lợi-phất! Trong đại
chúng rất thanh tịnh, không có tỳ vết. Nay trong chúng này,
vị hạ tọa nhỏ nhất đã đắc Tu-đà-hoàn, tất sẽ lên
đến pháp bất thối chuyển. Vì thế cho nên Ta chẳng oán
trách chúng này.
Bấy
giờ ngài Ða-kỳ-xà, ở trong chúng liền từ chỗ ngồi đứng
lên, đến trước Thế Tôn cúi lạy rồi bạch Thế Tôn:
- Nay
con kham muốn được luận.
Thế
Tôn bảo:
- Muốn
nói gì thì bây giờ đúng lúc.
Ngài
Ða-kỳ-xà liền ở trước Phật, tán thán Phật và Tỳ-kheo
Tăng, ngài nói kệ:
Ngày
mười lăm thanh tịnh,
Năm
trăm Tỳ-kheo nhóm,
Các
trói buộc đều mở,
Không
ái và không sanh.
Chuyển
luân Ðại thánh vương,
Quần
thần vây chung quanh,
Ðầy
khắp các thế giới,
Trên
trời và nhân gian.
Ðại
tướng bậc chí Tôn,
Vì
người làm Ðạo sư,
Ðệ
tử vui tùng phục,
Suốt
tam đạt, lục thông.
Ðều
là chân Phật tử,
Không
có các trần cấu,
Hay
đoạn gai ái dục,
Hôm
nay con quy mạng.
Bấy
giờ Thế Tôn chấp nhận lời của Ða-kỳ-xà. Ngài Ða-kỳ-xà
nghĩ: 'Hôm nay Như Lai chấp nhận lời ta'. Ông mừng rỡ không
kềm được, liền từ chỗ ngồi đứng lên lễ Phật rồi
trở về chỗ mình.
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Trong
hàng Thanh văn của Ta, đệ tử làm kệ bậc nhất là Tỳ-kheo
Ða-kỳ-xà. Lời nói không nghi nan cũng là Tỳ-kheo Ða-kỳ-xà.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành La-duyệt, tại vườn trúc Ca-lan-đà cùng
với chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người.
- Bấy
giờ cõi trời Ba mươi ba có một Thiên tử, thân hình có năm
điềm chết hiện. Thế nào là năm? Hoa trên mũ áo tự héo,
y phục dơ bẩn, dưới nách đổ mồ hôi, chẳng thích địa
vị của mình, ngọc nữ xa lìa.
Lúc
ấy, Thiên tử kia buồn lo khổ não, đấm ngực than thở. Thích-đề-hoàn-nhân
nghe Thiên tử này sầu lo khổ não, đấm ngực than thở, liền
bảo một Thiên tử:
- Ðây
là âm thanh gì mà thấu đến đây?
Thiên
tử ấy đáp:
- Thiên
vương nên biết! Có một Thiên tử mạng sắp muốn đứt,
có năm điềm báo tử: hoa trên mũ héo, y phục dơ bẩn, dưới
nách đổ mồ hôi, chẳng thích địa vị của mình, ngọc nữ
xa lìa.
Bấy
giờ Thích-đề-hoàn-nhân đến chỗ vị Thiên tử sắp chết
bảo Thiên tử ấy rằng:
- Nay
Ông cớ sao buồn lo khổ não đến thế?
Thiên
tử đáp:
- Tôn
giả Nhân-đề! Không lo buồn khổ sao được? Mạng tôi sắp
hết, có năm điềm báo tử: hoa trên mũ héo, áo quần dơ bẩn,
dưới nách đổ mồ hôi, chẳng ưa chỗ mình, ngọc nữ xa
lánh. Nay cung điện bảy báu này chắc sẽ mất hết và năm
trăm ngọc nữ cũng sẽ tiêu tan. Nay tôi ăn cam lồ chẳng còn
mùi vị gì.
Bấy
giờ, Thích-đề-hoàn-nhân bảo Thiên tử ấy:
- Ông
há chẳng nghe Như Lai nói kệ sao?
Tất
cả hạnh vô thường,
Ðã
sanh ắt có chết,
Chẳng
sanh thì không chết,
Ðây
diệt là tối lạc.
Nay
Ông vì sao buồn lo đến thế? Tất cả hành là vật vô thường,
muốn cho thường còn, việc này chẳng đúng.
Thiên
tử đáp:
- Thế
nào Thiên đế? Làm sao tôi không buồn lo được? Nay tôi thân
trời thanh tịnh không tỳ vết, ánh sáng như mặt trời, mặt
trăng, chiếu khắp mọi nơi. Bỏ thân này rồi, tôi sẽ sanh
vào bụng heo tại thành La-phiệt, sống thường ăn phần, chết
bị dao mổ xẻ.
Bấy
giờ Thích-đề-hoàn-nhân bảo Thiên tử ấy:
- Nay
Ông nên quy y Phật, Pháp, Tăng. Có thể ngay lúc ấy không đọa
ba đường ác.
Thiên
tử đáp:
- Há
vì quy y Tam bảo mà khỏi đọa ba đường ác sao?
Thích-đề-hoàn-nhân
nói:
- Ðúng
vậy, Thiên tử! Người nào quy y Tam Tôn, trọn chẳng đọa
ba đường ác, Như Lai cũng nói kệ:
Những
người quy y Phật,
Chẳng
đọa ba đường ác,
Hết
các lậu trời người,
Liền
sẽ đến Niết-bàn.
Bấy
giờ Thiên tử kia hỏi Thích-đề-hoàn-nhân:
- Nay
Như Lai ở đâu?
Thích-đề-hoàn-nhân
nói:
- Nay
Như Lai ở nước Ma-kiệt, trong thành La-duyệt, vườn trúc
Ca-lan-đà, cùng với chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người.
Thiên
tử nói:
- Nay
tôi không đủ sức đến đó để thăm hỏi Như Lai được.
Thích-đề-hoàn-nhân
bảo:
- Thiên
tử nên biết! Hãy quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng
xuống thế giới phương dưới mà nói: 'Cúi mong Thế Tôn khéo
quán sát cho. Nay con sắp khốn cùng, nguyện thương xót cho.
Nay con tự quy y Tam Tôn, Như Lai bậc (Vô sở trước) Tự Tại.
Bấy
giờ Thiên tử kia theo lời Thích-đề-hoàn-nhân, liền quỳ
hướng phương dưới tự xưng tên họ, xin tự quy y Phật,
Pháp, Tăng, suốt đời làm chân Phật tử, không cần làm Thiên
tử, nói như thế ba lần. Sau ông ta không bị vào thai heo mà
sẽ sanh trong nhà trưởng giả.
Bấy
giờ vị Thiên tử kia thấy được duyên này rồi, liền hướng
về Thích-đề-hoàn-nhân mà nói kệ:
Duyên
lành chẳng phải ác,
Vì
pháp chẳng vì tiền,
Dẫn
đường đến chánh đạo,
Vị
này, ngài tán thán,
Nhờ
ngài, không đọa ác,
Thai
heo, nhân rất khó,
Tự
xét sanh trưởng giả,
Nhân
đó sẽ thấy Phật.
Bấy
giờ, Thiên tử tùy thời thọ mạng dài, ngắn rồi sanh trong
nhà đại trưởng giả ở thành La-duyệt. Lúc ấy, vợ trưởng
giả tự biết có thai, gần đầy mười tháng, sanh một bé
trai, đoan chánh vô song, thế gian hiếm có. Thích-đề-hoàn-nhân
đã biết đứa bé này vừa mười tuổi, thường thường đến
bảo:
- Ngươi
có thể nhớ duyên tạo khi xưa chăng? Ngươi tự nói: 'Ta sẽ
nhân đó thấy Phật'. Nay thật đúng lúc. Hãy gặp Thế Tôn.
Nếu không đến, sau ắt sẽ hối hận.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đến giờ đắp y, ôm bát vào
thành La-duyệt khất thực lần lần đến nhà trưởng giả
kia, đứng lặng lẽ ngoài cửa. Lúc ấy, con ông trưởng giả
thấy ngài Xá-lợi-phất đắp y, ôm bát, dung mạo thù đặc;
thấy rồi, liền đến trước ngài Xá-lợi-phất nói:
- Nay
Ngài là ai? Ðệ tử của ai? Tu hành pháp nào?
Ngài
Xá-lợi-phất nói:
- Thầy
của ta dòng họ Thích, xuất gia học đạo. Thầy ta là Như
Lai Chí Chân Ðẳng Chánh Giác. Ta hằng theo Ngài thọ pháp.
Ðứa
bé khi ấy liền hướng về Xá-lợi-phất nói kệ:
Nay
ngài đứng lặng lẽ,
Ôm
bát dung mạo nghiêm,
Nay
muốn cầu những gì,
Cho
ai mà đứng đây?
Ngài
Xá-lợi-phất dùng kệ đáp:
Nay
ta chẳng cầu tài,
Chẳng
ăn, chẳng phục sức,
Mà
đến vì Ông vậy,
Khéo
xét nghe lời ta.
Nhớ
lời xưa Ông nói,
Trên
trời lúc nói thệ,
Làm
người sẽ gặp Phật,
Nên
đến để bảo Ông,
Chư
Phật ra đời khó,
Thuyết
pháp cũng như thế,
Thân
người chẳng thể được,
Cũng
như hoa ưu-đàm.
Nay
Ông theo ta đến,
Cùng
thăm hỏi Như Lai,
Chắc
sẽ vì Ông thuyết,
Chí
yếu của đường lành.
Bấy
giờ con ông trưởng giả nghe Xá-lợi-phất nói xong liền đến
chỗ cha mẹ, cúi lạy rồi đứng một bên. Con trưởng giả
thưa cha mẹ rằng:
- Cúi
mong cha mẹ bằng lòng cho con đến chỗ Thế Tôn thừa sự,
lễ kính thăm hỏi sức khỏe.
Cha
mẹ đáp:
- Nay
thật đúng lúc.
Con
trưởng giả liền sắm hương hoa và vải trắng tốt, cùng
Tôn giả Xá-lợi-phất theo nhau đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy
rồi đứng một bên. Bấy giờ Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn:
- Ðứa
con trưởng giả này ở trong thành La-phiệt, chẳng biết Tam
tôn. Cúi mong Thế Tôn khéo thuyết pháp cho khiến chú bé được
độ thoát.
Bấy
giờ con trưởng giả xa thấy đức Thế Tôn oai dung đoan chánh,
các căn tịch tĩnh, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ
đẹp trang nghiêm thân cũng như núi Tu-di, mặt như mặt trời,
mặt trăng nhìn mãi không chán, liền đến trước lễ lạy
rồi đứng một bên. Con ông trưởng giả liền lấy hương
hoa rải lên Như Lai , lại lấy xấp vải trắng mới dâng lên
Như Lai, cúi lạy rồi đứng một bên.
Khi
ấy, Thế Tôn dần dần thuyết pháp cho chú bé. Nghĩa là thuyết
các luận: thí luận, giới luận, luận sanh thiên, dục là
bất tịnh, lậu là hoạn lớn, xuất gia là cần yếu. Thế
Tôn đã biết chú bé tâm khai ý mở. Những điều chư Phật
Thế Tôn thuyết pháp Khổ - Tập - Diệt - Ðạo, Thế Tôn liền
thuyết hết cho con trưởng giả. Con trưởng giả ngay trên
tòa, hết sạch trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh, không
còn tì vết.
Con
trưởng giả liền từ chỗ ngồi đứng lên, cúi lạy bạch
Thế Tôn:
- Cúi
mong Thế Tôn cho con được xuất gia làm Sa-môn.
Thế
Tôn bảo:
- Phàm
làm đạo giả, chẳng từ giã cha mẹ, chẳng được làm Sa-môn.
Con
trưởng giả bạch Thế Tôn:
- Con
sẽ đòi cha mẹ bằng lòng.
Thế
Tôn bảo:
- Nay
thật đúng lúc.
Bấy
giờ, con trưởng giả liền từ chỗ ngồi đứng lên, cúi
lạy Phật rồi lui đi. Về nhà con trưởng giả thưa cha mẹ
rằng:
- Cúi
mong cho phép con được làm Sa-môn.
Cha
mẹ đáp:
- Ngày
nay chúng ta chỉ có một mình con. Trong nhà gia nghiệp lại
lắm tiền nhiều của. Hành pháp Sa-môn thật không dễ dàng.
Con
trưởng giả đáp:
- Như
Lai ra đời, ức kiếp mới có. Rất khó gặp ngài, đúng thời
mới xuất hiện như hoa ưu-đàm-bát đúng giờ mới có. Như
Lai cũng vậy, ức kiếp mới ra đời.
Ông
bà trưởng giả cùng than thở:
- Nay
đúng là lúc, con hãy tùy nghi.
Lúc
ấy, con ông Trưởng giả cúi lạy cha mẹ rồi từ giã ra đi,
đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi đứng một bên. Con trưởng
giả bạch Thế Tôn rằng:
- Cha
mẹ con đã bằng lòng. Cúi mong Thế Tôn cho con hành đạo.
Thế
Tôn bảo Xá-lợi-phất:
- Nay
Thầy độ cho con trưởng giả này làm Sa-môn.
Ngài
Xá-lợi-phất đáp:
- Xin
vâng, Thế Tôn!
Ngài
Xá-lợi-phất vâng lời Phật dạy, độ con trưởng giả làm
Sa-di, ngày ngày dạy dỗ. Sa-di ấy ở trong chỗ vắng khắc
phục tu hành theo như các vị vọng tộc xuất gia học đạo,
cạo bỏ râu tóc, tu Phạm hạnh vô thượng, muốn được xa
lìa khổ não. Bấy giờ Sa-di liền thành A-la-hán. Ông đến
chỗ Thế Tôn cúi lạy, bạch Thế Tôn:
- Nay
con đã học Phật, nghe Pháp, không còn nghi ngờ gì nữa.
Thế
Tôn bảo:
- Nay
Ông học Phật, nghe Pháp thế nào mà không hồ nghi?
Sa-di
bạch Phật:
- Sắc
là vô thường, vô thường thì khổ, khổ thì vô ngã, vô ngã
tức là không. Không là không phải có, cũng không phải không
có, cũng lại vô ngã. Người trí hiểu biết như thế. Thọ,
tưởng, hành, thức vô thường, vô thường thì khổ, khổ
thì vô ngã, vô ngã tức là không, không là không phải có,
không phải không có. Người trí hiểu biết như thế. Ngũ
ấm này vô thường, khổ, không, vô ngã, không phải có, nhiều
sự khổ não không thể trị liệu, hằng ở chỗ hôi thúi,
không thể giữ mãi, ắt quán không có ngã. Hôm nay con quán
sát pháp này, liền thấy được Như Lai.
Thế
Tôn bảo:
- Lành
thay, lành thay! Sa-di! Cho Ông làm đại Sa-môn.
Bấy
giờ Sa-di kia nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Tôn giả na-la-đà ở trong vườn trúc của Trưởng giả
nước Ba-ca-lê.
Bấy
giờ vua Văn-trà có đệ nhất phu nhân mạng chung. Vua rất
yêu bà chưa từng lìa tâm. Khi ấy, có một người đến tâu
vua:
- Ðại
vương nên biết! Nay đệ nhất phu nhân đã mạng chung.
Vua
nghe phu nhân chết, ôm lòng sầu lo, nói với mọi người.
- Các
Ngươi mau khiêng xác phu nhân, ướp dầu mè cho ta được thấy.
Bấy
giờ, người ta vâng lệnh vua, đem phu nhân đặt trong dầu
mè. Vua nghe phu nhân đã chết, hết sức sầu não, không ăn,
không uống, không cai trị theo vương pháp, cũng bỏ bê việc
vua. Khi ấy, tả hữu có một người tên Thiện Niệm, thường
cầm kiếm hầu Ðại vương, tâu:
- Ðại
vương nên biết! Trong nước này có Sa-môn tên Na-la-đà đắc
A-la-hán, có đại thần túc, hiểu rộng biết nhiều, không
gì chẳng rành, biện tài dũng tuệ, khi nói thường cười
nụ. Xin Vua hãy đến nghe ngài thuyết pháp. Vua nghe pháp sẽ
không còn sầu lo, khổ não nữa.
Vua
đáp:
- Lành
thay, lành thay! Khéo nói lời này. Thiện Niệm! Nay Ông hãy
đến trước nói với Sa-môn ấy. Vì sao thế? Phàm Chuyển
luân Thánh vương muốn đến đâu thì sai người đến trước.
Nếu không sai người báo tin trước, việc này không đúng.
Thiện
Niệm đáp:
- Xin
tuân lệnh Ðại vương.
Ông
vâng lệnh vua đến vườn trúc của trưởng giả; đến chỗ
ngài Na-la-đà, cúi lạy rồi đứng một bên.
Bấy
giờ Thiện Niệm bạch với Tôn giả Na-la-đà:
- Ngài
nên biết cho! Nay phu nhân của Ðại vương đã mạng chung.
Vì thế vua khổ não bỏ ăn, bỏ uống, cũng chẳng để ý
đến vương pháp, quốc sự. Nay vua muốn đến thăm hỏi tôn
nhan. Cúi mong Ngài khéo thuyết pháp cho vua đừng sầu khổ
nữa.
Ngài
Na-la-đà đáp:
- Muốn
đến thì nay đúng lúc.
Thiện
Niệm nghe dạy rồi liền cúi lạy lui đi; đến tâu vua rằng:
- Tôi
đã thưa với Sa-môn, Vua nên biết cho.
Vua
liền sai Thiện Niệm:
- Ông
mau sửa soạn xe vũ bảo. Nay ta muốn đến Sa-môn tương kiến.
Thiện
Niệm liền sửa soạn kiệu xe, rồi đến trước tâu vua:
- Sửa
soạn đã xong, Vua biết cho: đã đến giờ rồi!
Bấy
giờ, vua ngồi xe vũ bảo ra khỏi thành đến chỗ Na-la-đà,
đi bộ vào vườn trúc của Trưởng giả; bỏ năm uy dung của
nhân vương xuống một chỗ. Ðến ngài Na-la-đà, quỳ lạy
rồi ngồi một bên.
Khi
ấy, Na-la-đà bảo vua:
- Ðại
vương nên biết! Pháp huyễn mộng chớ khỏi sầu lo, pháp
bọt bèo, và chớ đem tuyết đọng mà khởi sầu lo và cũng
chớ nên đem tưởng pháp như hoa mà khởi sầu lo. Vì sao thế?
Nay có năm việc rất không thể được, là lời Như Lai nói.
Thế nào là năm? Phàm vật đáng dứt mà muốn cho chẳng dứt,
điều này không thể được. Phàm vật đáng diệt mà muốn
cho đừng diệt, điều này chẳng thể được. Phàm già muốn
mà không già, điều này chẳng thể được. Lại nữa, bịnh
mà muốn cho không bịnh, điều này chẳng thể được. Lại
nữa, chết mà muốn cho không chết, điều này chẳng thể
được. Ðó là, này Ðại vương! Có năm việc này rất chẳng
thể được, là lời Như Lai nói.
Bấy
giờ, ngài Na-la-đà liền nói kệ:
Chẳng
do sầu lo não,
Mà
được phước đức này,
Nếu
người ôm sầu lo,
Ngoại
cảnh được tiện lợi.
Nếu
như người có trí,
Trọn
chẳng suy nghĩ thế,
Kẻ
thù liền lo sầu,
Mà
chẳng được tiện lợi.
Oai
nghi lễ tiết đủ,
Ưa
thí lòng không tiếc,
Nên
cầu phương tiện này,
Khiến
được lợi rất lớn.
Dù
rằng không thể được,
Ta
và những người kia,
Không
sầu liền không hoạn,
Hành
báo biết thế nào?
Và
Ðại vương nên biết! Vật đáng mất sẽ mất. Ðã mất liền
sầu lo khổ não, đau đớn không thể nói. 'Người yêu ta ngày
nay đã mất'. Ðó là vật đáng mất sẽ mất. Ở đó khởi
sầu lo khổ não, đau đớn chẳng thể nói. Ðó là, này Ðại
vương! Gai sầu dính mắc tâm ý thứ nhất. Người phàm phu
có pháp này, chẳng biết chỗ đến của sanh, già, bệnh, chết.
Hãy
nghe đệ tử Hiền thánh có vật đáng mất bị mất, người
ấy không khởi sầu lo khổ não, thường học điều này: 'Nay
ta bị mất, chẳng phải riêng một mình. Người khác cũng
có pháp này. Nếu ta ở đây khởi sầu lo. Ðiều này chẳng
đúng. Hoặc sẽ khiến thân tộc khởi sầu lo, còn oan gia hoan
hỉ, ta ăn không tiêu hóa được, sẽ mắc bịnh, thân thể
phiền nhiệt. Do việc này sẽ đưa đến mạng chung'. Rồi
khi ấy, liền có thể trừ bỏ gai lo sợ, liền thoát sanh,
già, bịnh, chết, không còn tai nạn khổ não.
Lại
nữa Ðại vương! Vật đáng diệt thì diệt, đã diệt liền
sầu lo khổ não, đau đớn không nói được. 'Nay vật ta yêu
mến đã diệt'. Ðó là vật đáng diệt liền diệt. Ở đó
khởi sầu lo khổ não, đau đớn không nói được. Ðó là,
này Ðại vương! Gai sầu dính mắc tâm ý thứ hai. Người
phàm phu có pháp này chẳng biết chỗ đến của sanh, già,
bịnh, chết.
Hãy
nghe, đệ tử Hiền thánh có vật đáng diệt bị diệt, người
ấy không khởi sầu lo khổ não, thường học thế này: 'Nay
vật của ta bị diệt, chẳng phải chỉ riêng một mình, người
khác cũng có pháp này. Nếu ta ở đây khởi sầu lo, điều
này chẳng nên. Vì sẽ khiến thân tộc khởi lo buồn, còn
oan gia sung sướng. Ta ăn không tiêu hóa, liền mắc bịnh, thân
thể phiền nhiệt. Do duyên cớ này sẽ mạng chung'. Bấy giờ
liền trừ bỏ gai lo sợ, liền thoát khỏi sanh, già, bịnh,
chết, không còn tai nạn khổ não.
Lại
nữa, Ðại vương! Vật đáng già liền già, đã già liền
buồn lo khổ não, đau đớn không nói được. 'Hôm nay vật
ta yêu đã già'. Ðó là vật già liền già, trong ấy khởi
sầu lo, khổ não, đau đớn không nói được. Ðó là, này
Ðại vương! Gai sầu lo dính mắc tâm ý thứ ba. Người phàm
phu có pháp này, chẳng biết chỗ đến của sanh, già, bịnh,
chết.
Hãy
nghe, đệ tử Hiền thánh có vật đáng già liền già, người
ấy không khởi sầu lo khổ não, thường học thế này: 'Nay
ta bị già, chẳng phải riêng mình. Người khác cũng có pháp
này. Nếu ta ở đây khởi buồn lo, điều này chẳng nên. Vì
sẽ khiến thân tộc lo buồn, oan gia hoan hỉ. Ta ăn không tiêu
hóa, sẽ thành bịnh, thân thể phiền nhiệt. Do duyên này,
sẽ đến chỗ mạng chung'. Bấy giờ liền có thể trừ bỏ
gai lo sợ, thoát khỏi sanh, già, bịnh, chết, không còn tai
nạn, khổ não.
Lại
nữa, Ðại vương! Vật đáng bịnh liền bịnh, đã bịnh liền
sầu lo khổ não, không nói được rằng 'Vật ta yêu hôm nay
đã bệnh'. Ðó là vật bệnh liền bệnh, trong đó khởi sầu
lo khổ não, đau đớn không nói được. Ðó là, Ðại vương!
Gai sầu lo dính mắc tâm ý thứ tư. Người phàm phu có pháp
này, chẳng biết chỗ đến của sanh, già, bịnh, chết.
Hãy
nghe đệ tử Hiền thánh, vật đáng bịnh liền bịnh, người
ấy không khởi sầu lo khổ não, thường học thế này: 'Nay
ta bị bịnh, không phải riêng mình, người khác cũng có pháp
này. Nếu ta ở đây khởi sầu lo, điều này chẳng nên, vì
sẽ khiến thân tộc bị buồn lo, oan gia hoan hỉ. Ta ăn không
tiêu hóa, sẽ thành bịnh, thân thể phiền nhiệt. Do duyên
cớ này sẽ đến mạng chung'. Bấy giờ có thể trừ bỏ gai
lo sợ, thoát khỏi sanh, già, bịnh, chết, không còn tai nạn
khổ não.
Lại
nữa, Ðại vương! Vật đáng chết liền chết. Ðã chết,
đó là vật chết. Ở đó khởi sầu lo khổ não, đau đớn
không nói được. Ðó là, Ðại vương! Gai sầu lo dính mắc
tâm ý thứ năm. Người phàm phu có pháp này, chẳng biết chỗ
đến của sanh, già, bệnh, chết.
Hãy
nghe đệ tử Hiền thánh, đáng chết liền chết. Người đó
không khởi sầu lo khổ não, thường học thế này: 'Nay ta
chết, không phải riêng mình, người khác cũng có pháp này.
Ở đây, nếu ta khởi sầu lo, điều này không nên, vì sẽ
khiến thân tộc lo lắng, oan gia hoan hỉ. Ta ăn không tiêu hóa,
sẽ thành bịnh, thân thể phiền nhiệt. Do đây sẽ đưa đến
mạng chung'. Bấy giờ có thể trừ bỏ gai sầu lo, thoát khỏi
sanh, già, bệnh, chết, không còn tai nạn khổ não.
Bấy
giờ Ðại vương bạch Tôn giả Na-la-đà:
- Ðây
gọi là pháp gì? Nên phụng hành thế nào?
Ngài
Na-la-đà nói:
- Kinh
này gọi là trừ hoạn lo. Hãy nhớ vâng làm.
Vua
đáp:
- Thực
như lời Ngài nói, trừ bỏ sầu lo. Vì sao thế? Con nghe pháp
này xong, bao nhiêu sầu khổ hôm nay trừ hết. Nếu Tôn giả
có dạy bảo gì, cứ đến trong cung, con sẽ cung cấp cho, khiến
nhân dân và đất nước được hưởng phước lâu dài vô
cùng. Cúi mong Tôn giả diễn giảng rộng rãi pháp này còn
mãi ở đời, khiến bốn bộ chúng được an ổn lâu dài.
Nay con xin quy y Tôn giả Na-la-đà.
Tôn
giả Na-la-đà nói:
- Ðại
vương! Chớ quy y tôi! Hãy quy y Phật.
Vua
hỏi:
- Nay
Phật ở đâu?
Tôn
giả Na-la-đà nói:
- Ðại
vương nên biết! Ðại quốc Ca-tỳ-la-vệ, dòng Chuyển luân
Thánh vương phát xuất từ họ Thích. Vua kia có con tên Tất-đạt
xuất gia học đạo, nay đã thành Phật hiệu là Thích-ca-văn.
Hãy quy y Ngài.
Ðại
vương lại hỏi:
- Nay
Ngài ở phương nào? Cách đây mấy nơi?
Tôn
giả Na-la-đà đáp:
- Như
Lai đã nhập Niết-bàn.
Ðại
vương nói:
- Như
Lai nhập Niết-bàn sao mau chóng thế? Nếu Ngài còn ở đời,
dù trải qua ngàn vạn do tuần, con cũng sẽ đến thăm hỏi.
Rồi
vua từ chỗ ngồi đứng lên, quỳ dài chắp tay, nói:
- Con
tự quy y Như Lai, Pháp và Tỳ-kheo Tăng, trọn đời xin làm
Ưu-bà-tắc, không sát sanh nữa. Việc nước bề bộn, nay con
muốn về cung.
Tôn
giả Na-la-đà nói:
- Ðã
đúng lúc.
Vua
từ chỗ ngồi đứng lên, cúi lạy đi nhiễu quanh Tôn giả
ba vòng rồi đi.
Bấy
giờ vua Văn-trà nghe Tôn giả Na-la-đà nói xong, vui vẻ vâng
làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Người
bệnh tật thành tựu năm pháp này thì không có lúc lành, nằm
liệt giường chiếu. Thế nào là năm? Người bệnh không chọn
lựa thức ăn uống; không tùy thời mà ăn; không gần gũi
thầy thuốc; nhiều lo, ưa giận; không khởi tâm từ đối
với người khán bệnh.
Ðó
là, này Tỳ-kheo! Người bệnh tật thành tựu năm pháp này
không được lành bệnh.
Nếu
bệnh nhân thành tựu năm pháp này thì sẽ được lành bệnh.
Thế nào là năm? Ở đây, người bệnh chọn lựa thức ăn,
tùy thời mà ăn; thân cận thầy thuốc; không ôm sầu lo; khởi
tâm từ đối với người săn sóc bệnh.
Ðó
là, này Tỳ-kheo! Người bệnh thành tựu năm pháp này liền
được lành bệnh. Như thế, Tỳ-kheo! Năm pháp trước nên
nhớ xa lìa, năm pháp sau nên cùng vâng làm. Như thế, các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
người săn sóc bệnh, thành tựu năm pháp này khiến người
bệnh chẳng lành, nằm mãi trên giường chiếu. Thế nào là
năm? Ở đây, người khám bệnh không phân biệt thuốc hay;
lười biếng, tâm không dũng mãnh; thường ưa sân giận và
ưa ngủ nghỉ; vì tham ăn nên coi sóc bệnh nhân không dùng
pháp cung dưỡng; cũng không trò chuyện với bệnh nhân.
Ðó
là, Tỳ-kheo! Nếu người săn sóc bịnh thành tựu năm pháp
này thì bịnh chẳng lành được.
Này
Tỳ-kheo! Nếu người săn sóc bịnh thành tựu năm pháp này
thì người bệnh được lành, chẳng nằm liệt giường chiếu.
Thế nào là năm? Ở đây người khám bệnh phân biệt thuốc
hay; cũng không lười biếng, dậy trước, nằm sau; thường
ưa chuyện vãn, ít ngủ nghỉ; dùng pháp cung dưỡng, không
tham ăn uống; chịu thuyết pháp cho bệnh nhân.
Này
Tỳ-kheo! Ðó là người săn sóc bịnh thành tựu năm pháp này,
bệnh có lúc được lành.
Cho
nên, các Tỳ-kheo! Lúc săn sóc người bệnh thì nên bỏ năm
pháp trước, thành tựu năm pháp sau. Như thế, các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
10.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở trong rừng Di-hầu, nước Tỳ-xá-ly cùng với
chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người.
Bấy
giờ đại tướng Sư Tử bèn đến chỗ đức Thế Tôn, cúi
lạy rồi ngồi một bên. Lúc ấy, Phật bảo tướng Sư Tử:
- Thế
nào Sư Tử? Nhà ông có thường bố thí chăng?
Tướng
Sư Tử bạch Phật:
- Con
thường ở ngoài cửa thành và đô thị, tùy thời bố thí
không để thiếu sót. Ai cần cho ăn, cấp quần áo hương hoa,
xe ngựa, ghế ngồi, ai cần gì con đều cấp cho cả.
Phật
bảo tướng Sư Tử:
- Lành
thay, lành thay! Ông có thể bố thí không tiếc lẫn. Thí chủ,
đàn việc tùy thời bố thí có năm công đức. Thế nào là
năm?
Ở
đây, thí chủ tiếng đồn vang xa, mọi người khen ngợi thôn
làng ấy có đàn việt, thí chủ, hằng thích tiếp đãi Sa-môn.
Bà-la-môn, tùy chỗ cấp cho không thiếu thốn. Ðó là, này
Sư Tử! Thí chủ, đàn việc được công đức thứ nhất này.
Lại
nữa, này Sư Tử! Ðàn-việt, thí chủ nếu đến trong chúng
Sa-môn, Sát-lợi, Bà-la-môn, Trưởng giả không có hỗ thẹn,
cũng không sợ hãi. Giống như Sư Tử, vua loài thú ở trong
bầy nai, không có sợ sệt. Ðó là, Sư Tử! Ðàn-việt, thí
chủ được công đức thứ hai này.
Lại
nữa, này Sư Tử! Ðàn-việt, thí chủ được mọi người
kính nể, người trông thấy vui mừng như con thấy cha, nhìn
ngắm không chán. Ðó là, này Sư Tử! Ðàn-việt, thí chủ
được công đức thứ ba này.
Lại
nữa, này Sư Tử! Ðàn-việt, thí chủ sau khi mạng chung sẽ
sanh hai nơi: hoặc sanh lên trời, hoặc sanh trong loài người.
Ở trời được trời cung kính, ở người, được người
tôn quý. Ðó là, này Sư Tử! Ðàn-việt, thí chủ, được
công đức thứ tư này.
Lại
nữa, này Sư Tử! Ðàn-việt, thí chủ trí tuệ cao xa hơn mọi
người, thân hiện đời dứt hết lậu, không trải qua đời
sau. Ðó là, này Sư Tử! Ðàn-việt, thí chủ được công đức
thứ năm này.
Hễ
ai bố thí sẽ có năm công đức hằng theo bên mình.
Thế
Tôn liền nói kệ:
Tâm
thường vui bố thí,
Công
đức đầy đủ thành,
Tại
chúng không nghi nan,
Cũng
lại không sợ sệt.
Người
trí nên bố thí,
Không
có tâm luyến hối.
Ở
cõi trời Ba (mươi) ba,
Ngọc
nữ vây chung quanh.
Như
thế, Sư Tử! Ông nên biết, đàn-việt, thí chủ sanh hai chỗ
lành, thân hiện đời hết lậu hoặc, đến chỗ vô vi.
Thế
Tôn liền nói kệ:
Thí
là lương đời sau,
Muốn
đến chỗ cứu cánh,
Thiện
thần thường ủng hộ,
Cũng
lại đến hoan hỉ.
Như
thế, này Sư Tử! Ông nên biết, lúc bố thí thường ôm lòng
vui vẻ, thân ý vững chắc, các công đức lành thay đều đầy
đủ, đắc tam-muội, ý cũng không lầm lẫn. Như thật mà
biết. Thế nào là như thực mà biết? Khổ tập, khổ tận,
khổ xuất yếu; như thực mà biết. Thế nên, này Sư Tử!
Hãy tìm phương tiện tùy thời bố thí. Nếu muốn được
đạo Thanh văn, đạo Phật Bích-chi thì đều được như ý.
Như thế, Sư Tử, hãy học điều này.
Bấy
giờ Sư Tử nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
11.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Ðàn-việt
thí chủ, hàng ngày bố thí thì sẽ được năm công đức.
Thế nào là năm? Thí mạng, thí sắc (Vappa), thí an, thí sức,
thí biện. Ðó là năm.
Lại
nữa, Ðàn việt thí chủ, lúc thí mạng muốn được trường
thọ; lúc thí sắc muốn được đoan chánh; lúc thí an muốn
được không bịnh; lúc thí lực muốn không ai hơn; lúc thí
biện muốn được biện tài Vô Thượng Chánh Chân. Tỳ-kheo
nên biết! Ðàn-việt thí chủ, hàng ngày bố thí thì sẽ có
năm công đức này.
Thế
Tôn liền nói kệ:
Thí
mạng, sắc và an,
Sức,
biện là thứ năm,
Năm
công đức đã đủ,
Sau
hưởng phước vô cùng.
Người
trí nên nghĩ thí,
Trừ
bỏ tâm tham dục,
Thân
này có danh dự,
Sanh
lên trời cũng vậy.
Nếu
có thiện nam, tín nữ muốn được năm công đức thì nên
thực hành năm việc này. Như thế các Tỳ-kheo! Hãy học điều
này.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
12.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Bố
thí đúng thời có năm việc: Bố thí cho người từ xa lại;
bố thí cho người đi xa; bố thí cho người bịnh; lúc thiếu
mà bố thí; nếu lúc mới được cây trái mới, hoặc ngũ
cốc thì trước đem cho người trì giới tinh tấn, sau đó
mình mới ăn. Ðó là, này Tỳ-kheo! Bố thí đúng thời có
năm việc này.
Thế
Tôn liền nói kệ:
Người
trí ứng thời thí,
Lòng
tin không đoạn dứt,
Ở
đây chóng hưởng vui,
Sanh
trời, các đức đủ.
Tùy
thời, nhớ bố thí,
Thọ
phước như vang ứng,
Trọn
đã không nghèo thiếu,
Nơi
sanh thường phú quý.
Thí
là đủ mọi hạnh,
Ðược
đến vị vô thượng.
Nhớ
thí không khởi tưởng,
Hoan
hỷ bèn tăng thêm.
Trong
tâm sanh niệm này
Ý
loạn trọn không còn,
Biết
rằng thân an lạc,
Tâm
liền được giải thoát.
Thế
nên người có trí,
Chẳng
kể nam hay nữ,
Nên
hành năm thí này,
Không
mất phương tiện đúng.
Thế
nên, các Tỳ-kheo! Nếu có thiện nam, tín nữ, muốn hành năm
việc này thì hãy nhớ tùy thời thí. Như thế, các Tỳ-kheo,
hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
Thiện,
Bất thiện, lễ Phật,
Thiên
sứ, tuổi, năm điềm,
Văn-trà,
thân, xem bịnh,
Năm
thí, tùy thời thí.
--------------------------------------------------------------------------------
XXXIII.
Phẩm Ngũ vương
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ năm vị quốc vương lớn, vua Ba-tư-nặc đứng đầu,
tụ tập trong vườn ngắm cảnh, cùng nhau bàn luận. Năm vua
nào? Ðó là vua Ba-tư-nặc, vua Tỳ-sa, vua Ưu Ðiền, vua Ác
Sanh, vua Ưu-đà-diên.
Năm
vua tụ tập một nơi, bàn luận việc này:
- Chư
Hiền! Nên biết Như Lai nói năm dục này. Thế nào là năm?
Nếu mắt thấy sắc rất yêu thích nghĩ nhớ, người đời
hy vọng. Nếu tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi biết vị,
thân biết xúc chạm (rất yêu thích nghĩ nhớ, người đời
hy vọng). Như Lai nói năm dục này. Trong năm dục, cái nào
hơn hết? Mắt thấy sắc là tối diệu chăng? Tai nghe tiếng
là tối diệu chăng? Mũi ngửi mùi là tối diệu chăng? Lưỡi
biết vị là tối diệu chăng? Thân biết xúc chạm là tối
diệu chăng? Năm việc này, cái nào là tối diệu?
Trong
đó, hoặc có quốc vương nói: 'Sắc là tối diệu'. Hoặc
có vị luận: 'Thanh là tối diệu'. Hoặc có vị luận: 'Hương
là tối thắng'. Hoặc có vị luận: 'Vị là tối diệu'. Hoặc
có vị luận: 'Xúc chạm là tối diệu'.
Lúc
ấy, người nói sắc diệu là vua Ưu-đà-diên. Người nói
thanh diệu là vua Ưu Ðiền. Người nói hương diệu là vua
Ác Sanh. Người nói vị diệu là vua Ba-tư-nặc. Người nói
xúc chạm diệu là vua Tỳ-sa. Năm vua bảo nhau:
- Chúng
ta cùng luận năm dục này, nhưng lại chẳng biết cái nào
là diệu!
Bấy
giờ Ba-tư-nặc bảo bốn vua:
- Nay
Như Lai ở gần, tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp
Cô Ðộc; chúng ta cùng nhau đến chỗ Thế Tôn để hỏi nghĩa
này. Nếu Thế Tôn có dạy gì, nên cùng vâng làm.
Các
vua nghe vua Ba-tư-nặc nói xong, liền đưa nhau đến chỗ Thế
Tôn, cúi lạy rồi ngồi một bên. Vua Ba-tư-nặc đem việc
bàn luận về năm dục bạch đầy đủ với Như Lai.
Thế
Tôn bảo năm vua:
- Các
vua luận theo sự thích hợp của mỗi người. Sở dĩ như thế
vì hễ người tánh hạnh đắm sâu ở sắc, ngắm mãi không
chán. Người này sẽ cho sắc là tối diệu, tối thượng không
gì hơn. Người ấy không dính mắc các pháp thanh, hương, vị,
xúc. Trong năm dục, sắc là tối diệu.
Nếu
lại có người tánh hạnh dính mắc đối với thanh, người
ấy nghe âm thanh thì cực kỳ hoan hỷ, không chán. Người này
cho thanh là tối diệu, tối thượng. Trong năm dục, thanh là
tối diệu.
Nếu
lại có người tánh hạnh dính mắc hương, người ấy ngửi
mùi thơm, cực kỳ hoan hỷ, không chán. Người này cho hương
là tối thượng, tối diệu. Trong năm dục, hương là tối
diệu.
Nếu
lại có người tánh hạnh đắm vị, người ấy nếm vị xong,
cực kỳ hoan hỷ, không biết chán. Người này cho vị là tối
thượng, tối diệu. Trong năm dục, vị là tối diệu.
- Nếu
lại có người tánh hạnh ưa xúc chạm, người ấy được
xúc chạm rồi, cực kỳ hoan hỷ, không chán, người này cho
xúc là tối diệu, tối thượng. Trong năm dục, xúc là tối
diệu.
Nếu
người kia tâm đã dính sắc thì sẽ không để ý các pháp
thanh, hương, vị, xúc.
Nếu
người kia tánh hạnh đã dính thanh thì sẽ không để ý các
pháp sắc, hương, vị, xúc.
Nếu
người kia tánh hạnh dính mắc hương thì sẽ không để ý
các pháp sắc, thanh, vị xúc.
Nếu
người kia tánh hạnh dính vào mùi vị thì sẽ không để ý
các pháp về sắc, thanh, hương, xúc.
Nếu
người kia tánh hạnh dính mắc ở xúc chạm thì sẽ không
để ý các pháp về sắc, thanh, hương, vị.
Thế
Tôn liền nói kệ:
Lúc
ý dục lừng lẫy,
Sở
dục ắt khắc phục,
Ðược
rồi hoan hỷ thêm,
Sở
nguyện không có nghi.
Họ
đã được dục này,
Ý
tham dục không cởi,
Cho
đây là hoan hỷ,
Duyên
theo cho tối diệu.
Nếu
lại lúc nghe tiếng.
Sở
dục ắt khắc phục,
Nghe
rồi hoan hỷ thêm,
Sở
nguyện không có nghi.
Kia
đã được tiếng này,
Ý
tham không cởi mở,
Cho
đây là hoan hỷ,
Theo
đó là tối diệu.
Nếu
lại lúc ngửi mùi,
Sở
dục ắt khắc phục,
Ngửi
rồi càng hoan hỷ,<