XXXX.1.
Phẩm Thất nhật (1)
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, rất nhiều Tỳ-kheo, sau khi thọ thực, tụ tập tại
giảng đường Phổ Hội luận nghị thế này:
- Núi
Tu-di này rất rộng lớn, các núi khác không thể bì kịp;
rất kỳ đặc, cao rộng chót vót. Như thế mà không bao lâu
cũng sẽ bị bại hoại không còn gì cả. Nương núi Tu-di lại
có những núi lớn cũng lại bị bại hoại.
Bấy
giờ Thế Tôn dùng Thiên nhĩ nghe những Tỳ-kheo ấy luận nghị
như thế, liền từ tòa đứng lên đến giảng đường và
đến chỗ ngồi. Khi ấy, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Các
Thầy ở đây bàn luận những gì? Muốn thi hành điều gì?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Mọi
người tụ tập ở đây luận bàn việc pháp, điều vừa luận
bàn đều đúng pháp.
Thế
Tôn bảo:
- Lành
thay! Tỳ-kheo! Các Thầy xuất gia đúng là phải nên luận bàn
hợp pháp, lại cũng không bỏ sự im lặng của Hiền Thánh.
Vì sao thế? Nếu Tỳ-kheo tụ tập một chỗ, nên thi hành hai
việc. Thế nào là hai? Một là cùng nhau luận bàn Phật pháp;
hai là hãy im lặng như Hiền Thánh. Các Thầy luận hai việc
này trọn sẽ được an ổn, không mất thời nghi. Các Thầy
vừa rồi luận nghị như pháp những gì?
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Nay
chúng Tỳ-kheo tụ tập ở giảng đường này luận nghị như
vầy: Thật là kỳ đặc! Núi Tu-di này rất là cao lớn rộng
rãi, nhưng núi Tu-di này như thế chẳng bao lâu sẽ bị bại
hoại và các núi Thiết Vi ở bốn bên cũng sẽ bại hoại
như thế. Vừa rồi chúng con tụ tập ở đây bàn luận pháp
như thế.
Thế
Tôn bảo:
- Các
Thầy có muốn nghe sự biến đổi bại hoại của cảnh giới
thế gian này không?
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Nay
thật đúng lúc, cúi mong Thế Tôn hãy diễn thuyết khiến cho
chúng sanh tâm được giải thoát.
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Các
Thầy hãy khéo suy nghĩ, ghi nhớ trong lòng!
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn.
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, Thế Tôn bảo:
- Núi
Tu-di rất là rộng lớn, các núi không bì kịp. Nếu Tỳ-kheo
muốn biết núi Tu-di vượt trên mặt nước khoảng tám vạn
bốn ngàn do-tuần, ăn sâu vào nước cũng tám vạn bốn ngàn
do-tuần. Núi Tu-di do bốn loại báu làm thành là vàng, bạc,
thủy tinh, lưu ly. Lại có bốn góc, cũng làm bằng bốn thứ
báu: vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly. Thành vàng quách bạc, thành
bạc quách vàng, thành thủy tinh quách lưu ly, thành lưu ly quách
thủy tinh. Trên núi Tu-di có năm bậc Trời cư ngụ ở đó,
đều do túc duyên mà trụ. Năm bậc nào? Trong thành bạc kia
có trời Tế Khước ở. Trong thành vàng kia có Trời Thi-lợi-sa
cư ngụ, trong thành thủy tinh có Trời Hoan Duyệt cư ngụ;
trong thành lưu ly có Trời Lực Thạnh ở đấy.
Giữa
thành vàng và bạc có Tỳ-sa-mô Thiên vương cư ngụ, cùng
các Dạ-xoa nhiều không thể kể. Giữa thành vàng và thành
thủy tinh có Tỳ-lưu-bác-xoa Thiên vương, cùng các Long thần
cư ngụ. Giữa thành thủy tinh và thành lưu ly có Tỳ-lưu-lặc-xoa
cư ngụ. Giữa thành lưu ly và thành bạc có Ðề-đầu lại-tra
Thiên vương cư ngụ.
Tỳ-kheo
nên biết, dưới núi Tu-di có A-tu-la cư trú. Nếu lúc A-tu-la
muốn đánh nhau với trời Ba mươi ba, trước hết họ đánh
nhau với trời Tế Khước; nếu thắng được, họ lại đến
thành vàng đánh với trời Thi-lợi-sa; thắng trời Thi-lợi-sa
rồi, họ lại đến thành thủy tinh đánh trời Hoan Duyệt;
thắng rồi, họ lại đến thành lưu ly; thắng được trời
đó mới cùng trời Ba mươi ba đánh nhau.
Tỳ-kheo
nên biết! Trời Ba mươi ba cư ngụ trên đỉnh núi Tu-di, ngày
đêm chiếu ánh sáng, tự chiếu lẫn nhau nên đến như thế,
nước vào núi Tu-di có mặt trời, mặt trăng di chuyển. Nhật
thiên tử có thành quách rộng năm mươi mốt do-tuần, Nguyệt
thiên tử có thành quách rộng ba mươi chín do-tuần; ngôi sao
lớn nhất rộng một do-tuần, ngôi sao nhỏ nhất rộng hai
trăm bộ. Trên đỉnh Tu-di, Ðông, Tây, Nam, Bắc rộng tám vạn
bốn ngàn do-tuần. Gần núi Tu-di, về phía Nam có núi Ðại
Thiết Vi, dài tám vạn bốn ngàn do-tuần, cao tám vạn dặm.
Ở ngoài núi này có núi Ni-di-đà bao bọc núi ấy, cách núi
Ni-di-đà lại có núi tên là Khư-la, cách núi này lại có núi
tên Tỷ-sa, cách núi này lại có núi tên Mã Ðầu, rồi lại
có núi tên Tỳ-na-da; kế núi Tỳ-na-da lại có núi tên Thiết
Vi Ðại Thiết Vi. Ở giữa Thiết Vi có tám địa ngục lớn,
giữa hai địa ngục có mười sáu bức ngăn. Núi Thiết Vi
có nhiều lợi ích cho cõi Diêm-phù-đề. Diêm-phù-đề nếu
không có núi Thiết Vi có núi Hương Tích, bên núi Hương Tích
có tám vạn bốn ngàn bạch tượng vương sống ở đó, mỗi
con có sáu ngà và đeo vàng bạc. Trong núi Hương Tích có tám
vạn bốn ngàn hang, có voi ở đó. Con voi tối thượng do vàng
bạc thủy tinh, lưu ly tạo thành. Thích-đề-hoàn-nhân cỡi
voi tối thượng, còn Chuyển luân Thánh vương cỡi voi thấp
nhất. Bên núi Hương Tích có hồ nước Ma-đà, sanh toàn hoa
Ưu-bát Liên và hoa Câu-mâu-đầu; những con voi kia bới rễ
mà ăn. Bên cạnh hồ nước Ma-đà có núi Ưu-xà-già-la, núi
ấy mọi rất nhiều cây cỏ, chim chóc, cọp (trùng) báo đều
nương núi này, có những vị thần thông đắc đạo ở đó.
Kế đó lại có núi tên Bàn-trà-bà, kế đó lại có núi tên
Kỳ-xà-quật. Ðây là nơi cõi Diêm-phù-đề nương tựa.
Tỳ-kheo
nên biết, hoặc có lúc thế gian này muốn bại hoại, khi ấy
trời chẳng mưa, những hạt mầm gieo trồng không lớn lên,
bao nhiêu khe suối, sông nhỏ đều khô kiệt, tất cả các
hành đều quy về vô thường, không tồn tại lâu dài.
Tỳ-kheo
nên biết, hoặc có lúc bốn dòng sông lớn là Hằng Hà, Tư-đầu,
Tất-đà, Bà-xoa cũng đều khô cạn tất cả. Ðúng thế Tỳ-kheo,
vô thường trăm lần biến đổi, chính là thế.
Tỳ-kheo,
hoặc có lúc, thế gian có hai mặt trời xuất hiện, khi ấy
trăm thứ cỏ cây đều rơi rụng, điêu tàn. Ðúng thế, Tỳ-kheo
, vô thường biến đổi không có bền lâu. Lúc ấy các nguồn
suối, dòng nước nhỏ đều khô cạn. Tỳ-kheo nên biết, khi
hai mặt trời xuất hiện, nước bốn biển lớn khô cạn,
trong khoảng một trăm do-tuần, dần dần đến bảy trăm do-tuần,
nước tự nhiên cạn.
Tỳ-kheo
nên biết, lúc thế gian có ba mặt trời xuất hiện, nước
bốn biển lớn trong vòng một ngàn do-tuần, tự nhiên khô
cạn, dần dần đến bảy ngàn do-tuần nước tự nhiên cạn.
Tỳ-kheo
nên biết, nếu lúc bốn mặt trời xuất hiện ở thế gian,
thì nước bốn biển sẽ rút sâu một ngàn do-tuần. Ðúng
vậy, Tỳ-kheo, tất cả hành đều vô thường không có bền
lâu.
Tỳ-kheo
nên biết, hoặc có lúc năm mặt trời xuất hiện ở thế
gian, khi đó nước bốn biển chỉ còn bảy trăm do-tuần, dần
dần đến một trăm do-tuần.
Tỳ-kheo
nên biết, lúc năm mặt trời xuất hiện, khi ấy nước biển
còn một do-tuần, dần dần khô cạn không còn gì hết. Nếu
lúc năm mặt trời xuất hiện, còn đúng bảy thước nước.
Lúc năm mặt trời xuất hiện, bốn biển khô cạn không còn
chút nước nào. Tỳ-kheo nên biết, tất cả hành vô thường
không được bền lâu.
Tỳ-kheo
nên biết, hoặc có lúc sáu mặt trời xuất hiện, cõi đất
dày sáu vạn tám ngàn do-tuần này sẽ bốc khói hết. Núi
Tu-di cũng dần dần chảy tan. Lúc sáu mặt trời xuất hiện,
tam thiên đại thiên quốc độ này đều chảy tan hết, ví
như người thợ gốm đốt đồ gốm. Lúc ấy tam thiên đại
thiên cõi nước cũng lại như thế, lửa dậy khắp mọi nơi.
Tỳ-kheo
nên biết, lúc sáu mặt trời xuất hiện, tám địa ngục lớn
cũng bị tiêu diệt, mọi người chết hết. Năm bậc Trời
ở núi Tu-di cũng mạng chung, trời Ba mươi ba, trời Diệm thiên,
cho đến trời Tha hóa tự tại cũng mạng chung, cung điện
trống trơn. Nếu lúc sáu mặt trời xuất hiện, núi Tu-di và
tam thiên đại thiên cõi nước đều trống không chẳng còn
gì. Ðúng vậy Tỳ-kheo, tất cả hành vô thường, không có
bền lâu.
Tỳ-kheo
nên biết, có lúc bảy mặt trời xuất hiện ở đời, đất
này tuy dày sáu vạn tám ngàn do-tuần và tam thiên đại thiên
cõi nước thảy đều bốc lửa. Lúc bảy mặt trời xuất
hiện, núi Tu-di dần dần tan chảy, trăm ngàn do-tuần tự nhiên
đổ vỡ không còn gì cả, không còn thấy một phần khói
bụi huống là thấy tro.
Khi
ấy từ trời Ba mươi ba cho đến trời Tha hóa tự tại, tất
cả cung điện đều bốc lửa, lửa hừng nóng đến trời
Phạm thiên. Thiên tử mới sanh ở cung trời ấy, vì chưa thấy
kiếp thiêu, thấy ánh lửa nóng này thảy đều hoảng sợ,
lo sẽ bị lửa đốt. Nhưng những vị Thiên tử sống lâu,
đã từng thấy kiếp thiêu liền đến an ủi những Thiên tử
sanh sau: 'Các ông chớ khiếp sợ, lửa này không đến thấu
đây'.
Tỳ-kheo
nên biết, lúc bảy mặt trời xuất hiện, từ cõi đời này
đến sáu từng trời cõi dục cho đến tam thiên đại thiên
quốc độ đều thành tro đất, không còn bóng dáng hình chất.
Ðúng vậy, Tỳ-kheo, tất cả hành vô thường, chẳng thể
bảo đảm lâu bền, tất cả đều đi đến hoại diệt.
Khi
ấy nhân dân chết hết, sinh vào quốc độ phương khác hoặc
sanh lên Trời. Các chúng sanh ở trong địa ngục nếu tội
cũ đã xong thì sanh lên Trời hoặc cõi nước phương khác.
Tỳ-kheo nên biết, nếu lúc bảy mặt trời xuất hiện, không
còn dấu vết của ánh sáng mặt trời, mặt trăng, tinh tú.
Khi đó mặt trời, mặt trăng đã hoại diệt, không còn ngày
đêm. Này Tỳ-kheo, đó là do báo duyên nên bị bại hoại như
thế.
Tỳ-kheo
lại nên biết, lúc kiếp thành tựu trở lại, lúc ấy lửa
tự diệt mất, trong hư không có đám mây lớn nổi lên, dần
dần mưa xuống, khi đó ba ngàn đại thiên thế giới tràn
ngập nước, lên đến trời Phạm thiên. Tỳ-kheo nên biết,
lúc đó nước dần dần dừng lại rồi tự tiêu diệt, lại
có gió nổi lên gọi là Tùy lam (khí núi) thổi nước này
tụ vào một chỗ. Khi ấy, gió kia làm nổi lên ngàn núi Tu-di,
ngàn núi Kỳ-di-đà, ngàn núi Ni-di-đà, ngàn núi Khư-la, ngàn
núi Y-sa, ngàn núi Tỳ-na, ngàn núi Thiết Vi, ngàn núi Ðại
Thiết Vi; lại sanh tám ngàn địa ngục, lại sanh ngàn núi
Mã Ðầu, ngàn núi Hương Tích, ngàn núi Bàn-trà-bà, ngàn núi
Ưu-xà-già, ngàn Diêm-phù-đề, ngàn Cù-da-ni, ngàn Phất-vu-đệ,
ngàn Uất-đơn-việt, lại sanh nước ngàn biển, lại sanh ngàn
cung Tứ thiên vương, ngàn trời Ba mươi ba, ngàn Diễm thiên,
ngàn Ðâu-suất thiên, ngàn Hóa tự tại thiên, ngàn Tha hóa
tự tại thiên.
Tỳ-kheo
nên biết, lúc ấy nước diệt, đất lại sanh trở lại, trên
mặt đất tự nhiên có lớp đất màu mỡ, rất là thơm ngon
hơn cả cam lồ. Nên biết mùi vị của lớp đất màu mỡ
này ví như rượu ngọt bồ đào.
Tỳ-kheo
nên biết, khi ấy trời Quang Âm bảo nhau: 'Chúng tôi muốn
đến Diêm-phù-đề ngắm xem hình thể cõi đất ấy lúc hoàn
thành trở lại'.
Chư
Thiên trời Quang Âm liền xuống thế gian, thấy trên đất
có lớp đất màu mỡ này liền lấy tay quẹt đưa vào miệng
nếm và ăn. Khi ấy Thiên tử nào ăn lớp đất mày này nhiều
thì trở nên mất oai thần, cũng không có ánh sáng, thân thể
trở nên nặng nề, sanh ra xương thịt, mất hết thần túc,
không bay được nữa. Thiên tử nào ăn đất màu ít, thân
thể không nặng, không mất thần túc, cũng có thể phi hành
trong hư không. Lúc đó các Thiên tử mất thần túc, cùng nhau
kêu khóc và bảo nhau: 'Hôm nay, chúng ta thật là nguy khốn,
mất hết thần túc, phải ở thế gian, không lên trời được
nữa!'. Họ bèn ăn lớp đất màu này và nhìn nhau sắc nhau.
Người nào dục ý nhiều thì thành đàn bà, rồi làm tình
dục, cùng nhau vui thú.
Này
Tỳ-kheo, đó là lúc thế gian mới thành lập, có sự dâm dục
lan tràn thế gian. Ðó là cách thức thông thường của đàn
bà xuất hiện ở đời, cũng là pháp cũ không phải mới có
đây.
Khi
ấy, các Thiên tử Quang Âm khác, thấy các thiên tử này đọa
lạc, đều đến trách mắng họ: 'Các Ông vì sao lại làm
hạnh bất tịnh này?' Khi đó các chúng sanh nghĩ: 'Chúng ta
phải tìm cách nào tiện nghi để ăn ở với nhau cho người
chẳng thấy'. Rồi từ từ họ làm nhà cửa để che thân thể.
Tỳ-kheo, đó là nguyên nhân ngày nay có nhà cửa.
Tỳ-kheo
nên biết, lúc đó, lớp đất màu mỡ tự nhiên chui vào đất,
sau lại sanh lúa gạo, rất tươi tốt, sạch sẽ không có lớp
vỏ, rất thơm ngon khiến người ăn mập trắng. Sáng, người
ta thu thập, chiều nó lại sanh; nếu chiều thu thì sáng sanh
ra. Tỳ-kheo, từ đó mới sanh ra tên lúa gạo. Tỳ-kheo, khi
ấy nhân dân lười biếng, chẳng siêng năng sinh hoạt, họ
nghĩ: 'Nay ta ngày ngày đi thu gạo thóc làm chi. Hãy để hai
ngày đi gom một lần'. Khi ấy, người kia để hai ngày mới
đi thu một lần. Nhân dân lần lượt có thai. Do đây mới
có việc sanh đẻ. Lại có chúng sanh bảo người kia:
- Chúng
ta cùng đi thu lúa gạo đi!
Người
kia đáp:
- Tôi
đã lấy lương thực hai ngày rồi.
Người
này nghe xong liền tự nghĩ: 'Mình nên chứa lương thực bốn
ngày'. Rồi liền lo lương thực bốn ngày. Lại có người
bảo người ấy rằng:
- 'Nên
cùng nhau ra ngoài thu lúa gạo'.
Người
này đáp:
- 'Tôi
đã thu lương thực bốn ngày'.
Người
kia nghe xong liền nghĩ: 'Ta nên lo lương thực tám ngày'. Và
người ấy lo dự trữ thức ăn tám ngày. Khi ấy lúa gạo
kia không sanh ra nữa. Mọi người đều nghĩ: 'Thế gian có
tai nạn lớn. Nay lúa gạo này không còn như cũ. Hãy chia lúa
gạo này ra'.
Rồi
họ chia lúa gạo. Bấy giờ chúng sanh lại nghĩ: 'Nay ta hãy
giấu lúa gạo của mình và hãy ăn trộm lúa gạo người khác'.
Khi
ấy, chúng sanh kia giấu lúa gạo của mình rồi ăn trộm lúa
gạo người khác. Người chủ kia thấy trộm lúa gạo mới
bảo người ấy:
- 'Ông
vì sao lấy lúa gạo của ta. Lần này ta tha tội cho Ông, chớ
có tái phạm'.
Bấy
giờ, thế gian bắt đầu có tâm trộm cắp. Lại có chúng
sanh nghe lời này liền nghĩ: 'Nay ta nên giấu lúa gạo của
mình và ăn trộm lúa gạo người khác'.
Khi
ấy, chúng sanh kia bỏ vật của mình và lấy trộm của người.
Người chủ kia thấy rồi bảo người ấy rằng:
- 'Nay
Ông vì sao lấy lúa gạo của ta?'.
Nhưng
người đó im lặng không đáp. Lúc đó người chủ mới dùng
nắm tay mà đánh nhau:
- 'Từ
nay về sau chớ có xâm phạm'.
Khi
ấy, rất nhiều người nghe chúng sanh ăn trộm lẫn nhau, mỗi
người đều nhóm họp bảo nhau rằng:
- 'Thế
gian có việc phi pháp này, mỗi người cùng ăn trộm lẫn nhau.
Nay hãy lập người giữ ruộng, để giữ gìn ruộng rẫy.
Có chúng sanh tài cao, thông minh, hãy lập làm chủ giữ ruộng'.
Bấy
giờ, họ chọn lựa điền chủ và bảo:
- 'Các
Ông nên biết, thế gian có sự trộm cắp phi pháp này. Nay
Ông giữ ruộng hãy coi sóc bông hạt, nhưng người đến lấy
lúa gạo của người khác thì nêu tội họ'.
Khi
ấy liền đặt điền chủ.
Tỳ-kheo
nên biết! Bấy giờ người giữ ruộng gọi là dòng Sát-lợi.
Ðó là pháp cũ, chẳng phải là pháp mới.
Khi
ấy Thế Tôn liền nói kệ này:
Ðầu
tiên dòng Sát-lợi,
Cao
nhất trong các dòng,
Người
thông minh cao tài,
Ðược
Trời Người cung kính.
Bấy
giờ có nhân dân nào xâm phạm vật của người khác thì dòng
Sát-lợi sẽ trừng phạt họ. Nhưng sau người kia không sửa
lỗi, lại phạm nữa, chủ Sát-lợi ra lệnh làm đao gậy chặt
đầu người kia. Lúc ấy thế gian mới bắt đầu có sát sanh.
Nhiều người nghe lệnh giết này: 'Người ăn trộm lúa gạo
người khác, Sát-lợi chủ sẽ bắt giết' đều sợ hãi, lông
tóc dựng ngược. Ai nấy đều cất nhà cỏ, ngồi Thiền trong
đó, nhất tâm tu Phạm hạnh, bỏ lìa nghiệp nhà, vợ con,
hầu thiếp. Một mình ở chỗ vắng vẻ, dốc chí tu Phạm
hạnh. Nhân đây về sau có tên họ của Bà-la-môn.
Khi
đó, có hai chủng tánh xuất hiện ở đời. Tỳ-kheo nên biết,
khi ấy do trộm cắp mà có sát sanh, do sát sanh nên có dao gậy.
Sát-lợi chủ bảo nhân dân:
- 'Người
nào đoan chính tài cao, hãy cho thống lãnh nhân dân này'.
Sát-lợi
chủ lại bảo họ rằng:
- 'Nhân
dân nào ăn trộm thì cho trừng trị tội nó'.
Khi
đó liền có chủng tánh Tỳ-xá xuất hiện ở đời. Có nhiều
chúng sanh nghĩ rằng: 'Ngày nay chúng sanh sát sinh lẫn nhau đều
do tiền nghiệp gây ra. Nay ta nên qua lại xoay vần để tự
sinh sống'.
Bấy
giờ liền có chủng tánh Thủ-đà-la xuất hiện thế gian.
Khi
ấy Thế Tôn liền nói kệ này:
Trước
tiên dòng Sát-lợi,
Kế
có Bà-la-môn,
Thứ
ba là Tỳ-xá,
Tiếp
là họ Thủ-đà.
Có
bốn chúng tánh này,
Lần
lần sanh lẫn nhau,
Ðều
là thân Trời đến,
Cùng
đồng là một vẻ.
Tỳ-kheo
nên biết, lúc có tâm giết và trộm này, không còn có lúa
gạo tự nhiên hiện nữa. Khi ấy, liền có năm loại ngũ cốc:
rễ, cọng, cành, hoa, trái, và sanh các hạt giống khác. Ðó
là năm hạt giống đều là từ cõi nước phương khác theo
gió thổi đến, người ta lấy trồng dùng đây để sống.
Như
thế, Tỳ-kheo thế gian có điềm ứng này, liền có sanh, già,
bệnh, chết đến, khiến hôm nay có thân năm ấm, chẳng dứt
được mé khổ. Ðây gọi là sự biến đổi của kiếp thành
hoại. Ta nói với các Thầy! Việc đáng làm của chư Phật
Thế Tôn, nay Ta đã nói hết cho các Thầy, hãy ưa thích chỗ
vắng vẻ, nên nhớ tọa thiền chớ giải đãi, ngày nay nếu
không tinh thành, sau hối hận vô ích. Ðây là lời dạy của
Ta.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở thành La-duyệt trong vườn trúc Ca-lan-đà, cùng
với chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người.
Bấy
giờ, vua A-xà-thế nước Ma-kiệt nói với quần thần rằng:
- Nước
Bạt-kỳ rất thịnh vượng, dân cư đông đúc. Ta sẽ chinh
phạt chiếm đất nước đó.
Lúc
ấy, vua A-xà-thế lại bảo Bà-la-môn Bà-lợi-ca rằng:
- Nay
Ông đến chỗ Thế Tôn, đem tên họ ta thăm hỏi Thế Tôn,
lễ kính, thừa sự rồi thưa rằng: 'Vua A-xà-thế bạch đức
Thế Tôn, vua có ý muốn chinh phạt nước Bạt-kỳ có được
hay không?' Nếu Như Lai có nói gì, Ông hãy khéo suy nghĩ rồi
về nói cho ta. Vì sao thế? Như Lai nói không hai lời.
Bấy
giờ Bà-la-môn vâng lời vua dạy, đến chỗ Thế Tôn, thưa
hỏi rồi ngồi một bên. Khi đó, Bà-la-môn bạch Phật:
- Vua
A-xà-thế lễ kính Thế Tôn, thừa sự, thăm hỏi.
Và
Bà-la-môn ấy bạch thêm rằng:
- Ý
vua muốn chinh phạt nước Bạt-kỳ, trước đến hỏi Phật
xem có được không?
Khi
ấy Thế Tôn thấy Bà-la-môn kia lấy y che đầu, chân mang giày
ngà voi, lưng đeo kiếm bén, chẳng nên thuyết pháp cho ông
ta. Thế Tôn mới bảo A-nan:
- Nếu
dân chúng Bạt-kỳ-tu bảy pháp thì trọn không bị ngoại xâm
tiêu diệt. Thế nào là bảy? Nếu nhân dân Bạt-kỳ tụ tập
một nơi không phân tán thì không bị nước khác phá hoại.
Ðó là pháp đầu tiên không bị giặc ngoài phá hoại.
Lại
nữa A-nan, người nước Bạt-kỳ trên dưới hòa thuận, thì
nhân dân Bạt-kỳ không bị người ngoài cầm giữ. A-nan! Ðó
là pháp thứ hai không bị giặc ngoài phá hoại.
Lại
nữa A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ không dâm dục với
đàn bà của người khác. Ðó là pháp thứ ba không bị giặc
ngoài phá hoại.
Lại
nữa A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ không đem việc ở đây
truyền đến chỗ kia, cũng lại không đem việc đàng kia truyền
lại đàng này... Ðó là pháp thứ tư không bị giặc ngoài
phá hoại.
Lại
nữa A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ cúng dường Sa-môn,
Bà-la-môn, thừa sự, lễ kính người Phạm hạnh... Ðó là
pháp thứ năm không bị giặc ngoài phá hoại.
Lại
nữa A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ không tham lam tài sản
của người khác... Ðó là pháp thứ sáu không bị giặc ngoài
phá hoại.
Lại
nữa A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ đều đồng một lòng
không theo thần tự, chuyên tinh ý mình, liền chẳng bị giặc
ngoài phá hoại. Ðó là pháp thứ bảy không bị giặc ngoài
phá hoại.
A-nan,
đó là người Bạt-kỳ tu bảy pháp này, trọn không bị giặc
ngoài phá hoại.
Khi
ấy Phạm chí bạch Phật:
- Dù
cho người nước Bạt-kỳ chỉ thành tựu một pháp thôi, cũng
không thể phá hoại được, huống là đến bảy pháp thì
làm sao phá hoại được. Thôi, thôi! Bạch Thế Tôn, việc
nước bề bộn tôi muốn trở về chỗ mình.
Bấy
giờ Phạm chí liền từ tòa đứng lên mà đi. Ông ta đi chưa
xa, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
Ta sẽ nói bảy pháp bất thối chuyển, các Thầy nên lắng
nghe, khéo suy nghĩ.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, Thế Tôn bảo:
- Thế
nào là bảy pháp bất thối chuyển? Tỳ-kheo nên biết, Tỳ-kheo
tụ họp chung một chỗ, hòa thuận với nhau, trên dưới kính
nhường, càng lúc càng tiến lên, tu các pháp lành không thối
chuyển, không để Ma được lợi thế. Ðó là pháp bất thối
chuyển đầu tiên.
Lại
nữa, chúng Tăng hòa hợp, thuận theo lời dạy càng tiến lên,
không thối chuyển, chẳng bị Ma vương phá hoại. Ðó là pháp
bất thối chuyển thứ hai.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không đắm công việc, không tập tành việc
đời, cứ tiến tới, không để Thiên ma được tiện lợi.
Ðó là pháp bất thối chuyển thứ ba.
Lại
nữa, Tỳ-kheo, không tụng đọc sách tạp, suốt ngày thúc
liễm tình ý càng tiến lên, không để Ma vương được tiện
lợi. Ðó là pháp bất thối chuyển thứ tư.
Lại
nữa, Tỳ-kheo chuyên cần tu pháp trừ khử thùy miên, hằng
tự răn nhắc tỉnh táo, càng tiến lên trên, không để Ma
được tiện lợi. Ðó là pháp bất thối chuyển thứ năm.
Lại
nữa, Tỳ-kheo, không học toán thuật, cũng không khiến người
tập thành nó, ưa chỗ vắng vẻ, tu tập pháp này, ngày càng
tiến lên, không để Ma được tiện lợi. Ðó là pháp bất
thối chuyển thứ sáu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo, khởi lên ý tưởng 'tất cả thế gian không
có gì đáng ưa thích', tu tập Thiền hạnh, kham nhẫn theo các
pháp được dạy, càng tiến lên, không để Ma được tiện
lợi. Ðó là pháp bất thối chuyển thứ bảy. Nếu có Tỳ-kheo
thành tựu bảy pháp này, hòa thuận với nhau, thì Ma sẽ không
được tiện lợi.
Khi
ấy, Thế Tôn nói kệ:
Trừ
bỏ các sự nghiệp,
Không
suy nghĩ loạn bậy,
Nếu
không hành điều này,
Cũng
chẳng được tam-muội.
Người
hay vui với pháp,
Phân
biệt nghĩa pháp này,
Tỳ-kheo
ưa hạnh này,
Sẽ
đến tam-muội định.
Thế
nên, Tỳ-kheo, hãy cầu phương tiện thành tựu bảy pháp này.
Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
Ta sẽ nói về bảy sử. Các Thầy hãy khéo nghĩ nhớ.
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn.
Khi
ấy, các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
- Thế
nào là bảy? Tham dục sử, sân nhuế sử, kiêu mạn sử, si
sử, nghi sử, kiến sử, dục thế gian sử.
Này
Tỳ-kheo, đó là bảy sử khiến cho chúng sanh thường ở trong
u tối, bị trói buộc thân mình, lưu chuyển trong thế gian
không hề ngừng nghỉ, cũng không thể biết cội rễ sanh tử.
Ví như hai con trâu một đen, một trắng, mang chung một ách
cùng kéo dẫn nhau, không cách xa được. Chúng sanh cũng như
thế, bị tham dục sử, vô minh sử, trói buộc không lìa nhu
được. Năm sử kia cũng lại đuổi theo; năm sử vừa theo,
bảy sử cũng thế. Người phàm phu bị bảy sử này trói buộc,
lưu chuyển trong sanh tử không giải thoát được, không thể
biết nguồn gốc của khổ.
Tỳ-kheo
nên biết, do bảy sử này bèn có ba đường ác: địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh. Do bảy sử này không thể qua khỏi cảnh
giới tệ Ma. Nhưng bảy sử này lại có bảy phương thuốc.
Thế nào là bảy? Tham dục sử thì có niệm giác ý trị. Sân
nhuế sử có trạch pháp giác ý trị. Tà kiến sử có tinh
tấn giác ý trị. Dục thế gian sử có hỷ giác ý trị. Kiêu
mạn sử có khinh an giác ý trị. Nghi sử có định giác ý
trị. Vô minh sử có hộ (xả) giác ý trị. Này Tỳ-kheo! Ðó
là bảy sử dùng bảy giác ý trị.
Tỳ-kheo
nên biết! Lúc Ta chưa thành Phật, đang hành hạnh Bồ-tát,
ngồi dưới cây Bồ-đề, khởi niệm này: 'Chúng sanh cõi dục
bị những gì trói buộc?' Rồi lại nghĩ: 'Chúng sanh bị bảy
sử trói buộc lưu chuyển trong sanh tử, mãi mãi không giải
thoát được. Nay Ta cũng bị bảy sử này trói buộc không
được giải thoát'. Lúc ấy Ta lại nghĩ: 'Bảy sử này dùng
gì để trị?'. Ta lại suy nghĩ nữa: 'Bảy sử này sẽ dùng
Bảy giác ý trị'.
Ta
nên tư duy Bảy giác ý. Lúc Ta tư duy Bảy giác ý, tâm hữu
lậu được dứt, liền được giải thoát. Sau thành đạo
Vô Thượng Chánh Chân.
Trong
bảy ngày ngồi kiết-già, tư duy Bảy giác ý này một lần
nữa.
Thế
nên các Tỳ-kheo! Nếu muốn bỏ bảy sử, nên nhớ tu hành
pháp Bảy giác ý. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều này.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
bảy hạng người đáng thờ, đáng kính, họ là phước điền
vô thượng của thế gian. Thế nào là bảy hạng người? Ðó
là: Hành từ, hành bi, hành hỉ, hành hộ (xả), hành không,
hành vô tướng, hành vô nguyện. Ðó là bảy hạng người
đáng thờ, đáng kính, là phước điền vô thượng của thế
gian. Vì sao thế? Nếu có chúng sanh hành bảy pháp này thì
ở trong hiện pháp thu hoạch được quả báo.
Bấy
giờ A-nan bạch Thế Tôn:
- Vì
cớ sao Thế Tôn không nói Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm,
A-la-hán, Bích-chi Phật và Phật mà lại nói bảy pháp này?
Thế
Tôn bảo:
- Người
hành từ cho đến bảy pháp hành cùng với Tu-đà-hoàn cho đến
Phật, việc này không đồng. Dù cúng dường Tu-đà-hoàn cho
đến Phật cũng không được quả báo hiện tại; nhưng cúng
dường bảy người này, ở hiện đời được quả báo. Thế
nên, A-nan, nên chuyên cần dũng mãnh thêm để hoàn thành bảy
pháp. Như thế, A-nan, nên học điều này!
Bấy
giờ, A-nan nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở Tỳ-xá-ly, bên ao Di-hầu, cùng với năm trăm
chúng đại Tỳ-kheo.
Khi
ấy Thế Tôn đến giờ đắp y, ôm bát, cùng A-nan vào Tỳ-xá-ly
khất thực. Bấy giờ trong thành Tỳ-xá-ly có đại trưởng
giả tên Tỳ-la-tiên, giàu có, nhiều tài sản chẳng thể tính
kể, nhưng lại keo kiệt tham lam không có lòng bố thí, chỉ
hưởng phước cũ, không tạo thêm phước mới. Lúc đó trưởng
giả ấy đang cùng các dâm nữ ở hậu cung đàn hát, ca xướng
vui chơi.
Thế
Tôn đi đến hướng ấy, Ngài biết mà vẫn hỏi Tôn giả
A-nan:
- Nay
Ta nghe tiếng hát xướng, kỹ nhạc là ở nhà nào?
A-nan
bạch Phật:
- Ðó
là ở nhà trưởng giả Tỳ-la-tiên.
Phật
bảo A-nan:
- Trưởng
giả này sau bảy ngày sẽ chết và sanh trong địa ngục Thế
Khốc. Vì sao thế? Ðó là lẽ thường. Nếu người đoạn
căn lành thì lúc mạng chung đều sanh trong địa ngục Thế
Khốc. Nay trưởng giả này phước cũ đã hết, lại không
chịu tạo phước mới.
A-nan
bạch Phật:
- Có
nhân duyên nào khiến trưởng giả này sau bảy ngày không chết
chăng?
Phật
bảo A-nan:
- Chẳng
có nhân duyên nào mà làm ông ta không chết được. Những
hạnh ông ta gieo trồng ngày xưa, hôm nay đã hết. Ðiều này
không thể tránh khỏi.
A-nan
bạch Phật:
- Có
cách nào khiến trưởng giả này không sanh vào địa ngục
Thế Khốc chăng?
Phật
bảo:
- A-nan!
Có cách này có thể khiến trưởng giả không vào địa ngục.
A-nan
bạch Phật:
- Những
nhân duyên nào khiến trưởng giả không vào địa ngục?
Phật
bảo A-nan:
- Nếu
trưởng giả này chịu cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất
gia học đạo thì có thể khỏi tội này được.
A-nan
bạch Phật:
- Nay
con có thể khiến cho trưởng giả này xuất gia học đạo.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan từ giã Thế Tôn, đi đến đứng ngoài
cửa nhà ông trưởng giả. Lúc ấy, Trưởng giả từ xa trông
thấy A-nan đến liền ra cửa tiếp đón thỉnh ngài vào ngồi.
Rồi A-nan bảo trưởng giả:
- Nay
tôi ở bên bậc Nhất Thiết Trí được nghe Như Lai thọ ký
Ông sau bảy ngày sẽ chết và sanh vào địa ngục Thế Khốc.
Trưởng
giả nghe xong lông tóc dựng ngược, kinh hãi bạch Tôn giả
A-nan:
- Có
nhân duyên gì làm tôi trong bảy ngày không chết chăng?
A-nan
bảo:
- Không
có nhân duyên nào khiến Ông trong bảy ngày khỏi chết.
Trưởng
giả lại bạch:
- Có
nhân duyên nào khiến tôi chết không sanh vào địa ngục Thế
Khốc chăng?
A-nan
bảo:
- Thế
Tôn cũng có dạy rằng nếu Trưởng giả cạo tóc, mặc ba
pháp y, xuất gia học đạo sẽ không phải vào địa ngục
Thế Khốc. Ông phải nên xuất gia học đạo, đến được
bờ kia.
Trưởng
giả bạch:
- Ngài
A-nan hãy đi trước đi, tôi sẽ đến ngay.
Khi
ấy, Tôn giả A-nan liền bỏ đi. Trưởng giả liền nghĩ: 'Nói
bảy ngày cũng còn xa, nay ta nên vui chơi ngũ dục, rồi sau
hãy xuất gia học đạo'.
Tôn
giả A-nan ngày hôm sau đến nhà trưởng giả, bảo ông ta:
- Một
ngày đã qua, còn có sáu ngày, phải xuất gia đi!
Trưởng
giả bạch:
- Ngài
A-nan hãy đi trước, tôi sẽ theo sau ngay.
Nhưng
trưởng giả ấy vẫn không đi. Ngài A-nan, hai ngày, ba ngày
cho đến sáu ngày đến nhà trưởng giả, bảo ông ta:
- Bây
giờ hãy xuất gia, nếu không sau hối không kịp. Nếu không
xuất gia hôm nay sẽ chết, rồi sanh trong địa ngục Thế Khốc.
Trưởng
giả bạch A-nan:
- Tôn
giả hãy đi trước, tôi sẽ theo sau.
A-nan
bảo:
- Trưởng
giả! Hôm nay Ông dùng thần túc nào đến kia được mà bảo
ta đi trước? Ta muốn đi một lượt với Ông.
Khi
ấy A-nan dẫn trưởng giả này đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy
và bạch Phật:
- Nay
trưởng giả này muốn được xuất gia học đạo, cúi mong
Như Lai hãy cạo bỏ râu tóc cho ông ta, để ông ta được
học đạo.
Phật
bảo A-nan:
- Nay
chính Thầy có thể độ trưởng giả này.
A-nan
vâng lời Phật dạy tức thời cạo tóc cho trưởng giả, dạy
đắp ba pháp y và học Chánh pháp. Lúc ấy A-nan dạy Tỳ-kheo
đó rằng:
- Ông
nên nhớ tu hành, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tỳ-kheo Tăng,
niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên, niệm Thôi dứt, niệm Hơi
thở, niệm Thân, niệm Tử. Nên tu hành pháp như thế. Tỳ-kheo
hành mười niệm này sẽ được quả báo lớn, được pháp
vị cam lồ.
Khi
ấy Tỳ-la-tiên tu hành pháp như thế rồi; ngay ngày ấy mạng
chung sanh trong Tứ thiên vương. A-nan liền trà-tỳ thân ông
ta, trở về chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi đứng một bên.
Bấy
giờ A-nan bạch Thế Tôn:
- Vừa
rồi Tỳ-kheo Tỳ-la-tiên đã mạng chung, sẽ sanh về đâu?
Thế
Tôn bảo:
- Nay
Tỳ-kheo này mạng chung sanh lên cõi trời Tứ thiên vương.
A-nan
bạch Phật:
- Ông
ta ở đó mạng chung sẽ sanh về đâu?
Thế
Tôn bảo:
- Ông
ta ở đó mạng chung sẽ sanh trời Ba mươi ba, lần lượt sanh
Diệm thiên, Ðâu-suất thiên, Hóa tự tại thiên, Tha hóa tự
tại thiên. Từ đó ông ta mạng chung lại sanh trở lại cho
đến trời Tứ thiên vương. A-nan! Tỳ-kheo Tỳ-la-tiên, bảy
phen xoay vần trong Trời, Người. Cuối cùng ông ta được thân
người xuất gia, học đạo, sẽ dứt mé khổ. Vì sao thế?
Vì ông ta có tín tâm đối với Như Lai. A-nan nên biết! Cõi
Diêm-phù-đề này, Nam Bắc hai vạn một ngàn do-tuần; Ðông
Tây bảy ngàn do-tuần. Nếu có người cúng dường người
khắp cõi Diêm-phù-đề, phước đó có nhiều không?
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
- Rất
nhiều, rất nhiều, bạch Thế Tôn.
Phật
bảo A-nan:
- Nếu
có chúng sanh chỉ trong một khoảng khắc, không dứt tín tâm
tu hành mười niệm này, phước chẳng thể lường, không thể
lường được. Như thế, A-nan! Hãy cầu phương tiện tu hành
mười niệm. Như thế A-nan, hãy học điều này!
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Ta
sẽ thuyết pháp cực diệu, ban đầu, ở giữa và rốt sau
đều lành, nghĩa lý thâm sâu, đầy đủ để tu Phạm hạnh.
Kinh này gọi là 'Pháp sạch các lậu'. Các Thầy khéo suy nghĩ
đó.
Tỳ-kheo
đáp:
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn.
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
- Tại
sao gọi là 'pháp sạch các lậu'? Hoặc có hữu lậu duyên
kiến mà được đoạn, hoặc có hữu lậu nhờ thân cận được
đoạn, hoặc có hữu lậu do xa lìa được đoạn, hoặc có
hữu lậu do vui thích được đoạn, hoặc có hữu lậu do oai
nghi được đoạn, hoặc có hữu lậu do tư duy được đoạn.
Thế
nào là hữu lậu do kiến được đoạn? Ở đây, người phàm
phu chẳng gặp Thánh nhân, không thuận theo pháp Như Lai, chẳng
thể ủng hộ pháp Hiền Thánh, chẳng gần gũi Thiện tri thức,
chẳng phụng sự Thiện tri thức. Họ nghe pháp, điều đáng
suy nghĩ cũng không phân biệt được; điều không nên suy nghĩ
thì lại suy nghĩ; dục lậu chưa sanh liền sanh, dục lậu đã
sanh liền tăng thêm nhiều; hữu lậu chưa sanh liền sanh, hữu
lậu đã sanh liền tăng thêm nhiều; vô minh lậu chưa sanh liền
sanh, vô minh lậu đã sanh liền tăng thêm nhiều. Ðây là pháp
chẳng nên tư duy mà lại tư duy.
Thế
nào là pháp đáng tư duy mà không chịu tư duy pháp này? Pháp
nên tư duy là dục lậu chưa sanh, khiến cho chẳng sanh, dục
lậu đã sanh thì tiêu diệt đi; hữu lậu chưa sanh khiến cho
chẳng sanh, hữu lậu đã sanh thì tiêu diệt đi; vô minh lậu
chưa sanh khiến cho chẳng sanh, vô minh lậu đã sanh thì tiêu
diệt đi. Ðó là pháp đáng nên tư duy mà không tư duy; pháp
không nên tư duy thì tư duy, pháp nên tư duy lại không chịu
tư duy; dục lậu chưa sanh liền sanh, dục lậu đã sanh tăng
thêm; hữu lậu chưa sanh liền sanh, hữu lậu đã sanh liền
tăng thêm; vô minh lậu chưa sanh liền sanh, vô minh lậu đã
sanh liền tăng thêm.
Người
ấy suy nghĩ thế này: 'Thế nào là có quá khứ lâu xa? Nay
ta phải có quá khứ lâu xa'.
Người
ấy lại suy nghĩ: 'Không có quá khứ lâu xa. Thế nào mà có
quá khứ lâu xa? Thế nào lại có tương lai lâu xa? Nay ta sẽ
có tương lai lâu xa. Hay lại nói không có tương lai lâu xa?
Thế nào sẽ có tương lai lâu xa. Ai có tương lai lâu xa? Thế
nào ở đây có chúng sanh từ lâu xa? Chúng sanh lâu xa này từ
đâu mà đến, từ đây mạng chung sẽ đi về đâu?'.
Người
ấy khởi ý nghĩ chẳng lành này, liền nổi lên sáu kiến
chấp lần lượt sanh tư tưởng tà vạy: Có ngã kiến, xét
rõ có kiến này; không có ngã kiến xét rõ khởi lên cái kiến
này; có ngã kiến, không ngã kiến, trong đó khởi xét rõ sanh
kiến; lại tự quán thân rồi khởi kiến chấp; ở nơi mình
mà không thấy mình, lại khởi cái chấp này; ở chỗ vô ngã
mà không thấy vô ngã, trong đó khởi kiến chấp. Khi ấy người
kia sanh tà kiến này: 'Ngã đời này cũng là ngã đời sau,
thường còn ở đời không có hư hoại, cũng không biến đổi,
cũng chẳng di động'. Ðó gọi là nhóm tà kiến. Tà kiến
khổ hoạn, ưu bi, khổ não, đều do đây sinh không thể trị
liệu, cũng bỏ không được, bèn tăng thêm gốc khổ. Do đó
không phải là hạnh của Sa-môn, đạo Niết-bàn.
Lại
nữa, Tỳ-kheo đệ tử bậc Hiền Thánh tu hành pháp này không
mất thứ tự, khéo hay ủng hộ và ủng hộ cho Thiện tri thức.
Người ấy có thể phân biệt, pháp chẳng thể tư duy cũng
có thể biết; pháp nên tư duy cũng có thể biết; pháp không
nên tư duy, người ấy cũng chẳng tư duy; pháp nên tư duy thì
tư duy.
Thế
nào là pháp chẳng nên tư duy thì chẳng tư duy? Ðối với
các pháp dục lậu chưa sanh mà sanh, dục lậu đã sanh liền
tăng thêm; hữu lậu chưa sanh liền sanh, hữu lậu đã sanh
liền tăng thêm; vô minh lậu chưa sanh liền sanh, vô minh lậu
đã sanh liền tăng thêm. Ðó là pháp không nên tư duy.
Những
pháp nào nên tư duy thì tư duy? Ðối với các pháp dục lậu
chưa sanh liền chẳng sanh, dục lậu đã sanh liền tiêu diệt;
hữu lậu chưa sanh liền chẳng sanh, hữu lậu đã sanh liền
tiêu diệt; vô minh lậu chưa sanh liền chẳng sanh, vô minh lậu
đã sanh liền tiêu diệt. Ðây là pháp đáng nên tư duy, điều
chẳng nên tư duy người ấy không tư duy. Ðiều nên tư duy
liền tư duy. Người ấy tư duy như thế liền diệt được
ba pháp. Thế nào là ba? Thân tà giới, trộm, nghi. Nếu không
thấy biết thì tăng thêm hạnh hữu lậu. Nếu người thấy,
nghe, nhớ, biết thì chẳng tăng thêm hạnh hữu lậu. Ðã biết,
đã thấy thì hữu lậu chẳng sanh. Ðây là lậu do kiến mà
đoạn được.
Thế
nào là lậu nhờ cung kính mà đoạn? Ở đây, Tỳ-kheo! Kham
nhẫn đói lạnh, chịu khổ gió mưa, muỗi mòng, lời ác nhục
mạ, thân sanh đau đớn, rất là phiền phức, mạng sắp muốn
dứt mà có thể nhẫn được. Nếu không dứt được liền
khởi khổ não, nếu người có thể kham nhẫn được, như
thế chẳng sanh. Ðó là lậu do cung kính được đoạn.
Thế
nào là lậu do thân cận được đoạn? Ở đây, Tỳ-kheo! Giữ
tâm thọ nhận y, không đòi trang sức, chỉ muốn giữ gìn
thân thể, muốn trừ lạnh nóng; muốn mưa gió không chạm
vào thân. Lại che thân thể không lộ ra ngoài. Lại giữ tâm
theo thời khất thực, không khởi tâm tham nhiễm, chỉ muốn
gìn giữ thân thể, cho bệnh cũ được lành, bệnh mới chẳng
sanh; giữ gìn các hạnh không xúc phạm, được an ổn lâu
dài mà tu Phạm hạnh được lâu bền ở đời. Lại giữ gìn
tâm ý, gần gũi sàng tòa, cũng không đắm nhiễm phục sức
vinh hoa; chỉ muốn trừ đói lạnh, gió mưa, muỗi mòng, che
chở thân thể để hành đạo pháp. Lại giữ gìn tâm, gần
gũi thuốc men, chẳng sanh tâm nhiễm đắm, đối với thuốc
men chỉ muốn bịnh tật được lành, thân thể được an ổn.
Nếu không thân cận thì sanh hoạn hữu lậu, nếu thân cận
thì không sinh hoạn hữu lậu. Ðó là lậu do thân cận được
đoạn.
Thế
nào là hữu lậu do xa lìa được đoạn? Ở đây, Tỳ-kheo!
Trừ khử loạn tưởng, xem nó như voi ác, lạc đà, trâu ngựa,
cọp beo, chó, rắn độc, hầm sâu bờ hiểm, gai góc, sườn
dốc, bùn sình, thảy đều xa lìa chúng, chớ theo phụng thờ
Ác tri thức, cũng không gần gũi người ác, hay nghiền ngẫm
ở trong lòng chớ bỏ qua. Nếu không ủng hộ thì sanh hữu
lậu, nếu ủng hộ thì không sanh hữu lậu. Ðó là hữu lậu
do xa lìa mà đoạn.
Thế
nào là hữu lậu do vui thích được đoạn?
Ở
đây, Tỳ-kheo! Sanh dục tưởng mà chẳng xa lìa, nếu khởi
sân giận cũng chẳng xa lìa, nếu lại khởi tưởng đố kỵ
cũng chẳng xa lìa. Nếu không xa lìa thì sanh hữu lậu, người
có thể xa lìa thì có thể chẳng khởi hữu lậu. Ðó là hữu
lậu do vui thích được đoạn.
Thế
nào là hữu lậu do oai nghi mà đoạn? Ở đây, Tỳ-kheo! Nếu
mắt thấy sắc không khởi sắc tưởng, cũng không khởi tâm
nhiễm ô, đầy đủ nhãn căn, cũng không thiếu sót mà hộ
nhãn căn. Nếu tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị,
thân xúc chạm, ý biết pháp, đều không khởi tâm nhiễm ô,
cũng không khởi tưởng chấp trước mà gìn giữ ý căn. Nếu
không nhiếp hộ oai nghi thì sanh hữu lậu, nếu nhiếp hộ
oai nghi thì không có hoạn hữu lậu. Ðó là hữu lậu do oai
nghi được đoạn.
Những
hữu lậu nào do tư duy được đoạn? Ở đây Tỳ-kheo! Tu niệm
giác ý, y vô dục, y không nhiễm ô, y diệt tận mà cầu xuất
yếu; tu trạch pháp giác ý, tinh tấn giác ý, hỷ giác ý, khinh
an giác ý, định giác ý, hộ (xả) giác ý, y vô dục, y không
nhiễm ô, y diệt tận mà cầu xuất yếu. Nếu không tu điều
này thì sanh hoạn hữu lậu, nếu người hay tu thì không sanh
hoạn hữu lậu. Ðó là hữu lậu do tư duy mà đoạn.
Này
Tỳ-kheo! Nếu ở trong Tỳ-kheo có các hữu lậu, người do
kiến đoạn được thì hãy dùng kiến đoạn, người do cung
kính đoạn hãy dùng cung kính đoạn, người do thân cận đoạn
hãy dùng thân cận đoạn, người do xa lìa đoạn hãy dùng
xa lìa đoạn, người do oai nghi đoạn hãy dùng oai nghi đoạn,
người do tư duy đoạn hãy dùng tư duy đoạn. Này Tỳ-kheo!
Ðó là đầy đủ tất cả oai nghi có thể đoạn kiết sử,
bỏ được ái dục qua được bốn dòng, dần dần vượt khỏi
khổ.
Này
Tỳ-kheo! Ðó là pháp trừ hữu lậu. Chư Phật, Thế Tôn thường
thi hành niệm từ với tất cả loài hữu tình, nay Ta đã thi
hành. Các Thầy nên ưa thích chỗ vắng vẻ, dưới gốc cây,
chuyên cần tinh tấn chớ có giải dãi; nếu nay không chuyên
cần sau hối vô ích. Ðây là lời dạy của Ta.
Bấy
giờ Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
--------------------------------------------------------------------------------
XXXX.2.
Phẩm Thất nhật (2)
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở bên bờ sông A-du-xà cùng với năm trăm chúng
đại Tỳ-kheo.
Khi
ấy Ðại Quân-đầu đang ở chỗ nhàn vắng nghĩ rằng: 'Có
nghĩa này hằng thêm công đức hay không có lý này?'.
Quân-đầu
liền đứng dậy đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi ngồi một
bên. Bấy giờ Quân-đầu bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn! Vừa rồi con ở chỗ vắng vẻ có nghĩ: 'Có lý làm
các việc được thêm công đức hay không?'. Nay con hỏi Thế
Tôn, cúi mong thuyết cho.
Thế
Tôn bảo:
- Có
thể được tăng thêm công đức.
Quân-đầu
bạch Phật:
- Ðược
tăng thêm công đức thế nào?
Thế
Tôn bảo:
- Tăng
thêm có bảy việc, phước ấy không thể cân lường, cũng
không ai có thể tính toán được. Thế nào là bảy? Ở đây,
con nhà vọng tộc trai hoặc gái, chưa từng cất già lam cho
Tăng, liền lập già-lam. Phước này không thể kể.
Lại
nữa, Quân-đầu! Nếu thiện nam, thiện nữ, có thể đem giường
tòa thí cho tăng-già-lam và cho Tỳ-kheo Tăng. Này Quân-đầu!
Ðó là phước thứ hai không thể tính kể.
Lại
nữa, Quân-đầu! Nếu thiện nam, thiện nữ dùng thức ăn bố
thí Tỳ-kheo Tăng. Này Quân-đầu! Ðó là phước thứ ba không
thể tính kể.
Lại
nữa, Quân-đầu! Nếu thiện nam, thiện nữ cấp áo che mưa
cho Tỳ-kheo Tăng. Này Quân-đầu! Ðó là phước thứ tư, không
thể tính kể.
Lại
nữa, Quân-đầu! Nếu trai gái nhà vọng tộc đem thuốc men
cho Tỳ-kheo Tăng. Này Quân-đầu! Ðó là phước thứ năm không
thể tính kể.
Lại
nữa, Quân-đầu! Nếu thiện nam, thiện nữ ở đồng trống
làm giếng tốt. Này Quân-đầu! Ðó là phước thứ sáu không
thể tính kể.
Lại
nữa, Quân-đầu! Thiện nam, thiện nữ làm nhà gần đường
cho người sẽ đi qua có chỗ trú ngụ. Ðó là phước thứ
bảy không thể tính kể.
Ðây
là, này Quân-đầu! Pháp bảy công đức, phước không lường
được. Hoặc đi hoặc ngồi, cho dù mạng chung, phước cũng
theo sau như bóng theo hình, đức này không thể tính kể mà
bảo rằng có bao nhiêu phước. Cũng như nước biển lớn không
thể dùng thăng đấu đong rồi bảo có bao nhiêu nước; bảy
công đức này cũng lại như thế, phước không có hạn lượng.
Thế
nên Quân-đầu! Thiện nam, thiện nữ hãy cầu phương tiện
hoàn thành bảy công đức. Như thế, Quân-đầu, hãy học điều
này!
Bấy
giờ, Quân-đầu nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Các
Thầy hãy tu hành về tưởng chết, tư duy tưởng chết.
Khi
ấy có Tỳ-kheo Thượng tọa bạch Thế Tôn:
- Con
thường tu hành tư duy tưởng chết.
Thế
Tôn bảo:
- Thầy
tư duy tu hành tưởng chết thế nào?
Tỳ-kheo
bạch Phật:
- Con
tư duy tưởng chết rằng: 'Chỉ còn sống bảy ngày nữa, nên
tư duy thất giác ý, ở trong pháp Như Lai có nhiều lợi ích,
sau khi chết không hối hận'. Bạch Thế Tôn, con tư duy tưởng
chết như thế.
Thế
Tôn bảo:
- Thôi,
thôi, Tỳ-kheo! Ðây chẳng phải tu hành về tưởng chết. Ðây
gọi là pháp phóng dật.
Lại
có Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Con
có thể kham nhận tu hành tưởng chết.
Thế
Tôn bảo:
- Thầy
tu hành tư duy tưởng chết thế nào?
Tỳ-kheo
bạch Phật:
- Nay
con nghĩ rằng: 'Ý muốn còn có sáu ngày, suy nghĩ Chánh pháp
Như Lai rồi sẽ chết. Ðiều này có ích'. Con tư duy tưởng
chết như thế.
Thế
Tôn bảo:
- Thôi,
thôi, Tỳ-kheo! Thầy cũng theo pháp phóng dật, chẳng phải
là tư duy tưởng chết.
Lại
có Tỳ-kheo bạch Phật: 'Muốn còn năm ngày, hoặc bốn ngày,
hoặc ba ngày, hai ngày, một ngày'.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Thôi,
thôi, Tỳ-kheo! Ðây cũng là pháp phóng dật, chẳng phải là
tư duy tưởng chết.
Khi
ấy lại có một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
- Con
có thể kham nhẫn tu hành tưởng chết như vầy: Con đến giờ
đắp y ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực, xong lại ra khỏi
thành Xá-vệ trở về chỗ mình. Về trong thất vắng, con tư
duy thất giác ý rồi mạng chung. Ðây là tư duy tưởng chết.
Thế
Tôn bảo:
- Thôi,
thôi, Tỳ-kheo! Ðây cũng chẳng phải tư duy tu hành tưởng
chết. Lời nói của các Thầy đều là hạnh phóng dật, chẳng
phải là pháp tu hành tưởng chết.
Lúc
đó Thế Tôn lại bảo Tỳ-kheo:
- Người
có thể làm được như Tỳ-kheo Bà-ca-lợi. Ðây gọi là tư
duy tưởng chết. Tỳ-kheo ấy khéo hay tư duy tưởng chết,
chán ghét thân này là nhơ nhớp bất tịnh. Nếu Tỳ-kheo tư
duy tưởng chết, buộc ý ở trước, tâm không di động, nhớ
số hơi thở ra vào, qua lại, trong đó tư duy thất giác ý,
thì ở trong pháp Như Lai được nhiều lợi ích. Vì sao thế?
Tất cả các hạnh đều không, đều tịch; khởi và diệt
đều là huyễn hóa, không chân thật. Thế nên Tỳ-kheo! Nên
ở trong hơi thở ra vào mà tư duy tưởng chết thì sẽ thoát
sanh, già, bệnh, chết, sầu lo khổ não. Như thế, này các
Tỳ-kheo, nên học như vậy!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc ra lệnh cho quần thần: 'Mau sửa soạn
xe vũ bảo. Ta muốn đến chỗ Thế Tôn, lễ bái thăm hỏi'.
Rồi
Ðại vương ra khỏi thành đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi
ngồi một bên. Khi ấy Như Lai đang thuyết pháp cho vô số
chúng vây quanh.
Lúc
này có bảy Ni-kiền Tử, lại có bảy người lõa hình, lại
có bảy hắc Phạm chí, lại có bảy Bà-la-môn lõa hình, đi
qua cách Thế Tôn không xa. Khi ấy, vua Ba-tư-nặc thấy những
người này đi qua chỗ Thế Tôn không xa, liền bạch Phật:
- Con
xem những người này đi qua không dừng lại, đều là người
thiểu dục tri túc không có gia nghiệp. Nay ở thế gian, những
người này là thượng thủ nhất trong hàng A-la-hán. Vì sao
thế? Họ ở trong mọi người mà rất là khổ hạnh, không
tham lợi dưỡng.
Thế
Tôn bảo:
- Ðại
vương! Ông trọn chưa biết chân nhân La-hán, chẳng do lộ
bày hình thể mà gọi là A-la-hán. Ðại vương nên biết! Ðây
đều không phải hạnh chân thật. Nên nhớ quán sát lâu đài
cho chính đáng; rồi lại nên quán đáng thân biết thân, đáng
gần biết gần. Vì sao thế? Thời quá khứ lâu xa có bảy
Phạm chí cùng học một nơi, tuổi đã già yếu, lấy cỏ
làm y phục, ăn quả hạt của cỏ, khởi các tà kiến, mỗi
người nghĩ: 'Chúng ta tu pháp khổ hạnh này để sau làm đại
Quốc vương, hoặc cầu làm Phạm Tứ thiên vương'.
Bấy
giờ có Thiên sư A-tư-đà là tổ phụ của các Bà-la-môn,
biết tâm niệm các Phạm chí kia, liền từ trời Phạm thiên
hiện xuống chỗ bảy Bà-la-môn. Khi ấy Thiên sư A-tư-đà
bỏ phục sức của Trời, hiện hình Bà-la-môn đi kinh hành
ngoài trời, bảy Phạm chí xa thấy A-tư-đà kinh hành ai nấy
nổi giận mà nói:
- Ðây
là hạng người đắm trước dục lạc nào mà lại đi trước
những người Phạm hạnh chúng ta? Nay ta sẽ chú cho nó tiêu
thành tro.
Rồi
bảy Phạm chí lấy tay bụm nước rảy Phạm chí kia chú rằng:
- Nay
Ông mau thành tro đất.
Nhưng
Bà-la-môn càng ôm sân giận, thì nhan sắc Thiên sư càng thêm
đoan chánh. Tại sao thế? Vì lòng từ có thể diệt sân.
Bấy
giờ bảy Phạm chí liền nghĩ: 'Chúng ta chẳng phải cấm giới
sắp thối chuyển sao? Chúng ta ngay khi khởi sân hận, người
kia liền được đoan chánh'.
Khi
ấy bảy Phạm chí liền nói kệ này với Thiên sư:
Là
Trời, Càn-thát-bà,
Hay
La-sát Quỷ thần,
Lúc
này gọi là gì?
Chúng
tôi muốn được biết.
Khi
ấy Thiên sư A-tư-đà liền đáp kệ:
Không
phải Càn-thát-bà,
Không
Quỷ thần, La-sát,
Thiên
sư A-tư-đà,
Nay
chính là thân ta.
Nay
ta biết tâm các Ông nghĩ gì nên từ trời Phạm thiên xuống
đây. Phạm thiên cách đây thật là xa xôi; thân Trời Ðế
Thích cũng lại như thế, Chuyển luân Thánh vương cũng chẳng
thể được. Chẳng thể dùng khổ hạnh này mà làm Phạm Tứ
thiên vương.
Khi
ấy Thiên sư A-tư-đà liền nói kệ:
Bao
nhiêu niệm trong tâm,
Áo
ngoài thì thô xấu,
Nếu
cần tu chánh kiến,
Xa
lìa hẳn đường ác.
Tâm
giới hành thanh tịnh,
Miệng
hành cũng như thế,
Xa
lìa các ác niệm,
Ắt
sẽ sanh lên trời.
Lúc
ấy bảy Phạm chí thưa Thiên sư:
- 'Có
đúng là Thiên sư chăng?'.
- 'Ðúng
vậy. Nhưng này Phạm chí! Không phải do lõa hình mà được
sanh lên trời, chưa chắc tu khổ hạnh này được sanh cõi
Phạm thiên, lại chẳng phải lộ bày thân thể, làm bao nhiêu
khổ hạnh mà được sanh cõi ấy. Ai có thể nhiếp tâm ý
khiến không di động liền sanh lên trời, chứ không thể do
chỗ tu tập của các Ông mà được sanh chỗ ấy'.
Ðại
vương! Quán sát nghĩa ngày thì chẳng phải do lõa hình mà
gọi là A-la-hán. Người phàm phu muốn biết được bậc chân
nhân, việc này chẳng đúng. Nhưng chân nhân có thể phân biệt
được chỗ tu tập hạnh của phàm phu. Lại nữa, người phàm
phu không thể biết hạnh của phàm phu. Bậc chân nhân thì
có thể biết hạnh của phàm phu. Nếu Ðại vương muốn biết
họ, phải nên tìm phương tiện biết từ lâu xa đến nay,
chứ chẳng phải ngay bây giờ mà dùng để quán xét họ. Ðúng
vậy, Ðại vương, nên dùng phương tiện mà học điều này.
Bấy
giờ vua Ba-tư-nặc bạch Thế Tôn:
- Như
Lai thuyết rất hay! Chẳng phải người đời có thể hiểu
rõ. Việc nước bề bộn, con muốn trở về.
Phật
bảo vua:
- Ðã
đúng lúc, Ðại vương!
Vua
liền từ chỗ ngồi đứng lên cúi lạy Thế Tôn rồi lui đi.
Khi
ấy vua Ba-tư-nặc nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
10.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật tại nước Thích-sĩ Ca-tỳ-la-vệ, trong vườn Ni-câu-lũ
cùng chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người.
Bấy
giờ, Thế Tôn thọ thực xong, từ vườn Ni-câu-lũ đến làng
Tỳ-la-da-trí ngồi dưới một gốc cây. Khi ấy Chấp Trượng
họ Thích ra khỏi Ca-tỳ-la-vệ đến chỗ Thế Tôn, đứng
trước mặt im lặng. Rồi ông ta hỏi Thế Tôn:
- Sa-môn
dạy những gì? Luận những gì?
Thế
Tôn bảo:
- Phạm
chí nên biết! Ðiều luận của Ta không phải chỗ Trời, Rồng,
Quỷ Thần có thể bì kịp. Cũng chẳng phải dính mắt vào
đời, lại chẳng phải trụ ở đời. Ðiều luận của Ta
chính như thế đó.
Khi
ấy Chấp Trượng họ Thích cúi đầu than thở rồi lui đi.
Như Lai liền từ chỗ ngồi đứng lên, trở về chỗ ở. Lúc
đó Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Vừa
rồi Ta ngồi trong vườn kia có Chấp Trượng họ Thích đến
hỏi Ta rằng: 'Sa-môn có những luận gì?' Ta đáp: 'Ðiều luận
của Ta, Trời, Rồng, Quỷ Thần chẳng thể bì kịp; chẳng
phải dính mắc vào đời, cũng chẳng phải trụ ở đời.
Ðiều luận của Ta chính là vậy'. Khi ấy Chấp Trượng họ
Thích nghe lời này rồi liền lui đi.
Khi
ấy có một Tỳ-kheo bạch Tỳ-kheo:
- Thế
nào là không dính mắc vào đời, cũng không trụ ở đời?
Thế
Tôn bảo:
- Như
điều Ta luận đều không dính mắc vào đời, như nay đối
với dục được giải thoát, dứt hết các hồ nghi của họ
Thích, không có các tưởng. Ðiều luận của Ta chính là đây.
Như
Lai nói thế xong, đứng lên vào thất. Lúc đó các Tỳ-kheo
bảo nhau:
- Vừa
rồi Thế Tôn nói sơ lược nghĩa của luận kia. Ai có thể
kham nhậm nói rộng nghĩa này chăng?
Các
Tỳ-kheo tự nói với nhau:
- Thế
Tôn thường khen ngợi Tôn giả Ðại Ca-chiên-diên. Nay chỉ
có Ca-chiên-diên có thể thuyết nghĩa này.
Khi
ấy các Tỳ-kheo nói với Ca-chiên-diên:
- Vừa
rồi Thế Tôn nói lược nghĩa này, cúi mong Tôn giả hãy giảng
thuyết rộng rãi nghĩa này, phân biệt từng việc cho mọi
người được hiểu.
Ca-chiên-diên
đáp:
- Ví
như ở làng xóm có người ra khỏi làng muốn tìm vật chân
thật. Người ấy nếu gặp cây to liền đốn chặt, lấy cành
lá, bỏ cây mà đi. Nay các Thầy cũng như thế, bỏ Như Lai
rồi đi theo cành mà tìm thực. Nhưng Như Lai xem thấy khắp
tất cả, chiếu sáng thế gian, là vị dẫn đường của Trời,
Người. Như Lai là vị Chân chủ của pháp, các Thầy cũng
sẽ có thời tiết, tự nhiên sẽ gặp lúc Như Lai nói nghĩa
này.
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Như
Lai tuy là Chân chủ của pháp giảng rộng nghĩa này. Nhưng
Tôn giả được Như Lai thọ ký đủ sức thuyết rộng nghĩa
này.
Ca-chiên-diên
đáp:
- Các
Thầy lắng nghe, khéo suy nghĩ đó, tôi sẽ diễn thuyết phân
biệt nghĩa này.
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Rất
tốt!
Khi
ấy các Tỳ-kheo vâng lời rồi, Ca-chiên-diên bảo:
- Nay
Như Lai nói: 'Ðiều luận của Ta, chẳng phải Trời, Rồng,
Quỷ thần có thể theo kịp. Cũng chẳng phải dính mắc vào
đời, cũng chẳng phải trụ ở đời. Ta đối với đó được
giải thoát, đoạn các hồ nghi, không còn do dự nữa. Như
nay chúng sanh ưa thích tranh tụng, khởi các loạn tưởng'.
Như Lai lại nói: 'Ta chẳng ở đó khởi tâm nhiễm trước'.
Ðây là tham dục sử, sân nhuế, tà kiến, dục thế gian sử,
kiêu mạn sử, nghi sử, vô minh sử, hoặc gặp sự báo ứng
đao gậy đau khổ, tranh tụng với người, khởi bao nhiêu hạnh
bất thiện, khởi các loạn tưởng, hưng hạnh bất thiện.
Nếu mắt thấy sắc mà khởi thức tưởng, ba việc làm nhân
cho nhau mà có. Xúc đã có xúc liền có thọ, đã có thọ liền
có sở giác, đã sở giác liền có tưởng, đã có tưởng
liền cân lường nó, khởi bao nhiêu niệm tưởng, chấp trước.
Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân lại xúc
chạm, ý biết pháp mà khởi thức tưởng, ba việc làm nhân
cho nhau mà có xúc, đã có xúc liền có thọ, đã có thọ liền
có giác, đã có giác liền có tưởng, đã có tưởng liền
cân lường chúng, rồi ở trong đó khởi bao nhiêu thứ niệm
tưởng chấp trước. Ðây là tham dục sử, sân nhuế sử,
tà kiến sử, kiêu mạn sử, dục thế gian sử, si sử, nghi
sử, tất cả đều khởi lên sự nguy biến của đao gậy,
và bao nhiêu tai biến khác, chẳng thể tính kể. Nếu có người
nói rằng: 'Cũng không có mắt, cũng không có sắc, mà có xúc',
việc này không đúng. Nếu lại có người nói: 'Không có xúc
mà có thọ', đây cũng là không đúng. Nếu nói: 'Không thọ
mà có tưởng dính mắc', việc này không đúng. Nếu có người
nói: 'Không tai, không tiếng; không mũi, không mùi; không lưỡi,
không vị; không thân, không xúc chạm; không ý, không pháp,
mà nói có thức', trọn không có lý này. Nếu nói không thức
mà có xúc, việc này chẳng đúng. Nếu không có xúc mà nói
có thọ, việc này không đúng. Nếu nói không thọ mà có tưởng
chấp trước, việc này không đúng.
Nếu
lại có người nói có mắt có sắc, trong đó khởi thức;
điều này đúng. Nếu nói tai và tiếng, mũi và mùi, lưỡi
và vị, thân và xúc chạm, ý và pháp, ở trong đó khởi thức;
việc này ắt đúng.
Chư
Hiền nên biết, do nhân duyên này, đức Thế Tôn mới nói
rằng: 'Ðiều luận của Ta, Trời và Người, Ma hay Thiên ma
không thể tới kịp, cũng chẳng dính mắc vào đời, cũng
chẳng trụ ở đời. Nhưng Ta ở nơi dục mà được giải
thoát, dứt hồ nghi, không còn do dự'. Thế Tôn nhân nơi đây
thuyết sơ nghĩa này.
Các
Thầy nếu tâm không hiểu thì hãy đến chỗ Như Lai hỏi lại
nghĩa này. Nếu Như Lai có nói gì, nên nhớ phụng trì.
Khi
ấy, những Tỳ-kheo nghe Ca-chiên-diên nói, chẳng nói 'hay' cũng
chẳng nói 'không phải', đứng lên mà đi, tự bảo nhau rằng:
'Chúng ta nên đem nghĩa này đến hỏi Như Lai, nếu Thế Tôn
có nói gì chúng ta sẽ vâng làm'.
Rồi
những Tỳ-kheo ấy đến chỗ Thế Tôn cúi lạy chân Phật,
ngồi xuống một bên. Bấy giờ các Tỳ-kheo đem việc này
bạch Thế Tôn đầy đủ. Khi ấy Như Lai bảo Tỳ-kheo:
- Tỳ-kheo
Ca-chiên-diên thông minh biện tài, đã thuyết rộng nghĩa này.
Nếu các Thầy đến chỗ Ta hỏi nghĩa này, Ta cũng nói với
các Thầy như thế.
Khi
ấy Tôn giả A-nan ở sau lưng Như Lai. A-nan bạch Phật:
- Kinh
này nghĩa lý rất sâu xa. Ví như có người đi đường gặp
được cam lồ, lấy mà ăn, rất thơm ngon, ăn không biết chán.
Ðây cũng như thế, thiện nam, thiện nữ, đến nơi nghe pháp
này không biết chán.
Và
Tôn giả A-nan lại bạch Thế Tôn:
- Kinh
này tên là gì, phải làm sao vâng làm?
Phật
bảo A-nan:
- Kinh
này tên là 'Cam lồ pháp vị' hãy nhớ phụng hành.
Bấy
giờ Tôn giả A-nan nghe Phật dạy xong, hoan hỉ vâng làm.
--------------------------------------------------------------------------------
XXXXI.
Phẩm Mạc úy
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở trong vườn Ni-câu-lũ, nước Thích-sĩ Ca-tỳ-la-vệ.
Khi
ấy Thích sĩ Ma-ha-nam đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy chân Phật
rồi ngồi một bên. Thích sĩ Ma-ha-nam bạch Thế Tôn:
- Con
theo Như Lai được dạy rằng: 'Nếu có thiện nam, thiện nữ
đoạn được ba kiết sử, được quả Tu-đà-hoàn, gọi là
bất thối chuyển, chắc chắn sẽ thành đạo quả, chẳng
tìm cầu các ngoại đạo dị học nữa, cũng không cần quán
sát người khác nói nữa'. Nếu phải như vậy thì việc này
không đúng. Còn nếu gặp trâu, ngựa, lạc đà hung dữ thì
khiếp sợ, lông tóc dựng đứng. Rồi con nghĩ rằng: 'Nếu
hôm nay ta ôm lòng khiếp sợ này mà mạng chung thì không biết
sanh về đâu?'.
Thế
Tôn bảo Ma-ha-nam:
- Chớ
khởi tâm sợ hãi. Nếu Thầy có mạng chung cũng không đọa
vào ba đường ác. Vì sao thế? Nay có ba nghĩa tiêu diệt. Thế
nào là ba? Như có đắm trước dâm dục thì khởi loạn tưởng,
rồi khởi tâm hại đối với người khác, nếu không có dục
này thì không khởi tâm sát hại, trong hiện tại không khởi
khổ não. Các pháp ác, bất thiện thì tự hại mình, nếu
không có điều này thì không có nhiễu loạn, không có sầu
lo. Này Ma-ha-nam, đó là ba nghĩa của các pháp ác, bất thiện
khiến phải đọa xuống, còn các pháp thiện thì ở trên.
Cũng như bình bơ (tô) ở trong nước bị bể, khi ấy ngói
đá thì chìm xuống dưới, còn bơ thì nổi ở trên. Ðây cũng
như thế, các pháp ác bất thiện thì chìm xuống, các pháp
thiện thì nổi ở trên.
Này
Ma-ha-nam, ngày xưa lúc Ta chưa thành Phật đạo, sáu năm cần
khổ ở Ưu-lưu-tỳ, chẳng ăn thức thơm ngon, thân thể gầy
ốm như người trăm tuổi, đều vì không ăn. Nếu lúc Ta muốn
đứng lên, liền té xuống đất. Khi ấy Ta nghĩ rằng: 'Nếu
Ta ở đây mà mạng chung sẽ sanh về đâu?' Ta lại nghĩ: '
Nay Ta mạng chung chắc chắn chẳng sanh trong đường ác. Nhưng
nghĩa thú chẳng thể đi từ vui đến vui, mà phải do khổ
mà sau đến chỗ vui. Bấy giờ Ta lại dạo trong hang Tiên nhân,
có nhiều Ni-kiền Tử đang học đạo ở đó. Khi đó Ni-kiền
Tử giơ tay chỉ mặt trời, phơi thân học đạo, hoặc có
người ngồi xổm mà học đạo. Khi ấy Ta đến đó bảo Ni-kiền
Tử:
- 'Các
Ông vì sao lại rời tòa ngồi giơ tay, kiễng chân thế?'.
Ni-kiền
Tử ấy nói:
- 'Cồ-đàm
nên biết! Ngày xưa Tiên sư của tôi làm hạnh bất thiện,
nay sở dĩ tôi khổ như thế là muốn diệt hết tội kia. Nay
tuy bày hình thể có phần hổ thẹn, nhưng cũng tiêu diệt
được việc này. Cù-đàm! Ngài nên biết hành tận thì khổ
cũng tận, khổ tận thì hành cũng tận. Khổ và hành đã tận
thì đến Niết-bàn'.
Lúc
ấy, Ta lại bảo Ni-kiền Tử:
- 'Việc
này không đúng. Chẳng phải do hành tận mà khổ cũng tận;
cũng chẳng do khổ tận mà hành cũng tận rồi đến được
Niết-bàn. Nay nếu khổ hành tận đến Niết-bàn thì việc
này đúng. Nhưng không thể từ vui đến vui'.
Ni-kiền
Tử nói:
- 'Vua
Tần-bà-sa-la đi từ vui đến vui, có khổ gì đâu?'.
Khi
ấy, Ta lại bảo Ni-kiền Tử:
- 'Vua
Tần-bà-sa-la vui đâu bằng cái vui của Ta!'.
Ni-kiền
Tử đáp:
- 'Cái
vui của Tần-bà-sa-la hơn cái vui của Ngài'.
Ta
lại bảo Ni-kiền Tử:
- 'Vua
Tần-bà-sa-la có thể khiến Ta ngồi kiết-già bảy ngày bảy
đêm không nhúc nhích chăng? Cho dù sáu, năm, bốn, ba, hai cho
đến một ngày ngồi kiết-già được chăng?'.
Ni-kiền
Tử đáp:
- 'Không
được, Cù-đàm'.
Ta
bảo:
- 'Ta
có thể đủ sức ngồi kiết-già, thân không lay động. Thế
nào, Ni-kiền Tử, vua Tần-bà-sa-la vui hay Ta vui?'.
Ni-kiền
Tử nói:
- 'Sa-môn
Cù-đàm vui'.
Ðúng
thế, Ma-ha-nam! Nên dùng phương tiện này để biết không thể
từ vui đến vui mà phải từ khổ đến vui. Này Ma-ha-nam! Ví
như một làng lớn, hai bên có ao nước to đầy nước, ngang
dọc một do-tuần. Có người đến đó lấy một giọt nước.
Thế nào, Ma-ha-nam? Nước ở chỗ nào nhiều? Nước của một
giọt nhiều hay nước của ao nhiều?
Ma-ha-nam
nói:
- Nước
ao nhiều chứ không phải nước một giọt nhiều.
Thế
Tôn bảo:
- Ðây
cũng như thế. Ðệ tử Hiền Thánh các khổ đã hết, không
còn có nữa. Cái còn lại như một giọt nước, như đạo
giả thấp nhất trong chúng của Ta, chẳng qua bảy lần chết,
bảy lần sống thì hết mé khổ. Nếu lại dũng mãnh tinh tấn
thì liền đến bậc Gia-gia (A-na-hàm hướng) rồi chứng.
Bấy
giờ Thế Tôn lại thuyết pháp vi diệu cho Ma-ha-nam một lần
nữa. Ông ta nghe pháp rồi, đứng lên mà đi.
Khi
ấy, Ma-ha-nam nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, Tôn giả Na-già-bà-la ở trong thành Lộc Dã. Khi ấy
có một Bà-la-môn già lụ khụ, xưa có quen biết chút ít với
Tôn giả Na-già-bà-la, đến chỗ Na-già-bà-la thăm hỏi rồi
ngồi một bên.
Bấy
giờ Phạm chí bảo Na-già-bà-la:
- Trong
các sự vui, nay Ông thật là sung sướng nhất.
Na-già-bà-la
nói:
- Ông
xem những nghĩa gì mà nói trong các sự vui, tôi sung sướng
nhất?
Bà-la-môn
đáp:
- Trong
bảy ngày vừa qua, tôi có bảy đứa con trai chết, những đứa
này đều dũng mãnh, tài cao, trí tuệ ít người bì kịp, rồi
trong sáu ngày gần đây, mười hai người làm cũng bị vô
thường, họ rất siêng năng không có lười biếng. Kế đó
năm ngày, bốn anh em của tôi chết, họ biết nhiều kỹ thuật,
việc gì cũng làm được. Rồi cách bốn ngày, cha mẹ tôi
mạng chung, tuổi vừa trăm tuổi bỏ tôi mà qua đời. Cách
đây ba ngày, hai vợ tôi lại chết, họ dung mạo đoan chánh,
thế gian ít có. Trong nhà tôi lại có tám hầm trân bảo, hôm
qua đi tìm mà không biết chỗ. Ngày nay, như tôi gặp chuyện
khổ não này không thể tính kể; mà Tôn giả thì hôm nay xa
lìa hẳn hoạn nạn đó, không còn sầu lo, chỉ lấy đạo
pháp làm vui thú. Tôi quán nghĩa này rồi mới nói: 'Trong các
sự vui, Ông là sung sướng nhất'.
Khi
ấy Tôn giả Na-già-bà-la bảo Phạm chí kia rằng:
- Tại
sao Ông không tìm cách khiến cho bao nhiêu người ấy đừng
chết?
Phạm
chí đáp:
- Tôi
cũng làm nhiều cách để mong không chết và không mất của
tiền, tôi cũng tùy thời bố thí tạo công đức, cầu khẩn
chư Thiên, cúng dường các trưởng lão Phạm chí, ủng hộ
chư Thần, tụng các chú thuật, cũng hay xem tinh tú, rồi cũng
trộn cỏ thuốc, cũng đem thức ăn uống ngon ngọt cho họ
lúc nguy ngập. So như thế mà chẳng thể xứng hợp, chẳng
thể cứu được mạng họ.
Khi
ấy Tôn giả Na-già-bà-la liền nói kệ:
Có
thuốc, các chú thuật,
Ðồ
y phục, uống ăn,
Tuy
thí mà vô ích,
Còn
ôm thân khổ hạnh.
Cho
dù tế miếu Thần,
Hương
hoa và tắm rửa,
So
sánh nguồn gốc này,
Không
thể trị liệu được.
Giả
sử cho các vật,
Tinh
tấn trì Phạm hạnh,
So
sánh nguồn gốc này,
Không
thể trị liệu được.
Phạm
chí bèn hỏi:
- Nên
thi hành pháp gì để không bị khổ não này?
Tôn
giả Na-già-bà-la liền nói kệ:
Gốc
ân ái vô minh,
Nổi
các hoạn khổ não,
Ðiều
ấy diệt không sót,
Mới
không có khổ nữa.
Phạm
chí ấy nghe xong liền nói kệ:
Tuy
già, không già lắm,
Việc
làm như đệ tử,
Mong
cho con xuất gia,
Ðể
lìa tai nạn này.
Khi
ấy Tôn giả Na-già-bà-la liền truyền ba y cho ông ta xuất
gia học đạo, và bảo ông rằng:
- Này
Tỳ-kheo! Nay Ông nên quán thân này từ đầu đến chân: Tóc,
lông, móng, răng này từ đâu đến? Thân thể da dẻ, xương
tủy, ruột bao tử đều từ đâu đến? Nếu từ đây đi sẽ
đi đến đâu? Thế nên, Tỳ-kheo! Chớ lo nghĩ nhiều về thế
gian khổ não, hãy nên quán trong một lỗ chân lông này, rồi
tìm phương tiện thành tựu Tứ đế.
Rồi
Tôn giả Na-già-bà-la nói kệ:
Trừ
tưởng, chớ lo nhiều,