XXXXVI.
Phẩm Kết cấm
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
mười sự công đức, Như Lai vì các Tỳ-kheo nói cấm giới.
Thế nào là mười? Là thừa sự Thánh chúng; hòa hợp thuận
thảo với nhau; an ổn Thánh chúng; hàng phục người ác; khiến
các Tỳ-kheo biết tàm, quý, không bị não loạn; người không
tin khiến lập lòng tin; người đã tin khiến tăng thêm bội
phần; ở trong hiện pháp được dứt sạch hữu lậu, cũng
khiến cho các lậu đời sau thảy đều trừ sạch; khiến Chánh
pháp trụ đời lâu dài; thường suy nghĩ phải có cách gì
để Chánh pháp tồn tại lâu dài.
Này
các Tỳ-kheo! Ðó là mười pháp công đức, Như Lai vì các
Tỳ-kheo nói cấm giới. Cho nên, Tỳ-kheo! Nên tìm phương tiện
thành tựu cấm giới đừng để cho mất. Như thế, này các
Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà vườn Cấp
Cô Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Chỗ
ở của chư Hiền Thánh có mười việc, chư Thánh ba đời
đều ở trong ấy. Thế nào là mười? Ở đây, Tỳ-kheo đã
trừ bỏ năm việc; thành tựu sáu pháp; thường giữ một
việc; ủng hộ bốn chúng; quan sát chỗ yếu kém; thân cận
bình đẳng; chánh hướng vô lậu; nương tựa thân hành; tâm
khéo giải thoát; trí tuệ giải thoát.
Thế
nào là Tỳ-kheo đã trừ năm việc? Ở đây, Tỳ-kheo đã đoạn
dứt năm kiết sử. Như thế là đã trừ năm việc.
Thế
nào là Tỳ-kheo thành tựu sáu pháp? Ở đây, này các Tỷ kheo,
Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc không có hân hoan, không có thất
vọng, trú xả, chánh niệm tỉnh giác; khi tai nghe tiếng...
khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc...
khi ý biết pháp, không có hân hoan, không có thất vọng, trú
xả, chánh niệm tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
Tỷ-kheo thành tựu sáu pháp. (bổ sung từ Kinh Thánh Cư, Tăng
Chi X.20 -- Bình Anson, 02-2004)
Thế
nào là Tỳ-kheo thường hộ một việc? Ở đây, Tỳ-kheo thường
hộ trì tâm niệm hữu lậu vô lậu, hữu vi vô vi đến cửa
Niết-bàn. Như thế là Tỳ-kheo thường hộ một việc.
Thế
nào là Tỳ-kheo hộ trì bốn chúng? Ở đây, Tỳ-kheo thành
tựu Tứ thần túc. Như thế là Tỳ-kheo hộ trì bốn chúng.
Thế
nào là Tỳ-kheo quan sát chỗ yếu kém? Ở đây, Tỳ-kheo các
hành sanh tử đã chấm dứt. Ðó gọi là Tỳ-kheo quan sát chỗ
yếu kém.
Thế
nào là Tỳ-kheo thân cận bình đẳng? Ở đây, Tỳ-kheo đã
chấm dứt ba kết. Ðó gọi là Tỳ-kheo thân cận bình đẳng.
Thế
nào là Tỳ-kheo chánh hướng vô lậu? Ở đây, Tỳ-kheo trừ
bỏ kiêu mạn. Như thế là Tỳ-kheo chánh hướng vô lậu.
Thế
nào là Tỳ-kheo nương tựa vào thân hành? Ở đây, Tỳ-kheo
đã trừ vô minh. Như thế là Tỳ-kheo nương tựa thân hành.
Thế
nào là Tỳ-kheo tâm khéo giải thoát? Ở đây, Tỳ-kheo đã
trừ sạch ái. Như thế là Tỳ-kheo tâm khéo giải thoát.
Thế
nào là Tỳ-kheo trí tuệ giải thoát? Ở đây, Tỳ-kheo quán
Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Ðạo đế, biết một cách
như thật. Ðó là Tỳ-kheo trí tuệ giải thoát.
Này
các Tỳ-kheo! Ðó là chỗ ở đủ mười sự của Hiền Thánh.
Ngày trước, các bậc hiền Thánh cũng ở trong ấy, đã ở,
đang ở.
Cho
nên, Tỳ-kheo! Nên nhớ nghĩ trừ bỏ năm việc, thành tựu
sáu pháp, giữ gìn một pháp, hộ trì bốn chúng, quan sát chỗ
yếu kém, thân cận bình đẳng, chánh hướng về vô lậuu,
nương tựa thân hành, tâm được giải thoát, trí tuệ giải
thoát. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp
Cô Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Như
Lai thành tựu mười lực, tự biết không đắm trước. Ở
trong đại chúng rống tiếng sư tử; chuyển vận bánh xe Chánh
pháp vô thượng để độ chúng sanh; nghĩa là đây là sắc,
đây là sắc tập, đây là sắc tận, đây là sắc xuất yếu;
quán sát thọ, tưởng, hành, thức, cũng như vậy; nhân cái
này có thì cái kia có, cái này sanh thì kia sanh; vô minh duyên
lành, lành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên
lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên
ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên
tử, tử duyên ưu bi khổ não không thể tính kể.
Nhân
có thân ngũ ấm này có pháp tận này, đây diệt thì kia diệt,
đây không thì kia không. Vô minh hết thì hành hết, hành hết
thức hết, thức hết danh hết, xúc hết thọ hết, thọ hết
ái hết, ái hết thủ hết, thủ hết hữu hết, hữu hết
sanh hết, sanh hết tử hết, tử hết thì ưu bi khổ não thảy
đều trừ sạch.
Tỳ-kheo
nên biết! Pháp của Ta rất rộng lớn không bờ mé, không
đáy, dứt các hồ nghi, an ổn ở nơi Chánh Pháp. Thiện nam,
tín nữ cần sinh năng dụng tâm không để kém khuyết, dù
thân thể khô hoại, trọn không bỏ hạnh tinh tấn, buộc ý
vững chắc không quên, tu hành pháp khổ không đổi tâm, ưa
ở chỗ vắng, yên lặng tư duy, không bỏ hạnh đầu đà,
như hiện nay Như Lai khéo tu Phạm Hạnh.
Cho
nên, này các Tỳ-kheo! Nếu khi tự quán sát, suy nghĩ về pháp
vi diệu thì cần phải quán sát hai nghĩa, không có hạnh phóng
dật, khiến thành tựu quả thật đến chỗ cam lồ, diệt
tận. Nếu nhận người khác cúng dường như y phục, mền,
nệm, thức ăn uống, giường nằm, ngọa cụ, thuốc men, cũng
không phụ công khó của tín thí, cũng khiến cha mẹ được
quả báo, phụng sự chư Phật lễ kính cúng dường. Như thế,
này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Như
Lai thành tựu mười lực, được bốn vô sở úy. Ở trong
chúng rống tiếng sư tử.
Thế
nào là mười lực? Biết như thật về thị xứ; biết như
thật về phi xứ; biết như thật nhân duyên nơi chốn thọ
báo của chúng sanh; biết như thật bao nhiêu cõi, bao nhiêu
loại trì, bao nhiêu loại nhập; biết như thật có bao nhiêu
loại giải thoát, vô lượng giải thoát, biết như thật các
chúng sanh có trí tuệ nhiều ít; biết như thật ý niệm trong
tâm của các chúng sanh: tâm có dục biết tâm có dục, tâm
không dục biết tâm không dục, tâm có sân nhuế biết tâm
có sân nhuế, tâm không sân nhuế biết tâm không sân nhuế,
tâm có ngu si biết tâm có ngu si, tâm không ngu si biết tâm
không ngu si, tâm có ái biết tâm có ái, tâm không ái biết
tâm không ái, tâm có thọ biết tâm có thọ, tâm không thọ
biết tâm không thọ, tâm loạn biết tâm loạn, tâm không loạn
biết tâm không loạn, tâm tán biết tâm tán, tâm không tán
biết tâm không tán, tâm hẹp biết tâm hẹp, tâm không hẹp
biết tâm không hẹp, tâm rộng lớn biết tâm rộng lớn, tâm
không rộng lớn biết tâm không rộng lớn, tâm vô lượng
biết tâm vô lượng, tâm hữu lượng biết tâm hữu lượng,
tâm định biết tâm định, tâm không định biết tâm không
định, tâm giải thoát biết tâm giải thoát, tâm không giải
thoát biết tâm không giải thoát; biết như thật tất cả
con đường của tâm hướng đến, hoặc một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, năm mươi đời,
một trăm đời, ngàn đời, ức trăm ngàn đời, vô lượng
đời, kiếp thành, kiếp hoại, trong vố số kiếp thành, kiếp
hoại, xưa kia ta sanh nơi đó, tên đó, họ đó, ăn những thức
ăn như thế, chịu các khổ vui thọ mạng dài ngắn, chết
đây sanh kia, chết kia sanh đây, tự nhớ các việc trong vô
số đời đã qua như thế; biết như thật các đường sanh
tử của chúng sanh, dùng Thiên nhãn quán sát các loài chúng
sanh, sắc lành sắc dữ, đường lành đường dữ, tùy theo
việc làm các loài thảy đều biết rõ, hoặc có chúng sanh
thân miệng ý làm ác, phỉ báng Hiền Thánh, tạo nghiệp tà
kiến, khi chết sanh vào địa ngục, hoặc có chúng sanh thân
miệng ý làm lành, không phỉ báng Hiền Thánh, thường hành
chánh kiến, khi chết sanh lên cõi trời, đó gọi là Thiên
nhãn thanh tịnh quán sát các hành động dẫn chúng sanh đi
các nẻo; biết như thật sự chấm dứt hữu lậu, thành tựu
vô lậu, tâm giải thoát, trí tuệ giải thoát, sanh tử đã
dứt, Phạm hạnh đã lập, việc phải làm đã làm xong, không
thọ lại thân sau.
Ðó
gọi là Như Lai có Mười lực, không đắm trước, được
Bốn vô sở úy, ở trong chúng rống tiếng sư tử, chuyển
bánh xe Phạm.
Thế
nào gọi là Như Lai được Bốn vô sở úy? Muốn nói Như Lai
thành Ðẳng Chánh Giác, nếu có chúng sanh muốn nói biết việc
này, ắt không được. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn muốn đến
chê bai Phật không thành Ðẳng Chánh Giác, ắt không được.
Do chê bai không được, nên Ta an ổn.
Lại
nữa, nay Ta nói đã hết các hữu lậu. Giả sử có Sa-môn,
Bà-la-môn, Trời, hoặc Ma trời muốn đến nói Ta chưa dứt
hữu lậu, ắt không được. Do không được như thế, nên
Ta an ổn.
Lại
nữa, pháp Ta nói ra là pháp Hiền Thánh được xuất yếu,
chấm dứt mé khổ như thật. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, Trời,
Ma trời muốn đến nói Ta chưa hết mé khổ, ắt không được.
Vì không được như thế, nên Ta an ổn.
Lại
nữa, Ta nói về nội pháp rơi trong đường ác. Giả sử có
Sa-môn, Bà-la-môn đến, muốn nói không phải, ắt không được.
Này,
Tỳ-kheo, đó là Như Lai có Bốn vô sở úy. Giả sử hàng ngoại
đạo dị học nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm kia có những thế
lực gì? Có vô úy gì, mà tự xưng là bậc Vô trước, Tối
tôn?'. Các Thầy nên đem Mười lực này mà trả lời họ.
Giả
sử có ngoại đạo dị học lại nói như vầy: 'Chúng ta cũng
thành tựu Mười lực'. Tỳ-kheo các Thầy nên hỏi họ rằng:
'Các Ông có Mười lực gì?'. Khi ấy hàng ngoại đạo dị
học chắc chắn không thể trả lời, họ bèn tăng thêm lòng
giận tức. Vì sao? Ta chưa từng thấy Sa-môn, Bà-la-môn nào
tự xưng rằng được Bốn vô sở úy, trừ đức Như Lai.
Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm phương tiện thành tựu Mười
lực, Bốn thứ vô úy!
Như
thế, Tỳ-kheo, nên học điều này.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
Mười niệm, nên phân biệt rộng, tu hành Mười niệm ấy,
sẽ dứt sạch dục ái, sắc ái, vô sắc ái, kiêu mạn, vô
minh. Thế nào là mười? Là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tỳ-kheo
Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên, niệm Chỉ Quán, niệm
An-ban, niệm Thân, niệm Tử.
Này
các Tỳ-kheo, có chúng sanh tu hành Mười niệm này, dứt sạch
được dục ái, sắc ái, vô sắc ái, tất cả vô minh kiêu
mạn, thảy đều trừ sạch. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên
học điều này!
Bấy
giờ, Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Gần
gũi bậc vua chúa vương gia có mười việc phi pháp. Thế nào
là mười? Khi nước ấy khởi tâm mưu hại muốn giết vua,
do âm mưu ấy nên nhà vua mạng chung. Dân chúng nước ấy bèn
khởi nghĩ rằng: 'Các Sa-môn đạo sĩ nầy thường lui tới,
đây ắt là do Sa-môn gây nên'. Ðây là điều phi pháp thứ
nhất của nạn gần gũi quốc vương.
Lại
nữa khi quan đại thần phản nghịch bị vua bắt và làm hại;
khi ấy, nhân dân bèn khởi nghĩ rằng: 'Sa-môn đạo sĩ nầy
thường lui tới, đây chắc là Sa-môn làm ra'. Ðây là điều
phi pháp thứ hai của nạn gần gũi quốc vương.
Lại
nữa, khi tài bảo trong nước bị mất, người giữ kho liền
khởi ý nghĩ nầy: 'Các báu vật này ta thường giữ gìn, không
ai khác vào đây, chắc là Sa-môn lấy đi'. Ðây là điều phi
pháp thứ ba của nạn gần gũi quốc vương.
Lại
nữa, khi con gái nhà vua đang lúc tuổi trẻ, chưa chồng mà
mang thai; khi ấy, nhân dân bèn khởi nghĩ rằng: 'Trong đây
không ai lui tới, chắc là do Sa-môn gây ra'. Ðây là điều
phi pháp thứ tư của nạn gần gũi quốc vương.
Lại
nữa, khi vua bị bệnh nặng, trúng thuốc độc của người
khác; khi ấy, nhân dân bèn nghĩ rằng: 'Trong đây không có
ai khác, chắc là do Sa-môn gây nên'. Ðây là điều phi pháp
thứ năm của nạn gần gũi quốc vương.
Lại
nữa, vua chúa, đại thần cùng tranh đấu nhau, giết hại nhau;
khi ấy, nhân dân bèn nghĩ rằng: 'Các đại thần này vốn
hòa hợp nhau, nay lại chống trái nhau, điều này không do ai
khác gây nên, chắc là do Sa-môn đạo sĩ'. Ðây là điều phi
pháp thứ sáu của nạn gần gũi quốc vương.
Lại
nữa, hai quốc gia cùng đánh nhau tranh phần thắng; khi ấy
nhân dân bèn khởi nghĩ: 'Sa-môn đạo sĩ này thường lui tới
trong đó, ắt là Sa-môn ấy gây chuyện'. Ðây là điều phi
pháp thứ bảy, của nạn gần gũi quốc vương.
Lại
nữa, quốc vương vốn ưa thích bố thí tài vật cho dân chúng,
sau lại bỏn sẻn không chịu ban phát; khi ấy, nhân dân đều
khởi nghĩ rằng: 'Vua của chúng ta vốn thích bố thí, nay lại
bỏn sẻn tham lam không có tâm bố thí, đây ắt là Sa-môn
gây nên'. Ðây là điều phi pháp thứ tám, của nạn gần gũi
quốc vương.
Lại
nữa, vua thường dùng Chánh pháp để thâu tài vật của dân
chúng, sau lại phi pháp lấy tài bảo của dân; khi ấy, nhân
dân đều khởi nghĩ rằng: 'Vua của chúng ta vốn dùng Chánh
Pháp để lấy tài vật nhân dân, nay lại dùng phi pháp để
lấy tài vật. Ðây chắc do Sa-môn gây nên'. Ðây là điều
phi pháp thứ chín, của nạn gần gũi quốc vương'.
Lại
nữa, nhân dân khắp nước bị bệnh bởi do duyên đời trước;
khi ấy, nhân dân đều khởi nghĩ rằng: 'Lúc trước chúng
ta không có bệnh, nay mọi người đều bị bệnh, người chết
đầy đường, chắc là do chú thuật của Sa-môn gây nên'.
Ðây là điều phi pháp thứ mười, của nạn gần gũi quốc
vương.
Này
Tỳ-kheo! Ðó là mười điều phi pháp, tai nạn của sự gần
gũi quốc vương. Cho nên các Tỳ-kheo chớ sanh tâm gần gũi
vua chúa. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp
Cô Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
nhà vua thành tựu mười pháp thì không tồn tại lâu, trong
nước sinh nhiều đạo tặc. Thế nào là mười? Khi nhà vua
tham lam keo kiệt, chỉ do chút việc nhỏ, bèn sân giận, không
xem xét nghĩa lý. Ðây là pháp đầu tiên, khiến không tồn
tại lâu.
Lại
nữa, nhà vua tham đắm tài vật, không chịu kém. Ðây là pháp
thứ hai, khiến không tồn tại lâu.
Lại
nữa, nhà vua không nghe lời can gián, là người bạo ngược
không có lòng từ. Ðây là pháp thứ ba, khiến không tồn tại
lâu.
Lại
nữa, nhà vua bắt người oan uổng, trói buộc giam cầm trong
ngục không có ngày ra. Ðây là pháp thứ tư, khiến không tồn
tại lâu.
Lại
nữa, nhà vua dùng điều phi pháp trị nước, không theo lệnh
hạnh chánh. Ðây là pháp thứ năm khiến không tồn tại lâu.
Lại
nữa, nhà vua tham đắm sắc đẹp người khác, xa lánh vợ
mình. Ðây là pháp thứ sáu, khiến không tồn tại lâu.
Lại
nữa, nhà vua ưa uống rượu, không màng đến việc triều
đình. Ðây là pháp thứ bảy, khiến không tồn tại lâu.
Lại
nữa, nhà vua ưa ca múa vui chơi, không tham dự triều chính.
Ðây là pháp thứ tám, khiến không tồn tại lâu.
Lại
nữa, nhà vua thường đau ốm, không có ngày khỏe mạnh. Ðây
là pháp thứ chín, khiến không tồn tại lâu.
Lại
nữa, nhà vua không tin đại thần trung hiếu, người phụ tá
hiếm hoi, không có bầy tôi mạnh. Ðây là pháp thứ mười,
khiến không tồn tại lâu.
Nay
chúng Tỳ-kheo cũng vậy, nếu thành tựu mười pháp sau, sẽ
không làm tăng trưởng cột công đức lành, sau khi chết rơi
vào địa ngục. Thế nào là mười pháp?
Ở
đây, Tỳ-kheo không giữ giới cấm, cũng không có tâm cung
kính đối với giới. Ðây là pháp thứ nhất khiến không
được bền lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không kính vâng Phật, không tin lời chân thật.
Ðây là pháp thứ hai, khiến không được bền lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không thừa sự pháp, sơ sót về giới luật.
Ðây là pháp thứ ba, khiến không được bền lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không thừa sự Thánh chúng, thường có ý tự
ty, không tin lời dạy của chúng. Ðây là pháp thứ tư, khiến
không được bền lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo tham đắm lợi dưỡng, tâm không buông bỏ. Ðây
là pháp thứ năm, khiến không được bền lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không học hỏi nhiều, không siêng tụng đọc,
luyện tập. Ðây là pháp thứ sáu, khiến không được bền
lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không vâng lời thiện tri thức, thường nghe
theo ác tri thức. Ðây là pháp thứ bảy, khiến không được
bền lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo ưa bày chuyện không nhớ tọa Thiền. Ðây là
pháp thứ tám, khiến không được bền lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo thích toán số, trái đạo hợp thế tục, không
tu tập Chánh pháp. Ðây là pháp thứ chín, khiến không được
bền lâu.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không ưa tu Phạm hạnh, tham đắm bất tịnh.
Ðây là pháp thứ mười, khiến không được bền lâu.
Ðó
gọi là Tỳ-kheo thành tựu mười pháp này, chắc chắn rơi
trong ba đường ác, không sanh chỗ lành.
Nếu
nhà vua thành tựu mười pháp sau, bèn được ở ngôi báu lâu
đài. Thế nào là mười?
Ở
đây, nhà vua không tham đắm tài vật, không khởi sân hận,
lại không vì chuyện nhỏ mà khởi tâm oán hại. Ðây là pháp
thứ nhất, khiến được bền lâu.
Lại
nữa, nhà vua nghe lời quần thần can ngăn, không trái ngược
các quan. Ðây là pháp thứ hai, khiến được bền lâu.
Lại
nữa, nhà vua thường thích bố thí, nhân dân đồng ca ngợi.
Ðây là pháp thứ ba, khiến được bền lâu.
Lại
nữa, nhà vua đúng pháp thâu tài vật, không phi pháp. Ðây
là pháp thứ tư, khiến được bền lâu.
Lại
nữa, nhà vua không đam mê sắc đẹp người khác, thường
bảo hộ vợ mình. Ðây là pháp thứ năm, khiến được bền
lâu.
Lại
nữa, nhà vua không uống rượu, tâm không mê loạn. Ðây là
pháp thứ sáu, khiến được bền lâu.
Lại
nữa, nhà vua không thích vui chơi hay hàng phục quân địch.
Ðây là pháp thứ bảy, khiến được bền lâu.
Lại
nữa, nhà vua trị dân đúng pháp, trọn không cong vạy. Ðây
là pháp thứ tám, khiến được bền lâu.
Lại
nữa, nhà vua hòa hợp với quần thần không chống đối. Ðây
là pháp thứ chín, khiến được bền lâu.
Lại
nữa, nhà vua không bệnh hoạn, khí lực cường thạnh. Ðây
là pháp thứ mười, khiến được bền lâu
Nếu
nhà vua thành tựu mười pháp này, ngôi báu được lâu dài
không lo ngại.
Chúng
Tỳ-kheo cũng lại như thế, nếu thành tựu mười pháp này,
trong khoảng duỗi cánh tay, liền được sanh lên trời. Thế
nào là mười?
Tỳ-kheo
vâng giữ giới cấm, giới đức đầy đủ, không phạm Chánh
pháp. Ðây là pháp thứ nhất, được sanh cõi lành.
Lại
nữa, Tỳ-kheo đối với Như Lai có lòng cung kính. Ðây là
pháp thứ hai, được sanh cõi lành.
Lại
nữa, Tỳ-kheo thuận theo giáo pháp, không phạm một lỗi. Ðây
là pháp thứ ba, được sanh cõi lành.
Lại
nữa, Tỳ-kheo phụng sự Thánh chúng, không có tâm lười biếng.
Ðây là pháp thứ tư, được sanh cõi trời.
Lại
nữa, Tỳ-kheo thiểu dục tri túc, không đắm trước lợi dưỡng.
Ðây là pháp thứ năm, được sanh cõi trời.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không tự làm theo ý mình, thường tùy theo giới
pháp. Ðây là pháp thứ sáu, được sanh cõi lành.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không đam mê công việc, thường ưa tọa Thiền.
Ðây là pháp thứ bảy, được sanh cõi trời.
Lại
nữa, Tỳ-kheo ưa ở chỗ vắng, không ở trong nhân gian. Ðây
là pháp thứ tám, được sanh cõi lành.
Lại
nữa, Tỳ-kheo không thuận theo ác tri thức, thường nghe theo
thiện tri thức. Ðây là pháp thứ chín, được sanh cõi lành.
Lại
nữa, Tỳ-kheo thường tu Phạm hạnh, xa lìa pháp ác, nghe nhiều,
học nghĩa lý không mất thứ lớp. Ðây là pháp thứ mười,
được sanh cõi lành.
Như
thế, Tỳ-kheo thành tựu mười pháp được sanh cõi lành, cõi
trời, nhanh như trong khoảng duỗi cánh tay. Này Tỳ-kheo, các
hạnh phi pháp rơi vào địa ngục nên nhớ xa lìa, mười hạnh
Chánh pháp nên cùng vâng theo tu tập. Như thế, này các Tỳ-kheo,
nên học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại thành La-duyệt, vườn trúc Ca-lan-đà, cùng
với chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người.
Bấy
giờ, phần đông Tỳ-kheo đến thời, đắp y, mang bát vào
thành La-duyệt khất thực. Khi ấy, các Tỳ-kheo khởi nghĩ:
Chúng ta vào thành khất thực, thời giờ còn sớm, chúng ta
có thể đến chỗ ngoại đạo dị học để cùng họ luận
nghị'. Lúc đó, các Tỳ-kheo đi đến chỗ ngoại đạo dị
học. Ngoại đạo dị học xa thấy các Sa-môn đến, mỗi người
tự bảo nhau:
- Chúng
ta nên im lặng đừng nói lớn tiếng. Nay có đệ tử của
Sa-môn Cù-đàm đến đây, pháp của Sa-môn thường khen ngợi
người yên lặng. Họ muốn biết chánh pháp của chúng ta có
loạn, không loạn.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo đến chỗ ngoại đạo dị học, cùng chào
hỏi và ngồi một bên. Ngoại đạo hỏi các Tỳ-kheo:
- Sa-môn
Cù-đàm vì hàng đệ tử các Ông nói pháp vi diệu này: 'Các
Tỳ-kheo có hiểu suốt tất cả các pháp mà tự vui thích chăng?'
Chúng tôi cũng nói pháp vi diệu này cho hàng đệ tử để
tự vui thích. Ðiều của chúng tôi nói có khác gì các Ông?
Có sai biệt gì? Nói pháp giáo giới một loại không khác.
Khi
ấy, các Tỳ-kheo nghe ngoại đạo dị học nói, không khen hay,
cũng không nói dở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cáo từ
mà đi. Các Tỳ-kheo tự nói với nhau: 'Chúng ta nên đem nghĩa
này về bạch lại Thế Tôn. Nếu Như Lai có chỉ dạy, chúng
ta sẽ ghi nhớ vâng theo'.
Bấy
giờ, chúng Tỳ-kheo vào thành La-duyệt khất thực, rồi trở
về phòng cất y bát, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật,
lui ngồi một bên. Các Tỳ-kheo đem đầu đuôi câu chuyện
thưa hết với Phật.
Bấy
giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Các
ngoại đạo dị học ấy hỏi nghĩa này rồi, các Thầy nên
đem lời này đáp, là luận về một pháp, nghĩa một quán,
diễn nói một pháp, cho đến luận về mười pháp, nghĩa mười
pháp, diễn nói mười pháp. Nói lời này là có những nghĩa
gì? Nếu các Thầy đem lời này đến hỏi, người ấy chắc
không thể đáp. Ngoại đạo dị học kia bèn tăng thêm nghi
lầm. Vì sao? Vì chẳng phải cảnh giới của họ.
Cho
nên, này các Tỳ-kheo! Ta không thấy có Trời, Người, Ma, Thiên
ma, Ðế Thích, Phạm thiên vương có thể đáp lại lời này.
Trừ Như Lai và đệ tử Như Lai từng theo Ta nghe dạy.
Luận
về một pháp, nghĩa một pháp, diễn nói một pháp, tuy Ta nói
nghĩa này, do cớ gì mà nói thế? Tất cả chúng sanh do ăn
uống mới sống, không ăn thì chết. Tỳ-kheo ấy bình đẳng
chán ghét tai họa, bình đẳng giải thoát, bình đẳng quán
sát, bình đẳng phân biệt nghĩa kia, bình đẳng chấm dứt
mé khổ, đồng một nghĩa không hai. Ðó là luận về một
pháp, nghĩa một pháp, diễn nói một pháp.
Luận
về hai pháp, nghĩa hai pháp, diễn nói hai pháp, tuy Ta nói nghĩa
này, do cớ gì mà nói nghĩa này? Nghĩa là danh và sắc. Thế
nào gọi là danh? Nghĩa là thọ, tưởng, niệm (hành), tư duy
(thức), đó là danh. Thế nào là sắc? Tứ đại và tứ đại
tạo sắc, đó gọi là sắc, do duyên này nên gọi là sắc.
Luận về hai pháp, nghĩa hai pháp, diễn nói hai pháp, do nhân
duyên này nên Ta nói thế. Tỳ-kheo bình đẳng chán ghét tai
họa, bình đẳng giải thoát, bình đẳng quán sát, bình đẳng
phân biệt nghĩa ấy, bình đẳng chấm dứt mé khổ.
Luận
về ba pháp, nghĩa ba pháp, diễn nói ba pháp. Do cớ gì mà nói
nghĩa này? Nghĩa là ba thọ. Thế nào là ba? Là thọ khổ, thọ
vui, thọ không khổ không vui. Thế nào gọi là thọ vui? Nghĩa
là tâm tưởng vui không phân tán, đó gọi là thọ vui. Thế
nào là thọ khổ? Nghĩa là tâm tán loạn không nhất định,
suy nghĩ bao nhiêu tưởng, đây gọi là thọ khổ. Thế nào
là thọ không khổ không vui? Nghĩa là tâm không có tưởng
khổ, không tưởng vui, cũng không tư duy về pháp và phi pháp,
thường tự lặng lẽ tâm không phạm, cho nên gọi là không
khổ không vui. Ðó là ba thọ. Tỳ-kheo bình đẳng chán ghét
tai họa, bình đẳng giải thoát, bình đẳng quán sát, bình
đẳng phân biệt nghĩa này, bình đẳng chấm dứt mé khổ.
Ðó là luận ba pháp, nghĩa ba pháp, diễn nói ba pháp, điều
Ta nói chính là đây vậy.
Luận
về bốn pháp, nghĩa bốn pháp, diễn nói bốn pháp, do những
cớ gì mà nói nghĩa này? Nghĩa là Tứ đế. Thế nào là Tứ
đế? Là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo thánh đế.
Thế
nào là Khổ đế? Là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết
khổ, ưu bi não khổ, oán ghét gặp khổ, ân ái chia lìa khổ,
mong cầu không được khổ.
Thế
nào gọi là Tập đế? Là gốc ái tương ưng với dục. Ðó
là Tập đế.
Thế
nào gọi là Khổ tận đế (Diệt đế)? Nghĩa là ái kia vĩnh
viễn chấm dứt không sanh lại. Ðó là Khổ tận đế.
Thế
nào gọi là Khổ yếu đế (Ðạo đế)? Nghĩa là Tám đạo
phẩm Hiền Thánh: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
mạng, chánh nghiệp, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh
định. Ðó là Tám đạo phẩm Hiền Thánh.
Tỳ-kheo
bình đẳng chán ghét tai họa, bình đẳng giải thoát, bình
đẳng phân biệt nghĩa ấy, bình đẳng quán sát, bình đẳng
chấm dứt mé khổ. Ðó gọi là luận về bốn pháp, nghĩa
bốn pháp, diễn nói bốn pháp. Ðiều Ta nói chính là đây
vậy.
Luận
về năm pháp, nghĩa năm pháp, diễn nói năm pháp. Nay Ta nói,
do những gì mà nói như vậy? Là Năm căn. Thế nào là năm
căn? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.
Thế
nào gọi là tín căn? Nghĩa là đệ tử Hiền Thánh tin vào
đạo pháp của Như Lai, Như Lai là bậc Chí Chơn Ðẳng Chánh
Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Ðạo Pháp Ngự, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, xuất hiện
ở đời. Ðó là tín căn.
Thế
nào gọi là tấn căn? Là thân và tâm siêng năng không lười
mỏi diệt pháp bất thiện, khiến pháp lành tăng trưởng,
tâm thường gìn giữ. Ðó là tấn căn.
Thế
nào gọi là niệm căn? Niệm căn là không quên những điều
đã tụng, thường ghi nhớ trong tâm, gìn giữ không mất, pháp
hữu vi vô lậu trọn không quên mất. Ðó là niệm căn.
Thế
nào gọi là định căn? Ðịnh căn là tâm không tán loạn,
không có bao nhiêu tưởng, thường chuyên ròng một ý. Ðó
là định căn.
Thế
nào gọi là tuệ căn? Là biết Khổ, biết Tập, biết Tận,
biết Ðạo. Ðó là tuệ căn.
Ðây
là Năm căn, Tỳ-kheo ở trong đây bình đẳng giải thoát, bình
đẳng phân biệt nghĩa ấy, bình đẳng chấm dứt mé khổ.
Luận về năm pháp, nghĩa năm pháp, diễn nói năm pháp, điều
Ta nói chính là đây vậy.
Luận
về sáu pháp, nghĩa sáu pháp, diễn nói sáu pháp. Do cớ gì
Ta nói như thế? Là sáu pháp trọng. Thế nào là sáu? Ở đây,
Tỳ-kheo thân thường hành từ, hoặc ở thất vắng, hoặc
thường nhất tâm, thường cùng hòa hợp bậc đáng tôn quý;
đó là pháp trọng thứ nhất. Lại nữa, miệng hành từ, đáng
kính đáng quý; đó là pháp trọng thứ hai. Lại nữa, ý hành
từ không khởi tật đố ghen ghét, đáng kính đáng quý; đó
là pháp trọng thứ ba. Lại nữa, nếu được lợi dưỡng
trong bát có dư, đều dùng tâm bình đẳng chia cho những người
đồng Phạm hạnh; đó là pháp trọng thứ tư. Lại nữa vâng
giữ giới cấm không để rơi mất, là điều quý trọng của
Hiền Thánh; đó là pháp trọng thứ năm. Lại nữa, pháp chánh
kiến Hiền Thánh được xuất yếu, được chấm dứt mé khổ,
ý không tán loạn cùng với những người đồng Phạm hạnh
đồng tu hạnh này; đó là pháp trọng thứ sáu. Tỳ-kheo bình
đẳng chán ghét họa hoạn, bình đẳng giải thoát, bình đẳng
phân biệt nghĩa này, bình đẳng chấm dứt mé khổ. Luận
về sáu pháp, nghĩa sáu pháp, diễn nói sáu pháp, điều Ta
nói chính là đây.
Luận
về bảy pháp, nghĩa bảy pháp, diễn nói bảy pháp. Do những
cớ gì mà nói như thế? Ðó là chỗ dừng nghỉ của thần
thức. Thế nào là bảy? Hoặc có chúng sanh bao nhiêu tưởng
bao nhiêu thân, đó là Trời và Người. Hoặc có chúng sanh
bao nhiêu thân một tưởng, đó là Trời phạm Ca-di xuất hiện
tối sơ. Hoặc có chúng sanh một tưởng một thân, đó là
Trời Quang Âm. Hoặc có chúng sanh một thân bao nhiêu tưởng,
đó là Trời Biến Tịnh. Hoặc có chúng sanh vô lượng Không
xứ, đó là Trời Không xứ. Hoặc có chúng sanh vô lượng
Thức xứ, đó là Trời Thức xứ. Hoặc có chúng sanh vô lượng
Vô sở hữu xứ, đó là Trời Bất dụng xứ. Hoặc có chúng
sanh vô lượng Hữu tưởng vô tưởng xứ, đó là Trời Hữu
tưởng vô tưởng. Này Tỳ-kheo! Ðó là bảy nơi thần thức
dừng nghỉ. Ở đây, Tỳ-kheo bình đẳng giải thoát cho đến
bình đẳng chấm dứt mé khổ. Luận về bảy pháp, nghĩa bảy
pháp, diễn nói bảy pháp, điều Ta nói chính là đây vậy.
Luận
về tám pháp, nghĩa tám pháp, diễn nói tám pháp, do cớ gì
mà nói như thế? Nghĩa là tám việc ở thế gian, theo thế
gian xoay chuyển. Thế nào là tám? Ðó là lợi, suy, hủy, dự,
xưng, cơ, khổ, lạc, là tám việc của thế gian, theo thế
gian xoay chuyển. Ở đây, Tỳ-kheo bình đẳng giải thoát cho
đến bình đẳng chấm dứt mé khổ. Luận về tám pháp, nghĩa
tám pháp, diễn nói tám pháp, điều Ta nói chính là đây vậy.
Luận
về chín pháp, nghĩa chín pháp, diễn nói chín pháp, do cớ
gì mà nói như thế? Là chín nơi cư trú của chúng sanh. Thế
nào là chín? Nếu có chúng sanh có bao nhiêu thân, bao nhiêu
tưởng, đó là Trời và Người. Hoặc có chúng sanh bao nhiêu
thân một tưởng, là Trời phạm Ca-di tối sơ xuất hiện.
Hoặc có chúng sanh một tưởng một thân, đó là Trời Quang
Âm. Hoặc có chúng sanh một thân bao nhiêu tưởng, đó là Trời
Biến Tịnh. Hoặc có chúng sanh Không xứ vô lượng, đó là
Trời Không xứ. Hoặc có chúng sanh Thức xứ vô lượng, đó
là Trời Thức xứ. Hoặc có chúng sanh Vô sở hữu xứ vô
lượng, đó là Trời Bất dụng xứ. Hoặc có chúng sanh Hữu
tưởng vô tưởng xứ vô lượng, đó là Trời Hữu tưởng
vô tưởng. Chúng sanh cõi vô tưởng và các loại chúng sanh
là chín nơi thần thức dừng nghỉ. Ở đây, Tỳ-kheo bình
đẳng giải thoát cho đến bình đẳng chấm dứt mé khổ.
Luận về chín pháp, nghĩa chín pháp, diễn nói chín pháp, điều
Ta nói chính là đây vậy.
Luận
về mười pháp, nghĩa mười pháp, diễn bày mười pháp. Do
cớ gì mà nói như thế? Ðó là mười niệm. Niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tỳ-kheo Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên,
niệm Hưu tức (chỉ quán), niệm An-ban (sổ tức), niệm Thân,
niệm Tử. Ðó là mười niệm. Ở đây, Tỳ-kheo bình đẳng
giải thoát cho đến bình đẳng chấm dứt mé khổ. Luận về
mười pháp, nghĩa mười pháp, diễn nói mười pháp, điều
Ta nói chính là đây vậy.
Tỳ-kheo!
Như thế là từ một pháp đến mười pháp. Tỳ-kheo nên biết,
nếu ngoại đạo dị học nghe lời này còn không thể nhìn
mặt, huống là đáp lại. Nếu Tỳ-kheo hiểu nghĩa này thì
trong hiện pháp vị ấy là người tôn quý bậc nhất.
Nếu
có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo suy nghĩ về nghĩa này cho đến mười
năm thì chắc chắn vị ấy chứng được quả thứ hai, hoặc
A-la-hán, hoặc A-na-hàm. Này Tỳ-kheo, không cần mười năm,
hoặc chỉ trong một năm tư duy nghĩa này thì chắc chắn thành
tựu quả thứ hai, trọn không thối thất giữa chừng. Tỳ-kheo
không cần một năm, hàng bốn chúng chỉ trong mười tháng
cho đến một tháng, suy nghĩ nghĩa này, chắc chắn thành tựu
quả thứ hai, cũng không thối chuyển giữa chừng. Không cần
một tháng, hàng bốn chúng chỉ trong bảy ngày suy nghĩ nghĩa
này, chắc chắn thành tựu quả thứ hai, trọn không nghi ngờ.
Bấy
giờ, A-nan đứng sau Phật, cầm quạt hầu Phật, bạch rằng:
- Thưa
Thế Tôn, Pháp này rất sâu xa, nếu nơi nào có pháp này, nên
biết là gặp được Như Lai. Thưa Thế tôn, Pháp này tên là
gì và làm thế nào để phụng hành?
Phật
bảo A-nan:
- Kinh
này tên là 'Ý nghĩa của Mười Pháp'. Nên ghi nhớ vâng làm.
Bấy
giờ, A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng
làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
người tu hành mười tưởng, liền dứt sạch hữu lậu, được
thần thông, chứng quả dần đến Niết-bàn. Thế nào là mười?
Nghĩa là tưởng xương trắng, tưởng bầm xanh, tưởng sình
trương, tưởng ăn không tiêu, tưởng máu, tưởng bị ăn nuốt,
tưởng hữu thường vô thường, tưởng tham thực, tưởng
sự chết, tưởng tất cả điều không vui của thế gian. Ðó
gọi là Tỳ-kheo tu mười tưởng này, được dứt sạch hữu
lậu, đến cảnh giới Niết-bàn.
Lại
nữa, Tỳ-kheo! Trong mười tưởng ấy, tưởng về tất cả
điều không vui của thế gian là bậc nhất hơn hết. Vì sao?
Nếu có người tu về tưởng những điều không vui của thế
gian và người giữ lòng tin vâng theo Phật pháp thì hai người
này chắc chắn vượt thứ lớp mà chứng quả.
Thế
nên, các Tỳ-kheo! Nếu khi ngồi dưới cội cây, nơi chỗ vắng,
chỗ trống, nên suy nghĩ về mười tưởng này.
Như
thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
10.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, có một Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ chân
Phật, lui ngồi một bên. Tỳ-kheo đó bạch Phật:
- Hôm
nay, Như Lai vì các Tỳ-kheo dạy pháp mười tưởng. Ai có thể
tu tập mười tưởng ấy thì sẽ dứt sạch các hữu lậu,
thành tựu hạnh vô lậu. Nhưng bạch Thế Tôn! Như con không
thể kham tu hành mười tưởng ấy. Vì sao? Vì con có nhiều
tâm dục, thân ý lẫy lừng không thể dừng nghỉ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo đó rằng:
- Nay
Thầy nên bỏ tưởng tịnh mà suy nghĩ về tưởng bất tịnh,
bỏ tưởng hữu thường mà suy nghĩ về tưởng vô thường,
bỏ tưởng hữu ngã mà suy nghĩ về tưởng vô ngã, bỏ tưởng
những điều vui thích mà suy nghĩ về tưởng các điều không
vui. Vì sao? Nếu Tỳ-kheo suy nghĩ về tưởng tịnh thì tâm
dục lừng lẫy, nếu suy nghĩ về tưởng bất tịnh thì không
còn tâm dục. Tỳ-kheo nên biết! Dục là bất tịnh như đống
phân kia, dục như con vẹt lắm điều, dục hay phản bội như
rắn độc, dục như huyễn hóa, như mặt trời tan tuyết. Nên
suy nghĩ lìa bỏ dục như tránh xa gò mả, dục trở lại tự
hại như rắn chứa nọc độc; họa của dục không chán như
uống nước muối; dục khó đầy như biển nuốt dòng sông;
dục có nhiều sự đáng sợ như làng quỷ La-sát; dục như
oan gia thường phải xa lìa; dục như ít vị ngọt dính trên
lưỡi dao; dục không thể yêu mến như xương trắng bên đường;
dục hiện dáng bề ngoài như hoa mọc từ chuồng heo; dục
không chân thật như bình đựng đồ nhơ nhớp, bên ngoài thấy
lạ; dục không chắc chắn như đống bọt.
Tỳ-kheo!
Nay Thầy nên nghĩ xa lìa tưởng tham dục mà suy nghĩ về tưởng
bất tịnh. Tỳ-kheo! Nay Thầy hãy nhớ rằng, xưa kia Phật
Ca-diếp đã vâng theo và thực hành mười tưởng, nay nên suy
nghĩ thêm về mười tưởng ấy thì tâm hữu lậu liền giải
thoát.
Bấy
giờ, Tỳ-kheo đó buồn khóc rơi lệ không thôi, liền đảnh
lễ chân Phật, bạch Phật rằng:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn! Con ngu si mê muội đã lâu, Như Lai đích
thân nói mười tưởng, con mới có thể xa lìa. Nay tự sám
hối sau không dám phạm. Cúi xin Như Lai nhận sự cải hối
của con, xin tha thứ cho.
Phật
bảo Tỳ-kheo:
- Cho
phép Thầy sửa đổi lỗi lầm, chớ phạm trở lại. Như Lai
đã dạy Thầy mười tưởng mà Thầy không chịu phụng trì.
Khi
ấy, Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, liền đến chỗ vắng, tự
chế phục mình, suy nghĩ rằng vốn là con nhà hào tộc, cạo
bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, tu Phạm hạnh vô thượng, là muốn
đạt kết quả sở nguyện; sanh tử đã dứt, Phạm hạnh đã
lập, việc phải làm đã làm xong, không thọ lại thân sau,
biết như thật. Tỳ-kheo đó liền thành A-la-hán.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
Kết
cấm, Thánh hiền cư,
Hai
lực và mười niệm,
Thân
vua, không sợ hãi,
Mười
luận, tưởng, quán tưởng.
--------------------------------------------------------------------------------
XXXXVII.
Phẩm Thiện ác
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
chúng sanh thực hành mười pháp liền được sanh lên trời,
lại thực hành mười pháp liền sanh trong đường ác, lại
tu hành mười pháp liền được vào cảnh giới Niết-bàn.
Thế
nào là thực hành mười pháp sanh trong đường ác? Ở đây,
có người sát sanh, trộm cắp, dâm dục, nói dối, nói thêu
dệt, nói lời ác, nói hai lưỡi đâm thọc gây rối đôi bên,
tật đố, sân hận, tà kiến. Ðó là mười pháp, chúng sanh
thực hành mười pháp này, sẽ đọa trong đường ác.
Thế
nào là thực hành mười pháp được sanh lên trời? Khi người
không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối,
không nói thêu dệt, không nói lời ác, không nói hai lưỡi
đâm thọc gây rối đôi bên, không tật đố, không sân hận,
không khởi tà kiến. Ðó là mười pháp, chúng sinh thực hành
mười pháp này liền được sanh lên trời.
Thế
nào là thực hành mười pháp được vào Niết-bàn? Ðó là
mười niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tỳ-kheo Tăng, niệm
Thiên, niệm Giới, niệm Thí, niệm Hưu tức, niệm An-ban, niệm
Thân, niệm Tử. Ðó là mười pháp, chúng sinh thực hành mười
pháp này liền được vào Niết-bàn.
Các
Tỳ-kheo nên biết! Nên rời bỏ những việc sanh lên trời
và rơi trong đường ác, nên khéo vâng giữ tu tập theo mười
pháp vào Niết-bàn. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Do
gốc mười điều ác, ngoại vật còn suy giảm huống gì nội
pháp. Thế nào là mười? Là sát sanh, trộm cắp, dâm dục,
nói dối, nói thêu dệt, nói lời ác, nói hai lưỡi đâm thọc
gây rối đôi bên, tật đố, sân hận, tà kiến.
Do
quả báo của sát sanh nên thọ mạng của chúng sanh rất ngắn.
Do quả báo trộm cắp nên chúng sanh sanh ra liền bị nghèo
đói. Do quả báo của dâm dục nên gia đình chúng sanh không
trinh bạch. Do quả báo nói thêu dệt, nên đất đai không bằng
phẳng. Do quả báo của nói hai lưỡi đâm thọc nên đất
đai sanh gai góc. Do quả báo nói lời ác nên có nhiều ngôn
ngữ. Do quả báo tật đố nên lúa thóc không dồi dào. Do
quả báo của sân hận nên có nhiều vật uế ác. Do quả báo
của tà kiến nên tự nhiên sanh trong tám địa ngục lớn.
Do
quả báo của mười điều ác này nên khiến vật bên ngoài
bị suy giảm, huống chi vật bên trong. Thế nên, các Tỳ-kheo,
nên nhớ nghĩ xả bỏ xa lìa mười pháp ác, tu hành mười
pháp lành. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ chân
Phật, lui ngồi một bên. Vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
- Chẳng
biết Thế Tôn có nói lời nầy không, rằng: 'Bố thí cho Ta
được phước nhiều, bố thí cho người khác được phước
ít. Hãy bố thí đệ tử Ta, đừng bố thí người khác'?.
Nếu có người nói những lời như vậy, há chẳng phải đã
hủy báng pháp của Như Lai ư?
Ðức
Phật bảo nhà vua:
- Ta
không nói lời như thế, rằng chỉ nên bố thí cho Ta, đừng
bố thí cho người khác. Ðại vương nên biết, Ta thường
nói thế nầy: 'Nếu trong bát của Tỳ-kheo còn dư thức ăn,
đem để vào nước cho các loài trùng nhỏ, cũng còn có phước,
huống gì bố thí cho người mà không được phước sao?'.
Nhưng
này Ðại Vương, Ta có nói thế này: Bố thí cho người trì
giới, phước ấy càng tăng nhiều, hơn bố thí cho người
phạm giới.
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn! Bố thí cho người trì giới, phước
báu tăng nhiều hơn hẳn bố thí cho người phạm giới.
Nhà
vua lại bạch Phật:
- Phạm
chí Ni-kiền Tử đến nói với con rằng: 'Sa-môn Cù-đàm biết
huyễn thuật có thể xoay chuyển người đời'. Bạch Thế
Tôn, lời này là đúng hay không đúng chăng?
Phật
bảo nhà vua:
- Ðúng
thế, Ðại vương! Như lời đã nói, Ta có pháp huyễn thuật
có thể làm thay đổi người thế gian.
Nhà
vua bạch Phật:
- Thế
nào gọi là pháp huyễn thuật xoay chuyển?
Phật
bảo:
- Người
sát sanh, tội ấy khó tính lường, người không sát sanh thọ
phước vô lượng. Người trộm cắp chịu tội vô lượng,
người không trộm cắp được phước vô lượng. Người dâm
dục chịu tội vô lượng, người không dâm dục được phước
vô lượng. Người tà kiến chịu tội vô lượng, người chánh
kiến được phước vô lượng. Ta giải thích về huyền pháp
chính là như thế.
Khi
ấy, vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
- Nếu
Người, Ma, Thiên ma hoặc loài có hình sắc, hiểu sâu huyễn
thuật này, ắt sẽ được hạnh phúc lớn. Từ nay về sau,
con không cho phép các ngoại đạo dị học vào trong nước
con. Con cho phép hàng bốn chúng thường ở tại cung điện
của con, con sẽ thường cúng dường các vị tùy theo chỗ
cần dùng.
Ðức
Phật bảo:
- Ðại
vương! Chớ nói như thế. Vì sao? Bố thí cho các loài súc
sanh cũng được phước báo, bố thí cho người phạm giới
cũng được phước báo, bố thí cho người trì giới thì phước
báo khó lường, bố thí cho hàng tiên nhơn ngoại đạo được
phước một ức lần, bố thí cho các vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi Phật và Phật, phước ấy không
thể đo lường.
Thế
nên, Ðại vương, nên phát khởi ý niệm cúng dường đệ
tử Thanh văn của chư Phật thời quá khứ, vị lai. Như thế,
Ðại vương, hãy học điều này!
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, phần đông các Tỳ-kheo, sau khi thọ trai xong đều tụ
tập tại giảng đường Phổ Hội, cùng nhau bàn luận về
nghĩa này: Bàn luận về chuyện y phục, trang sức, ăn uống;
bàn luận về những chuyện chiến tranh, giặc cướp của nước
lân bang; bàn luận về rượu chè, dâm dục, ngũ dục; bàn
luận về ca vũ, kỹ nhạc. Những chuyện vô ích như thế nhiều
không thể tính kể.
Bấy
giờ, Thế Tôn dùng Thiên nhĩ nghe các Tỳ-kheo bàn luận những
chuyện ấy, liền đi đến giảng đường Phổ Hội, hỏi các
Tỳ-kheo:
- Các
Thầy nhóm họp ở đây bàn luận chuyện gì?
Khi
ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:
- Chúng
con nhóm họp ở đây cùng bàn luận những việc vô ích như
thế.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Thôi,
thôi! Các Tỳ-kheo, chớ bàn luận việc ấy. Vì sao? Những
điều luận bàn ấy không có ý nghĩa và cũng không dẫn đến
pháp lành. Không do những điều luận bàn này mà được tu
Phạm hạnh; không đến được chỗ tịch diệt, Niết-bàn;
không được đạo Sa-môn bình đẳng. Ðó là những điều
luận bàn của thế tục, không phải luận của đường chánh.
Các Thầy đã lìa thế tục, xuất gia học đạo, không nên
suy nghĩ về những luận bại hoại.
Nếu
các Thầy muốn bàn luận, nên bàn luận về mười việc công
đức. Thế nào là mười? Là siêng năng tinh tấn; ít muốn
biết đủ; có tâm dũng mãnh; đa văn, có thể thuyết pháp
cho người; không sợ sệt kinh khủng; đầy đủ giới luật;
thành tựu chánh định; thành tựu trí tuệ; thành tựu giải
thoát; thành tựu giải thoát tri kiến. Nếu các Thầy muốn
bàn luận thì nên bàn luận về mười điều này.
Vì
sao? Vì chúng thấm nhuần tất cả, ích lợi nhiều, được
tu Phạm hạnh, được đến chỗ tịch diệt, Niết-bàn. Hôm
nay các Thầy là con nhà hào tộc, đã xuất gia học đạo,
nên suy nghĩ về mười điều này. Luận này là luận của
Chánh pháp, xa lìa đường ác. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy
học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, đa số các Tỳ-kheo nhóm họp tại giảng đường Phổ
Hội, đều bàn luận thế này: 'Nay ở thành Xá-vệ, lúa bắp
quí hiếm và đắt đỏ, đi khất thực khó. Ðức Thế Tôn
lại nói nhờ ăn uống mà thân người được tồn tại; thân
tứ đại nương vào pháp sở niệm của tâm, pháp là gốc
của đường lành. Ngày nay, chúng ta nên cử người thứ lớp
khất thực, khiến người ấy được hình sắc đẹp, được
nhận sự cực diệu, được y phục, thức ăn uống, sàng tọa,
ngọa cụ, thuốc men, cũng há chẳng là điều tốt ư?'
Bấy
giờ, Thế Tôn dùng Thiên nhĩ thanh tịnh xa nghe các Tỳ-kheo
bàn luận điều này, Ngài liền đi đến giảng đường Phổ
Hội, vào ngồi tòa chính giữa, hỏi các Tỳ-kheo:
- Các
Thầy nhóm họp ở đây bàn luận điều gì?
Các
Tỳ-kheo thưa:
- Chúng
con bàn luận về việc rằng nay ở thành Xá-vệ, khất thực
khó được, muốn cử người thứ lớp khất thực, để tùy
thời được hình sắc đẹp, y phục tốt, mền nệm, thức
ăn uống, sàng tọa, thuốc men trị bệnh. Ðiều bàn luận
của chúng con chính là điều này.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
Tỳ-kheo đi xin để được cúng dường bốn thứ cần dùng
như y phục, thức ăn, sàng tọa, thuốc men trị bệnh, lại
dùng những thứ sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp thượng
đẳng sao?
Ta
thường dạy các Thầy, khất thực có hai việc, nên gần gũi
và không nên gần gũi. Nếu như được y phục, thức ăn uống,
sàng tọa, thuốc men trị bịnh mà tăng thêm pháp ác, không
có pháp lành, thì không nên gần gũi. Nếu khất thực được
y phục, thức ăn uống, sàng tọa, thuốc men trị bịnh mà
tăng trưởng pháp lành, không tăng trưởng pháp ác, thì việc
này nên gần gũi.
Tỳ-kheo
các Thầy ở trong pháp này muốn bàn luận điều gì, mà điều
luận bàn ấy, không phải là luận Chánh pháp, thì nên bỏ
pháp ấy, chớ suy nghĩ vì không do điều này đạt đến Niết-bàn,
an trú, diệt tận.
Nếu
muốn bàn luận, nên bàn luận mười điều này. Thế nào là
mười? Là siêng năng, ít muốn biết đủ, có tâm dũng mãnh,
đa văn hay vì người thuyết pháp, không sợ sệt kinh khủng,
đầy đủ giới luật, thành tựu chánh định, thành tựu trí
tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu giải thoát tri kiến.
Nếu các Thầy muốn bàn luận, nên bàn luận về mười điều
này. Vì cớ sao? Vì những điều này thấm nhuần tất cả,
lợi ích nhiều, được tu Phạm hạnh, đến cảnh giới Niết-bàn,
vô vi, diệt tận.
Luận
này là nghĩa của Sa-môn, nên suy nghĩ ghi nhớ, chớ rời tâm.
Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, đa số các Tỳ-kheo nhóm họp tại giảng đường Phổ
Hội, bàn luận khác nhau thế này:
- Nay
ở thành Xá-vệ khất thực khó được, chẳng phải chỗ an
ổn của Tỳ-kheo. Chúng ta nên cử người thứ lớp khất thực,
Tỳ-kheo khất thực này sẽ được y phục, mền, nệm, thức
ăn uống, sàng tọa, thuốc men trị bịnh không bị thiếu.
Bấy
giờ, trong chúng có một Tỳ-kheo nói với mọi người rằng:
- Chúng
ta không thể ở tại đây khất thực, nên cùng nhau đi sang
nước Ma-kiệt-đà khất thực. Nước ấy lúa thóc nhiều và
rẻ, thức ăn uống đầy đủ.
Lại
có Tỳ-kheo nói:
- Chúng
ta không nên sang nước đó khất thực. Vì sao? Vua A-xà-thế
cai trị nước ấy, làm nhiều việc phi pháp, lại giết hại
phụ vương, kết bạn với Ðề-bà-đạt-đa. Do nhân duyên
này, nên không thể sang đó khất thực.
Lại
có Tỳ-kheo nói:
- Nay
tại nước Câu-lưu-xa, dân chúng đông đúc, giàu có nhiều
tài bảo, nên đến nước đó khất thực.
Lại
có Tỳ-kheo nói:
- Chúng
ta không nên khất thực ở nước ấy. Vì sao? Vua Ác Sanh cai
trị nước ấy rất hung ác, không nhân từ, dân chúng hung
bạo ưa gây gổ, đánh nhau. Do nhân duyên này không nên khất
thực tại nước ấy.
Lại
có Tỳ-kheo nói:
- Chúng
ta nên đến thành Câu-diệm Ba-la-nại, là nơi cai trị của
vua Ưu Ðiền. Nhà vua một lòng tin Phật pháp, không đổi ý.
Chúng ta nên đến nước đó khất thực, sở nguyện đều
đầy đủ.
Bấy
giờ, Thế tôn dùng Thiên nhĩ nghe các Tỳ-kheo bàn luận những
điều như thế, liền chỉnh đốn y phục, đến chỗ các Tỳ-kheo,
ngồi tòa chính giữa, hỏi các Tỳ-kheo rằng:
- Các
Thầy nhóm họp ở đây bàn luận việc gì? Nói những việc
gì?
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Chúng
con nhóm họp tại đây, bàn luận điều này: 'Nay trong thành
Xá-vệ, lúa thóc quý hiếm và đắt, khất thực khó được,
nên cùng đi sang nước Ma-kiệt-đà khất thực, vì nước ấy
giàu có phong phú, việc khất thực dễ dàng'.
Trong
đây, lại có Tỳ-kheo nói: 'Chúng ta không nên sang nước ấy
khất thực. Vì sao? Vì vua A-xà-thế cai trị nước ấy hành
động phi pháp, giết cha, kết bạn với Ðề-bà-đạt-đa.
Do nhân duyên này, không nên sang đó khất thực'.
Trong
đây, lại có Tỳ-kheo nói: 'Nay tại nước Câu-lưu-sa, dân
chúng đông đúc giàu có nhiều tài bảo, nên sang đó khất
thực'. Lại có Tỳ-kheo nói rằng: 'Chúng ta không nên khất
thực ở nước ấy. Vì sao? Vì Vua Ác Sanh cai trị nước ấy
là người hung bạo không nhân từ, ưa tranh tụng. Do nhân duyên
này không thể sang đó khất thực'.
Lại
có Tỳ-kheo nói: 'Chúng ta nên ở tại thành Câu diêm Ba-la-nại,
xứ của vua Ưu Ðiền cai trị. Vua ấy dốc lòng tin Phật pháp,
ý không thay đổi, nên khất thực ở nước đó thì sở nguyện
đầy đủ'.
Chúng
con bàn luận ở đây, chính là điều này.
Bấy
giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Các
Thầy chớ khen chê việc cai trị của vua chúa, cũng chớ luận
bàn sự hơn kém của vua chúa.
Bấy
giờ, Thế Tôn bèn nói kệ:
Phàm
người làm lành, dữ,
Hành
động có căn nguyên,
Mỗi
mỗi chịu quả báo,
Trọn
không hủy, không mất.
Phàm
người làm lành, dữ,
Hành
động có căn nguyên,
Làm
lành được báo lành,
Ác
chịu quả báo ác.
Cho
nên, các Tỳ-kheo! Chớ khởi ý bàn luận quốc sự, bởi không
do bàn luận điều này mà được đến Niết-bàn diệt tận,
cũng không phải là pháp chơn chánh của hạnh Sa-môn. Nếu
bàn luận việc ấy chẳng phải là chánh nghiệp.
Các
Thầy nên học bàn luận về mười việc? Thế nào là mười?
Là tinh tấn siêng năng, ít muốn biết đủ, có tâm dũng mãnh,
đa văn hay vì người thuyết pháp, không sợ sệt không kinh
khủng, đầy đủ giới luật, thành tựu chánh định, thành
tựu trí tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu giải thoát
tri kiến. Nếu các Thầy muốn bàn luận nên bàn luận về
mười điều này. Vì sao? Vì chúng thấm nhuần tất cả, được
tu Phạm hạnh, đạt đến Niết-bàn diệt tận. Các Thầy đã
xuất gia học đạo, xa lìa thế tục, nên siêng năng ghi nhớ
mười điều này, chớ rời tâm. Như thế, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, đa số các Tỳ-kheo nhóm họp tại giảng đường Phổ
Hội, cùng bàn luận điều này:
- Nay
vua Ba-tư-nặc hành động phi pháp, phạm giáo luật Thánh, đoán
biết Tỳ-kheo-ni đắc quả A-la-hán mà giữ trong cung mười
hai năm, rồi cùng tư thông. Nhà vua lại không thừa sự Phật,
Pháp, Tỳ-kheo Tăng, không có tâm kính tín đối với A-la-hán,
ắt là không có tâm tin Phật, Pháp, Thánh chúng. Chúng ta nên
xa lìa, đừng ở lại nước này. Vì sao? Khi nhà vua hành động
phi pháp thì các quan đại thần cũng hành động phi pháp. Ðại
thần đã hành động phi pháp thì kẻ tay chân tả hữu cũng
hành động phi pháp. Kẻ nha lại hành động phi pháp thì thường
dân cũng hành động phi pháp. Nay chúng ta nên đi nước khác
khất thực, đừng ở lại nước này; lại có thể xem xét
cách trị nước, phong tục nước ấy, thấy phong tục rồi
sẽ thấy chỗ khác nhau.
Bấy
giờ, Thế tôn dùng Thiên nhĩ thông nghe các Tỳ-kheo bàn luận
điều này, liền đi đến chỗ các Tỳ-kheo, ngồi vào tòa
chính giữa. Thế tôn hỏi các Tỳ-kheo:
- Các
Thầy nhóm họp ở đây bàn luận điều gì?
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
- Chúng
con ở đây bàn luận việc vua Ba-tư-nặc hành động phi pháp,
phạm giáo luật Thánh, đoán biết Tỳ-kheo-ni đắc quả A-la-hán
mà giữ trong cung mười hai năm, rồi dùng sắc tiếp đãi.
Lại nữa, các bậc đắc đạo hành nghiệp vượt qua ba cõi
nhưng nhà vua cũng không thừa sự Phật, Pháp, và Chúng Tăng,
không có tâm kính tín đối với A-la-hán, đã không có tâm
này ắt là không kính tín Tam Bảo. Chúng ta nên đi xa không
nên ở đây. Vì sao? Khi nhà vua hành động phi pháp thì quan
đại thần, kẻ tả hữu và nhân dân cũng làm ác. Lại chúng
con muốn quan sát phong hóa ở thế gian.
Bấy
giờ, Thế Tôn dạy:
- Các
Thầy không nên luận bàn việc quốc gia. Nên tự khắc phục
mình, bên trong suy nghĩ tỉnh giác, biết phân biệt lượng
xét. Nói bàn những điều này thì không hợp lý đạo, cũng
không khiến người được tu Phạm hạnh, đến chỗ diệt
tận, Niết-bàn vô vi. Nên tự tu phần mình, làm cho pháp thạnh
hành, tự quy bậc tối tôn.
Nếu
Tỳ-kheo hay tự mình tu tập làm lớn mạnh niềm pháp lạc,
hạng người đó là do chính Ta sanh ra. Thế nào gọi là Tỳ-kheo
có thể tự làm lớn mạnh niềm pháp lạc, không hư vọng,
tự quy bậc Tối tôn? Ở đây, Tỳ-kheo bên trong tự quán sát
thân mình, thân ý dừng trụ, tự nhiếp phục tâm mình, trừ
bỏ loạn tưởng, không lo buồn. Lại bên ngoài Tỳ-kheo tự
quán thân, thân ý dừng trụ, tự nhiếp phục tâm mình, trừ
bỏ loạn tưởng, không lo buồn. Tỳ-kheo lại quan sát thân
trong và ngoài, thân ý dừng trụ. Tỳ-kheo bên trong quán thọ,
bên ngoài quán thọ, trong và ngoài quán thọ; bên trong quán
tâm, bên ngoài quán tâm, trong và ngoài quán tâm; bên trong quán
pháp; bên ngoài quán pháp, trong và ngoài quán pháp; ý dừng
trụ, tự nhiếp phục tâm mình, trừ bỏ loạn tưởng, không
lo buồn.
Tỳ-kheo
như thế gọi là có thể tự làm lớn mạnh hạnh tu của mình,
tăng trưởng pháp lạc, tự quy bậc Tối tôn. Các Tỳ-kheo
hiện tại và tương lai có thể tự làm lớn mạnh không mất
bốn hạnh, chính là do Ta sanh ra.
Thế
nên, này các Tỳ-kheo! Nếu muốn bàn luận, nên bàn luận về
mười việc. Thế nào là mười? Là tinh tấn siêng năng, ít
muốn và biết đủ, có tâm dũng mãnh, đa văn hay vì người
thuyết pháp, không sợ sệt khủng bố, đầy đủ giới luật,
thành tựu chánh định, thành tựu trí tuệ, thành tựu giải
thoát, thành tựu giải thoát tri kiến. Các Thầy muốn bàn
luận thì nên bàn luận về mười việc này. Vì sao? Vì mười
việc này thấm nhuần tất cả, có nhiều lợi ích, được
tu Phạm hạnh, đến Niết-bàn vô vi, chỗ diệt tận. Những
điều luận bàn này là nghĩa của Sa-môn. Nên suy nghĩ ghi nhớ,
đừng rời tâm. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ trong thành Xá-vệ, có một trưởng giả, dựng thiền
thất cho La-vân. Bấy giờ, Tôn giả La-vân thường ngày nghỉ
ngơi trong thất ấy, nhưng hôm nay Tôn giả đi du hóa nhơn gian.
Khi ấy, trưởng giả khởi nghĩ: 'Ta nên đến tham Tôn giả
La-vân'. Trưởng giả đến, thấy trong thất vắng vẻ, không
có người, thấy rồi hỏi các Tỳ-kheo:
- Tôn
giả La-vân hiện nay ở đâu?
Các
Tỳ-kheo bảo:
- Tôn
giả đi du hóa nhơn gian.
Trưởng
giả thưa:
- Cúi
xin chư Hiền cử người đến ở thất của tôi. Thế Tôn
cũng dạy: 'Tạo lập vườn cây, bắt cầu, đóng thuyền, cất
nhà xí sạch sẽ gần đường để cho mọi người sử dụng
thì được phước báo lâu dài, được thành tựu giới pháp,
khi chết sanh cõi Trời'. Do đó, tôi có tạo thất cho Tôn giả
La-vân. Nay Tôn giả không thích thất của tôi, cúi xin chư
Hiền cử người đến ở đó.
Các
Tỳ-kheo trả lời:
- Chúng
tôi sẽ làm như lời Trưởng giả thỉnh cầu.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo liền cử một Tỳ-kheo đến ở trong thất.
Khi
ấy, Tôn giả La-vân khởi nghĩ: 'Ta xa cách Thế Tôn khá lâu,
hiện nay có thể đến thăm hỏi Ngài'. Tôn giả La-vân bèn
đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ chân Phật, lui ngồi một
bên. Trong giây lát, Tôn giả rời tòa đứng dậy trở về
thất và thấy có Tỳ-kheo khác ở. Thấy thế, Tôn giả hỏi
Tỳ-kheo ấy:
- Ai
đưa thất tôi cho Thầy?
Tỳ-kheo
ấy đáp:
- Chúng
Tăng sai tôi, bảo ở thất nầy.
Khi
ấy, Tôn giả La-vân trở lại chỗ đức Thế Tôn, đem câu
chuyện thưa với Phật:
- Chẳng
biết Thế Tôn có dạy chúng Tăng cử người ở tại thất
của con, nghỉ ngơi trong ấy chăng?
Ðức
Phật bảo La-vân:
- Thầy
đến nhà trưởng giả mà hỏi trưởng giả rằng: 'Hành động
của tôi, có lỗi về thân, miệng, ý chăng? Và tôi có ba điều
lỗi của thân, bốn điều lỗi của miệng, và ba điều lỗi
của ý chăng? Trưởng giả trước đã cúng thất cho tôi, sau
lại đem cho Thánh chúng?'
Khi
ấy, Tôn giả La-vân vâng lời Phật dạy, đến nhà trưởng
giả, hỏi rằng:
- Tôi
có ba điều lỗi của thân, bốn điều lỗi của miệng và
ba điều lỗi của ý chăng?
Trưởng
giả đáp:
- Tôi
không thấy Tôn giả về thân, miệng, ý có lỗi.
La-vân
bảo trưởng giả:
- Vì
sao Ông lấy lại phòng nhà của tôi đem cho chúng Tăng?
Trưởng
giả đáp:
- Tôi
thấy nhà trống nên đem cúng chúng Tăng. Lúc đó tôi lại
khởi nghĩ: 'Tôn giả La-vân chắc không thích ở trong thất
của ta', nên tôi đem cúng.
Tôn
giả La-vân nghe trưởng giả nói xong, liền trở lại chỗ
đức Thế Tôn, thuật lại đầy đủ câu chuyện. Khi ấy,
Thế Tôn liền bảo Tôn giả A-nan mau đánh kiền chùy, các
Tỳ-kheo có mặt tại tịnh xá Kỳ Hoàn thảy đều đến nhóm
tại giảng đường Phổ Hội. A-nan vâng lời Phật dạy, triệu
tập các Tỳ-kheo tại giảng đường Phổ Hội.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Hôm
nay Ta sẽ nói về sự bố thí thanh tịnh, các Thầy nên khéo
suy nghĩ, ghi nhớ:
Các
Tỳ-kheo đáp:
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Thế
Tôn dạy:
- Thế
nào gọi là bố thí thanh tịnh. Ở đây, Tỳ-kheo! Nếu có
người đem vật bố thí, sau lại lấy lui và đem cho người
khác. Ðây gọi là bố thí không chơn chánh, bố thí không
bình đẳng. Nếu có người chiếm đoạt vật của người,
đem bố thí cho Thánh chúng, hoặc có người chiếm đoạt vật
của Thánh chúng, đem bố thí cho người. Ðây chẳng phải
là bố thí bình đẳng, cũng không phải là bố thí thanh tịnh.
Chuyển
luân Thánh vương ở nơi cảnh giới của mình còn được tự
tại, Tỳ-kheo đối với y bát của chính mình cũng được
tự tại. Nếu lại có người chưa được chính miệng người
hứa cho mà lấy vật của người đem cho người khác thì đây
chẳng phải là bố thí bình đẳng.
Nay
Ta bảo các Tỳ-kheo, nếu thí chủ cho mà người nhận chưa
thấy đưa thì đây chẳng phải là bố thí bình đẳng.
Nếu
Tỳ-kheo ấy mệnh chung thì nên đưa phòng xá của người ấy
ra giữa chúng để làm pháp yết ma. Một người xướng rằng:
'Tỳ-kheo pháp danh ...... mệnh chung, nay đem phòng xá này để
chúng Tăng phân chia'. Muốn cử người nào ở phòng ấy, tùy
theo lời chúng dạy: 'Chư Hiền! Nay sai Tỳ-kheo pháp danh ......
ở phòng ấy, mọi người cùng chấp nhận. Ai không đồng
ý thì nói ra'. Nên nói như thế ba lần. Nếu trong chúng có
một người không đồng ý mà đem cho thì không phải là bố
thí bình đẳng, ắt là vật không thanh tịnh. Nay nên đem phòng
trả lại cho Tỳ-kheo La-vân thanh tịnh thọ nhận.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại thành La-duyệt, vườn trúc Ca-lan-đà cùng
với chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người.
Bấy
giờ, Tôn giả Ðại Quân-đầu ở tại chỗ vắng, khởi lên
ý nghĩa như vầy: 'Làm sao biết được các kiến chấp về
trước, về sau, và khoảng giữa?'
Lúc
ấy, Ðại Quân-đầu đến thời đắp y mang bát, đi đến
chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ chân Phật, lui ngồi một bên.
Tôn giả bạch Phật:
- Nay
có các kiến chấp này thích hợp trước và sau, làm sao diệt
được chúng và khiến cho những kiến chấp khác không khởi
lên?
Thế
Tôn bảo:
- Này
Quân-đầu! Chỗ phát sanh và chỗ tiêu diệt những kiến chấp
ấy đều là vô thường, khổ, không. Quân-đầu! Biết như
thế rồi nên khởi nghĩ thế này: Có sáu mươi hai kiến chấp,
nên an trụ trong mười điều lành để trừ bỏ các kiến
chấp ấy.
Thế
nào là mười? Này Quân-đầu! Người kia ưa sát sanh, ta không
sát sanh. Người kia ưa trộm cắp, ta không trộm cắp. Người
kia phạm vào hạnh thanh tịnh, ta hành hạnh thanh tịnh. Người
kia nói dối, ta không nói dối. Người kia nói thêu dệt, ta
không nói thêu dệt. Người kia nói lời ác, ta không nói lời
ác. Người kia nói hai lưỡi đâm thọc gây rối hai bên, ta
không nói hai lưỡi đâm thọc gây rối hai bên. Người kia
tật đố, ta không tật đố. Người kia sân nhuế, ta không
sân nhuế. Người kia tà kiến, ta hành chánh kiến.
Quân-đầu
nên biết, như từ đường ác được gặp đường chánh, như
từ tà kiến được đến chánh kiến, bỏ tà về chánh. Như
có người tự mình chìm đắm mà muốn cứu người, trọn
không có lý. Mình chưa diệt độ mà muốn khiến người khác
diệt độ, việc ấy không được. Như có người tự mình
không chìm đắm mới có thể cứu người, lý ấy có thể
được. Nay cũng lại như thế, tự mình được Niết-bàn,
khiến cho người khác diệt độ, lý ấy có thể được.
Cho
nên, này Quân-đầu! Nên nghĩ nhớ lìa sát sanh, không sát sanh
được diệt độ; lìa trộm cắp, không trộm cắp được
diệt độ; lìa dâm dục, không dâm dục được diệt độ;
lìa nói dối, không nói dối được diệt độ; lìa thêu dệt,
không thêu dệt được diệt độ; lìa nói lời ác, không nói
lời ác được diệt độ; lìa nói hai lưỡi đâm thọc gây
đấu tranh đôi bên, không nói hai lưỡi đâm thọc gây đấu
tranh đôi bên được diệt độ; lìa tật đố, không tật
đố được diệt độ; lìa sân nhuế, không sân nhuế được
diệt độ; lìa tà kiến, được chánh kiến diệt độ.
Quân-đầu
nên biết! Người thường sanh khởi ý niệm này: 'Là hữu
ngã chăng? Là vô ngã chăng? Là hữu ngã vô ngã chăng? Cõi
đời là thường ư? Cõi đời là vô thường ư? Cõi đời
có giới hạn ư? Cõi đời không giới hạn ư? Mạng là thân
ư? Mạng khác, thân khác ư? Như Lai có chết ư? Như Lai không
chết ư? Là có chết ư? Là không chết ư? Ai tạo thế gian
này?', lại sanh các tà kiến như: 'Phạm thiên tạo thế giới
này? Hay là địa chủ dựng lập thế giới này? Phạm thiên
tạo chúng sanh này? Hay là địa chủ tạo thế gian này? Chúng
sanh vốn không nay có, đã có rồi lại diệt mất?'
Hạng
người phàm phu không nghe không thấy, bèn sanh khởi ý niệm
này.
Bấy
giờ, Thế Tôn mới nói kệ:
Tự
nhiên có Phạm thiên,
Ðây
là lời Phạm chí,
Kiến
chấp không chơn chánh,
Như
chỗ thấy của họ.
Chúa
ta sanh hoa sen,
Phạm
thiên hiện trong ấy,
Ðịa
chủ sanh Phạm thiên,
Tự
sanh, không liên hệ.
Ðịa
chủ dòng Sát-lợi,
Cha
mẹ của Phạm chí,
Thế
nào dòng Sát-lợi,
Phạm
Chí cùng sanh nhau.
Tìm
ra chỗ sanh ấy,
Lời
nói của chư Thiên,
Ðây
là lời khen ngợi,
Trở
lại tự ràng buộc.
Phạm
thiên sanh nhân dân,
Ðịa
chủ tạo thế gian,
Hoặc
nói nơi khác tạo,
Lời
này ai xem xét?
Bị
sân, dục, mê hoặc,
Ba
việc chung nhóm họp,
Tâm
không được tự tại,
Tự
xưng ta tối thắng.
Thiên
thần tạo thế gian,
Và
chẳng Phạm thiên sanh,
Giả
sử Phạm thiên tạo,
Ðây
chẳng hư vọng ư?
Tìm
dấu vết rất nhiều,
Xét
kỹ lời nói vọng,
Hành
tung mỗi mỗi khác,
Hành
động ấy không thật.
Quân-đầu
nên biết! Các loài chúng sanh có sự thấy không đồng nhau,
ý nghĩ mỗi mỗi khác nhau. Những kiến chấp nầy đều là
vô thường, chấp lấy những kiến chấp này cũng là pháp
vô thường biến dị.
Nếu
người khác sát sanh, ta nên lìa sát sanh. Nếu người khác
trộm cắp, ta nên lìa trộm cắp, không tập theo hạnh ấy,
giữ gìn tâm ý chuyên nhất không để làm loạn. Suy nghĩ xét
nét chỗ dấy khởi của tà kiến, cho đến mười điều ác
thảy nên trừ bỏ không tập theo hạnh ấy. Nếu người sân
nhuế, ta học pháp nhẫn nhục. Người ôm lòng tật đố ta
nên xả ly. Người kiêu mạn, ta cũng nhớ xả ly. Nếu người
tự khen mình chê người, ta cũng không tự khen mình chê người.
Người không biết thiểu dục, ta nên học thiểu dục. Người
phạm giới, ta cần giữ giới. Người làm biếng, ta nên siêng
năng. Người không tu chánh định, ta tu chánh định, nên học
như thế. Người ngu si ta thực hành trí tuệ. Ai có thể quán
sát phân biệt pháp như thế thì tà kiến tiêu diệt, các kiến
chấp khác không sanh.
Khi
ấy, Tôn giả Quân-đầu nghe Phật dạy xong, ở chỗ vắng
suy nghĩ quán xét điều khiến cho con nhà hào tộc xuất gia
học đạo, mặc ba pháp y, tu Phạm hạnh vô thượng, sanh tử
đã hết, Phạm hạnh đã lập, việc phải làm đã làm xong,
không thọ thân sau, biết một cách như thật. Khi ấy, Tôn
giả Quân-đầu liền chứng quả A-la-hán.
Bấy
giờ, Quân-đầu nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
10.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời đức Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp
Cô Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Chúng
sanh trong địa ngục thọ quả báo tột cùng một kiếp, hoặc
có khi giữa chừng mạng chung; chịu quả báo súc sanh tột
cùng một kiếp, trong khoảng ấy có khi nửa chừng mạng chung;
chịu quả báo ngạ quỷ tột cùng một kiếp, trong khoảng
đó có khi yểu mạng nửa chừng.
Tỳ-kheo
nên biết! Người ở châu Uất-đơn-việt tuổi thọ một ngàn
năm, không chết yểu nửa chừng. Vì sao? Người cõi đó không
bị ràng buộc, giả sử mệnh chung ở cõi này liền sanh cõi
lành, lên trời, không bị đọa lạc. Người ở châu Phất-vu-đệ
tuổi thọ năm trăm năm, cũng có chết nửa chừng. Người
ở châu Cù-da-ni thọ hai trăm năm chục năm, cũng có chết
nửa chừng. Người ở châu Diêm-phù-đề tuổi thọ tột cùng
một trăm năm, cũng có nhiều người chết nửa chừng. Giả
sử người thọ mạng tột cùng đến một trăm năm thì mỗi
thập niên là biểu hiện cho một thời kỳ, hành động và
tánh tình trong mỗi thời kỳ ấy khác nhau. Trong mười năm
đầu, còn thơ ấu không hiểu biết. Trong mười năm thứ hai,
có ít nhiều tri thức nhưng chưa thông suốt. Trong mười năm
thứ ba, lòng ái dục mạnh mẽ, tham đắm sắc. Trong mười
năm thứ tư, nhiều kỹ thuật, việc làm không đúng. Trong
mười năm thứ năm, hiểu nghĩa rõ ràng, việc học không quên.
Trong mười năm thứ sáu, tham tiếc tài sản, ý không quyết
định. Trong mười năm thứ bảy, lười biếng ưa ngủ, thể
tánh chậm chạp. Trong mười năm thứ tám không còn tâm ý
mạnh mẽ, cũng không trang điểm sửa soạn. Trong mười năm
thứ chín nhiều bệnh mệt mỏi, mặt nhăn. Trong mười năm
thứ mười, các căn mờ kém, gân cốt lỏng lẻo, quên nhiều,
lẫn lộn.
Tỳ-kheo
nên biết! Giả sử người sống đến trăm tuổi, sẽ trải
qua những hoạn nạn như vậy. Giả sử người thọ mạng trăm
năm, sẽ trải qua ba trăm mùa đông, hạ, thu, so với thọ mạng
kia không đủ nói. Nếu người thọ trăm tuổi sẽ ăn ba vạn
sáu ngàn bữa ăn, trong khoảng đó hoặc có khi không ăn, như
giận không ăn, không được cho không ăn, bệnh không ăn. Tính
kể lúc ăn và không ăn và khi bú sữa mẹ, nói tóm lại thì
có ba vạn sáu ngàn lần ăn. Này Tỳ-kheo! Nếu người sống
trăm tuổi thì trạng thái ăn uống của người ấy theo giới
hạn của số năm là như thế.
Tỳ-kheo
nên biết! Nhân dân ở cõi Diêm-phù-đề, hoặc có khi thọ
mạng rất dài, đồng như thọ mạng vô lượng. Về đời
quá khứ lâu xa, không thể tính kể, có nhà vua tên Liệu Chúng
Bệnh, thọ mạng rất dài, dung mạo đoan chánh, được vui
vô lượng. Thời đó không có những tai họa về bệnh, già,
chết. Bấy giờ có hai vợ chồng sanh một đứa con, đứa
bé chết, lúc đó cha mẹ nó bồng dậy khiến ngồi và đưa
thức ăn cho, nhưng đứa bé không ăn không uống cũng không
ngồi lên. Vì sao thế? Vì nó đã chết. Khi ấy cha mẹ nó
liền nghĩ: 'Hôm nay con ta vì sao giận hờn không chịu ăn uống,
cũng chẳng nói năng?'. Vì sao? Vì nh