LI.
Phẩm Phi thường
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Thế
nào, Tỳ-kheo các Thầy lưu chuyển sanh tử trải qua bao khổ
não, trong đó buồn khóc nước mắt rơi là nhiều chăng? Hay
nước sông Hằng nhiều?
Các
Tỳ-kheo đến trước bạch Phật:
- Chúng
con khi quan sát ý nghĩa câu nói của Như Lai, trải qua sanh tử,
nước mắt rơi khi buồn khóc nhiều hơn nước sông Hằng.
Phật
bảo Tỳ-kheo:
- Lành
thay, lành thay! Các Tỳ-kheo! Như các thầy nói không khác. Các
Thầy ở trong sanh tử, nước mắt nhiều hơn nước sông Hằng.
Vì sao thế? Ở trong sanh tử, cũng vì phụ mẫu mạng chung,
khi ấy khóc lóc không thể tính kể. Lâu dài cha con, chị em,
vợ con, ngũ thân và các quyến thuộc ân ái thương nhớ khóc
lóc không thể tính kể.
Cho
nên, này các Tỳ-kheo, nên chán họa sanh tử, xa lìa pháp ấy.
Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Khi
Phật nói pháp này, có sáu mươi Tỳ-kheo được lậu tận
ý giải.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
2.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Thế
nào, Tỳ-kheo các Thầy, ở trong sanh tử thân thể hủy hoại,
máu chảy có nhiều chăng? Hay nước sông Hằng nhiều?
Các
Tỳ-kheo bạch Phật :
- Như
chúng con quan sát lời nói của Như Lai, máu chảy nhiều hơn
nước sông Hằng.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
- Lành
thay, lành thay, các Tỳ-kheo! Như các Thầy nói, máu chảy nhiều
hơn nước sông Hằng. Vì sao như thế? Ở trong sanh tử, hoặc
làm bò, dê, heo, chó, ngựa, chim thú và vô số các loài khác
nhau, trải qua khổ não. Thật đáng chán họa hoạn, nên nghĩ
xa lìa. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Khi
đức Thế Tôn nói pháp này, có sáu mươi Tỳ-kheo được lậu
tận ý giải.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
3.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Nên
tư duy về tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường.
Ðã tư duy tưởng vô thường, luu bố rộng tưởng vô thường
thì sẽ đoạn sạch hết dục ái, sắc ái, vô sắc ái, vô
minh, kiêu mạn thảy đều trừ hết. Cũng như đem lửa đốt
cây cỏ cháy sạch không còn sót, Tỳ-kheo nên biết, nếu tư
duy về tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường
thì sẽ đoạn dứt hết ái trước trong ba cõi. Xưa có quốc
vương tên Thanh Tịnh Âm Hưởng thống lãnh cõi Diêm-phù-đề,
có tám vạn bốn ngàn thành ấp, có tám vạn tám đại thần,
có tám vạn bốn ngàn cung nhơn thể nữ, mỗi thể nữ có
bốn người hầu hạ. Ðại vương Âm Hưởng không có con nối
dõi. Ðại vương bèn nghĩ: 'Nay ta thống lãnh quốc gia này,
dùng pháp cai trị không cong vạy. Nhưng nay ta không người
kế tục, nếu ta chết, sau đó dòng tộc sẽ đoạn diệt'.
Nhà vua do nhân duyên cầu con, nên tự quy y chư thiên long, Quỷ
thần, nhật nguyệt tinh tú, tự quy y Thích Phạm, Tứ thiên
vương, sơn thần, thọ thần, dưới đến các thần thảo mộc,
hoa quả, xin cầu được phước khiến vua sanh con.
Bấy
giờ, nơi cung trời Ba mươi ba có một Thiên tử tên Tu-bồ-đề,
mạng sống sắp hết, có năm điềm ứng tự đến ép ngặt
thân. Thế nào là năm? Hoa của chư Thiên trọn không héo, Thiên
tử này hoa đội đầu cũng héo. Y phục chư Thiên không có
bụi nhơ, y phục của Thiên tử này sanh bụi nhơ. Hơn nữa,
thân thể của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba thơm sạch, ánh
sáng chói lòa, bấy giờ thân của Thiên tử này hôi dơ không
thể đến gần. Lại chư Thiên cõi trời Ba mươi ba thường
có ngọc nữ vây quanh trước sau, ca hát đờn địch ngũ dục
tự do vui thích, Thiên tử này mệnh sắp hết, các ngọc nữ
ly tán. Lại, chư Thiên cõi trời Ba mươi ba có tòa ngồi tự
nhiên ấn sâu vào đất bốn thước, khi chư Thiên đứng lên,
tòa rời đất bốn thước, song Thiên tử này sắp mạng chung
nên không thích tòa của mình. Ðó gọi là năm điềm ứng
hiện tự nhiên bứt ngặt.
Khi
thiên tử Tu-bồ-đề do những điềm ứng này, Thích-đề-hoàn-nhân
bảo một Thiên tử:
- Ông
hãy đến cõi Diêm-phù, bảo với vua Âm Hưởng rằng: 'Thích-đề-hoàn-nhân
hỏi thăm Ðại vương, ngồi nằm khinh an, đi đứng mạnh khỏe.
Cõi Diêm-phù-đề không có người đức độ để làm con Ðại
vương, nay cõi trời Ba mươi ba có một Thiên tử tên Tu-bồ-đề,
có năm điều ứng hiện tự nhiên bức bách trên thân, chắc
sẽ giáng thần làm con Ðại vương, tuy thế vào lúc tuổi
thanh niên cường tráng, chắc sẽ xuất gia học đạo, tu Phạm
hạnh vô thượng'
Vị
Thiên tử ấy đáp:
- 'Thưa
vâng ! Ðại vương'.
Thiên
tử ấy vâng lời dạy của Ðế Thích, trong khoảng lực sĩ
duỗi tay, từ cõi Ba mươi ba ẩn, đến cõi Diêm-phù. Bấy
giờ vua Âm Hưởng đang ở trên lầu cao, cùng với một người
cầm lọng che. Khi ấy, Thiên tử kia ở trên lầu, nơi hư không
bảo nhà vua:
- 'Thích-đề-hoàn-nhân
kính lời thăm Ðại vương, dạo đi mạnh khỏe, ngồi đứng
khinh an. Cõi Diêm-phù không có người đức độ để làm con
Ðại vương, nay cõi trời Ba mươi ba có vị Thiên tử tên
Tu-bồ-đề, nay có năm điềm ứng bức ngặt nơi thân, sẽ
giáng thần làm con Ðại vương. Nhưng vào tuổi thanh niên ắt
sẽ xuất gia học đạo, tu Phạm hạnh vô thượng'.
Vua
Âm Hưởng nghe lời ấy rồi, vui mừng phấn khởi không thể
tự kềm, liền bảo vị Thiên tử kia:
- 'Nay
đến đây bảo cho như vậy, thật hạnh phúc vô cùng. Xin cứ
giáng hạ làm con tôi, muốn cầu xuất gia thì tôi trọn không
trái ý'.
Vị
thiên tử kia trở về chỗ Thích-đề-hoàn-nhân, liền thưa
rằng:
- 'Vua
Âm Hưởng rất vui mừng. Và thưa lại rằng: 'Xin cứ giáng
thần, nếu muốn xuất gia thì tôi trọn không trái ý'.
Thích-đề-hoàn-nhân
bèn qua chỗ Thiên tử Tu-bồ-đề, bảo thiên tử Tu-bồ-đề:
- 'Nay
Ông nên phát nguyện sanh vào cung của vua Âm Hưởng. Vì sao
thế ? Vua Âm Hưởng không có thái tử, thường dùng Chánh
pháp trị dân. Xưa Ông có phước, tạo các công đức, nay
nên giáng thần sanh vào cung vua ấy'.
Thiên
tử Tu-bồ-đề thưa:
- 'Thôi,
thôi, Thiên vương! Tôi không thích nguyện sanh trong cung vua
cõi Người, ý tôi muốn xuất gia học đạo, ở trong cung vua
học đạo rất khó'.
Thích-đề-hoàn-nhân
bảo:
- 'Ông
nên phát nguyện sanh trong cung vua ấy, Ta sẽ ủng hộ cho Ông
được xuất gia học đạo'.
Tỳ-kheo
nên biết! Khi ấy Thiên-tử Tu-bồ-đề liền phát thệ nguyện
sanh trong cung vua. Vua Âm Hưởng cùng đệ nhất phu nhân giao
tiếp nhau, phu nhân biết mình mang thai, bèn thưa cùng vua Âm
Hưởng:
- 'Ðại
vương nên biết ! Nay tôi biết có mang thai'.
Vua
nghe rồi, vui mừng hớn hở, liền đem nệm quý báu, trải
tòa ngồi tốt đẹp, dùng món ăn ngon cho phu nhân như vua không
khác. Trải qua tám chín tháng, phu nhân sanh một hoàng nam rất
đoan chánh, dung mạo phi thường ít có trong đời. Vua Âm Hưởng
cho mời các ngoại đạo Phạm chí, quần thần bảo xem tướng,
vua đem đầu đuôi mọi việc trình bày hết cho các tướng
sư.
Các
Bà-la-môn tâu bày:
- 'Xin
thưa Ðại vương, theo lý lẽ này thì nay sanh Thái tử rất
đặc biệt trong đời, xưa làm Thiên tử tên Tu-bồ-đề, nay
y theo tên cũ cũng gọi là Tu-bồ-đề'.
Các
tướng sư đặt tên hiệu rồi, liền rời chỗ ngồi lui ra.
Vương
tử Tu-bồ-đề, được vua thương mến không hề rời mắt.
Vua Âm Hưởng bèn khởi nghĩ: 'Ta xưa nay không có con, vì muốn
cầu con nên lễ bái chư Thiên, để được con. Trải qua bao
lâu nay mới sanh thái tử. Song Thiên đế có dự báo, thái
tử sẽ xuất gia học đạo. Nay ta phải tìm chước khéo để
thái tử đừng xuất gia học đạo'.
Khi
ấy, vua Âm Hưởng vì thái tử mà thiết lập cung điện ba
mùa, mùa đông lập cung điện ấm, mùa hạ lập cung điện
mát, mùa không lạnh không nóng lập cung điện thích hợp.
Vua lại lập nên bốn cung cho cung nữ ở, cung thứ nhất có
sáu vạn thể nữ, cung thứ hai có sáu vạn thể nữ, cung thứ
ba có sáu vạn thể nữ, cung thứ tư có sáu vạn thể nữ.
Có bốn thị tùng cung cấp ngoài tòa ngồi cho thái tử. Nếu
thái tử Tu-bồ-đề muốn đạo chơi phía trước, các thể
nữ liền đứng hầu ở trước, lúc ấy sàng tòa di chuyển
theo thân mình, phía trước có sáu vạn thể nữ và bốn thị
gia. Nếu ý Thái tử muốn dạo chơi phía sau, thì sàng tòa
tùy theo thân di chuyển. Nếu thái tử muốn vui chơi cùng các
thể nữ, lúc ấy sàng tòa cũng tùy thân di chuyển, khiến
cho thái tử Tu-bồ-đề ý đắm trong ngũ dục không thích xuất
gia.
Khi
ấy Thích-đề hoàn-nhân vào lúc nửa đêm vắng người, liền
đến chỗ vương tử Tu-bồ-đề, ở trên hư không bảo:
- 'Vương
tử! Ngày xưa Vương tử có khởi ý niệm này chăng? Rằng
'nếu ta ở nhà, lúc tuổi tráng niên sẽ xuất gia học đạo';
ngày nay vì sao vui trong ngũ dục, ý lại không nguyện xuất
gia học đạo? Ta cũng có lời rằng sẽ khuyến khích vương
tử khiến xuất gia học đạo. Nay chính đúng lúc, nếu không
xuất gia học đạo, sau hối hận vô ích'
Thích-đề-hoàn-nhân
nói lời ấy rồi liền lui đi.
Vương
tử Tu-bồ-đề ở trong cung bèn khởi nghĩ: 'Vua cha đã vì
ta làm lớp lưới ái dục, vì lưới ái dục này nên không
xuất gia học đạo được. Nay ta phải đoạn dứt lưới này,
không để cho uế trượt câu dắt, dùng lòng tin kiên cố xuất
gia học đạo, ở chỗ vắng, siêng học kinh khiến cho ngày
thêm tiến'.
Vương
tử lại khởi ý này: 'Phụ vương Âm Hưởng cho sáu vạn thể
nữ vây quanh trước sau. Nay ta nên quan sát có lý nào tồn
tại vĩnh viễn ở thế gian chăng? 'Khi ấy Vương tử quan sát
khắp trong cung, không có người nữ nào tồn tại lâu ở thế
gian. Tu-bồ-đề lại khởi niệm này: 'Nay cớ gì ta quan sát
ngoại vật ? Nên quan sát trong thân, nhân duyên khởi lên. Nay
trong thân này có những thứ thuộc về tóc, lông, răng, móng,
xương, tủy được tồn tại lâu chăng?' Vương tử quan sát
từ đầu đến chân ba mươi sáu vật ô uế bất tịnh, do
tự quan sát thấy rằng không một chút gì có thể tham đắm,
cũng không có gì chân thật, toàn là huyễn ngụy, đều trở
về không, không tồn tại lâu cả đời.
Vương
tử Tu-bồ-đề bèn khởi ý niệm: 'Nay ta sẽ cắt đứt lớp
lưới này, xuất gia học đạo'. Khi đó Tu-bồ-đề quán thâm
năm thọ ấm này: Ðây là sắc khổ, đây là sắc tập, đây
là sắc diệt, đây là sắc xuất yếu. Thọ, tưởng, hành,
thức đều khổ cho đến thức tập, thức diệt, thức xuất
yếu. Quán thân năm thọ ấm này rồi, những pháp tập đều
là pháp tận. Tu-bồ-đề liền ở chỗ ngồi được thành
Bích chi Phật. Lúc đó, đức Bích-chi Phật Tu-bồ-đề do giác
thành Phật, bèn nói kệ:
Ta
biết cội gốc dục,
Ý
do tư tưởng sanh
Ta
không nhớ nghĩ dục,
Ắt
dục không có mặt.
Ðức
Bích-chi Phật nói kệ này rồi, bay trên hư không mà đi, đến
một ngọn núi ngồi dưới cội cây, nơi vô dư Niết-bàn mà
nhập Niết-bàn.
Bấy
giờ vua Âm hưởng bảo các cận thần:
- 'Ông
đến nội cung của vương tử Tu-bồ-đề xem vương tử có
vui chơi an ổn chăng!'
Ðại
thần vâng lệnh vua, liền đi qua nội cung của vương tử,
song nội thất đóng chắc chắn. Ðại thần bèn trở về,
tâu vua:
- 'Vương
tử ngủ say an ổn, cửa cung đóng chắc chắn'.
Nhà
vua lại ba phen bảo:
- 'Ông
hãy qua xem vương tử có ngủ ngon chăng!'
Ðại
thần lại đi đến cửa cung, song cửa cài chắc, lại trở
về tâu vua:
- 'Vương
tử ở trong cung ngủ say không hay biết, cửa đóng kín đến
giờ chưa mở'.
Khi
ấy vua Âm Hưởng lại khởi niệm: 'Vương tử con ta khi nhỏ
còn chẳng ngủ say, huống gì ngày nay tráng niên sung thạnh
lại ngủ say ư ? Nên tự sang xem biết con lành dữ, con ta có
tật bệnh gì chăng!' Nhà vua liền sang đến nội cung của
Tu-bồ-đề, đến ngoài cửa bảo một người:
- 'Ông
thử trèo tường vào cung mở cửa cho ta'.
Người
ấy vâng lệnh vua bèn trèo qua tường, vào cung mở cửa cho
nhà vua. Vua vào xem xét trong cung, thấy giường nằm trống
không chẳng có vương tử, bèn hỏi thể nữ:
- 'Vương
tử Tu-bồ-đề, hiện giờ ở đâu?'
Các
thể nữ tâu:
- 'Chúng
tôi cũng không biết vương tử ở đâu'.
Vua
Âm Hưởng nghe lời ấy, ngã xuống đất giây lâu mới tỉnh.
Vua bèn bảo quần thần:
- 'Con
ta khi còn nhỏ sang ý niệm rằng: 'Khi lớn lên sẽ cạo bỏ
râu tóc, mặc ba pháp y, do lòng tin kiên cố xuất gia học đạo'.
Nay chắc vương tử đã bỏ ta, xuất gia học đạo. Các ông
nên đi bốn phía tìm kiếm vương tử xem ở đâu'.
Tức
thời quần thần cỡi xa mã rong ruổi nơi nơi tìm kiếm . Bấy
giờ có một đạo thần đi đến núi đó, giữa đường bèn
khởi nghĩ: 'Nếu vương tử Tu-bồ-đề xuất gia học đạo,
chắc sẽ ở đây học đạo'. Ðại thần xa thấy vương tử
Tu-bồ-đề ngồi kiết-già dưới một cội cây. Ðại thần
ấy bèn nghĩ : 'Ðây chính là vương tử Tu-bồ-đề'. Ðại
thần nhìn kỹ, quan sát rồi trở về chỗ vua tâu rằng :
- 'Vương
tử Tu-bồ-đề ở gần đây, ngồi kiết-già dưới gốc cây
trong núi'.
Vua
Âm Hưởng nghe nói, liền đi đến núi đó, xa thấy Tu-bồ-đề
ngồi kiết-già dưới gốc cây trong núi, vua lại ngã xuống
đất: 'Con ta khi xưa tự thệ nguyện đến năm hai mươi tuổi
sẽ xuất gia học đạo; nay đã không lầm. Lại Thiên đế
có bảo: 'Con Ðại vương chắc sẽ học đạo'.
Khi
ấy vua Âm Hưởng đến thẳng trước mặt Tu-bồ-đề bảo:
- 'Nay
Con vì cớ gì bỏ ta mà xuất gia học đạo?'
Bích-chi
Phật im lặng không đáp.
Vua
lại bảo:
- 'Mẹ
con rất lo buồn, đợi gặp con mới ăn, nên đứng lên đi
về cung'.
Bích-chi
Phật cũng không nói không rằng, ngồi im lặng. Vua Âm Hưởng
bước tới nắm tay cũng không lay động. Vua liền bảo quần
thần:
- 'Vương
tử đã chết. Trước đây Thích-đề-hoàn-nhân có đến bảo
ta rằng: 'Ðại vương được con, nhưng sẽ xuất gia học đạo'.
Nay vương tử xuất gia học đạo, nay nên đem xá-lợi này
về cõi nước hoát mình'.
Ðang
lúc chuẩn bị thiêu, các thần trong núi hiện nửa thân hình
tâu nhà vua:
- 'Ðây
là Phật Bích-chi, không phải là vương tử, pháp thiêu xá-lợi
không phải như pháp thiêu vương tử. Vì sao thế? Tôi là đệ
tử cửa chư Phật quá khứ, chư Phật có dạy thế này: Ở
đời có bốn hạng người nên xây tháp. Thế nào là bốn?
Bậc Như Lai chí Chơn Ðăng Chánh Giác nên xây tháp; Bích-chi
Phật nên xây tháp, bậc A-la-hán lậu tận, đệ tử của Như
Lai nên xây tháp, hàng Chuyển luân Thánh Vương nên xây tháp.
Khi hỏa thiêu thân Chuyển luân Thánh vương cũng như hỏa thiêu
thân Phật và thân Bích-chi Phật không khác'.
Vua
Âm Hưởng hỏi Thiên:
- 'Nên
cúng dường và hỏa thiêu thân Chuyển luân Thánh vương thế
nào?'
Thọ
thần bảo:
- 'Thân
Chuyển luân Thánh vương nên làm kim quan bằng sát, dùng dầu
thơm rửa thân Chuyển luân Thánh vương, rồi dùng vải trắng
quấn quanh thân, vải gấm thêu bọc bên ngoài, đặt vào kim
quan, đậy nắp quan bằng sắt, đóng đinh cẩn thận. Lại
dùng một trăm lớp vải trắng bao quanh kim quan, rưới các
thứ nước thơm trên chỗ đất ấy kim quan đặt vào giữa,
cúng dường hương hoa bảy ngày bảy đêm, treo phan lọng, đánh
kỹ nhạc. Sau bảy ngày mới đem thiêu, nhặt xá-lợi rồi
trải qua bảy ngày bảy đêm cúng dường không ngớt. Xây tháp
tại ngã tư đường, dùng các thứ hương hoa, phan lọng cúng
dường.
Ðại
vương nên biết! Cúng dường xá-lợi của Chuyển luân Thánh
vương, việc ấy như thế. Ðối với các đức Phật, các
vị Bích-chi Phật và A-la hán cũng lại như thế'.
Vua
Âm Hưởng bảo Thiên thần:
- 'Do
nhân duyên gì cúng dường thân Chuyển luân Thánh vương? Do
nhân duyên gì cúng dường thân Phật, thân Bích-chi Phật, thân
A-la hán?'.
Thiên
thần bảo:
-Chuyển
luân Thánh vương dùng cai trị, tự mình không sát sanh, lại
dạy người khác không sát sanh; tự chẳng lấy trộm, lại
dạy người khác không lấy trộm; tự mình không dâm dục,
lại dạy người khác không xâm phạm vợ người; tự mình
không nói dối, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt khiến đôi
bên đấu tranh, ganh ghét, sân, si; ý mình chuyên chánh, thường
hánh chánh kiến, cũng khiến người khác tập theo chánh kiến.
Ðại vương! Do nhân duyên này nên xây tháp thờ Chuyển luân
Thánh vương'.
Vua
lại hỏi Thiên thần.
- 'Do
nhân duyên gì nên xây tháp đối với bậc A-la hán lậu tận?'
Thiên
thần bảo:
- 'Hàng
Tỳ-kheo lậu tận A-la hán, dục ái đã dứt, sân nhuế ngu
si đã trừ, đã vượt qua hữu lậu đến chỗ vô vi, là ruộng
tốt, bạn lành của thế gian. Do nhân duyên ấy nên xây tháp
đối với bậc A-la hán lậu tận'.
Vua
lại hỏi:
- 'Do
nhân duyên gì nên xây tháp đối với đức Phật Bích-chi?'.
Thiên
thần bảo:
- 'Ðức
Bích-chi Phật không thầy tự ngộ, ra đời rất hiếm; được
pháp báo hiện tại ra khỏi đường ác, khiến người sanh
cõi Trời. Do nhân duyên ấy, nên xây tháp đối với Bích-
chi Phật'.
Vua
lại hỏi:
- 'Do
nhân duyên gì nên xây tháp cho Như Lai?'
Thiên
thần bảo:
- 'Như
Lai đầy đủ mười lực. Mười lực này chẳng phải Bích-chi,
Thanh văn sánh kịp, Chuyển luân Thánh vương không sánh kịp,
hạng ngu si ở thế gian không sánh kịp. Như Lai với người
không được độ khiến cho được độ, người không giải
thoát khiến cho giải thoát, người chưa nhập Niết-bàn khiến
cho được Niết-bàn, che chở con người không ai cứu hộ,
làm mắt cho người mù, làm bậc đại y vương cho người đau.
Trời, Người, Ma và Thiên ma đều sùng phụng, rất đáng kính
đánh quý. Xoay nẻo ác thành đường lành. Ðại vương! Do
nhân duyên ấy nên xây tháp đối với Như Lai. Ðại vương!
Do nhân duyên gốc ngọn này, mà đối với bốn hạng người
nên xây tháp'.
Vua
Âm Hưởng bảo vị thần:
- 'Lành
thay, lành thay, Thiên thần! Nay tôi vâng lời dạy khiến cúng
dường xá-lợi này như cúng dường Bích-chi Phật.
Bấy
giờ vua Âm Hưởng bảo mọi người:
- 'Các
ông nên đưa xá-lợi của đức Bích-chi phật Tu-bồ-đề về
nước'.
Quần
thần nghe lệnh vua rồi, đưa thân Phật lên giường vàng trở
về nước.
Khi
ấy, vua Âm Hưởng ra lệnh làm kim quan, dùng dầu thơm tắm
gội thân Bích-chi Phật, dùng vải trắng quấn quanh thân Phật,
lại dùng gấm thêu tốt đẹp phủ bên ngoài; đặt thân vào
kim quan, đậy nắp sắt, đóng đinh thật chắc chắn, dùng
trăm lớp vải trắng bao quanh kim quan, rưới các hương thơm,
đặt kim quan vào giữa; bảy ngày bảy đêm cúng dường hương
hoa, sau bảy ngày đêm bén hỏa thiêu và nhặt xá-lợi của
ngài; lại đánh kỹ nhạc cúng dường thêm bảy đêm; nơi
ngã tư đường xây tháp, đem hoa hương, tràng phan, lọng dù,
đánh kỹ nhạc để cúng dường tháp.
Tỳ-kheo
nên biết! Nếu có chúng sanh nào cung kính cúng dường xá-lợi
của Bích-chi Phật, sau khi mạng chng bèn sanh lên cõi trời
Ba mươi ba. Có chúng sanh suy nghĩ về tưởng vô thường, sẽ
vượt khỏi ba đường ác, sanh trong cõi Trời, Người.
Này
các Tỳ-kheo! Các Thầy chớ thấy thế. Vua Âm Hưởng lúc ấy
đâu phải ai lạ, chính là thân Ta.
Người
tư duy về tưởng vô thường được nhiều lợi ích. Nay Ta
quán sát nghĩa này rồi, bảo các Tỳ-kheo nên suy nghĩ về
tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường. Do suy
nghĩ tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường,
liền được đoạn tận dục ái, sắc ái, vô sắc ái, vô
minh kiêu mạn vĩnh viễn không thừa sót; cũng như dùng lửa
đốt vỏ cây. Như trong giảng đường cao rộng tốt đẹp
cửa nẻo mở rộng, không có vật gì. Tỳ-kheo tư duy về tưởng
vô thường cũng lại như thế, đoạn dứt dục ái, sắc ái,
vô sắc ái, vĩnh viễn không thừa sót. Cho nên, các Tỳ-kheo
nên đem hết tâm ý đừng để trái mất.
Khi
Phật nói pháp này, có sáu mươi Tỳ-kheo ngay tại chỗ được
lậu tận ý giải.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
4.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Nếu
các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không đoạn dứt năm điều ngăn che
trong tâm, không trừ năm kết trong tâm thì Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
ấy trong đêm ngày, với pháp lành diệt mà không tăng thêm
lợi ích.
Thế
nào là Tỳ-kheo không đoạn dứt năm điều ngăn che? Ở đây,
Tỳ-kheo có tâm hồ nghi đối với Như Lai, không được giải
thoát, không vào Chánh pháp, tâm người ấy không ở nơi tụng
đọc. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt tâm ngăn che.
Lại,
Tỳ-kheo có tâm nghi đối với Chánh pháp, cũng không giải
thoát, không thâm nhập Chánh pháp, người ấy không đọc tụng.
Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt tâm ngăn che.
Lại,
Tỳ-kheo có tâm nghi đối với Thánh chúng, cũng không giàả
thoát, không có ý hướng hòa hợp với chúng, cũng không ở
trong pháp đạo phẩm. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt
tâm ngăn che.
Lại
nữa, Tỳ-kheo phạm cấm giới không tự hối quá, đã phạm
cấm giới không tự sửa đổi, cũng không để tâm vào trong
đạo phẩm. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt tâm ngăn
che.
Lại
nữa, Tỳ-kheo tâm ý không định mà tu Phạm hạnh, nghĩ: 'Ta
do đức của Phạm hạnh được sanh cõi Trời như các thần
tiên'. Vì Tỳ-kheo ấy do tâm hạnh này tu Phạm hạnh nên tâm
không chuyên chánh trong đạo phẩm, tâm đã không ở trong đạo
phẩm. Ðó gọi là không đoạn dứt điều ngăn che trong tâm.
Như
thế gọi là Tỳ-kheo không đoạn năm điều ngăn che trong tâm.
Thế
nào gọi là Tỳ-kheo không đoạn dứt trừ năm kết? Ở đây,
Tỳ-kheo tâm giải đãi không tìm cầu phương tiện. Tỳ Kheo
ấy đã có giải đãi không tìm cầu phương tiện nên đó
gọi là Tỳ-kheo không đoạn trừ tâm kết.
Lại
nữa, Tỳ-kheo thường quên nhiều, tham ngủ nghỉ. Tỳ-kheo
ấy do ưa quên nhiều, tham ngủ nghỉ nên gọi là Tỳ-kheo không
đoạn tâm kết thứ hai.
Lại
nữa, Tỳ-kheo ý không định, thường có nhiều rối loạn.
Tâm Tỳ-kheo ấy đã loạn, không định nên gọi là Tỳ-kheo
không đoạn trừ tâm kết thứ ba.
Lại
nữa, Tỳ-kheo căn không định. Tỳ kheo ấy đã căn không định
nên gọi là Tỳ-kheo không đoạn trừ tâm kết thứ tư.
Lại
nữa, Tỳ-kheo thường thích chỗ chợ búa, không ở chỗ vắng
vẻ. Ðó gọi là Tỳ-kheo không đoạn trừ tâm kết thứ năm.
Nếu
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni có năm điều ngăn che trong tâm không dứt,
năm kết trong tâm không trừ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy trong
đêm ngày pháp lành đoạn tuyệt, không được tăng ích. Cũng
như gà mẹ có tám hoặc mười hai trứng, không tùy thời ấp
ủ, săn sóc, không tùy thời giữ gìn. Gà mẹ ấy tuy nghĩ
rằng: 'Muốn các con được an toàn, không hư hại'. Song các
gà con rốt cuộc không an ổn. Vì sao thế? Ðều do không tùy
thời giữ gìn nên như vậy, sau trứng ấy bị hỏng không
thành gà con. Ðây cũng như thế, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-khèo-ni,
năm tâm kết không đoạn, năm tâm ngăn che không trừ, trong
đêm ngày thiện pháp bị diệt không tăng ích. Nếu Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni, tâm năm kết đoạn, tâm năm ngăn che trừ, trong
đêm ngày pháp lành tăng ích không bị tổn giảm. Cũng như
gà có tám hoặc mười hai trứng, tùy thời giữ gìn, tùy thời
săn sóc, tùy thời ấp ủ. Dù cho gà mẹ có ý niệm: 'Muốn
con ta hoàn toàn không thành tựu', các gà con tự nhiên thành
tựu an ổn. Vì sao thế ? Vì tùy thời săn sóc khiến được
vô sự, khi ấy các gà con đúng lúc ra khỏi vỏ. Ðây cũng
như thế, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni năm điều ngăn che trong
tâm đoạn dứt, tâm năm kết trừ, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy
ở trong đêm ngày pháp lành tăng ích, không tổn giảm.
Cho
nên Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nên phát sanh tâm không do dự hồ nghi
đối với Phật, không do dự hồ nghi với Pháp, với chúng
Tăng, đầy đủ giới luật, tâm ý chuyên chánh không tán loạn,
cũng không khởi ý trông mong pháp khác, cũng không cầu may
mà tu Phạm hạnh, nghĩ rằng : 'Ta sẽ dùng pháp này được
thân Trời thần diệu tôn quý'.
Nếu
có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không hồ nghi do dự đối với Phật,
Pháp, Thánh chúng, cũng không phạm giới, không để lọt mất;
nay Ta bảo các Thấy, căn dặn phó chúc các Thầy rằng Tỳ-kheo
ấy sẽ hướng đến hai đường hoạc sanh cõi Trời hoặc
trong loài Người. Cũng như người ở trong chỗ rất nóng,
lại thêm đói khát, gặp được chỗ mát mẻ, được suối
mát, nước uống, người ấy tuy nghĩ rằng : 'Ta gặp nước
trong mát để uống cũng không hết khát'. Nhưng người ấy
đã dứt hết nóng bức, trừ được đói khát. Ðây cũng như
thế, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni không do dự hồ nghi đối với
Như Lai, Tỳ-kheo ấy liền hướng đến hai nơi, hoặc sanh cõi
Trời hoặc trong loài Người.
Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni nên tìm phương tiện đoạn trừ năm điều ngăn
che, dứt năm kết trong tâm. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên
học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
5.
Tôi nghe như vầy :
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có
lúc uy thế của nhà vua không trùm khắp, đạo tặc nổi lên.
Ðạo tặc đã dấy thì thôn xóm, gia đình, thành ấp, nhân
dân đều bại vong, hoặc gặp đói khát mà chết. Nếu chúng
sanh nào chết trong lúc đói khát, thì sẽ rơi vào ba đường
ác.
Nay
Tỳ-kheo tinh tấn cũng lại như thế. Nếu người trì giới
giảm thiểu, bấy giờ Tỳ-kheo ác nổi dậy. Tỳ-kheo ấy đã
dấy lên thì Chánh pháp dần dần suy, phi pháp đã tăng, chúng
sanh trong ấy đều rơi trong ba đường ác.
Nếu
khi ấy uy thế nhà vua lại lan xa thì đạo tặc đều ẩn núp.
Uy thế nhà vua đã vang xa thì làng xóm, thành ấp, nhân dân
đông đúc. Nay Tỳ-kheo tinh tấn cũng lại như thế. Nếu người
trì giới đầy đủ thì bấy giờ Tỳ-kheo phạm giới giảm
thiểu, Chánh pháp hưng thạnh, phi pháp suy giảm. Trong đó,
chúng sanh sau khi mạng chung đều sanh lên cõi Trời, cõi Người.
Cho
nên, này các Tỳ-kheo, nên nhớ đầy đủ giới luật, oai nghi
lễ độ, đừng để khuyết giảm. Như thế, này các Tỳ-kheo,
nên học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
6.
Tôi nghe như vầy :
Một
thời đức Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp
Cô Ðộc.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Chẳng
thà thường ngủ nghỉ chứ không ở trong lúc tỉnh táo tư
duy loạn tưởng, thân hoại mạng chung rơi vào đường ác.
Chẳng thà dùng dùi sắt nóng nung vào mắt chứ không do nhìn
màu sắc mà khởi loạn tưởng. Tỳ-kheo khởi tưởng bị thức
đánh bại, Tỳ-kheo đã bị thức đánh bại, ắt sẽ rơi vào
ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì vậy nay Ta
nói như thế.
Người
ấy thà ngủ nghỉ chứ không ở trong lúc tỉnh táo mà tư
duy loạn tưởng. Thà dùng dùi bén đâm lủng lỗ tai chứ không
vì nghe tiếng mà khởi loạn tưởng. Tỳ-kheo khởi tưởng
bị thức đánh bại.
Thà
thường ngủ nghỉ chứ không ở trong lúc tỉnh táo mà khởi
loạn tưởng. Thà dùng kềm nóng làm đứt lỗ mũi chứ không
do ngửi mùi, mà khởi loạn tưởng. Tỳ-kheo khởi tưởng bị
thức đánh bại. Ðã bị thức đánh bại sẽ rơi trong ba đường
ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ðiều Ta nói chính là điều
này.
Thà
dùng kiếm bén cắt đứt lưỡi chứ không nói lời ác, mắng
chửi để rơi trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh.
Thà
thường ngủ nghỉ chứ không ở lúc tỉnh táo mà khởi loạn
tưởng. Thà dùng lá đồng nóng quấn thân chứ không giao tiếp
với các người nữ, trưởng giả, cư sĩ, Bà-la-môn. Nếu
cùng họ giao tiếp nói năng qua lại, ắt sẽ rơi trong ba đường
ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ðiều Ta nói chính là điều
này
Thà
thường ngủ nghỉ chứ không ở lúc tỉnh táo mà có ý tưởng
muốn phá hoại Thánh chúng. Ðã phá hoại Thánh chúng sẽ phạm
vào tội năm nghịch, dù ngàn ức chư Phật cũng không thể
cứu. Phàm người gây rối loạn trong chúng, ắt sẽ bị tội
không thể cứu. Cho nên nay Ta nói, chẳng thà hay ngủ nghỉ
chứ không nên khi tỉnh táo, ý khởi niệm muốn phá hoại
Thánh chúng, chịu tội không thể cứu.
Cho
nên, này Tỳ-kheo, nên giữ gìn sáu tình, đừng để rơi mất.
Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này!
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
7.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, trưởng giả A-na-bân-để có bốn con trai không thừa
sự Phật, Pháp, Thánh chúng, cũng chẳng tự quy mạng Phật,
Pháp, Thánh chúng. Lúc ấy trưởng giả A-na-bân-để bảo bốn
con trai:
- Các
con nên tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng, sẽ được phước
vô lượng lâu dài.
Các
con thưa cha:
- Chúng
con không kham quy y Phật, Pháp, Thánh chúng.
Trưởng
giả A-nê-bân-để nói:
- Nay
ta sẽ tặng mỗi con ngàn lượng vàng, nếu theo lời ta dạy
quy y Phật, Pháp, Thánh chúng.
Các
con thưa:
- Con
không kham quy y Pháp, Phật, Thánh chúng.
Cha
lại bảo:
- Cha
tặng thêm mỗi con hai ngàn, ba ngàn, bốn ngàn, năm ngàn lượng
vàng. Các con nên tự quy y hật, Pháp, Thánh chúng, được phước
vô lượng lâu dài.
Các
con nghe lời, im lặng nhận chịu. Các người con nói với trưởng
giả A-na-bân-để:
- Chúng
con làm thế nào để tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng?
Trưởng
giả A-na-bân-để nói:
- Các
con nên theo ta đến chỗ đức Thế Tôn. Nếu Thế Tôn có dạy
bảo, các con nên ghi nhớ vâng theo.
Các
con thưa cha:
- Ðức
Như Lai hiện nay ở đâu? Gần hay xa?
Người
cha bảo:
- Nay
đấng Như Lai Chí Chơn Ðăng Chánh Giác hiện tại ở nước
Xá-vệ, nghỉ trong vườn của ta.
Khi
ấy, Trưởng giả A-na-bân-để dẫn bốn người con đến chỗ
đức Thế Tôn, đến nơi cúi đầu lễ chân Phật, lui ngồi
một bên. Trưởng giả bạch Phật:
- Nay
bốn người con của con không tự quy y Phật, Pháp, Thánh chúng.
Hôm nay con tặng mỗi đứa năm ngàn lượng vàng, khuyến khích
chúng vâng theo Phật, Pháp, Thánh chúng. Cúi xin Thế Tôn vì
chúng thuyết pháp, khiến được phước vô lượng lâu dài.
Bấy
giờ, Thế Tôn vì bốn người con của trưởng giả, dần dần
thuyết pháp khuyến khích cho hoan hỷ. Các con của trưởng
giả nghe Phật thuyết pháp vui mừng phấn khởi không thể
tự kềm, tự quỳ trước Phật, bạch rằng:
- Chúng
con tự quy y với Thế Tôn, Chánh pháp, Thánh chúng. Từ nay
về sau chúng con không còn sát sanh,... không uống rượu.
Bạch
như thế ba lần. Trưởng giả A-na-bân-để bạch Thế Tôn:
- Nếu
có người đem tài vật cho người, khiến thừa sự Phật.
Phước ấy thế nào?
Thế
Tôn bảo:
- Lành
thay, lành thay! Trưởng giả hỏi như thế khiến người, Trời
được an lạc, mới có thể hỏi Như Lai nghĩa này. Nên khéo
suy nghĩ đó, Ta sẽ vì Ông nói:
Trưởng
giả nghe lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
- Có
bốn kho tàng lớn. Thế nào là bốn? Kho Thi-la-bát-long tại
nước Càn-đà-vệ, đây là một kho tàng, vô số trân bảo
chất đầy trong cung. Lại có kho tàng lớn ban-trù tại nước
Mật-để-la, chứa chất trân bảo không thể tính kể. Lại
có kho lớn Tần-già-la tại nước Tu-lại-sát, trân bảo tích
tụ không thể tính kể. Lại có kho lớn Nhượng-khư tại
nước Ba-la-nại, trân bảo tích tụ không thể tính kể.
Giả
sử tất cả các nam nữ lớn nhỏ trong cõi Diêm-phù-đề mỗi
người đều đến nhặt châu báu trong bốn năm, bốn tháng,
bốn ngày, kho Thi-la-bát trọn không giảm sút. Kho Ban-trù có
người cũng đến lấy trong bốn năm, bốn tháng, bốn ngày,
không hao giảm. Kho Tần-già-la bốn năm, bốn tháng, bốn ngày
mọi người đến lấy cũng không hao giảm. Kho lớn Nhượng-khư
tại nước ba-la-nại, mọi người đến lấy trong bốn năm,
bốn tháng, bốn ngày không hề sút giảm. Trưởng giả! Ðó
là bốn kho tàng lớn, nếu tất cả mọi nam nữ lão ấu của
Diêm-phù-đề đều đến lấy châu báu, trải qua bốn năm,
bốn tháng, bốn ngày, không hề giảm thiểu.
Về
đời tương lai có đức Phật tên Di-lặc xuất hiện. Bấy
giờ cõi nước tên Kê Ðầu do vua cai trị, chiều Ðông Tây
mười hai do-tuần, chiều Nam Bắc mười hai do-tuần, nhân dân
đông đảo, lúa thóc phì nhiêu. Cõi nước Kê-Ðầu, chung quanh
thành bảy lớp ao nước, mỗi ao rộng một do-tuần, cát vàng
dưới đáy, các loài hoa bát-đấu-na, hoa câu-vật-đầu, hoa
phân-đà-lợi đều mọc trong ao ấy. Nước ao màu vàng, màu
bạc, màu thủy tinh, màu lưu ly. Nếu nước màu bạc thì ngưng
đọng hóa thành bạc, nước màu vàng thì ngưng đọng hóa
thành vàng, nước màu lưu ly thì ngưng đọng hóa thành lưu
ly, nước màu thủy tinh thì ngưng đọng hóa thành thủy tinh.
Trưởng
giả nên biết! Bấy giờ có bốn thành lớn, trong ao nước
bạc làm cửa vàng, trong ao nước vàng làm cửa bạc, trong
ao lưu ly làm cửa thủy tinh, trong ao thủy tinh làm cửa lưu
ly.
Trưởng
giả nên biết! Bấy giờ chung quanh thành Ke-Ðầu treo linh,
tiếng linh phát ra nghe như tiếng ngũ nhạc. Trong thành ấy
thường có bảy thứ tiếng. Thế nào là bảy? Tiếng loa, tiếng
trống, tiếng đờn cầm, tiếng trống nhỏ, tiếng trống tròn,
tiếng trống da, tiếng ca múa là bảy.
Trong
thành Kê-Ðầu tự nhiên sanh một loại lúa dài ba tấc, rất
thơm ngon có vị thù thắng hơn hết, vừa gặt liền sanh, không
thấy dấu gặt. Bấy giờ có vua Nhượng-khư, dùng pháp cai
trị, bảy báu đầy đủ.
Trưởng
giả nên biết! Bấy giờ đại thần chủ tạng tên là Thiện
Bảo, cao đức trí tuệ thiên nhãn thứ nhứt, biết hết thảy
tất cả kho tàng báu, kho tàng có chủ thì tự nhiên giữ gìn,
kho tàng vô chủ liền đem dâng vua. Khi ấy vua rồng Thi-la-bát,
vua rồng Ban-trù, vua rồng Tần-già-la, vua rồng Nhượng-khư.
Bốn quan chủ báu của các vua rồng trên đều đi đến chỗ
quan chủ tạng Thiện Bảo, mà nói rằng:
- 'Nếu
cần gì, chúng tôi sẽ cung cấp'
Khi
ấy, bốn vua rồng nguyện dâng bốn kho tàng báu để cho đầy
kho, quan chủ tạng Thiên Bảo liền lấy bốn kho báu dâng lên
vua Nhượng-khư, châu báu, xe báu, vàng bạc tầng tầng.
Bấy
giờ, Thế Tôn bèn nói kệ:
Thi-la,
tại Càn-đà
Ban-trù,
tại Mật-để
Tần-già
nước Tu-lại.
Nhượng-khư,
nước Ba-nại.
Ðây
là bốn kho báu,
Các
kho tàng đầy dẫy,
Lúc
ấy liền xuất hiện,
Do
công đức cảm nên.
Dâng
lên bậc Thánh vương,
Vàng,
bạc, báu, xe báu
Các
thần đều ủng hộ
Trưởng
giả thọ phước ấy.
Bấy
giờ có Phật xuất thế hiệu Di-lặc, Chí Chơn Ðẳng Chánh
Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian giải, Vô Thượng
sĩ, Ðiều Ngự Trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Trưởng giả nên biết! Quan chủ tạng Thiện Bảo khi đó đâu
phải người nào lạ. Chớ nghĩ thế ấy, Vì xao? Quan chủ
tạng ấy là trưởng giả hiện nay.
Thuở
ấy, vua Nhượng-khư dùng vàng bạc làm việc phước đức
rộng rãi, cùng tám vạn bốn ngàn đại thần vây quanh trước
sau, đến chỗ đức Phật Di-lặc xuất gia học đạo. Khi đó
quan chủ tạng cũng làm việc phước đức rộng lớn, cũng
sẽ xuất gia học đạo chấm dứt mé khổ. Ðấy là do trưởng
giả hướng dẫn bốn người con khiến tự quy Phật, Pháp,
Tỳ-kheo Tăng; do công đức này mà không rơi trong ba đường
ác, cũng duyên nơi đức này được bốn kho tàng lớn; cũng
do duyên này mà làm quan chủ tạng cho vua Nhượng-khư, ngay
nơi đời ấy chấm dứt mé khổ. Vì sao thế? Quy y Phật, Pháp,
Tăng công đức không thể lường. Người tự quy y phật, Pháp,
Tăng được phước ấy như thế.
Cho
nên, này trưởng giả, nên thương xót loài hữu tình, tìm
phương tiện hướng về Phật, Pháp, Tăng . Như thế, Trưởng
giả, nên học điều này.
Bấy
giờ, trưởng giả A-na-bân-để hoan hỷ vui mừng không thể
tự kềm, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu quanh Phật
ba vòng làm lễ rồi lui ra. Bốn người con cũng lại như thế
.
Bấy
giờ, trưởng giả A-na-bân-để và bốn người con nghe Phật
dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
8.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô
Ðộc.
Bấy
giờ, trưởng giả A-na-bân-để thân có bệnh nặng. Khi ấy,
Tôn giả Xá-lợi-phất dùng thiên nhãn thanh tịnh trong suốt,
thấy trưởng giả A-na-bân-để đau nặng, liền bảo Tôn giả
A-nan:
- Thầy
đi với tôi đến chỗ trưởng giả A-na-bân-để thăm hỏi.
A-nan
đáp:
- Nên
biết đúng thời.
Bấy
giờ, A-nan đến thời đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất
thực, lần lượt đến nhà trưởng giả A-na-bân-để và vào
tòa ngồi. Xá-lợi-phất ngồi trên tòa, hỏi trưởng giả
A-na-bân-để:
Hôm
nay bệnh của ông tăng hay giảm? Sự đau đớn có giảm bớt
dần không? Tăng thêm không?
Trưởng
giả thưa:
Nay
bệnh của con có giảm rất ít, chỉ tăng chứ không giảm.
Xá-lợi-phất
bảo:
- Như
vậy, nay Trưởng giả nên nhớ đến Phật, là bậc Như Lai
Chí Chơn Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện thệ, Thế
Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế
Tôn; cũng nên nghĩ nhớ Pháp, Pháp của Như Lai rất là thâm
sâu, đáng tôn đáng quý, không gì sánh bằng, là chỗ tu hành
của Thánh chúng, cũng nên nhớ nghĩ đến Tăng chúng, chúng
của Như Lai trên dưới thuận hòa, không tranh cãi, thành tựu
các pháp. Thánh chúng giới thành tựu, tam muội thành tựu,
trí tuệ thành tựu, giải thoát thành tựu, giải thoát tri
kiến thành tựu. Tăng là các vị bốn đôi tám bậc. Ðây
gọi là Thánh chúng của Như Lai đáng tôn đáng quý, là phước
điền vô thượng của thế gian. Trưởng giả! Nếu tu hành
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tang, đức ấy không thể tính
kể, được vị cam lồ diệt tận. Nếu thiện nam tử, thiện
nữ nhân nghĩ nhớ ba ngôi báu Phật, Pháp, Thánh chúng rồi
mà rơi vào ba đường ác thì trọn không có lý ấy. Nếu thiện
nam tử, thiện nữ nhơn tu niệm ba ngôi báu, ắt sẽ đến
chỗ lành trong cõi Trời, cõi Người.
Lại
nữa, Trưởng giả! Chớ khởi tưởng về sắc, cũng đừng
y cứ sắc mà khởi thức. Chớ khởi về thanh, đừng y cứ
vào thanh mà khởi thức. Chớ khởi về hương, đừng y cứ
vào hương mà khởi thức. Chớ khởi về vị, đừng y cứ
vào vị mà khởi thức. Chớ khởi xúc giác, đừng y cứ vào
xúc mà khởi thức. Chớ khởi ái, đừng y cứ vào ái mà khởi
thức. Vì sao thế? Vì duyên ái có thọ, duyên thọ có thủ,
duyên thủ có hữu, duyên hữu có sanh tử, ưu bi khỗ não không
thể tính kể. Ðây là, có năm thạnh ấm khổ này, không có
ngã, nhơn, thọ mạng, sĩ phu, mầm móng của loài hữu tình.
Nếu
khi mắt khởi, thời không biết chỗ đến, nếu mắt diệt
thời diệt, không biết chỗ đi. Từ không mắt sinh, mắt có
rồi mắt diệt, đều do các pháp nhân duyên hội họp. Pháp
nhân duyên nghĩa là duyên đây mà có đây, không đây thì ắt
không. Ðó là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên
danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc
duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu
duyên sanh, sanh duyên tử, tử duyên ưu bi khổ não không tính
kể. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Không có
mà sanh, có rồi thì diệt; cũng không biết chỗ đến, cũng
không biết chỗ đi; đều do các pháp nhân duyên hội họp.
Này Trưởng giả! Ðây gọi là hành không, pháp đệ nhất.
Bấy
giờ Trưởng giả A-na-bân-để buồn khóc rơi lệ không ngừng.
Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi:
- Vì
sao buồn khóc như thế?
Trưởng
giả thưa:
- Con
bị cảm vì từ xưa đến nay, con thừa sự đức Phật, và
tôn kính chư Tỳ-kheo trưởng lão, cũng chưa được nghe pháp
tôn trọng như thế, như lời chỉ dạy của Tôn giả Xá-lợi-phất.
Khi
ấy, tôn giả A-nan bảo A-na-bân-để:
- Trưởng
giả nên biết! Như Lai có dạy, thế gian có hai hạng người.
Thế nào là hai? Một là biết vui, hai là biết khổ. Người
tập vui là Tôn giả Da-du-đề (Tu-bồ-đề) con nhà hào tộc.
Người tập khổ là Tỳ-kheo Bà-già-lê.
Lại
này Trưởng giả! Tỳ-kheo Tu-bồ-đề giải không đệ nhất.
Người được tín giải thoát là Tỳ-kheo Bà-già-lê. Này Trưởng
giả! Người biết khổ, người biết vui, cả hai người tâm
đều giải thoát, cả hai đều là đệ tử của Như Lai, không
ai bằng. Do hai vị ấy không chết, không sanh, hai người siêng
năng vâng lời Phật dạy không lười nhác bỏ qua. Chỉ vì
tâm có tăng giảm, nên có người biết, người không biết.
Như lời Trưởng giả nói: 'Con từ xưa đến nay thừa sự
Phật, cung kính chư Tỳ-kheo trưởng lão, ban đầu chưa nghe
được pháp tôn trọng như thế, như lời Tôn giả Xá-lợi-phất
nói'. Tỳ-kheo Tu-bồ-đề quán sát nơi đất mà tâm được
giải thoát. Tỳ-kheo Bà-già-lê quán sát nơi đạo tức thời
tâm được giải thoát. Cho nên, này Trưởng giả, nên làm
như Tỳ-kheo Bà-già-lê.
Khi
ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết pháp rộng cho Trưởng giả,
khuyến khích khiến ông hoan hỷ, khiến phát tâm vô thượng.
Xong rồi Tôn giả rời tòa đi.
Tôn
giả Xá-lợi-phất và Tôn giả A-nan đi chưa bao lâu, giây lát
trưởng giả A-na-bân- để mạng chung, liền sanh lên cõi trời
Ba mươi ba. Khi ấy, Thiên tử A-na-bân-để có được năm công
đức hơn các chư Thiên. Thế nào là năm? Là tuổi thọ trời,
sắc đẹp trời, niềm vui trời, oai thần trời, ánh sáng trời.
Thiên tử A-na-bân-để bèn khởi niệm: 'Nay ta được thân
trời này đều do ân đức của Như Lai. Nay ta không nên vui
chơi trong ngũ dục, trước hết nên đến chỗ Thế Tôn quỳ
lạy hỏi thăm'.
Thiên
tử A-na-bân-để dẫn chư Thiên vây quanh trước sau, đem các
hoa trời rải trên thân Phật. Khi ấy đức Phật đang ở tại
nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp cô Ðộc, thiên tử
ấy ở trên hư không chấp tay hướng về đức Phật, và nói
kệ:
Ðây
là vườn Kỳ-hoàn,
Chúng
tiên nhơn vui chơi,
Chỗ
Pháp vương ngự trị,
Nên
phát tâm vui mừng.
Thiên
tử A-na-bân-để nói kệ xong, đức Như Lai im lặng hứa khả,
Thiên tử ấy bèn nghĩ: 'Như Lai đã mặc nhiên hứa khả, ta
nên cả thần túc, ngồi một bên'. Thiên tử A-na-bân-để
bạch Phật:
- Con
là Tu-đạt, cũng có tên là A-na-bân-để mọi người biết
rõ, là đệ tử của Như Lai, vâng lời dạy tôn thánh, nay
mạng chung sanh lên trời Ba mươi ba.
Thế
Tôn bảo:
- Ông
do ân đức gì nay được thân Trời này?
Thiên
tử bạch Phật:
- Nhờ
oai lực của Thế Tôn, được thọ thân Trời.
Thiên
tử A-na-bân-để lại dùng hoa trời rải trên thân Như Lai,
cũng rải trên A-nan và Xá-lợi-phất, đi nhiễu quanh tinh xá
Kỳ-hoàn bảy vòng, rồi ẩn không hiện.
Sáng
ngày, Thế Tôn bảo A-nan:
- Ðêm
qua, có Thiên tử đến chỗ Ta, nói kệ:
Ðây
là vườn Kỳ hoàn,
Chúng
tiên nhơn vui chơi,
Chỗ
Pháp vương ngự trị,
Nên
phát tâm vui mừng.
Thiên
tử ấy đi nhiễu quanh vườn Kỳ-hoàn bảy vòng rồi đi. A-nan!
Thầy biết Thiên tử ấy chăng?
A-nan
bạch Phật:
- Chắc
là Trưởng giả A-na-bân-để.
Phật
bảo:
- Như
lời Thầy nói. Lành thay! Thầy có thể dùng trí vi tri mà biết
được thiên tử ấy. Vì sao? Ðó là Thiên tử A-nan-bân-để.
A-nan
bạch Phật:
- A-na-bân-để
nay sanh cõi trời tên là gì?
Phật
bảo:
- Cũng
tên A-na-bân-để. Vì sao thế? Ngay hôm Thiên tử ấy sanh, chư
thiên ai cũng nói: 'Thiên tử này khi ở cõi Người là đệ
tử của Như Lai, thường đem tâm bình đẳng bố thí tất
cả, cứu giúp kẻ cùng khổ thiếu thốn; làm công đức ấy
rồi, nay là vị Trời ở cõi Ba mươi ba'. Vì thế này theo
đó, tặng cho tên A-na-bân-để.
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Tỳ-kheo
A-nan có công đức lớn, thành tựu trí tuệ. Tỳ-kheo A-nan
hiện ở địa vị hữu học mà trí tuệ không ai bằng. Vì
sao thế? Ðiều mà trí tuệ của A-la-hán biết, A-nan cũng biết.
Những điều nên học từ chư Phật quá khứ, A-nan đều biết
rõ. Thời quá khứ có người vừa nghe liền biết rõ, như
Tỳ-kheo A-nan của Ta hiện nay nhìn qua liền biết Như Lai cần
điều này, không cần điều này. Ðệ tử của chư Phật quá
khứ nhập định mới biết được việc chưa rõ; ngày nay,
Tỳ-kheo A-nan của Ta, vừa quán sát liền biết rõ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Trong
hàng Thanh văn của Ta, người học rộng biết nhiều, có sức
dõng mãnh, tinh tấn, ý niệm không tán loạn, đa văn đệ nhất,
kham nhậm làm việc là Tỳ-kheo A-nan.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
9.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp
Cô Ðộc.
Khi
ấy, trưởng giả A-na-bân-để có con dâu tên Thiện Sanh, dung
mạo đoan chánh, mặt như sắc hoa đào, là con gái quan đại
thần của vua Ba-tư-nặc. Nàng ấy ỷ vào dòng họ, cậy gia
thế vọng tộc, không cung kính mẹ chồng và chồng, cũng không
thừa sự Phật, Pháp, Tỳ-kheo Tăng, cũng không kính phụng
Ba ngôi báu.
Bấy
giờ, trưởng giả A-na-bân-để đi đến chỗ Thế Tôn, cúi
đầu lễ chân Phật lui ngồi một bên. Trưởng giả bạch
Phật:
- Con
vừa cưới vợ cho con trai của con, cô ấy là con gái quan đại
thần đệ nhất của vua Ba-tư-nặc, tự ỷ thị dòng họ vọng
tộc mà không thừa tự Ba ngôi báu, trưởng lão tôn ti. Cúi
xin Thế Tôn thuyết pháp cho con dâu ấy, khiến phát tâm hoan
hỷ, mở rộng tâm ý.
Thế
Tôn im lặng nhận lời. Trưởng giả lại bạch Phật:
- Cúi
xin Thế Tôn nhận lời con thỉnh cùng chúng Tỳ-kheo Tăng.
Trưởng
giả thấy Như Lai đã im lặng thọ thỉnh, liền rời chỗ
ngồi lễ Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi đi. Trở về nhà,
trưởng giả sắp đặt các thức ăn uống; trải nệm ngồi
tốt đẹp và đến bạch Phật.
- Ðúng
thời, cúi xin Thế Tôn nhận lời con thỉnh. Thức ăn uống
đã đủ.
Thế
Tôn dẫn chúng Tỳ-kheo vây quanh trước sau đến nhà trưởng
giả, vào chỗ ngồi. Trưởng giả lại đem ghế nhỏ ngồi
trước Như Lai. Thế Tôn bảo nàng Thiện Sanh:
- Này
Trưởng giả nữ! Nên biết làm vợ có bốn cách. Thế nào
là bốn? Có người vợ như mẹ, có người vợ như bạn thân,
có người vợ như giặc, có người vợ như nô tỳ.
Nay
Cô nên biết! Vợ như mẹ là tùy thời chăm sóc chồng, không
để cho thiếu thốn, thừa sự cúng dường. Người ấy được
sự ủng hộ của chư Thiên, dù Nhân hay Phi nhân không hại
được, chết được sanh cõi trời. Ðây gọi là người vợ
như mẹ.
Thế
nào là vợ như bạn thân? Này Trưởng giả nữ! Thấy chồng
mà không có tâm tăng giảm, cùng chung khổ vui. Đó là người
vợ như bạn thân.
Thế
nào là vợ như giặc? Này Trưởng giả nữ! Nếu thấy chồng
bèn ôm lòng sân giận, ghét chồng, không thừa sự cung kính
lễ bái, thấy chồng mà muốn hại, tâm để nơi người khác,
chồng không thân với vợ, vợ không thân với chồng, không
được người ái kính, chư Thiên không ủng hộ, ác quỷ xâm
hại, thân hoại mạng chung rơi vào địa ngục; đó gọi là
người vợ như giặc.
Thế
nào gọi là vợ như nô tỳ? Ở đây, người vợ trinh lương,
thấy chồng bèn tùy thời săn sóc, nhẫn nhịn lời nói không
trả lời lại, nhẫn nại sự lạnh khổ, thường có lòng
từ; đối với Ba ngôi báu cũng sanh ý niệm rằng: 'Ba ngôi
báu còn, ta còn, Ba ngôi báu mất, ta mất'. Do việc này người
ấy được chư Thiên ủng hộ, dù Người hay Phi nhân đều
thương tưởng nghĩ nhớ, khi chết sanh cõi lành, trên trời.
Này
Trưởng giả nữ! Ðó là bốn hạng vợ, nay Cô ở vào hạng
vợ nào?
Nàng
ấy nghe lời Phật dạy, liền đến trước lễ Phật, bạch
rằng:
- Cúi
xin Thế Tôn! Nay con sửa đổi lỗi cũ, không dám phạm. Từ
nay về sau con thường làm pháp lễ độ như nô tỳ.
Khi
ấy, nàng Thiện Sanh trở lại chỗ chồng, cúi đầu lễ, nguyện
săn sóc chồng như nô tỳ đối với chủ. Nàng Thiện Sanh
lại đến chỗ Phật, cúi lạy lui ngồi một bên.
Ðức
Thế Tôn dần dần thuyết pháp cho nàng, nói về luận bố
thí, luận giới, luận sanh thiên, ái dục là tưởng bất tịnh,
dâm dục là nhơ uế lớn. Thế Tôn biết nàng đã mở rộng
tâm , bèn nói về pháp mà các đức Phật thường nói: Khổ,
Tập, Diệt, Ðạo, đức Phật nói hết cho nàng. Nàng ấy liền
tại chỗ ngồi được pháp nhãn tịnh. Cũng như chiếc áo
mới dễ nhuộm màu, đây cũng vậy, nàng ấy phân biệt các
pháp khéo hiểu nghĩa thâm diệu, tự quy y Ba ngôi báu, thọ
ngũ giới.
Bấy
giờ nàng Thiện Sanh nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.
*
10.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp
Cô Ðộc.
Khi
ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy lui
ngồi một bên, giây lát sau rời chỗ ngồi, bạch Phật:
- Thế
Tôn thường khen hào tộc cao quý, không nói đến thấp hèn.
Song, bạch Thế Tôn, con không khen tôn quý không nói thấp hèn,
chỉ nói với hàng trung lưu khiến được xuất gia học đạo.
Phật
bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Thầy
tự nói rằng không khen hàng tôn quý, không nói thấp hèn,
chỉ nói hàng trung lưu được xuất gia học đạo. Nhưng nay
Ta không nói về nơi thọ sanh thượng, trung, hạ. Vì sao thế?
Phàm thọ sanh là rất khổ, không đủ mong muốn. Như đống
phân kia kia chút ít còn rất hôi huống gì nhiều; nay sự thọ
sanh cũng lại như vậy, một đời hai đời còn khổ nạn,
huống gì lưu chuyển mãi mãi mà có thể cam chịu. Do hữu
có sanh, do sanh có lão, do lão có bệnh có tử, lo buồn khổ
não, có gì đáng tham ưa, bèn thành thân ngũ thạnh ấm. Nay
Ta quán sát nghĩa này mà nói như thế. Một đời hai đời
còn khổ nạn, huống gì lưu chuyển mãi mãi mà có thể cam
chịu.
Này
Xá-lợi-phất! Nếu có ý muốn thọ sanh, nên phát nguyện sanh
trong gia đình hào quý, không sanh nơi ty tiện. Vì sao thế?
Chúng sanh bị tâm ràng buộc lâu dài, chứ không bị hào tộc
ràng buộc. Này Xá-lợi-phất! Như Ta ở trong gia đình hào
quý, là dòng Sát-lợi Chuyển luân Thánh vương, nếu như Ta
không xuất gia học đạo thì sẽ làm vua Chuyển luân. Nay Ta
bỏ địa vị Chuyển quân Thánh vương, xuất gia học đạo
thành đạo Vô Thượng. Còn nếu sanh trong nhà thấp hèn, không
được xuất gia học đạo thì trở lại bị rơi trong đường
ác.
Cho
nên, Xá-lợi-phất! Nên tìm phương tiện hàng phục tâm. Như
thế, Xá-lợi-phất, nên học điều này!
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lợi-phất nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng
làm.
--------------------------------------------------------------------------------
LII.
Phẩm Đại Ái Đạo nhập Niết Bàn
1.
Tôi nghe như vầy:
Một
thời Phật ở nước Tỳ-xá-ly, giảng đường Phổ Hội, cùng
với chúng đại Tỳ-kheo năm trăm người câu hội.
Bấy
giờ, bà Ðại Ái Ðạo đang ở trong thành Tỳ-xá-ly, chùa
Cao Ðài, cùng với chúng đại Tỳ-kheo-ni năm trăm người câu
hội, đều là bậc A-la-hán, các lậu đã hết. Bà Ðại Ái
Ðạo nghe các Tỳ-kheo nói: 'Như Lai không bao lâu sẽ diệt
độ, không quá ba tháng sẽ Niết-bàn tại Sa-la song thọ, xứ
Câu-thi-na-kiệt'. Bà liền nghĩ: 'Ta không kham nhìn thấy Như
Lai diệt độ. Nay ta nên diệt độ trước'. Bà Ðại Ái Ðạo
đi đến chỗ Thế Tôn, cúi dạy lui ngồi một bên. Bà đến
trước bạch Phật:
- Con
nghe Thế Tôn không bao lâu sẽ diệt độ, không quá ba tháng
sau, tại xứ Câu-thi-na-kiệt, khoảng rừng Sa-la song thọ. Nay
con không kham thấy Thế Tôn và A-nan diệt độ. Cúi xin Thế
Tôn cho phép con diệt độ trước.
Khi
ấy Thế Tôn im lặng hứa khả.
Bà
Ðại Ái Ðạo lại bạch Phật:
- Từ
nay về sau cúi xin Thế Tôn cho các Tỳ-kheo-ni thuyết giới.
Phật
bảo:
- Nay
Ta có phép Tỳ-kheo-ni cùng với Tỳ-kheo-ni thuyết giới. Những
giới cấm do Như Lai chế ra đừng để sai phạm.
Khi
ấy, bà Ðại Ái Ðạo làm lễ dưới chân Phật, và đứng
trước Phật, bà lại bạch Phật:
- Hôm
nay con không còn thấy lại tôn nhan của Như Lai, cũng không
thấy chư Phật tương lai, không còn tái sanh, vĩnh viễn ở
chỗ vô vi. Ngày nay con xa lìa thánh nhan, vĩnh viễn không thấy
lại.
Bà
Ðại Ái Ðạo đi nhiễu quanh Phật bảy vòng, cũng đi nhiễu
quanh Tôn giả A-nan bảy vòng, đi nhiễu quanh hết chúng Tỳ-kheo
rồi lui đi. Bà trở về trong chúng Tỳ-kheo-ni bảo các Tỳ-kheo-ni:
- Nay
ta muốn vào Niết-bàn vô vi. Vì sao thế? Như Lai chẳng bao
lâu sẽ diệt độ, các vị nên tùy nghi mà hành động.
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni Sai-ma, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-sắc, Tỳ-kheo-ni Cơ-lợi-thi,
Tỳ-kheo-ni Xá-cừu-lê, Tỳ-kheo-ni Xà-ma, Tỳ-kheo-ni Bát-đà-lan-giá,
Tỳ-kheo-ni Bà-la-giá-la, Tỳ-kheo-ni Ca-chiên-diên, Tỳ-kheo-ni
Xà-da cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đi đến chỗ Thế Tôn, đứng
một bên. Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Sai-ma làm thượng thủ, bạch
Phật:
- Chúng
con nghe Như Lai không bao lâu diệt độ, chúng con không kham
thấy Thế Tôn và Tôn giả A-nan diệt độ trước. Cúi xin
Thế Tôn cho phép chúng con diệt độ trước. Nay chúng con vào
Niết-bàn chính là phải thời.
Khi
ấy Thế Tôn im lặng hứa khả. Tỳ-kheo-ni Sai-ma và năm trăm
Tỳ-kheo-ni thấy đức Thế Tôn im lặng hứa khả, liền lễ
dưới chân Phật, đi nhiễu quanh ba vòng rồi lui đi, trở về
phòng của mình. Khi ấy bà Ðại Ái Ðại đóng cửa giảng
đường, đánh kiền chùy, trải tọa cụ nơi đất trống,
bay lên hư không. Ở trong hư không, bà ngồi, nằm, đi kinh
hành hoặc phát ra ánh lửa, nửa thân dưới phun khói, nửa
thân trên phun lửa, nửa thân dưới phun nước, nửa thân trên
phun khói, toàn thân phóng lửa, toàn thân phóng khói, hông bên
trái tuôn nước, hông bên mặt tuôn lửa, hông bên mặt tuôn
nước, hông bên trái tuôn khói, phía trước tuôn lửa, phía
sau tuôn nước, phía trước tuôn nước, phía sau tu