MỘT
PHÁP
2.
PHẨM THẬP NIỆM[1]
KINH
SỐ 1
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm Phật.[2] Hãy khéo tu hành.
Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại
bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân
đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu hành
một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm Pháp.[3] Hãy khéo tu hành.
Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại
bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân
đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu hành
một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm Chúng.[4] Hãy khéo tu hành.
Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại
bỏ các loạn tưởng, đạt được quả [553a1] Sa-môn, tự
thân đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu
hành một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này
các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 4
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá Vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm Giới.[5] Hãy khéo tu hành.
Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại
bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân
đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu hành
một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm Thí.[6] Hãy khéo tu hành.
Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại
bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân
đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu hành
một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 6
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm Thiên.[7] Hãy khéo tu hành.
Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại
bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân
đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu hành
một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy [553b1] quảng bá một pháp. Các
ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng,
đạt được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn.
Một pháp ấy là gì? Đó là niệm hưu tức.[8] Hãy khéo
tu hành. Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông,
loại bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự
thân đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu
hành một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này
các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá Vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm an-ban.[9] Hãy khéo tu hành.
Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông, loại
bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự thân
đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu hành
một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này các
Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9
Tôi
nghe như vầy:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm thân vô thường.[10] Hãy khéo
tu hành. Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông,
loại bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự
thân đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu
hành một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này
các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 10
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi
sẽ thành tựu thần thông, loại bỏ các loạn tưởng, đạt
được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một
pháp ấy là gì? Đó là niệm sự chết.[11] Hãy khéo tu
hành. Hãy quảng bá. Các ngươi sẽ thành tựu thần thông,
loại bỏ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự
thân đạt đến Niết-bàn. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tu
hành một pháp, hãy quảng bá một pháp. Vì vậy, này
các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Bấy
[553c1] giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Kệ
tóm tắt
Niệm
Phật, Pháp, Thánh chúng,
Niệm
giới, thí và thiên,
Niệm
hưu tức, an-ban,
Niệm
thân, chết cuối cùng.[12]
3.
PHẨM
QUẢNG DIỄN
KINH
SỐ 1
[554a07]
Tôi nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng,
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Một pháp ấy
là gì? Đó là niệm Phật.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm Phật, liền có danh dự, thành
tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được
vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông,
trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói.[13] Nguyện xin Thế Tôn vì
các Tỳ-kheo nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe
từ Như Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, chuyên tinh niệm Phật, không có niệm tưởng
nào khác. Quán hình của Như Lai, mắt không hề rời. trong
khi mắt không rời, niệm tưởng công đức Như Lai.
“Thể
của Như Lai được thành tựu từ kim cương, đầy đủ
mười lực, bốn vô sở úy, dõng mãnh giữa đại chúng.
Gương mặt của Như Lai đoan chánh vô song, nhìn không chán
mắt. Giới đức thành tựu giống như kim cương không
thể phá hoại, trong sạch không tỳ vết cũng như lưu ly.
Tam-muội của Như Lai chưa từng sút giảm, đã tĩnh chỉ,
vĩnh viễn tịch tĩnh, không có niệm khác. Các thứ tình
kiêu mạn, ngang bướng đã vắng im,[14] ý tham dục, tưởng
sân hận, tâm ngu hoặc, mạn kết[15] do dự, tất đều tận
trừ. Huệ thân của Như Lai, trí không bờ đáy, không bị
chướng ngại. [554b01] Thân Như Lai, được thành tựu từ
giải thoát, các cõi[16] đã hết, không còn sinh phần để
nói ‘Ta sẽ đọa nơi sinh tử.’ Thân Như Lai được vượt
qua thành trì của tri kiến, biết căn cơ người khác đáng
được độ hay không đáng được độ, chết đây sinh kia,
xoay vần qua lại trong ngằn mé sinh tử, có người giải
thoát, người không giải thoát; Như Lai thảy đều biết
tất cả.
“Đó
là tu hành niệm Phật, liền có danh dự, thành tựu
quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị
cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ
các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn.
Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn phải tư duy không rời niệm
Phật, liền sẽ được những thứ công đức thiện
này. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn
bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng,
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Những gì là
một pháp? Là niệm Pháp.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm Pháp, liền có danh dự, thành tựu
quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị
cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ
các loạn tưởng được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe từ
Như Lai rồi sẽ thọ trì.” Bấy giờ, Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm
Pháp, trừ các dục ái, không còn trần lao, tâm khát
ái vĩnh viễn không nổi lên nữa.
“Phàm
Chánh pháp là ở nơi dục mà đạt đến vô dục, lìa
các kết phược và các bệnh của triền cái. Pháp này giống
như mùi các loại hương, không có tỳ vết của niệm
loạn tưởng
“Đó
gọi là Tỳ-kheo tu hành niệm Pháp, liền có [554c01] danh
dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ
cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được
thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn,
tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn phải
tư duy không rời niệm Pháp, liền sẽ được những thứ
công đức thiện này. Như vậy, các Tỳ-kheo, hãy học
điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng,
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Một pháp ấy
là gì? Là niệm Tăng.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm Tăng, liền có danh dự, thành tựu
quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị
cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ
các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe từ
Như Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm
Tăng. Thánh chúng của Như Lai thành tựu từ nghiệp lành,
chất trực, thuận nghĩa, không có nghiệp tà, trên dưới
hòa mục, pháp pháp thành tựu.[17] Thánh chúng của Như
Lai thành tựu giới, thành tựu tam-muội, thành tựu
trí tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu tri kiến
giải thoát. Thánh chúng ấy gồm có bốn đôi, tám hạng.
Đó là Thánh chúng của Như Lai, xứng đáng được tùy
thuận cung kính, thừa sự, lễ bái. Sở dĩ vậy là
vì đó là ruộng phước của thế gian. Ở trong Chúng
này đều cùng là pháp khí, cũng vì tự độ lại
độ người khác đến đạo ba thừa. Nghiệp như vậy
gọi là Thánh chúng.
“Đó
là nói, này các Tỳ-kheo, nếu ai niệm Tăng, liền có danh
dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ
cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được
thần thông, trừ các loạn tưởng, [555a01] được quả
Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn
phải tư duy không rời niệm Tăng, liền sẽ được những
thứ công đức thiện này. Như vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 4
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn
bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng,
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Những gì là
một pháp? Là niệm Giới.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm Giới, liền có danh dự, thành
tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được
vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông,
trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe từ
Như Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm
Giới. Giới có nghĩa là dừng các điều ác. Giới
khiến thành tựu đạo, khiến người hoan hỷ. Giới là
anh lạc đeo thân, hiện những vẻ đẹp.
“Phàm
cấm giới, giống như bình cát tường,[18] mọi sở nguyện
liền đạt được. Mọi pháp đạo phẩm đều do giới
mà thành tựu.
“Như
vậy, Tỳ-kheo thực hành cấm giới sẽ thành tựu quả
báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ,
đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn
tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Cho nên,
này các Tỳ-kheo, luôn phải tư duy không rời niệm Giới,
liền sẽ được những thứ công đức thiện này. Như
vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. [555b01] Bấy giờ, Thế Tôn
bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng,
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Những gì là
một pháp? Là niệm Thí.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm Thí, liền có danh dự, thành tựu
quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị
cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ
các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo, nghe từ Như
Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm
Thí. Những gì tôi bố thí hôm nay, là tối thượng trong
các sự thí, vĩnh viễn không có tâm hối hận, không mong
đền đáp để mong được thiện lợi. Nếu người nào
mắng tôi, tôi quyết không mắng trả. Dù người hại
tôi, dùng tay đánh, dao gậy đập, gạch đá ném, tôi cũng
sẽ khởi lòng từ, không nổi sân hận. Những gì tôi
bố thí, ý muốn cho sẽ không dứt tuyệt.
“Đó
gọi là, này Tỳ-kheo, đại thí, sẽ thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng,
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các
Tỳ-kheo, luôn phải tư duy không rời niệm Thí, liền sẽ
được những thứ công đức thiện này. Như vậy, này
các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 6
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, thì liền có danh dự, thành tựu quả
báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ,
đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn
tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Những
gì [555c01] là một pháp? Là niệm Thiên.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm Thiên, liền có danh dự, thành tựu
quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị
cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ
các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe từ
Như Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm
Thiên.
“Thân,
miệng, ý trong sạch, không tạo hành vi ô uế; thực hành
giới thành tựu thân. Thân phóng ánh sáng tỏa khắp
mọi nơi, thành tựu thân trời kia. Quả báo lành thành
tựu thân trời kia. Các hành đầy đủ mới thành thân
trời.
“Như
vậy, các Tỳ-kheo, đó gọi là niệm Thiên, liền được
thành tựu đầy đủ quả báo lớn, các điều thiện
đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được
thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn,
tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn phải
tư duy không rời niệm Thiên, liền sẽ được những thứ
công đức thiện này. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học
điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng,
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Những gì là
một pháp? Là niệm hưu tức.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm hưu tức, liền có danh dự, thành
tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được
vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông,
trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo [556a01] nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi
nghe từ Như Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm
tịch tĩnh[19]. Tịch tĩnh là tâm ý tưởng lắng đọng,
chí tánh an nhàn, mà không nóng nảy; tâm hằng chuyên nhất,
thích nơi vắng vẻ, thường tìm phương tiện nhập định
tam-muội, thường niệm tưởng không ham tranh thắng, dành
chỗ trước trên.
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, đó gọi là niệm tịch tĩnh, liền
được thành tựu đầy đủ quả báo lớn, các điều
thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền
được thần thông, trừ các loạn tưởng được quả
Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn
phải tư duy không rời niệm tịch tĩnh, liền sẽ được
những thứ công đức thiện này. Như vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Sau
khi các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng,
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Những gì là
một pháp? Là niệm an-ban.”[20]
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm an-ban, liền có danh dự, thành tựu
quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị
cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ
các loạn tưởng được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo mà nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe
từ Như Lai rồi sẽ thọ trì.” Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân kiết già,
buộc niệm ở trước, không có [556b01] tư tưởng nào
khác, chuyên tinh niệm an-ban. Nói an-ban, tức là khi hơi thở
dài, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang dài; nếu hơi
thở lại ngắn, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang
ngắn; nếu hơi thở rất lạnh, hãy quán biết hơi thở
ta hiện đang lạnh; nếu hơi thở lại nóng, hãy quán biết
hơi thở ta hiện đang nóng. Quán khắp thân thể từ
đầu đến chân, tất cả đều nên quán biết. Nếu
hơi thở lại có dài ngắn, cũng hãy quán hơi thở có
dài ngắn. Dụng tâm đặt nơi toàn thân,[21] biết hơi thở
dài ngắn, tất cả đều biết rõ, cho đến khi hơi thở
ra vào được phân biệt rõ ràng. Nếu tâm đặt nơi thân,
biết hơi thở dài ngắn, cũng lại biết rõ, đếm hơi
thở dài ngắn cũng phân biệt rõ ràng.
“Như
vậy, các Ty-kheo, đó gọi là niệm an-ban, liền được
thành tựu đầy đủ quả báo lớn, các điều thiện
đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được
thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn,
tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn phải
tư duy không rời niệm an, ban, liền sẽ được những
thứ công đức thiện này. Như vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Những gì là
một pháp? Là niệm thân.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm thân, liền có danh dự, thành tựu
quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị
cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ
các loạn tưởng được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo mà nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe
từ Như Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, không có tư tưởng nào khác, [556c01] chuyên
tinh niệm thân. Niệm thân là tóc, lông, móng, răng, da,
thịt, gân, xương, mật, gan, phổi, tim, lá lách, thận,
ruột già, ruột non, bạch chức[22], bàng quang, phẩn, tiểu,
dạ dày[23], thương đãng,[24] dịch vị,[25] nước mắt,
đờm dãi, mủ, máu, mỡ, nước miếng, đầu lâu, não.[26]
Cái nào là thân? Đó là đại chủng đất? Đó là đại
chủng nước? Đó là đại chủng lửa? Đó là đại chủng
gió? Được tạo ra bởi giống của cha, giống của mẹ chăng?
Nó từ đâu đến? Do ai tạo ra? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
tâm, chết ở đây sẽ sinh về nơi nào?
“Như
vậy, các Tỳ-kheo, đó gọi là niệm thân, liền được
thành tựu đầy đủ quả báo lớn, các điều thiện
đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được
thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa-môn,
tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn phải
tư duy không rời niệm thân, liền sẽ được những thứ
công đức thiện này. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học
điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 10
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành
một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo
lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến
chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng
được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Những gì là
một pháp? Là niệm sự chết.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là tu hành niệm sự chết, thì liền có danh dự,
thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả,
được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần
thông, trừ các loạn tưởng được quả Sa-môn, tự đến
Niết-bàn?”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn rằng:
“Gốc
rễ của Pháp do Thế Tôn nói. Nguyện xin Thế Tôn vì các
Tỳ-kheo mà nói diệu nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe
từ Như Lai rồi sẽ thọ trì.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ phân biệt
rộng rãi cho các ngươi.”
Các
Tỳ-kheo bạch rằng:
“Kính
vâng, Bạch Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo thọ giáo rồi, Thế Tôn bảo rằng:
“Tỳ-kheo
chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, buộc niệm
ở trước, không có tư tưởng nào khác, chuyên tinh niệm
sự chết. Chết là mất ở đây, sinh bên kia; qua lại các
đường, sinh mạng trôi đi không dừng, các căn tan hoại,
như khúc gỗ mục nát; mạng căn đoạn tuyệt, giòng họ
[557a01] chia lìa, không hình không tiếng, cũng không tướng
mạo.
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, đó gọi là niệm sự chết, liền
được thành tựu đầy đủ quả báo lớn, các điều
thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền
được thần thông, trừ các loạn tưởng được quả
Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn
phải tư duy không rời niệm sự chết, liền sẽ được
những thứ công đức thiện này. Như vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kệ
tóm tắt
Phật,
Pháp, cùng Thánh chúng,
Cuối
cùng là niệm chết;
Dù
cùng trên đồng tên,
Nhưng
nghĩa chúng mỗi khác.[27]
4.
PHẨM ĐỆ TỬ[28]
KINH SỐ
1
[557a17]
Tôi nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo
các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, người có lòng nhân
rộng rãi, hiểu biết rộng, hay khéo khuyến hóa, nuôi
dưỡng Thánh chúng không mất oai nghi, đó là Tỳ-kheo A-nhã-câu-lân.[29]
Nhận pháp vị đầu tiên, tư duy về tứ đế cũng là
Tỳ-kheo A-nhã-câu-lân.
“Hay
khéo khuyên bảo, hướng dẫn tạo phước và độ mọi
người, chính là Tỳ-kheo Ưu-đà-di.[30]
“Trong
hàng chóng thành tựu thần thông, nửa chừng không thối
chuyển, đó chính là Tỳ-kheo Ma-ha-nam.[31]
“Thường
bay giữa hư không, chân không đạp đất, chính là Tỳ-kheo
Thiện Trửu.[32]
“Gặp
dịp thì giáo hóa, ý không cầu vinh, đó chính là Tỳ-kheo
Bà-phá.[33]
“Sống
vui trên trời, không ở trong loài người, chính là Tỳ-kheo
Ngưu Tích.[34] “Hằng quán tưởng bất tịnh ghê tởm,
đó chính là Tỳ-kheo Thiện Thắng.[35]
“Nuôi
dưỡng Thánh chúng, tứ sự cúng dường, chính là Tỳ-kheo
Ưu-lưu-tỳ Ca-diếp.[36]
“Tâm
ý lặng lẽ, hàng phục các kết, chính là Tỳ-kheo Giang
Ca-diếp.[37]
“Quán
rõ các pháp, không bị đắm trước, chính là Tỳ-kheo
Tượng Ca-diếp.[38]
[557b01]
Kệ tóm tắt
Câu-lân,
Đà-di, Nam,
Thiện
Trửu, Bà thứ năm;
Ngưu
Tích cùng Thiện Thắng,
Ba
anh em Ca-diếp.
KINH
SỐ 2
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, có oai nghi đoan chánh,
bước đi khoan thai, chính là Tỳ-kheo Mã Sư.[39]
Trí
tuệ không cùng, giải tỏa các nghi, chính là Tỳ-kheo Xá-lợi-phất.[40]
Thần
túc nhẹ bay đến tận mười phương, chính là Tỳ-kheo
Đại Mục-kiền-liên.[41]
Dõng
mãnh tinh tấn, cam chịu khổ hạnh, chính là Tỳ-kheo Nhị
Thập Ức Nhĩ.[42]
Thực
hành mười hai đầu-đà khó hành, chính là Tỳ-kheo Đại
Ca-diếp.[43]
Đệ
nhất thiên nhãn, thấy tận cõi mười phương, chính
là Tỳ-kheo A-na-luật.[44]
Ngồi
thiền nhập định, tâm không tán loạn, chính là Tỳ-kheo
Ly-viết.[45]
Thường
khuyên mọi người làm gương bố thí, thiết lập trai
giảng,[46] chính là Tỳ-kheo Đà-la-bà-ma-la.[47]
Tạo
lập phòng ốc, nhà cửa cho Tăng mười phương, chính
là Tỳ-kheo Tiểu Đà-la-bà-ma-la[48].
Giòng
họ tôn quý xuất gia học đạo, chính là Tỳ-kheo La-tra-bà-la.[49]
Khéo
phân biệt nghĩa, phô diễn đạo giáo, chính là Tỳ-kheo
Đại Ca-chiên-diên.[50]
Kệ
tóm tắt:
Mã
Sư, Xá-lợi-phất,
Câu-luật,[51]
Nhĩ, Ca-diếp;
A-na-luật,
Ly Viết,
Ma-la,
Tra, Chiên-diên.
KINH
SỐ 3
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta xứng đáng nhận thẻ,[52]
không trái phép cấm, chính là Tỳ-kheo Quân-đầu-bà-mạc.[53]
Hàng
phục ngoại đạo, thực hành chánh pháp, chính là Tỳ-kheo
Tân-đầu-lô.[54]
Chăm
sóc bệnh tật, cung cấp thuốc thang, chính là Tỳ-kheo
Sấm.[55] Tứ sự cúng dường, y phục đồ ăn thức uống,
cũng là Tỳ-kheo Sấm*.
Hay
làm kệ tụng, tán thán đức của Như Lai, chính là Tỳ-kheo
Bằng-kỳ-xá.[56] Lời lẽ biện luận rõ ràng trôi chảy,
cũng là Tỳ-kheo Bằng-kỳ-xá.
Được
bốn biện tài, trả lời khi bị vấn nạn, chính là Tỳ-kheo
Ma-ha Câu-hy-la.[57]
Sống
nơi vắng vẻ thanh tịnh, không thích gần gũi con người,
chính là Tỳ-kheo Kiên Lao.[58]
Khất
thực nhẫn nại, không tránh nóng lạnh, chính là Tỳ-kheo
Nan-đề.[59]
Tĩnh
tọa một nơi, chuyên tâm niệm đạo, chính là Tỳ-kheo Kim-tỳ-la.[60]
Ngồi
một lần ăn một bữa,[61] không di chuyển chỗ, chính
là Tỳ-kheo Thi-la.[62]
Giữ
gìn ba y, không rời khi ăn khi nghỉ, chính là Tỳ-kheo Phù-di.[63]
Kệ
tóm tắt: [557c01]
Quân-đầu, Tân-đầu-lô,
Thức, Bằng, Câu-hy-la;
Kiên Lao, cùng Nan-đề,
Kim-tỳ, Thí-la, Di.
KINH
SỐ 4
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, tọa thiền dưới
ggóc cây, ý không di chuyển, ̣chính là Tỳ-kheo Hồ nghi
Ly-viết.[64]
Khổ
thân ngồi giữa trời, không tránh nắng mưa, chính là
Tỳ-kheo Bà-ta.[65]
Vui
một mình nơi vắng vẻ, chuyên tâm tư duy, chính là Tỳ-kheo
Đà-tố.[66]
Khoác
y năm mảnh[67], không mặc đồ tốt đẹp, chính là Tỳ-kheo
Ni-bà.[68]
Thường
thích nơi gò mả, không ở nơi gần người, chính là
Tỳ-kheo Ưu-đa-la.[69]
Thường
ngồi nệm cỏ, ban ngày làm phước độ người, chính
là Tỳ-kheo Lô-hê-ninh.[70]
Không
nói chuyện với người, nhìn xuống đất mà đi, chính
là Tỳ-kheo Ưu-kiềm-ma-ni-giang.[71]
Ngồi
dậy, bước đi thường ở trong tam-muội, chính là Tỳ-kheo
San-đề.[72]
Thích
du hành nước xa, dạy dỗ mọi người, chính là Tỳ-kheo
Đàm-ma-lưu-chi.
Ưa
họp Thánh chúng, bàn luận pháp vị, chính là Tỳ-kheo
Ca-lệ.
Kệ
tóm tắt:
Hồ-nghi,
Bà-ta, Ly,
Đà-tô,
Bà, Ưu-đa;
Lô-hê,
Ưu-ca-ma,
Tức,
Đàm-ma-lưu, Lệ.
KINH
SỐ 5
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta có thọ mạng lâu dài,
quyết không chết yểu, chính là Tỳ-kheo Bà-câu-la.[73]
Thường
thích chỗ nhàn cư, không thích ở giữa đám đông, cũng
chính là Tỳ-kheo Bà-câu-la.
Hay
nói pháp rộng rãi, phân biệt nghĩa lý, chính là Tỳ-kheo
Mãn Nguyện Tử.[74]
Vâng
giữ giới luật, không điều trái phạm, chính là Tỳ-kheo
Ưu-ba-ly.[75]
Được
tín giải thoát, ý không do dự, chính là Tỳ-kheo Bà-ca-lợi.[76]
Thân
thể to lớn, đẹp đẽ khác hẳn thế gian, chính là Tỳ-kheo
Nan-đà.[77] Các căn tịch tĩnh, tâm không biến dịch, cũng
chính là Tỳ-kheo Nan-đà.
Biện
tài nhạy bén, giải thông nghi trệ cho người, chính là
Tỳ-kheo Bà-đà.[78]
[558a01]
Hay nói rộng nghĩa lý, không có trái nghịch, chính là
Tỳ-kheo Tư-ni.[79]
Thích
mặc áo tốt, hành vốn thanh tịnh, chính là Tỳ-kheo Thiên
Tu-bồ-đề.[80]
Thường
thích dạy dỗ những kẻ hậu học, chính là Tỳ-kheo
Nan-đà-ca.[81]
Khéo
dạy cấm giới cho Tỳ-kheo-ni, chính là Tỳ-kheo Tu-ma-na.[82]
Kệ
tóm tắt:
Bà-câu,
Mãn, Ba-ly,
Bà-ca-lợi,
Nan-đà,
Đà,
Ni, Tu-bồ-đề,
Nan-đà,
Tu-ma-na.
KINH
SỐ 6
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta có công đức tràn
đầy, nhu yếu không thiếu, chính là Tỳ-kheo Thi-bà-la.[83]
Đầy
đủ các hành pháp đạo phẩm, chính là Tỳ-kheo Ưu-ba-tiên
Ca-lan-đà Tử.[84]
Mọi
điều nói ra đều vui hòa, không làm thương tổn ý người,
chính là Tỳ-kheo Bà-đà-tiên.[85]
Tu
tập an-ban, tư duy bất tịnh ghê tởm, chính là Tỳ-kheo
Ma-ha Ca-diên-na.[86]
Chấp
ngã vô thường, tâm không có tưởng, chính là Tỳ-kheo
Ưu-đầu-bàn.[87]
Hay
luận bàn về mọi thứ, làm vui tâm thức, chính là
Tỳ-kheo Câu-ma-la Ca-diếp.[88]
Mặc
áo xấu tệ, mà không gì hổ thẹn, chính là Tỳ-kheo
Diện Vương.[89]
Không
hủy phạm cấm giới, đọc tụng không lười, chính là
Tỳ-kheo La- vân.[90]
Dùng
sức thần túc, hay tự ẩn mình, chính là Tỳ-kheo Bàn-đặc[91].
Hay
thay hình đổi dạng, tạo mọi thứ biến hóa, chính là
Tỳ-kheo Châu-lợi Bàn-đặc.[92]
Kệ
tóm tắt:
Thi-bà,
Ưu-ba-tiên,
Bà-đà,
Ca-diên-na,
Ưu-đầu,
Vương, Ca-diếp,
La-hầu-la,
hai Bàn-đặc.
KINH
SỐ 7
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta thuộc hào tộc phú
quý, thiên tánh nhu hòa, chính là Tỳ-kheo Thích Vương.[93]
Khất
thực không chán đủ, giáo hóa không cùng, chính là Tỳ-kheo
Bà-đề-bà-la.[94]
Khí
lực cường thạnh, không gì sợ khó, cũng là Tỳ-kheo
Bà-đề-bà-la.
Âm
thanh trong suốt vang đến Phạm thiên, chính là Tỳ-kheo
La-bà-na-bà-đề.[95]
Thân
thể thơm tinh khiết tỏa ra bốn phía, chính là Tỳ-kheo
Ương-ca-xà.[96]
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, biết thời, rõ
vật, chỗ đến không nghi, điều được nhớ không quên,
nghe nhiều xa rộng, khả năng phụng sự bậc trên, chính
là Tỳ-kheo A-nan.[97]
Phục
sức trang nghiêm, nhìn bóng bước đi, chính là Tỳ-kheo
Ca-trì-lợi.[98]
Các
vua kính hầu, quần thần cung kính, chính là Tỳ-kheo
Nguyệt Quang.[99]
Trời
Người phụng sự, [558b01] thường đến chầu hầu, chính
là Tỳ-kheo Thâu-đề.[100]
Đã
bỏ hình người, tướng mạo giống trời, cũng là Tỳ-kheo
Thâu-đề.
Bậc
Thầy hướng dẫn chư Thiên, chỉ trao chánh pháp, chính
là Tỳ-kheo Thiên.[101]
Tự
nhớ mọi việc vô số kiếp đời trước, chính là
Tỳ-kheo Quả Y.[102]
Kệ
tóm tắt:
Thích
Vương, Bà-đề-ba,
La-bà,
Ương-ca-xà;
A-nan,
Ca, Nguyệt Quang,
Thâu-đề,
Thiên, Bà-hê.[103]
KINH
SỐ 8
“Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta có thể tánh lợi
căn, trí tuệ sâu xa, ̣chính là Tỳ-kheo Ương-quật-ma.[104]
Thường
hàng tà nghiệp của phục ma, ngoại đạo, chính là Tỳ-kheo
Tăng-ca-ma.[105]
Nhập
thủy tam-muội không lấy làm khó, chính là Tỳ-kheo Chất-đa
Xá-lợi-phất.[106]
Những
hiểu biết rộng rãi, là được mọi người kính nhớ,
cũng là Tỳ-kheo Chất-đa Xá-lợi-phất.
Nhập
hỏa tam-muội chiếu khắp mười phương, chính là Tỳ-kheo
Thiện Lai.[107]
Hay
hàng phục rồng khiến phụng sự tam bảo, chính là Tỳ-kheo
Na-la-đà.[108]
Hàng
phục quỷ thần cải ác tu thiện, chính là Tỳ-kheo Quỷ-đà.[109]
Hàng
phục Càn-đạp-hòa khiến cần thực hành hạnh lành,
chính là Tỳ-kheo Tỳ-lô-giá.[110]
Thường
vui với định Không, phân biệt nghĩa Không, chính là Tỳ-kheo
Tu-bồ-đề.[111]
Chí
ở nơi không vắng, nghiệp đức vi diệu, cũng là Tỳ-kheo
Tu-bồ-đề.[112]
Thực
hành định vô tưởng, trừ bỏ các niệm, chính là Tỳ-kheo
Kỳ-lợi-ma-nan.[113]
Nhập
định vô nguyện, ý không tán loạn, chính là Tỳ-kheo
Diệm Thạnh.[114]
Kệ
tóm tắt:
Ương-quật,
Tăng-ca-ma,
Chất-đa,
Bà,[115] Na-la,
Duyệt-xoa,[116]
Phù-lô-giá,[117]
Thiện
nghiệp[118] Ma-nan, Diệm.[119]
KINH
SỐ 9
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, nhập từ tam-muội,
tâm không phẫn nộ, chính là Tỳ-kheo Phạm-ma-đạt.[120]
Nhập
bi tam-muội, thành tựu bổn nghiệp, chính là Tỳ-kheo
Tu-thâm.[121]
Được
đức của thiện hành[122], không có các thứ tưởng, chính
là Tỳ-kheo Sa-di-đà.[123]
Thường
giữ gìn tâm, ý không xả ly, chính là Tỳ-kheo Dược-ba-ca.[124]
Hành
diệm thạnh tam-muội, trọn không giải đãi, chính là
Tỳ-kheo Đàm-di.[125]
Ngôn
ngữ thô lỗ, không kể bậc tôn quý, chính là Tỳ-kheo
Tỉ-lợi-đà-bà-giá.[126]
Nhập
kim quang tam-muội, cũng là Tỳ-kheo Tỉ-lợi-đà-bà-giá.
Nhập
kim cương tam-muội, không thể bị phá hoại, [558c01] chính
là Tỳ-kheo Vô Uý.[127]
Những
gì nói ra dứt khoát rõ ràng, trong lòng không khiếp nhược,
chính là Tỳ-kheo Tu-nê-đa.[128]
Thường
thích nơi tịch tĩnh, ý không trú nơi loạn động, chính
là Tỳ-kheo Đà-ma.[129]
Nghĩa
thì không ai thắng, không hề bị khuất phục, chính là
Tỳ-kheo Tu-la-đà.[130]
Kệ
tóm tắt:
Phạm-đạt,
Tu-thâm-ma,
Sa-di,
Dược, Đàm-di,
Tỳ[131]-lợi-đà,
Vô Uý,
Tu-nê-đà,
Tu-la.
KINH
SỐ 10
Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, hiểu rõ tinh tú,
biết trước cát hung, chính là Tỳ-kheo Na-già-ba-la.[132]
Thường
vui tam-muội, thiền duyệt làm thức ăn, chính là Tỳ-kheo
Bà-tư-tra.[133]
Thường
lấy hỷ làm thức ăn, chính là Tỳ-kheo Tu-dạ-xa.[134]
Thường
hành nhẫn nhục, vật đối đến tâm không khởi, chính
là Tỳ-kheo Mãn Nguyện Thạnh Minh.[135]
Tu
tập nhật quang tam-muội, chính là Tỳ-kheo Di-hề.[136]
Rõ
phép toán thuật, không có sai lầm, chính là Tỳ-kheo
Ni-câu-lưu.[137]
Trí
tuệ bình đẳng phân biệt, thường không quên mất, chính
là Tỳ-kheo Lộc-đầu.[138]
Đắc
điện lôi tam-muội, lòng không sợ hãi, chính là Tỳ-kheo
Địa.[139]
Quán
rõ gốc rễ của thân, chính là Tỳ-kheo Đầu-na.[140]
Thủ
chứng được lậu tận thông tối hậu, chính là Tỳ-kheo
Tu-bạt.[141]
Kệ
tóm tắt:
Na-ca,[142]
Tra, Xá Na,[143]
Di-hề,
Ni-câu-lưu;
Lộc-đầu,
Địa, Đầu-na,
Tu-bạt
ở sau cùng.
Một
trăm vị Hiền thánh này cần được quảng diễn (ở nơi
khác).
5.
PHẨM TỲ-KHEO-NI[144]
KINH
SỐ 1
Tỳ-kheo-ni
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, xuất gia học đạo
lâu, được quốc vương cung kính, chính là Tỳ-kheo-ni
Đại Ái Đạo Kiều-đàm-di.[145]
Trí
tuệ thông minh, chính là Tỳ-kheo-ni Sấm-ma[146].
Thần
túc đệ nhất, cảm đến các thần, chính là Tỳ-kheo-ni
Ưu-bát Hoa Sắc[147].
Thực
hành pháp đầu đà với mười một điều hạn ngại,
chính là Tỳ-kheo-ni Cơ-lê-xá Cù-đàm-di.[148]
Thiên
nhãn đệ nhất, [559a01] nhìn khắp không trở ngại, chính
là Tỳ-kheo-ni Xa-câu-lê.[149]
Tọa
thiền nhập định, ý không phân tán, chính là Tỳ-kheo-ni
Xa-ma.[150]
Phân
biệt nghĩa thú, diễn rộng đạo giáo, chính là Tỳ-kheo-ni
Ba-đầu-lan-xà-na.[151]
Vâng
giữ luật giáo không hề trái phạm, chính là Tỳ-kheo-ni
Ba-la-giá-na.[152]
Đạt
tín giải thoát, không thối lui trở lại, chính là Tỳ-kheo-ni
Ca-chiên-diên.[153]
Đạt
bốn biện tài, trong lòng khiếp sợ, chính là Tỳ-kheo-ni
Tối Thắng.[154]
Kệ
tóm tắt:
Đại
Ái cùng Sấm-ma*,
Ưu-bát,
Cơ-đàm-di;
Câu-lợi,
Xa, Lan-xà,
Ba-la,[155]
Ca-chiên, Thắng.
KINH
SỐ 2
Tỳ-kheo-ni
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, tự biết mọi việc
vô số kiếp đời trước, chính là Tỳ-kheo-ni Bạt-đà
Ca-tỳ-ly[156].
Nhan
sắc xinh đẹp, được mọi người yêu kính, chính là
Tỳ-kheo-ni Hê-ma-xà.[157]
Hàng
phục ngoại đạo để lập chánh giáo, chính là Tỳ-kheo-ni
Thâu-na.[158]
Phân
biệt nghĩa thú, nói rộng từng bộ, chính là Tỳ-kheo-ni
Đàm-ma-đề-na.[159]
Mình
mặc áo thô, không lấy làm hổ, chính là Tỳ-kheo-ni
Ưu-đa-la.[160]
Các
căn tịch tĩnh, thường thuận nhất tâm, chính là Tỳ-kheo-ni
Quang Minh.[161]
Y phục
tề chỉnh, đúng theo pháp giáo, chính là Tỳ-kheo-ni Thiền
Đầu.[162]
Luận
biện nhiều đề tài, không nghi ngờ do dự, chính là Tỳ-kheo-ni
Đàn-đa.[163]
Khả
năng sáng tác kệ, khen ngợi đức của Như Lai, chính là
Tỳ-kheo-ni Thiên Dữ.[164]
Nghe
nhiều biết rộng, ân huệ tiếp đãi người dưới, chính
là Tỳ-kheo-ni Cù-ty.[165]
Kệ
tóm tắt:
Bạt-đà,
Xà, Thâu-na,
Đàm-ma-na,
Ưu-đa,
Quang
Minh, Thiền, Đàn-đa,
Thiên
Dữ cùng Đàm-ty.
KINH
SỐ 3
Tỳ-kheo-ni
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, thường ở nơi vắng
vẻ, không sống giữa nhân gian, chính là Tỳ-kheo-ni Vô Úy.[166]
Khổ
thân khất thực, không lựa sang hèn, chính là Tỳ-kheo-ni
Tỳ-xá-khư.[167]
Tại
một chỗ chỉ ngồi một lần, quyết không xê dịch, chính
là Tỳ-kheo-ni Bạt-đà-bà-la.[168]
Đi
khắp cầu xin, rộng độ mọi người, chính là Tỳ-kheo-ni
Ma-nộ-ha-lợi.[169]
Chóng
thành đạo quả, trung gian không bị vướng mắc, chính là
Tỳ-kheo-ni Đà-ma.[170]
Thọ
trì ba y, quyết không lìa bỏ, chính là Tỳ-kheo-ni Tu-đà-ma.[171]
Thường
ngồi [559b01] dưới gốc cây, ý không dời đổi, chính
là Tỳ-kheo-ni Lệ-tu-na.[172]
Thường
ở nơi đất trống, không cần nghĩ đến ngăn che, chính
là Tỳ-kheo-ni Xà-đà.[173]
Thích
nơi vắng vẻ, không sống giữa nhân gian, chính là Tỳ-kheo-ni
Ưu-ca-la.[174]
Ngồi
mãi nệm cỏ, không cần trang sức, chính là Tỳ-kheo-ni
Ly-na.[175]
Khoác
y năm mảnh, tuần tự khất thực[176], chính là Tỳ-kheo-ni
A-nô-ba-ma.[177]
Kệ
tóm tắt:
Vô
Úy, và[178] Tỳ-xá,
Bà-đà,[179]
Ma-nộ-kha,[180]
Đàn,
Tu-đàn, Lệ-na,[181]
Ưu-ca,
Ly, A-nô.
KINH
SỐ 4
Tỳ-kheo-ni
đệ nhất trong hàng Thanh văn của, thích nơi gò mả vắng,
chính là Tỳ-kheo-ni Ưu-ca-ma.[182]
Thường
xuyên an trú tâm từ, thương tưởng chúng sanh, chính là
Tỳ-kheo-ni Thanh Minh.[183]
Buồn
khóc chúng sanh không đến được với đạo, chính là
Tỳ-kheo-ni Tố-ma.[184]
Hoan
hỷ vì đắc đạo, nguyện phổ cập cho tất cả, chính là
Tỳ-kheo-ni Ma-đà-lợi.[185]
Thủ
hộ các hành, ý không lìa xa, chính là Tỳ-kheo-ni Ca-la-già.[186]
Giữ
không chấp hư,[187] biết rõ không có gì tồn tại, chính
là Tỳ-kheo-ni Đề-bà-tu.[188]
Tâm
vui với vô tưởng,[189] trừ bỏ các chấp, chính là Tỳ-kheo-ni
Nhật Quang. [190]
Tu
tập vô nguyện,[191] tâm thường giúp khắp, chính là
Tỳ-kheo-ni Mạt-na-bà.
Không
nghi các pháp, độ người không hạn, chính là Tỳ-kheo-ni
Tỳ-ma-đạt.[192]
Thường
nói nghĩa rộng, phân biệt pháp sâu, chính là Tỳ-kheo-ni
Phổ Chiếu.[193]
Kệ
tóm tắt:
Ưu-ca,
Minh, Tố-ma,
Ma-đà,
Ca, Đề-bà,
Nhật
Quang, Ma-na-bà,
Tỳ-ma-đạt,
Phổ Chiếu.
KINH
SỐ 5
Tỳ-kheo-ni
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, tâm hằng nhẫn nhục
như đất bao dung, chính là Tỳ-kheo-ni Đàm-ma-đề[194].
Hay
dạy bảo mọi người, khiến lập hội bố thí, chính
là Tỳ-kheo-ni Tu-dạ-ma. [195]
Phân
bố chỗ ngồi chỗ nằm, cũng là Tỳ-kheo-ni Tu-dạ-ma.
Tâm
đã vĩnh viễn lắng đọng, không còn khởi loạn tưởng,
chính là Tỳ-kheo-ni Nhân-đà-xà.[196]
Quán
rõ các pháp mà không bao giờ chán, chính là Tỳ-kheo-ni
Long.[197]
Ý
chí kiên cường, dũng mãnh, không bị nhiễm đắm, chính
là Tỳ-kheo-ni Câu-na-la.[198]
Nhập
thủy tam-muội, thấm nhuần khắp tất cả, chính là
Tỳ-kheo-ni Bà-tu.[199]
Nhập
diệm quang tam-muội, tất chiếu khắp cả [559c] mọi loài,
chính là Tỳ-kheo-ni Hàng-đề.[200]
Quán
bất tịnh ghê tởm, phân biệt duyên khởi, chính là Tỳ-kheo-ni
Giá-ba-la.[201]
Nuôi
dạy mọi người, cung cấp mọi thiếu thốn, chính là
Tỳ-kheo-ni Thủ-ca.[202]
Tỳ-kheo-ni
đệ nhất cuối cùng trong hàng Thanh văn của Ta, chính
là Tỳ-kheo-ni Bạt-đà Quân-đà-la[203] nước Câu-di.
Kê.
tóm tắt:
Đàm-ma,
Tu-dạ-ma,
Nhân-đề,
Long, Câu-na;
Bà-tu,
Hàng, Giá-ba,
Thủ-ca,
Bạt-đà-la.
Năm
mươi Tỳ-kheo-ni này, cần được nói rộng như trên.
6.
PHẨM
THANH TÍN SĨ[204]
KINH
SỐ 1
Ưu-bà-tắc
đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, người đầu tiên
nghe pháp dược mà chứng thành Hiền thánh, chính là
thương khách Tam Quả.[205]
Trí
tuệ đệ nhất, chính là Gia chủ Chất-đa.[206]
Thần
đức đệ nhất, chính là Kiền-đề A-lam. [207]
Hàng
phục ngoại đạo, chính là Gia chủ Quật-đa.[208]
Thường
nói pháp sâu, chính là Gia chủ Ưu-ba-quật.[209]
Thường
tọa thiền tư duy, chính là Ha-Xỉ A-la-bà.[210]
Hàng
phục bọn ma[211], chính là Gia chủ Dũng Kiện.[212]
Phước
đức sung mãn, chính là Gia chủ Xà-lợi.[213]
Chủ
đại đàn thí, chính là Gia chủ Tu-đạt.[214]
Thành
tựu môn tộc, chính là Gia chủ Mẫn-dật[215].
Kệ
tóm tắt:
Tam Quả, Chất, Kiền-đề,
Quật, Ba cùng La-bà;
Dũng, Đồ-lợi, Tu-đạt,
Mẫn-thố gọi là mười.
KINH
SỐ 2
Ưu-bà-tắc
đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, ưa hỏi nghĩa thú,
chính là Bà-la-môn Sanh Lậu[216].
Lợi
căṇ thông minh, chính là Phạm-ma-du.[217]
Tín
sứ của chư Phật, chính là Ngự Mã Ma-nạp.[218]
Xét
thân vô ngã, chính là Bà-la-môn Hỷ Văn Cầm.[219]
Bàn
luận không ai hơn, chính là Bà-la-môn Tỳ-cừu.[220]
Hay
sáng tác kệ tụng, chính là Gia chủ Ưu-bà-ly[221].
Nói
năng nhanh lẹ, cũng là Gia chủ Ưu-bà-ly.
Thích
bố thí của báu tốt, không có lòng tiếc, chính là
Gia chủ Thù-đề. [222]
Kiến
lập gốc thiện, chính là Ưu-ca Tỳ-xá-ly.[223]
[560a01]
Hay nói pháp vi diệu, chính là Ưu-bà-tắc Tối Thượng
Vô Úy.[224]
Những
điều nói ra không sợ, khéo xem xét căn cơ mọi người,
chính là đại tướng lãnh Đầu-ma[225] thành Ty-xá-ly.
Kệ
tóm tắt:
Sanh
Lậu, Phạm-ma-du,
Ngự-mã
cùng Văn Cầm,
Tỳ-cừu,
Ưu-ba-ly,
Thù-đề,
Ưu, Uý, Ma.
KINH
SỐ 3
Ưu-bà-tắc
đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, vui ban ân huệ,
chính là vua Bình-sa.[226]
Sở
thí ít ỏi, chính là vua Quang Minh.[227]
Kiến
lập gốc lành, chính là vua Ba-tư-nặc.[228]
Được
tín tâm thiện vô căn[229], khởi lòng hoan hỷ, chính là
vua A-xà-thế.[230]
Chí
tâm hướng về Phật, ý không biến dịch, chính là vua
Ưu-điền.[231]
Thừa
sự chánh pháp, chính là Vương tử Nguyệt Quang.[232]
Cung
phụng Thánh chúng, ý luôn bình đẳng, chính là vương
tử Tạo Kỳ-hoàn[233].
Thường
thích giúp người, hơn là tự vì mình, chính là vương
tử Sư Tử.[234]
Khéo
phụng kính người, không phân cao thấp, chính là vương
tử Vô Úy[235].
Tướng
mạo đoan chánh, đẹp đẽ hơn người, chính là vương
tử Kê-đầu.[236]
Kệ
tóm tắt:
Bình-sa
vương, Quang Minh,
Ba-tư-nặc,
Xà vương,
Nguyệt,
Kỳ-hoàn, Ưu-điền,
Sư
Tử, Úy, Kê-đầu.
KINH
SỐ 4
Ưu-bà-tắc
đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, thường hành tâm
từ, chính là Gia chủ Bất-ni.[237]
Tâm
thường bi niệm tất cả các loài, chính là Thích chủng
Ma-ha-nạp[238].
Thường
hành tâm hoan hỷ, chính là Thích chủng Bạt-đà.[239]
Thường
giữ tâm không mất thiện hành, chính là Ưu-bà-tắc Tỳ-xà-tiên.[240]
Khả
năng hành nhẫn nhục, chính là Đại tướng Sư Tử.[241]
Luận
biện nhiều đề tài, chính là Ưu-bà-tắc Tỳ-xá-ngự.[242]
Im
lặng như Hiền thánh, chính là Ưu-bà-tắc Nan-đề-bà-la.
Siêng
tu hạnh lành không dừng nghỉ, chính là Ưu-bà-tắc Ưu-đa-la.
Các
căn tịch tĩnh, chính là Ưu-bà-tắc Thiên-ma.[243]
Người
chứng quả cuối cùng trong hàng đệ tử của Ta, chính
là Câu-di-na Ma-la.[244]
Kệ
tóm tắt:
Bất-ni,
Ma-ha-nạp,
Bạt-đà,
Ưu-đa-la,
Sư
Tử, Tỳ-xá, Ly,
Ưu-đa,
Thiên, Ma-la.
Bốn
mươi Ưu-bà-tắc này, đều nên nói rộng như trên.
7.
PHẨM
THANH TÍN NỮ[245]
KINH
SỐ 1
Ưu-bà-di
đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, người đầu tiên
thọ trì đạo mà chứng quả, chính là Ưu-bà-di[246] [560b01]
Nan-đà Nan-đà-bà-la.[247]
Trí
tuệ đệ nhất, chính là Ưu-bà-di Cửu-thọ-đa-la.[248]
Thường
thích tọa thiền, chính là Ưu-bà-di Tu-tỳ-da-nữ.[249]
Huệ
căn tỏ rõ, chính là Ưu-bà-di Tỳ-phù.[250]
Kham
năng nói pháp, chính là Ưu-bà-di Ương-kiệt-xà.[251]
Khéo
diễn nghĩa kinh, chính là Ưu-bà-di Bạt-đà-sa-la Tu-diệm-ma.
[252]
Hàng
phục ngoại đạo, chính là Ưu-bà-di Bà-tu-đà.[253]
Âm
vang trong suốt, chính là Ưu-bà-di Vô Ưu.[254]
Hay
luận giải nhiều đề tài, chính là Ưu-bà-di Bà-la-đà.[255]
Dõng
mãnh tinh tấn, chính là Ưu-bà-di Tu-đầu.[256]
Kệ
tóm tắt:
Nan-đà-đà,
Cửu-thọ,
Tu-tỳ,
Ương-kiệt-xà;