BA
PHÁP
21.
PHẨM
TAM BẢO
KINH
SỐ 1
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tự
quy có ba đức. Những gì là ba? Đó là quy y Phật là đức
thứ nhất; quy y Pháp là đức thứ hai; [602a01] quy y Tăng là
đức thứ ba.[1]
“Sao
gọi là đức quy y Phật? Trong các loại chúng sanh hai chân,
bốn chân, nhiều chân; hoặc có sắc, không sắc; hoặc có
tưởng, không tưởng; cho đến trên trời Nê-duy-tiên,[2] trong
đó, Như Lai là bậc tối tôn, tối thượng không ai có thể
sánh bằng. Như từ bò được sữa; từ sữa được lạc;
từ lạc được tô, từ tô được đề-hồ.[3] Song ở trong
đó đề-hồ lại tối tôn, tối thượng, không gì có thể
sánh bằng. Đây cũng như vậy, trong các loại những chúng
sanh hai chân, bốn chân, nhiều chân; hoặc có sắc, không sắc;
hoặc có tưởng, không tưởng; cho đến trên Nê-duy-tiên thiên,
trong đó, Như Lai là bậc tối tôn, tối thượng, không ai có
thể sánh bằng. Những chúng sanh nào phụng thờ Phật, đó
gọi là phụng thờ đức thứ nhất. Đã được đức thứ
nhất, liền hưởng phước trời ngay trong loài người. Đây
gọi là đức thứ nhất.
“Sao
gọi là đức tự quy y Pháp? Các pháp hữu lậu, vô lậu, hữu
vi, vô vi, vô dục, vô nhiễm, diệt tận, Niết-bàn; trong các
pháp đó, pháp Niết-bàn là tối tôn, tối thượng, không pháp
nào có thể sánh bằng. Như từ bò được sữa; từ sữa được
lạc; từ lạc được tô; từ tô được đề-hồ. Song trong
đó đề-hồ lại là tối tôn, tối thượng, không gì có
thể sánh bằng. Đây cũng như vậy, các pháp hữu lậu, vô
lậu, hữu vi, vô vi, vô dục, vô nhiễm, diệt tận, Niết-bàn.
Song ở trong các pháp đó, pháp Niết-bàn là tối tôn tối
thượng, không pháp nào có thể sánh bằng. Chúng sanh nào phụng
thờ Pháp, đó gọi là phụng thờ đức thứ nhất. Đã được
đức thứ nhất, liền hưởng phước trời ở ngay trong loài
người. Đây gọi là đức thứ nhất.
“Sao
gọi là đức tự quy y Thánh chúng? Trong các đại chúng, đại
tụ tập, trong các loại hữu hình, trong các chúng sanh, trong
các chúng ấy, Chúng Tăng của Như Lai là tối tôn, tối thượng,
không chúng nào có thể sánh bằng. Như từ bò được sữa;
từ sữa được lạc; từ lạc được tô; từ tô được đề-hồ.
Song trong đó đề-hồ lại là tối tôn, tối thượng, không
gì có thể sánh bằng. Đây cũng như vậy, trong các đại
chúng, đại tụ tập, trong các loại hữu hình, trong các chúng
sanh trong các chúng ấy, Chúng Tăng của Như Lai là tối tôn,
tối thượng, không chúng nào có thể sánh bằng. Đó gọi
là phụng thờ đức thứ nhất. Đã được đức thứ nhất,
liền hưởng phước trời trong loài người. Đây gọi là đức
thứ nhất.
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
[602b01]Thứ
nhất tôn thờ Phật,
Tối
tôn không gì hơn.
Kế
lại tôn thờ Pháp
Vô
dục, không dính trước.
Kính
phụng Chúng Hiền Thánh,
Là
ruộng phước tốt nhất.
Người
đó trí bậc nhất,
Thọ
phước ở trước hết.[4]
Nếu
ở trong trời người,
Thủ
lãnh trong các chúng.
Ngồi
trên chỗ vi diệu;
Tự
nhiên thọ cam lồ;
Thân
mặc y bảy báu;
Được
người đời tôn kính.
Giới
thành tựu bậc nhất;
Các
căn không khuyết mất;
Cũng
được biển trí huệ;
Dần
đến niết-bàn giới.
Ai
có ba quy nầy
Đến
đạo cũng không khó.
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba phước nghiệp nầy.[5] Sao gọi là ba? Thí là phước nghiệp,
bình đẳng là phước nghiệp, tư duy là phước nghiệp.
“Sao
gọi thí là phước nghiệp? Nếu có một người mở lòng bố
thí Sa-môn Bà-la-môn, người bần cùng, người cô độc, người
lang thang; ai cần thức ăn cho thức ăn, cần nước uống cho
nước uống, quần áo, đồ ăn thức uống, gường chiếu,
ngọa cụ, thuốc trị bệnh, hương hoa, ngủ nghỉ, tùy theo
nhu cầu không gì luyến tiếc. Đây gọi là nghiệp phước
bố thí.
“Sao
gọi là bình đẳng[6] là phước nghiệp? Nếu có một người
không sát sanh, không trộm cắp, thường biết tàm quý, không
nảy tưởng ác. Cũng không trộm cắp, ưa ban thí cho người,
không có tâm tham lam keo kiết, lời nói hòa nhã không tổn
thương lòng người. Cũng không gian dâm vợ người, tự tu
phạm hạnh, tự đủ với sắc mình. Cũng không vọng ngữ,
thường nghĩ chí thành, không lời dối trá, được người
đời tôn kính, không có thêm bớt. Cũng không uống rượu,
luôn biết tránh xa loạn động.
“Lại
rải tâm từ trải khắp một phương, hai phương, ba phương,
bốn phương cũng như vậy; tám phương trên dưới, trải khắp
trong đó, vô lượng, vô hạn, không thể cùng, không thể tính
kể; rải tâm từ này phủ khắp tất cả, mong cho được an
ổn.
“Lại
rải tâm bi, hỷ, xả* trải khắp một phương, hai phương,
ba phương, bốn phương cũng như vậy; tám phương trên dưới,
tất khắp trong đó, vô lượng, vô hạn, [0602c01] không thể
tính kể; rải tâm bi, hỷ, xả nầy tất khắp trong đó. Đó
gọi là bình đẳng là phước nghiệp.
“Sao
gọi tư duy[7] là phước nghiệp? Ở đây, Tỳ-kheo tu hành niệm
giác chi, y vô dục, y viễn ly,[8] y diệt tận, y xuất yếu;
tu trạch pháp giác chi, tu hỷ* giác chi, tu khinh an* giác chi,
tu định giác chi, tu xả* giác chi; y vô dục, y viễn ly, y diệt
tận, y xuất yếu. Đó gọi tư duy là phước nghiệp. Như
vậy Tỳ-kheo, có ba phước nghiệp này.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Bố
thí và bình đẳng
Từ
tâm, xả*, tư duy
Có
ba xứ sở [9] nầy
Được
người trí gần gũi.
Đời
nầy thọ báo kia,
Trên
trời cũng như vậy.
Duyên
có ba xứ này
Sanh
thiên ắt không nghi.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm phương tiện cầu ba xứ* nầy.
Các Tỳ-kheo, hãy học tập điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba nhân duyên thức đến thọ thai.[10] Những gì là ba? Ở đây,
Tỳ-kheo, mẹ có dục ý, cha mẹ hội hợp ở một chỗ và
cùng ngủ chung, nhưng thức bên ngoài chưa đến kịp lúc thì
chẳng thành thai. Nếu thức muốn đến, nhưng cha mẹ không
hội hợp một chỗ, chẳng thành thai. Nếu người mẹ không
dục, dù cha mẹ hội hợp một chỗ, nhưng lúc đó dục ý
của cha thạnh mà mẹ thật không ân cần, chẳng thành thai.
Nếu cha mẹ cùng hợp một chỗ, dục ý của mẹ thạnh mà
cha thật không ân cần, chẳng thành thai. Nếu cha mẹ cùng
hợp một chỗ, cha mắc bệnh phong, mẹ mắc bệnh lãnh,
chẳng thành thai. Nếu khi cha mẹ cùng hợp một chỗ, mẹ
bị bệnh phong, cha bị bệnh lãnh, chẳng thành thai. Nếu có
khi cha mẹ hợp một chỗ, nhưng chỉ riêng thân cha thủy khí
nhiều, mẹ không có chứng này, chẳng thành thai. Nếu khi
cha mẹ cùng hợp một chỗ, tướng cha có con, tướng mẹ
không con, chẳng thành thai. Nếu khi cha mẹ [603a01] cùng
hợp một chỗ, tướng mẹ có con, tướng cha không con,
chẳng thành thai. Nếu khi tướng cha mẹ đều không con,
chẳng thành thai. Nếu có khi thần thức đến thai, mà
cha đi vắng, chẳng thành thai. Nếu khi cha mẹ đáng hợp
một chỗ, nhưng mẹ đi xa, không có mặt, không có thai. Nếu
có lúc cha mẹ đáng hợp một chỗ, nhưng người cha gặp bệnh
nặng, khi thần thức đến, chẳng thành thai. Nếu cha
mẹ đáng hợp một chỗ, thần thức có đến, song người
mẹ mắc bệnh nặng, chẳng thành thai. Nếu có lúc cha
mẹ nên hợp một chỗ, thần thức đến, nhưng cha mẹ
đều mắc bệnh, chẳng thành thai.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, nếu cha mẹ hợp ở một chỗ, cha mẹ không
chứng tật gì, thần thức đến, tướng cha mẹ đều
có con, đây thành thai. Đó gọi là có ba nhân duyên thức
đến thọ thai. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm phương
tiện đoạn dứt ba nhân duyên.
“Này
các Tỳ kheo, hãy học tập điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 4
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thê tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có chúng sanh muốn khởi từ tâm, có ý chí tín, vâng phục
phụng sự cha mẹ, anh em, tông tộc, gia thất, bè bạn tri thức,
nên an lập những người này trên ba xứ khiến không di động.[11]
Những gì là ba? Khiến họ phát tâm hoan hỷ đối với Như
Lai[12], tâm không di động rằng: ‘Ngài là Như Lai, Chí chân,
Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải,
Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân sư, hiệu
Phật Thế Tôn.’ Lại khiến họ phát tâm hoan hỷ nơi Chánh
pháp[13] rằng: ‘Pháp được Như Lai khéo nói, vô ngại, cực
kỳ vi diệu, do đây mà thành quả; pháp như vậy được học
và biết bởi người trí.’ Cũng khiến họ phát tâm hoan hỷ
nơi Thánh chúng này[14] rằng: ‘Thánh Chúng của Như Lai tất
cả đều hòa hợp, không có lẫn lộn, thành tựu pháp, thành
tựu giới, thành tựu tam-muội, thành tựu trí huệ, thành
tựu giải thoát, thành tựu giải thoát kiến huệ. Thánh chúng
ấy gồm có bốn đôi tám hạng, mười hai Hiền Thánh.[15]
Đây là Thánh Chúng của Như Lai, đáng kính, đáng quí. Đây
là ruộng phước vô lượng thế gian.’ Các Tỳ-kheo nào học
ba xứ nầy sẽ thành tựu quả báo lớn.
“Này
các Tỳ-kheo, hãy học tập điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, [603b01] hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 5[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Tỳ-kheo Cù-ba-li[17] đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh
lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Rồi vị Tỳ-kheo kia
bạch Phật:
“Những
việc mà Tỳ-kheo Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên này làm, thật
là xấu xa, làm các ác hành.”
Thế
Tôn bảo rằng:
“Chớ
nói những lời như vậy. Ông hãy phát tâm hoan hỷ đối với
Như Lai. Những việc mà Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
làm đều là thuần thiện, không có việc nào xấu ác.”
Khi
đó, Tỳ-kheo Cù-ba-li hai ba lần bạch Thế Tôn:
“Những
điều đức Như Lai nói thật không hư vọng. song những việc
Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên làm đều thật xấu
ác, không có gốc rễ thiện.”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Này
kẻ ngu si kia, ngươi há không tin những gì Như Lai đã nói
sao? Vì vậy mà ngươi nói những việc Tỳ-kheo Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên làm đều rất xấu ác. Nay ông tạo hành vi
xấu ác này, sau không lâu sẽ nhận quả báo.”
Bấy
giờ, Tỳ-kheo kia ngay trên chỗ ngồi, thân mọc nhọt độc
lớn bằng hạt cải, chuyển như hạt đậu lớn, dần dần
bằng trái a-ma-lặc, gần bằng hồ đào, rồi bằng nắm tay,
máu mủ tuôn ra, thân hoại mạng chung, sanh trong địa ngục
Hoa sen.[18]
Khi
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghe Cù-ba-li mạng chung, liền
đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên.
Một lát sau, rời khỏi chỗ ngồi, bạch Thế Tôn:
“Tỳ-kheo
Cù-ba-li bị sinh nơi nào?”
Thế
Tôn bảo:
“Người
đó mạng chung, sinh trong địa ngục Hoa sen.”
Mục-liên
bạch đức Thế Tôn:
“Nay
con muốn đi đến địa ngục kia giáo hóa người này.”
Thế
Tôn bảo:
“Mục-liên,
không cần đến đó.”
Mục-liên
lập lại bạch Thế Tôn lần nữa:
“Con
muốn đến địa ngục kia giáo hóa người đó.”
Thế
Tôn cũng im lặng không đáp. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên,
trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay, từ Xá-vệ
biến mất, hiện đến trong địa ngục lớn Hoa sen. Ngay lúc
đó, Tỳ-kheo Cù-ba-li thân thể bị lửa đốt, lại có hàng
trăm con trâu cày trên lưỡi ông.
Bấy
giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đang ngồi kiết già ở
giữa không trung, búng ngón tay gọi Tỳ-kheo kia. Tỳ-kheo kia
liền ngửa mặt hỏi:
“Ông
là người nào?”
Mục-kiền-liên
đáp:
“Cù-ba-li,
tôi là đệ tử của đức Phật Thích-ca Văn, tên Mục-kiền-liên,
họ Câu-lị-đà.”
Khi
Tỳ-kheo thấy [603c01] Mục-liên, liền buông lời hung dữ như
vầy: “Nay ta đọa ác thú nầy, còn không tránh khỏi ông
ở trước mặt sao?” Nói như vậy rồi, ngay lúc đó có ngàn
con trâu cày lên lưỡi ông. Mục-liên thấy vậy càng thêm
sầu não, trong lòng nuối tiếc, biến mất ở nơi đó, trở
về Xá-vệ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi
đứng qua một bên. Bấy giờ, Mục-liên đem nhân đem nhân
duyên nầy bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Thế
Tôn bảo:
“Trước
Ta đã nói với ông, không cần đến đó gặp người ác nầy.”
Bấy
giờ Thế Tôn nói kệ thế nầy:
Phàm
người sinh ra,
Búa
ở trong miệng.
Sở
dĩ chém thân,
Do
lời ác kia.
Người
dứt ta dứt,
Cả
hai đều thiện.
Đã
tạo hành ác,
Tất
đọa đường ác.
Đó
là cực ác,
Có
hết, không hết.
Ác
đối Như Lai,
Tội
nầy rất nặng.
Một
vạn ba ngàn
Sáu
mốt ngục Tro;
Chê
Thánh rơi vào,
Do
thân khẩu tạo.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nên
học ba pháp, thành tựu hạnh mình. Thế nào là ba? Thân làm
thiện, miệng nói thiện, và ý nghĩ thiện.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học tập những điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 6[19]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào thành tựu ba pháp, ở trong hiện pháp khéo
được khoái lạc, dõng mãnh tinh tấn hữu lậu dứt sạch.[20]
Thế nào là ba? Ở đây, Tỳ-kheo, các căn tịch tịnh,[21] ăn
uống biết tiết độ, không bỏ kinh hành[22].
“Tỳ-kheo,
thế nào các căn tịch tịnh? Ở đây, Tỳ-kheo khi mắt thấy
sắc, không khởi tưởng đắm, không có thức niệm,[23] được
sự thanh tịnh ở nơi nhãn căn; vì để giải thoát khỏi những
cái ấy[24] nên luôn thủ hộ nhãn căn. Khi tai nghe tiếng, mũi
ngưởi hương, lưỡi biết vị, thân biết mịn láng, ý biết
pháp, không khởi tưởng đắm, không có thức niệm, được
sự thanh tịnh ở nơi nhãn căn; vì để giải thoát khỏi những
cái ấy nên luôn thủ hộ ý căn. Như vậy là Tỳ-kheo có các
căn tịch tịnh.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo ăn uống biết tiết độ? Ở đây, Tỳ-kheo
suy xét những đồ ăn thức uống từ đâu mà đến; ăn không
vì để mập trắng, mà chỉ muốn duy trì [604a01] thân hình,
bốn đại được nguyên vẹn: ‘Nay tôi phải trừ cảm thọ
cũ,[25] khiến cảm thọ* mới không sanh, để thân đủ sức,
được tu hành đạo, khiến cho phạm hạnh không dứt.’ Cũng
như thân nam, nữ nổi lên nhọt độc, phải dùng cao mỡ bôi
nhọt. Sở dĩ bôi nhọt là muốn chóng khỏi. Đây cũng như
vậy, các Tỳ-kheo, ăn uống biết tiết độ. Ở đây, Tỳ-kheo
suy xét đồ ăn thức uống từ đâu mà đến; ăn không vì
để mập trắng, mà chỉ muốn duy trì thân hình, bốn đại
được nguyên vẹn: ‘Nay tôi phải trừ cảm thọ* cũ, khiến
cảm thọ* mới không sanh, để thân đủ sức, được tu hành
đạo, khiến cho phạm hạnh không dứt.’Cũng như xe cộ chở
nặng, sở dĩ bôi mỡ trục là muốn đem vật nặng đến nơi.
Tỳ-kheo cũng lại như vậy, ăn uống biết tiết độ, suy xét
những đồ ăn thức uống từ đâu đến, ăn không vì để
mập trắng, mà chỉ muốn duy trì thân hình, bốn đại được
nguyên vẹn: ‘Nay tôi phải trừ cảm thọ* cũ, khiến cảm
thọ* mới không sanh, để thân đủ sức, được tu hành đạo,
khiến cho phạm hạnh không dứt.’ Tỳ-kheo ăn uống biết
tiết độ là như vậy.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo không bỏ kinh hành? Ở đây, Tỳ-kheo, đầu
hôm cuối hôm luôn nhớ kinh hành không sai thời khóa, thường
niệm tưởng buộc ý vào trong đạo phẩm. Nếu là ban ngày,
hoặc đi hoặc ngồi, tư duy diệu pháp, trừ khử ấm cái.[26]
Rồi lúc đầu hôm, hoặc đi hoặc ngồi, tư duy diệu pháp,
trừ khử ấm cái. Rồi vào giữa đêm nằm nghiêng bên phải,
tư duy buộc ý vào nơi ánh sáng. Rồi đến cuối hôm thức
dậy, hoặc đi, hoặc tư duy diệu pháp, trừ khử ấm cái.
Như vậy là Tỳ-kheo không bỏ kinh hành.
“Nếu
có Tỳ-kheo nào mà các căn tịch tịnh, ăn uống biết tiết
độ,
không bỏ kinh hành, thường niệm buộc ý vào trong đạo phẩm,
Tỳ-kheo này đạt được một trong hai quả[27], ở trong hiện
pháp hoặc chứng chánh trí,[28] hoặc đắc A-na-hàm. Cũng như
người đánh xe giỏi, ở trên đường bằng thẳng, đánh xe
tứ mã không bị ngưng trệ, muốn đến nơi nào, chắc chắn
được không nghi ngờ. Tỳ-kheo nầy cũng lại như vậy, các
căn tịch tịnh, ăn uống biết tiết độ, không bỏ kinh hành,
thường niệm buộc ý ở trong đạo phẩm, Tỳ-kheo nầy liền
thành một trong hai quả, ở trong hiện pháp hoặc dứt sạch
các lậu, hoặc đắc A-na-hàm[29].”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thê tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba bệnh lớn. Những gì là [604b01] ba? Phong là bệnh lớn; đàm
là bệnh lớn; lãnh là bệnh lớn. Các Tỳ-kheo, đó gọi là
ba bệnh lớn. Lại có ba thứ thuốc hay. Những gì là ba? Nếu
bệnh phong, tô[30] là thuốc hay, và tô dùng làm thức ăn. Nếu
bệnh đờm, mật làm thuốc hay, và mật dùng làm thức ăn.
Nếu bệnh lãnh, dầu[31] là thuốc hay, và dầu dùng làm thức
ăn. Tỳ-kheo, đó gọi là ba loại bệnh lớn này, có ba thứ
thuốc này.
“Cũng
vậy, Tỳ-kheo cũng có ba loại bệnh lớn. Những gì là ba?
Đó là tham dục, sân nhuế, ngu si. Tỳ-kheo, đó gọi là có
ba loại bệnh lớn này. Song, ba loại bệnh lớn nầy, lại
có ba thứ thuốc hay. Những gì là ba? Nếu lúc tham dục khởi,
thường trị bằng bất tịnh, và tư duy bất tịnh đạo. Nếu
bệnh lớn là sân nhuế, thường trị bằng từ tâm, và tư
duy từ tâm đạo. Nếu bệnh lớn là ngu si, thường trị bằng
trí huệ, và duyên khởi đạo. Này Tỳ-kheo, đó gọi là ba
loại bệnh lớn này, có ba thứ thuốc này. Cho nên Tỳ-kheo
phải cầu phương tiện tìm ba loại thuốc nầy.
“Này
các Tỳ-kheo, hãy học tập điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thê tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba hành vi ác. Những gì là ba? Đó là thân làm ác, miệng nói
ác, ý nghĩ ác. Tỳ-kheo, đó gọi là có ba hành vi ác nầy,
phải tìm cầu phương tiện tu ba hành vi thiện. Những gì là
ba? Nếu thân làm ác, phải tu hành vi thiện nơi thân. Miệng
nói ác, phải tu hành vi thiện nơi miệng. Ý nghĩ ác, phải
tu hành vi thiện nơi ý.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ này:
Giữ
thân không hành ác;
Tu
tập thân thiện hành.
Niệm
xả thân ác hành;
Hãy
học thân thiện hành.
Giữ
miệng không hành ác;
Tu
tập miệng hành thiện.
Niệm
xả miệng nói ác
Hãy
học miệng nói thiện.
Giữ
ý không hành ác;
Tu
tập ý nghĩ thiện.
Niệm
xả ý hành ác;
Hãy
học ý nghĩ thiện.
Lành
thay, thân hành thiện!
Khẩu
hành cũng như vậy
[604c01]Lành
thay ý hành thiện!
Tất
cả cũng như vậy.[32]
Giữ
khẩu ý thanh tịnh,
Thân
không hành vi ác.
Ba
nghiếp đạo[33] thanh tịnh,
Đường
vô vi Đại Tiên.[34]
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, hãy xả bỏ ba hành vi ác, tu ba hành
vi thiện.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học tập điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, số đông Tỳ-kheo, đến giờ, khoác y, cầm bát, vào
thành khất thực. Lúc đó, các Tỳ-kheo nghĩ rằng: “Chúng
ta vào thành khất thực giờ này còn sớm. Giờ nên dẫn nhau
đến chỗ của phạm-chí ngoại đạo[36].” Rồi số đông
các Tỳ-kheo đi đến chỗ phạm-chí dị học.[37] Sau khi chào
hỏi nhau xong, họ ngồi xuống một bên. Lúc đó ngoại đạo
phạm-chí hỏi Sa-môn:
“Đạo
sĩ Cù-đàm thường nói về dục luận,[38] sắc luận, thọ*
luận, tưởng luận. Những luận như vậy có gì sai khác? Những
gì chúng tôi luận cũng là những gì Sa-môn nói. Những gì
Sa-môn nói cũng là những gì chúng tôi luận. Thuyết pháp giống
như tôi thuyết pháp. Dạy dỗ giống như tôi dạy dỗ.”
Các
Tỳ-kheo nghe những lời này xong, không nói đúng, cũng không
nói sai, rời chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi, vừa suy nghĩ, như
vầy: “Chúng ta nên đem nghĩa nầy đến hỏi đức Thế Tôn.”
Các
Tỳ-kheo sau khi ăn xong, đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh
lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Khi đó, các Tỳ-kheo
đem nhân duyên đầu đuôi câu chuyện đã nghe từ chỗ Phạm-chí,
bạch hết lên Thế Tôn.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
phạm chí kia hỏi như vậy, các ngươi nên đem nghĩa nầy hỏi
lại họ: ‘Dục có vị ngọt gì, lại có tai họa gì phải
lìa bỏ dục?[39] Sắc có vị ngọt gì, lại có tai họa gì
phải lìa bỏ sắc? Thọ có vị ngọt gì, lại có tai họa
gì phải lìa bỏ thọ?’ Nếu các ngươi đem những lời nầy
đáp lại câu hỏi của họ, các pham chí ấy sẽ lặng im không
trả lời được. Giả sử có nói, cũng không thể giải thích
nghĩa sâu xa nầy, mà còn tăng trưởng ngu hoặc, rơi vào ngõ
cụt. Vì sao vậy? Vì chẳng phải cảnh giới của họ. Lại
nữa, này Tỳ-kheo, Ma cùng Ma thiên, Thích, Phạm, Tứ Thiên
vương, Sa-môn, Bà-la-môn, người và phi nhân, ai mà có thể
hiểu nghĩa sâu nầy, trừ [605a01] Như Lai Đẳng chánh giác
và Thánh chúng của Như Lai, hay những người thọ giáo của
Ta, những người nầy thì không luận đến.[40]
“Dục
có vị ngọt gì? Đó chính là năm dục.[41] Những gì là năm?
Sắc được thấy bởi mắt làm khởi nhãn thức, rất đáng
yêu, đáng nhớ, được người đời ưa thích. Tiếng được
nghe bởi, được ngửi bởi mũi, vị được nếm bởi lưỡi,
mịn láng được xúc bởi thân, rất đáng yêu, đáng nhớ,
được người đời ưa thích. Khổ, lạc phát sinh từ trong
năm dục này, đó gọi là vị của dục.
“Dục
có tai họa gì? Ở đây, một thiện gia nam tử học các
kỹ thuật để tự kinh doanh cho mình; hoặc học làm ruộng,
hoặc học thư sớ, hoặc học làm thuê, hoặc học toán
số, hoặc học cân dối, hoặc học chạm khắc, hoặc
học thông tin qua lại, hoặc học hầu hạ vua, thân không
lánh nắng mưa, mệt nhọc cần khổ, không được tự do.
Làm những việc khổ cay nầy để thu hoạch sản nghiệp.
Đó là tai họa lớn của dục. Khổ não trong đời này
do ân ái này, đều do tham dục. Nhưng thiện gia nam tử kia
lại làm việc cực khổ vậy mà không được của cải,
trong lòng sầu lo khổ não không thể tính kể, tự suy
nghĩ rằng, ‘Ta làm công lao này, bày các phương kế, mà
không được tiền của.’ Các trường họp như vậy, nên
nghĩ đến lìa bỏ. Đó là nên lìa bỏ dục.
“Lại
nữa, khi thiện gia nam tử kia, hoặc khi bày phương kế vậy
mà được tiền của. Do được tiền của nên tìm đủ mọi
cách thích hợp để luôn tự giữ gìn, sợ vua chiếm đoạt,
bị giặc cướp giật, bị nước cuốn trôi, bị lửa thiêu
đốt. Lại nghĩ như vầy: ‘Ta muốn chôn dấu, nhưng sợ sau
quên mất. Ta muốn xuất ra sinh lời lại sợ không thể giữ.
Hay nhà sanh con xấu, tiêu phá tài sản của ta.’ Đại loại
như vậy, dục là tai hoạn lớn, do bởi gốc dục này đưa
đến tai biến này.
Lại
nữa, thiện gia nam tử kia thường sanh tâm này, là muốn gìn
giữ tài sản, sau đó vẫn bị quốc vương chiếm đoạt, bị
giặc cướp giật, bị nước cuốn trôi, bị lửa thiêu đốt;
những thứ chôn dấu cũng lại không thể giữ. Ngay khi muốn
xuất vốn kiếm lời cũng thu không được. Ở nhà sanh con
xấu, tiêu phá tài sản. Tiền vạn không thu được một. Trong
lòng sầu ưu, khổ não, đấm ngực kêu la: ‘Tiền của ta
có trước kia nay mất tất cả!’ Người ấy trở nên ngu
hoặc, tâm ý thác loạn. Cho nên, gọi dục là tai hoạn lớn,
do bởi gốc dục này không đến vô vi được.
“Lại
nữa, do bởi gốc dục nầy, mà con người mặc giáp, cầm
dao gậy, công phạt lẫn nhau. Chúng đánh nhau, hoặc ở trước
bầy voi, hoặc [605b02] ở trước bầy ngựa, hoặc ở trước
bộ binh, hoặc ở trước xa binh; cho ngựa đấu ngựa, cho voi
đấu voi, cho xe đấu xe, cho bộ binh đấu bộ binh; hoặc chém
nhau, bắn nhau, hoặc đâm nhau. Đại loại như vậy, dục là
tai hoạn lớn, vì dục là nguồn gốc đưa đến tai biến này.
“Lại
nữa, do bởi gốc dục nầy, mà con người mặc giáp, cầm
gậy, hoặc ở cửa thành, hoặc ở trên thành, chém nhau, bắn
nhau, hoặc dùng dáo đâm, hoặc dùng bánh xe sắt nghiến đầu,
hoặc tưới sắt nấu chảy, chịu đau đớn như vậy mà chết
rất nhiều.
“Lại
nữa, dục cũng không có thường, tất cả thay nhau biến đổi
không ngừng. Không hiểu rõ dục này biến đổi vô thường,
thì đây gọi dục là tai hoạn lớn.
“Sao
phải lìa bỏ dục? Nếu ai hay tu hành trừ tham dục;[42] đó
gọi là bỏ dục.
“Các
sa-môn, bà-la-môn mà không như thật biết tai hoạn lớn của
dục, cũng lại không biết nguyên do xả ly dục; không biết
sa-môn, oai nghi của sa-môn, không biết bà-la-môn, oai nghi của
bà-la-môn, những người ấy chẳng phải là sa-môn, chẳng
phải bà-la-môn, cũng lại không thể tự thân tác chứng mà
tự an trú[43]. Nghĩa là các sa-môn, bà-la-môn mà xét biết
dục là tai hoạn lớn, xa lìa dục, như thật không hư dối,
biết sa-môn có oai nghi của sa-môn, biết bà-la-môn có oai nghi
của bà-la-môn, tự thân tác chứng mà tự an trú*. Đó là
lìa bỏ dục.
“Sao
gọi là vị ngọt của sắc? Khi nó thấy con gái dòng sát-lợi,
con gái dòng bà-la-môn, con gái dòng trưởng giả, tuổi mười
bốn, mười lăm, mười sáu, không cao, không thấp, không mập,
không ốm, không trắng, không đen, xinh đẹp vô song, hiếm
có ở đời; vừa mới thấy nhan sắc ấy, nó liền khởi tưởng
yêu thích. Đó gọi là vị của sắc.
“Sao
gọi sắc là tai hoạn lớn? Lại nữa, sau nếu lại thấy người
con gái kia, tuổi đã tám mươi, chín mươi, cho đến trăm tuổi,
nhan sắc đổi khác, qua tuổi thiếu, tráng niên, răng rụng,
tóc bạc, thân thể cáu ghét, da dùn, mặt nhăn, lưng khòm,
rên rỉ, thân như xe cũ, hình dáng run rẩy, chống gậy mà
đi. Thế nào, các Tỳ-kheo, sắc đẹp được thấy ban đầu,
sau lại thấy đổi khác, há chẳng phải là tai hoạn lớn
sao?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, ở đây nếu thấy người con gái kia thân mang trọng
bịnh, nằm trên giường, đại tiểu tiện không thể đứng
dậy. [605c01] Thế nào, Tỳ-kheo, sắc đẹp được thấy trước
kia, nay trở nên bệnh này; há chẳng phải là tai hoạn lớn
sao?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Thế
Tôn bảo:
“Các
Tỳ-kheo, đó gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, nếu lại thấy người con gái kia, thân hoại
mạng chung, được đem đến gò mả. Thế nào, Tỳ-kheo, sắc
đẹp trước kia đã thấy, nay đã biến đổi; ở trong đó
mà tưởng khổ lạc; há chẳng phải là tai hoạn lớn sao?”
Các
Tỳ-kheo đáp rằng:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Thế
Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, nếu thấy người con gái kia, chết qua một ngày, hai
ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, cho đến bảy ngày; thân
thể sình chướng, rữa thối, tan rã, rơi vãi một nơi. Thế
nào, Tỳ-kheo, sắc đẹp có trước kia, đến nay thay đổi
đến như vậy; há chẳng phải là tai hoạn lớn sao?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, nếu thấy người con gái kia, bị quạ, chim khách, kên
kên, tranh nhau đến ăn thịt; hoặc bị beo, chó, sói, hổ,
thấy mà ăn thịt; hoặc các loài trùng ngọ nguậy rất nhỏ,
biết bò, bay, động đậy, thấy mà ăn thịt. Thế nào, Tỳ-kheo,
sắc đẹp người kia vốn có, nay biến đổi đến như vậy;
ở trong đó mà khởi tưởng khổ lạc, há chẳng phải là
tai hoạn lớn sao?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, nếu thấy thân người con gái kia, thân bị trùng quạ
đã ăn nửa, ruột, dạ dày, thịt, máu, ô uế bất tịnh.
Thế nào, Tỳ-kheo, sắc đẹp mà trước kia cô ấy có, nay
biến đổi đến như vậy; ở trong đó mà khởi tưởng khổ
lạc, há chẳng phải là tai hoạn lớn sao?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, nếu thấy thân người con gái kia, máu thịt đã hết,
chỉ còn hài cốt liền nhau. Thế nào, Tỳ-kheo, sắc đẹp
người kia từng có nay thay đổi đến nỗi như vậy; ở trong
đó mà khởi ý tưởng khổ lạc, há chẳng phải là tai hoạn
lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, nếu thấy thân người con gái kia, máu thịt đã hết,
chỉ có gân quấn ràng như bó củi. Thế nào, Tỳ-kheo, sắc
đẹp người kia từng có nay thay đổi đến nỗi như vậy;
ở trong đó mà khởi ý tưởng khổ lạc, há chẳng phải là
tai hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, nếu thấy thân người con gái kia, hài cốt tan rã mỗi
nơi, hoặc xương chân một chỗ, hoặc xương tay một chỗ,
hoặc [606a01] xương đùi một chỗ, hoặc xương hông một chỗ,
hoặc xương sườn một chỗ, hoặc xương bả vai một chỗ,
hoặc xương cổ một chỗ, hoặc đầu lâu một chỗ. Thế
nào, Tỳ-kheo, sắc đẹp người kia từng có nay thay đổi đến
như vậy; ở trong đó mà khởi ý tưởng khổ lạc, há chẳng
phải là tai hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, nếu thấy thân người con gái kia, xương cốt bạc trắng,
hoặc giống sắc bồ câu. Thế nào, Tỳ-kheo, sắc đẹp người
kia từng có nay thay đổi đến như vậy; ở trong đó mà khởi
ý tưởng khổ lạc, há chẳng phải là tai hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, nếu thấy thân người con gái kia, hài cốt trải qua
nhiều năm, hoặc bị mục nát, tan rã, giống như màu đất.
Thế nào, Tỳ-kheo, sắc đẹp người kia từng có nay thay đổi
đến như vậy; ở trong đó mà khởi ý tưởng khổ lạc, há
chẳng phải là tai hoạn lớn sao?
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Đức
Thế Tôn bảo:
“Đó
gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Lại
nữa, sắc nầy vô thường biến đổi, không được lâu dài,
không được bền vững[44]. Đó gọi sắc là tai hoạn lớn.
“Sao
gọi sắc là xuất yếu[45]? Nếu hay lìa nơi bỏ sắc, trừ
các loạn tưởng. Đó là lìa bỏ nơi sắc.[46] Những sa-môn,
bà-la-môn mà đăm trước sắc nơi sắc, không như thật biết
tai hoạn lớn, cũng không biết xả ly, đó không phải là sa-môn,
bà-la-môn; đối với sa-môn mà không biết oai nghi của sa-môn,
đối với bà-la-môn mà không biết oai nghi của bà-la-môn,
không thể tự thân tác chứng mà tự an trú*. Nghĩa là các
sa-môn, bà-la-môn mà không đắm trước sắc ở nơi sắc; biết
rõ sâu xa đại hoạn, biết xả ly, những người ấy ở nơi
sa-môn mà biết oai nghi của sa-môn, ở nơi bà-la-môn biết
oai nghi của bà-la-môn, tự thân tác chứng mà tự an trú*.
Đó gọi là lìa bỏ đối sắc.
“Sao
gọi là vị của thọ*? Ở đây, Tỳ-kheo, khi có cảm thọ
lạc, biết rằng ta có cảm thọ lạc. Khi có cảm thọ khổ,
biết rằng ta có cảm thọ khổ. Khi có cảm thọ không khổ
không lạc, biết rằng ta có cảm thọ không khổ không lạc.
Khi có cảm thọ lạc vật dục,[47] biết rằng ta có cảm thọ
lạc vật dục. Khi có cảm thọ khổ vật dục,* biết rằng
ta có cảm thọ khổ do ăn. Khi có cảm thọ không khổ không
lạc do ăn,* biết rằng ta có cảm thọ không khổ không lạc
do ăn. Khi có [6b01] cảm thọ khổ phi vật dục,[48] biết rằng
ta có cảm thọ khổ phi vật dục *. Khi có cảm thọ lạc phi
vật dục,* biết rằng ta có cảm thọ lạc không do ăn. Khi
có cảm thọ không khổ không lạc phi vật dục,* biết rằng
ta có cảm thọ không khổ không lạc phi vật dục *.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, khi có cảm thọ lạc, khi ấy không có cảm
thọ khổ, cũng lại không có cảm thọ không khổ không lạc;
bấy giờ ta chỉ có cảm thọ lạc. Khi có cảm thọ khổ,
khi ấy không có cảm thọ lạc, cũng lại không có cảm thọ
không khổ không lạc, chỉ có cảm thọ khổ.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, khi có cảm thọ không khổ không lạc, khi ấy
không có cảm thọ lạc và cảm thọ khổ, mà chỉ có cảm
thọ không khổ không lạc.
“Lại
nữa, thọ* là pháp vô thường biến đổi. Vì biết thọ*
là pháp vô thường biến đổi, cho nên gọi thọ là tai hoạn
lớn.
“Sao
gọi thọ là xuất yếu? Nếu hay xả ly thọ nơi thọ, trừ
các loạn tưởng.[49] Đó gọi là lìa bỏ đối cảm giác.
Những sa-môn, bà-la-môn nào mà đắm trước thọ nơi thọ,
không biết tai hoạn lớn, cũng không lìa bỏ, không như thật
biết; những người ấy chẳng phải sa-môn, bà-la-môn. Ở
nơi sa-môn không biết oai nghi của sa-môn. Ở nơi bà-la-môn
không biết oai nghi của bà-la-môn. Không thể tự thân chứng,
mà tự an trú*. Những sa-môn, bà-la-môn nào mà không đắm
trước thọ nơi thọ, biết rõ sâu xa là tai hoạn lớn, hay
biết xả ly, những người ấy ở nơi sa-môn mà biết oai nghi
của sa-môn; ở nơi bà-la-môn mà biết oai nghi của bà-la-môn,
tự thân tác chứng mà tự an trú*. Đó gọi là xả ly thọ.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, nếu có sa-môn, bà-la-môn nào không biết cảm
thọ khổ, cảm thọ lạc, cảm thọ không khổ không lạc;
không như thật biết, nhưng lại giảng dạy ngưới khác khiến
thực hành. Điểu này không xảy ra. Nếu có sa-môn, bà-la-môn
nào có thể xả ly thọ, như thật biết, lại khuyên dạy người
xả ly. Điều này có xảy ra. Đó gọi là xả ly nơi thọ.
“Các
Tỳ-kheo, nay Ta đã nói về sự đắm trước dục, vị của
dục, dục là tai hoạn lớn, lại có thể xả ly; cũng nói
về đắm trước sắc, vị của sắc, sắc là tai hoạn lớn,
có thể xả ly sắc. Đã nói về sự đắm trước thọ, vị
của thọ, thọ là tai hoạn lớn, có thể xả ly thọ.
“Những
gì các Như Lai cần làm, những gì cần thi thiết, nay Ta đều
đã chu tất. Các người hãy thường suy niệm ở dưới gốc
cây, trong rừng vắng, thiền tọa tư duy, chớ có giải đãi.
Đó là giáo sắc của Ta.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 10
[606c01]Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba thứ không chắc thật. Những gì là ba? Thân không chắc
thật, mạng không chắc thật, tài không chắc thật. Này các
Tỳ-kheo, đó gọi là ba thứ không chắc thật.
“Ở
đây, Tỳ-kheo, trong ba thứ không chắc thật, hãy phương tiện
tìm cầu làm thành ba thứ chắc thật. Những gì là ba? Thân
không chắc thật, tìm cầu nơi cái chắc thật. Mạng không
chắc thật, tìm cầu nơi cái chắc thật. Tài không chắc thật,
tìm cầu nơi cái chắc thật.
“Sao
gọi là thân không chắc thật, tìm cầu nơi chắc thật? Nghĩa
là khiêm nhường, cung kính, lễ bái, tùy lúc thăm hỏi. Đây
là thân không chắc thật, tìm cầu nơi chắc thật.
“Sao
gọi là mạng không chắc thật, tìm cầu nơi chắc thật? Ở
đây, thiện nam tử, thiện nữ nhân suốt đời không sát sanh,
không dùng dao gậy, thường biết tàm quí, có tâm từ bi, nghĩ
khắp tất cả chúng sanh; suốt đời không trộm cắp, thường
niệm bố thí, tâm không ý tưởng keo lẫn; suốt đời không
dâm dật, cũng không thông dâm vợ người; suốt đời không
vọng ngữ, thường nghĩ đến chí thành không khi dối người
đời; suốt đời không uống rượu, ý không tán loạn, giữ
giới cấm của Phật. Đó gọi là mạng không chắc thật,
tìm cầu nơi chắc thật.
“Sao
gọi là tài không chắc thật, tìm cầu nơi chắc thật? Thiện
nam tử, thiện nữ nhân thường niệm bố thí cho sa-môn, bà-la-môn,
các hàng nghèo khó. Người cần ăn thì cho ăn, cần nước
uống cho nước uống, y phục, đồ ăn thức uống, giường
nằm, tọa cụ, thuốc men chữa bệnh, nhà cửa thành quách,
những thứ gì cần đều đem cho hết; tài sản không chắc
thật, tìm cầu nơi chắc thật là như vậy.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là có ba thứ không chắc thật này, tìm
cầu nơi ba thứ chắc này.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Biết
thân không chắc thật;
Mạng
cũng không kiên cố;
Tài
sản, pháp suy mòn;
Người
nên cầu chắc thật.
Thân
người thật khó được;
Mạng
cũng chẳng dài lâu;
Tài
sản cũng hủy hoại;
Hoan
hỷ niệm bố thí.
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
Kệ
tóm tắt:
Thứ
nhất đức, phước nghiệp,
Ba
nhân, ba an, sợ,
Ba
đêm, bệnh, ác hành,
Trừ
khổ, không chắc thật.
22.
PHẨM
BA CÚNG DƯỜNG
KINH
SỐ 1
[607a01]
Tôi nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba người, xứng đáng được người đời cúng dường. Ba
người ấy là ai? Như Lai Chí chơn Đẳng chánh giác, xứng
đáng được người đời cúng dường. Đệ tử của đức
Như Lai, A-la-hán lậu tận, xứng đáng được người đời
cúng dường. Chuyển luân Thánh vương, xứng đáng được người
đời cúng dường.
“Có
nhân duyên gì mà Như Lai xứng đáng được người đời cúng
dường? Như Lai điều phục những ai chưa được điều phục,
hàng phục những ai chưa được hàng phục, độ những ai chưa
được độ, giải thoát những ai chưa được giải thoát,
khiến thành Niết-bàn những ai chưa bát-niết-bàn, cứu hộ
những ai chưa được cứu hộ, làm con mắt cho những ai mù
mắt. Như Lai là tối tôn đệ nhất, là ruộng phước tối
tôn, đáng kính, đáng quý giữa Ma, hoặc Ma thiên, trời và
người, làm đạo sư hướng dẫn loài người biết con đường
chánh, thuyết đạo giáo cho những ai chưa biết đạo. Do nhân
duyên này, Như Lai là xứng đáng được người đời cúng
dường.
“Có
nhân duyên gì mà đệ tử của Như Lai, A-la-hán lậu tận,
xứng đáng được người đời cúng dường? Tỳ-kheo nên biết,
A-la-hán lậu tận đã vượt qua được dòng sanh tử, không
còn tái sinh, đã đắc pháp vô thượng; dâm, nộ, si vĩnh viễn
diệt tận không còn, là ruộng phước của đời. Do nhân duyên
này, A-la-hán lậu tận xứng đáng được người đời cúng
dường.
“Lại
nữa, do nhân duyên gì mà Chuyển luân Thánh vương xứng đáng
được người đời cúng dường? Các Tỳ-kheo nên biết, Chuyển
luân Thánh vương dùng pháp để trị hóa, trọn không sát sanh,
lại dạy dỗ người khiến không sát sanh; tự mình không trộm
cắp và cũng dạy người khác không trộm cắp; tự mình không
dâm dật và dạy người khác không dâm dật; tự mình không
nói vọng ngữ và dạy người khác không vọng ngữ; tự mình
không nói hai lưỡi đấu loạn kia-đây, lại cũng dạy người
khác khiến không nói hai lưỡi; tự mình không ganh ghét, sân,
si, lại dạy người khác cũng không tập pháp này; tự hành
theo chánh kiến và dạy người khác không hành theo tà kiến.
Do nhân duyên này, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng được
người đời cúng dường.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo A-nan:
“Có
ba thiện căn không thể cùng [607b01] tận, đưa dần đến Niết-bàn
giới. Những gì là ba? Gieo trồng công đức ở nơi Như Lai,
thiện căn này không thể cùng tận. Gieo trồng công đức ở
nơi Chánh pháp, thiện căn này không thể cùng tận. Gieo trồng
công đức ở nơi Thánh chúng, thiện căn nầy không thể cùng
tận. Này A-nan, đó gọi là có ba thiện căn không cùng tận
này, đưa đến Niết-bàn giới. Cho nên A-nan, hãy tìm cầu
phương tiện để đạt được phước không thể cùng tận
này.
“A-nan,
hãy học tập điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba thọ* này. Những gì là ba? Đó là cảm thọ lạc, cảm thọ
khổ, cảm thọ không khổ không lạc.[50]
“Này
các Tỳ-kheo, nên biết, cảm thọ lạc kia là sứ giả của
ái dục. Cảm thọ khổ kia là sứ giả của sân nhuế sai khiến.
Cảm thọ không khổ không lạc kia là sứ giả của si. Cho
nên, này Tỳ-kheo, hãy học phương tiện tìm cầu diệt các
sứ giả này. Vì vậy, các ngươi hãy tự nhiệt hành, tự
tu hành pháp cần phải tu hành, đắc pháp vô tỷ. Các Tỳ-kheo
nên biết, sau khi Ta diệt độ, nếu có Tỳ-kheo nào tự niệm
nhiệt hành tu hành pháp này, đắc pháp vô tỷ, người ấy
chính là đệ nhất Thanh văn.
“Thế
nào, Tỳ-kheo, hãy tự nhiệt hành, tự tu hành pháp cần phải
tu hành, đắc pháp vô tỷ. Ở đây, Tỳ-kheo tự quán thân
nơi nội thân, tự quán thân nơi ngoại thân, tự quán thân
nơi ngoại thân mà tự an trú*; quán nội thọ, quán ngoại
thọ, quán nội ngoại thọ; quán nội tâm, quán ngoại tâm,
quán nội ngoại tâm; quán nội pháp, quán ngoại pháp, quán
nội ngoại pháp tự an trú*.
“Như
vậy Tỳ-kheo, hãy tự nỗ lực tu hành pháp ấy, đắc pháp
vô tỷ. Những Tỳ-kheo nào thực hành pháp nầy, người ấy
là đệ tử bậc nhất ở trong hàng Thanh văn.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 4
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo Tỳ-kheo:
“Có
ba sự, che khuất thì tốt, hiển lộ thì không tốt.[51] Những
gì là ba? Một là nữ nhân, che khuất thì tốt, hiển lộ thì
không tốt. Hai là chú thuật bà-la-môn, che khuất thì tốt,
hiển lộ thì không tốt. Ba là nghiệp của tà kiến, [607c01]
che khuất thì tốt, hiển lộ thì không tốt. Tỳ-kheo, đó
gọi là có ba sự này, che khuất thì tốt, hiển lộ thì không
tốt.
“Lại
có ba sự mà hiển lộ thì tốt, che khuất thì không tốt.[52]
Những gì là ba? Mặt trời, mặt trăng, hiển lộ thì tốt,
che khuất thì không tốt. Pháp ngữ của Như Lai, hiển lộ
thì tốt, che khuất thì không tốt. Tỳ-kheo, đó gọi là có
ba sự này mà hiển lộ thì tốt, che khuất thì không tốt.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Nữ
nhân cùng chú thuật,
Tà
kiến hành bất thiện:
Đây
ba pháp ở đời
Che
dấu thì rất tốt.
Nhật,
nguyệt chiếu khắp nơi;
Lời
chánh pháp Như Lai:
Đây
ba pháp ở đời
Hiện
bày là đẹp nhất.
“Cho
nên, các Tỳ-kheo, hãy hiển bày pháp Như Lai, chớ để che
khuất.
“Tỳ-kheo,
hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba tướng hữu vi của hữu vi. Những là ba? Biết nó sinh khởi;
biết nó biến thiên; biết nó diệt tận.[53]
“Sao
gọi đó là biết nó sinh khởi? Biết nó sanh, nó lớn, thành
hính năm uẩn, đạt đến các giới và xứ[54]. Đó gọi là
biết nó sinh khởi.
“Sao
gọi là nó diệt tận? Nó chết, mạng đã qua, không tồn tại,
vô thường, các uẩn tan hoại, dòng họ chia lìa, mạng căn
cắt dứt. Đó gọi là biết diệt tận.
“Sao
gọi là nó biến dịch? Răng rụng, tóc bạc, khí lực hao mòn,
tuổi cao sức yếu, thân thể rã rời. Đó gọi là biệt pháp
biết pháp biến dịch’.
“Tỳ-kheo,
đó là ba tướng hữu vi của hữu vi. Nên biết ba tướng hữu
vi của hữu vi nầy. Hãy khéo phân biệt.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 6
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người
ngu có ba tướng, ba pháp không thể trông cậy.[55] Ba pháp gì?
Ở đây, điều mà người ngu không nên tư duy mà cứ tư duy;
điều không nên luận nói mà cứ luận thuyết; điều không
nên hành mà cứ tu tập.
“Thế
nào là người ngu tư niệm điều không nên tư duy? Ở đây,
người ngu khởi ba hành của ý, rồi tư duy, ức niệm. Những
gì là ba? [608a01] Người ngu khởi tâm ganh tị tài sản và
nữ sắc nơi người khác, tâm nghĩ lời ác làm trổi dậy
tâm ganh ghét, rằng ‘Mong những cái mà người ấy có thuộc
về ta.’ Như vậy người ngu tư duy điều không nên tư duy.
“Thế
nào là người ngu luận thuyết điều không nên luận thuyết?
Ở đây, người ngu gây bốn tội lỗi nơi miệng. Những gì
là bốn? Người ngu thường thích vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu,
gây đấu loạn giữa người này người kia. Người ngu bốn
tội lỗi nơi miệng như vậy.
“Thế
là người ngu tạo các hành vi ác? Ở đây, người ngu tạo
hành vi ác bởi thân, thường nghĩ đến sát sanh, trộm cắp,
dâm dật. Người ngu có hành vi xấu ác như vậy.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, người ngu có ba hành tích nầy, người ngu si
tập hành ba sự nầy.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, người trí có ba sự cần được niệm tưởng
tu hành. Những gì là ba? Ở đây, người trí tư duy điều
đáng tư duy; luận thuyết điều đáng luận thuyết; hành thiện
điều đáng tu hành thiện.
“Thế
nào là người trí tư duy điều đáng tư duy? Ở đây, người
trí tư duy ba hành vi của ý. Những gì là ba? Người trí không
ganh ghét, oán giận, si mê; thường hành chánh kiến, thấy
tài sản của người khác không sanh tưởng niệm. Như vậy,
người trí tư duy điều đáng tư duy.
“Thế
nào là người trí luận thuyết điều đáng luận thuyết?
Ở đây, người trí thành tựu bốn hành vi bởi miệng. Những
gì là bốn? Người trí không nói dối, cũng không dạy người
khác nói dối, thấy người nói dối, ý không hoan hỷ. Đó
gọi là người trí giữ gìn miệng mình. Lại nữa, người
trí không nói thêu dệt, ác khẩu, tranh loạn kia đây, cũng
không dạy người khiến nói thêu dệt, ác khẩu, gây đấu
loạn giữa người này người kia. Như vậy, người trí thành
tựu bốn hành vi bởi miệng.
“Thế
nào là người trí thành tựu ba hành vi của thân? Ở đây,
người trí tư duy thân hành không có điều gì xúc phạm; song
người trí lại tự mình không sát sanh, cũng không dạy bảo
người sát sanh, thấy người khác giết hại, tâm không hoan
hỷ; tự mình không trộm cắp, không dạy bảo người trộm
cắp, thấy người khác trộm cắp tâm không hoan hỷ; cũng
không dâm dật, thấy nữ sắc của kẻ khác tâm không khởi
tưởng, cũng không dạy bảo người khiến hành dâm dật. Nếu
thấy người già thì xem như mẹ, người vừa như chị, người
nhỏ như em, ý không cao thấp. Người trí đã thành tựu ba
hành của thân như vậy.
“Đó
gọi là những hành tích của người trí.
“Như
vậy, này Tỳ-kheo, có ba tướng hữu vi này của hữu vi. [608b01]
Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy thường xả ly ba tướng của
người ngu. Chớ nên phế bỏ ba điều sở hành của người
trí.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba pháp nầy, vì không được giác tri, không được thấy,
không được nghe, nên trải qua sinh tử mà chưa từng nhìn
ngắm; Ta và các ngươi trước đây chưa từng thấy nghe. Những
gì là ba? Đó là giới Hiền thánh, không thể giác tri, không
thấy, không nghe, nên trải qua sinh tử mà chưa từng nhìn ngắm;
Ta và các ngươi trước đây chưa từng thấy nghe. Tam-muội
Hiền thánh, trí huệ Hiền Thánh, không thể giác tri, không
thấy, không nghe. Nay, như thân Ta, cùng với các ngươi, thảy
đều giác tri cấm giới Hiền thánh, tam-muội Hiền thánh,
trí huệ Hiền thánh, thảy đều thành tựu, nên không còn
tái sinh nữa, đã đoạn nguồn gốc sanh tử. Như vậy, các
Tỳ-kheo, hãy niệm tưởng tu hành ba pháp này.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba pháp rất đáng mến yêu mà người đời tham muốn. Ba pháp
gì? Trẻ khỏe là pháp đáng mến yêu mà người đời tham
muốn. Không bệnh là pháp đáng mến yêu mà người đời tham
muốn. Tuổi thọ bệnh là pháp đáng mến yêu mà người đời
tham muốn. Tỳ-kheo, đó gọi là có ba pháp đáng mến yêu mà
người đời tham muốn.
“Lại
nữa Tỳ-kheo, tuy có ba pháp đáng mến yêu mà người đời
tham đắm này, nhưng lại có ba pháp không đáng mền yêu mà
người đời không tham muốn. Ba pháp gì? Tỳ-kheo nên biết,
tuy có trẻ khỏe, nhưng ắt sẽ già, pháp không đáng mến
yêu mà người đời không tham muốn. Tỳ-kheo nên biết, tuy
có không bệnh, song tất sẽ bệnh, pháp không đáng mến yêu
mà người đời không tham muốn. Tỳ-kheo nên biết, tuy có
sống lâu, song tất sẽ chết, pháp không đáng mến yêu mà
người đời không tham muốn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, tuy
có trẻ khỏe, nhưng phải tìm cầu cái không già, đến Niết-bàn
giới. Tuy có không bệnh, nhưng phải tìm cầu phương tiện
để không có cái bệnh. Tuy có sống lâu, nhưng hãy [608c01]
tìm cầu phương tiện để không bị chết.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Giống
như mùa Xuân, trời mưa đá lớn. Cũng lại như vậy, nếu
Như Lai không xuất hiện ở đời, chúng sanh sẽ rơi vào địa
ngục. Bấy giờ người nữ vào địa ngục nhiều hơn đối
người nam. Vì sao vậy? Tỳ-kheo nên biết, do ba sự nên các
loài chúng sanh thân hoại mạng chung rơi vào ba đường dữ.
Những gì là ba? Đó là tham dục, ngủ nghỉ, trạo cử[56].
Bị ba sự nầy quấn chặt tâm ý, thân hoại mạng chung rơi
vào ba đường ác.
“Người
nữ cả ngày tập hành ba pháp mà tự an trú*.[57] Ba pháp gì?
Sáng sớm để cho tâm ganh tị quấn chặt mình. Buổi trưa
lại để cho ngủ nghỉ quấn chặt mình. Buổi chiều để
cho tâm tham dục quấn chặt mình. Do nhân duyên nầy khiến
người nữ kia thân hoại mạng chung sanh vào ba đường dữ.
Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy niệm tưởng tránh xa ba pháp
nầy.”
Bấy
giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Ganh
tị, ngủ, trạo cử;
Tham
dục là pháp ác
Lôi
người vào địa ngục,
Cuối
cùng không giải thoát.
Vì
vậy phải lìa bỏ
Ganh
tị, ngủ, trọ cử.
Và
cũng xả bỏ dục,
Đừng
tạo hành ác kia.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy niệm tránh xa sự ganh tị, không
có tâm keo kiệt, thường hành huệ thí, không ham ngủ nghỉ,
thường hành không nhiễm,[58] không đắm tham dục.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 10
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba pháp nầy, tập hành chúng, thân cận chúng, không hề biết
chán đủ, lại cũng không thể đến chỗ tĩnh chỉ. Những
gì là ba? Đó là tham dục, mà người nào tập pháp nầy, ban
đầu không chán đủ. Hoặc lại có người tập uống rượu,
ban đầu không chán đủ. Hoặc lại có người tập ngủ nghỉ,
ban đầu không chán đủ. Này Tỳ-kheo, đó gọi là có người
tập ba pháp nầy, ban đầu không chán đủ, lại cũng không
thể đến nơi diệt tận. Cho nên, Tỳ-kheo, thường phải lìa
bỏ ba pháp nầy, không gần gũi nó.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều nầy như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết pháp, hoan hỷ phụng hành.
Kệ
tóm tắt:
Cúng
dường, ba thiện căn,
Ba
thọ, ba khuất lộ,
Tướng,
pháp, ba bất giác,
Mến
yêu, xuân, không đủ.[59]
23.
PHẨM
ĐỊA CHỦ
KINH
SỐ 1
[609a14]
Tôi nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ vua Ba-tư-nặc bảo các quần thần:
“Các
ngươi hãy mau chỉnh bị xe có gắn lông chim.[60] Ta muốn đến
chỗ đức Thế Tôn, lễ bái thăm hỏi.”
Tả
hữu vâng lệnh vua, chỉnh bị xe có gắn lông chim* xong, liền
tâu vua:
“Đã
chỉnh bị xong, nay đã đến lúc.”
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc liền lên xe có gắn lông chim*, có vài
nghìn người đi bộ và cỡi ngựa, vây quanh trước sau, ra
khỏi nước Xá-vệ, đến tinh xá Kỳ-hoàn, đến chỗ đức
Thế-tôn. Như phép của các vua, cởi bỏ năm món nghi trương,
đó là: lọng, mũ, kiếm, giày và quạt vàng,[61] để hết
một bên, vua đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi
ngồi qua một bên.
Bấy
giờ, Thế Tôn thuyết cho pháp thâm diệu cho vua, khích lệ,
làm cho hoan hỷ. Vua Ba-tư-nặc sau khi nghe thuyết pháp, bạch
Thế Tôn:
“Cúi
mong đức Thế Tôn nhận thỉnh cầu ba tháng[62] của con, cùng
Tỳ-kheo Tăng không ở nơi khác.”
Thế
Tôn im lặng nhận lời thỉnh cầu của vua Ba-tư-nặc. Khi vua
Ba-tự-nặc thấy đức Thế Tôn im lặng nhận lời thỉnh cầu,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân, rồi
lui đi.
Về
đến thành Xá-vệ, vua ra lệnh các quần thần:
“Ta
muốn cúng dường phạn thực cho Phật và Tỳ-kheo Tăng ba tháng,
cung cấp những vật cần dùng, y phục, đồ ăn thức uống,
giường nằm, tọa cụ, thuốc men trị bệnh, [609b01] các ngươi
cũng nên phát tâm hoan hỷ.”
Quần
thần đáp:
“Xin
vâng.”
Vua
Ba-tư-nặc cho xây dựng đại giảng đường ở ngoài cửa
cung, cực kỳ đẹp đẽ, treo lụa là, tràng phan, dù lọng,
trỗi nhạc hát múa, không thể kể. Lập các hồ tắm, bày
biện nhiều đèn dầu, dọn nhiều thức ăn, có đến trăm
vị. Rồi vua Ba-tư-nặc liền đến bạch:
“Đã
đến giờ, cúi xin đức Thế Tôn quang lâm đến nơi này.”
Bấy
giờ Thế Tôn thấy đã đến giờ, đắp y cầm bát, dẫn các
Tỳ-kheo Tăng, vây quanh trước sau, vào thành Xá-vệ, đến
chỗ giảng đường kia. Đến rồi, vào chỗ ngồi mà ngồi,
và các Tỳ-kheo Tăng theo thứ tự cũng ngồi.
Khi
đó, vua Ba-tư-nặc hướng dẫn các cung nhân, tự tay mang thức
ăn, và cung cấp những thứ cần dùng, cho đến ba tháng mà
không có gì thiếu hụt; cung cấp các thứ áo chăn, cơm nước,
giường chiếu, thuốc trị bịnh.
Thấy
Thế Tôn ăn xong, vua đem các thứ hoa rải lên Thế Tôn và
Tỳ-kheo Tăng, rồi lấy ghế nhỏ ngồi ở trước Như Lai,
bạch Thế Tôn:
“Con
đã từng nghe từ Phật, do nhờ nhân duyên bố thí cho súc
sanh ăn mà được phước gấp trăm; cho người phạm giới
ăn được phước gấp ngàn; cho người trì giới ăn được
phước gấp vạn; cho Tiên nhân đoạn dục ăn được phước
gấp ức; cho vị Tu-đà-hoàn hướng ăn được phước không
thể tính kể, huống lại là vị thành Tu-đà-hoàn ư? Huống
chi là vị hướng Tư-đà-hàm, đắc quả Tư-đà-hàm, huống
chi vị hướng A-na-hàm, đắc quả A-na-hàm, huống chi vị A-la-hán
hướng, đắc A-la-hán quả, huống chi vị Bích-chi-phật hướng,
đắc Bích-chi-phật quả, huống chi bậc hướng Như Lai, Chí
chân, Đẳng chánh giác, huống chi bậc thành Phật và Tỳ-kheo
Tăng, công đức phước báu đó không thể tính kể. Những
việc làm công đức hiện tại của con, hôm nay đã xong.”
Thế
Tôn bảo:
“Đại
vương, chớ nói như vậy! Làm phước không nhàm chán, sao hôm
nay lại nói đã làm xong? Vì sao như vậy? Vì sanh tử lâu dài
không thể kể.
“Quá
khứ lâu xa có vua tên là Địa Chủ, thống lãnh cõi Diêm-phù
này. Vua đó có vị đại thần tên là Thiện Minh, ngay từ
thiếu thời đã quanh quẩn bên vua không hề sợ khó. Sau đó,
vua kia chia nửa cõi Diêm-phù cho vị đại thần đó trị. Khi
đó, tiểu vương Thiên Minh tự xây thành quách, dọc mười
hai do tuần, ngang bảy do tuần, đất đai phì nhiêu, Nhân dân
đông đúc.
“Bấy
giờ, thành đó tên là Viễn chiếu. Đệ nhất phu nhân của
vua Thiện Minh tên là Nhật Nguyệt Quang, không cao, không thấp,
[609c01] không mập, không gầy, không trắng, không đen, nhan
sắc xinh đẹp, hiếm có trên đời, miệng tỏa mùi hương
hoa ưu-bát, thân thơm hương chiên-đàn. Một thời gian sau,
bà mang thai. Vị phu nhân đó liền đến tâu vua rằng, ‘Nay
thần thiếp có thai.’
“Vua
nghe lời này, vui mừng hớn hở, không thể kiềm được, liền
sai kẻ hầu cận, bày biện giường chiếu cực kỳ khoái lạc.
Phu nhân mang thai đủ ngày, sanh một nam nhi. Lúc đương sanh,
đất cõi Diêm-phù hiện rực sáng màu vàng, tướng mạo xinh
đẹp, đủ ba mươi hai tướng tốt, thân thể sắc vàng. Đại
vương Thiện Minh thấy thái tử này, hoan hỳ phấn khởi, mừng
rỡ khôn lường, liền triệu các thầy đạo sĩ bà-la-môn,
tự bồng thái tử đến để họ xem tướng, ‘Nay ta đã sanh
thái tử. Các khanh hãy xem tướng giúp ta, rồi đặt cho tên.’
“Khi
đó, các thầy tướng vâng lịnh vua. Họ cùng bồng, xem xét
tướng mạo, rồi cùng nhau tâu vua, ‘Thánh vương Thái tử
đoan chánh vô song. Các căn đầy đủ. Có ba mươi hai tướng
tốt. Nay Vương tử này, sẽ có hai đường hướng: Nếu ở
nhà sẽ làm Chuyển luân Thánh vương, đầy đủ bảy báu.
Bảy báu gồm có: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc nữ
báu, cư sĩ báu, điển binh báu. Đó là bảy báu. Vua sẽ có
một ngàn người con, dõng mãnh cang cường, có thể dẹp quân
địch, ở trong bốn biển này, không cần đao trượng mà tự
nhiên khuất phục. Hoặc Vương tử này sẽ xuất gia học đạo,
thành Vô thượng Chánh giác, danh đức vang xa, khắp cả thế
giới. Ngay ngày sinh Vương tử này, ánh sáng chiếu xa, nay đặt
tên Vương tử là Đăng Quang.’ Các thầy tướng sau khi đặt
tên xong, họ rời chỗ ngồi mà đi.
“Nhà
vua suốt ngày bồng thái tử, không hề rời mắt. Rồi vua
xây cho vương tử nầy ba giảng đường thích hợp với ba
mùa Thu, Đông và Hạ. Cung nhân thể nữ đầy cả trong cung.
Sau đó để cho thái tử của ông ở đó vui chơi.
“Khi
vương thái tử được hai mươi chín tuổi, bằng tín tâm kiên
cố, xuất gia học đạo. Ngày xuất gia, ngay đêm đó thành
Phật.
“Bấy
giờ, khắp cõi Diêm-phù-đề đều nghe biết, thái tử của
vua kia xuất gia học đạo, ngay ngày ấy thành Phật. Sáng sớm
phụ vương nghe vương thái tử xuất gia học đạo, ngay đêm
đó thành Phật. Vua liền nghĩ rằng: ‘Đêm qua ta nghe chư
thiên trên không thảy đều ca tụng tốt lành. Đây tất là
điềm lành, chứ không phải là tiếng vang xấu. Nay ta hãy
đi [610a01] gặp gỡ.’
“Rồi
vua dẫn bốn mươi ức nam nữ vây quanh, đi đến chỗ Như
Lai Đăng Quang. Đến nơi, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua
một bên. Bốn mươi ức người cũng làm lễ sát chân, rồi
ngồi qua một bên. Khi đó Như Lai lần lượt thuyết các đề
tài vi diệu cho phụ vương và bốn mươi ức người. Các đề
tài đó là luận về thí, luận về giới, luận về sanh thiên,
dục là ô uế, là hữu lậu, là hạnh bất tịnh, xuất gia
là con đường xuất yếu, đạt được quả báo thanh tịnh.
“Bấy
giờ, Như Lai quán sát tâm ý của chúng sanh này, tâm tánh đã
hòa dịu, bèn như pháp mà chư Phật Như Lai thường thuyết,
nói về khổ, tập, diệt, đạo; Ngài cũng vì bốn mươi ức
người mà nói rộng hết nghĩa này. Ngay trên chỗ ngồi, họ
sạch hết các trần cấu, được pháp nhãn tịnh. Khi đó,
bốn mươi ức người bạch đức Đăng Quang Như Lai, ‘Chúng
con muốn cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo.’
“Đại
vương nên biết, bấy giờ, hết thảy bốn mươi ức người
được xuất gia học đạo, ngay trong ngày đó thảy đều thành
A-la-hán.
“Bấy
giờ, đức Đăng Quang Như Lai dẫn bốn mươi ức người đều
là bậc Vô trước,[63] du hành trong nước này. Nhân dân trong
nước cúng dường tứ sự, y phục, đồ ăn thức uống, giường
nằm, tọa cụ, thuốc men trị bệnh, không thiếu hụt một
thứ gì.
“Khi
đó, Đại vương Địa Chủ nghe Đăng Quang thành vô thượng
chánh chân, Đẳng chánh giác, đang dẫn bốn mươi ức người
đều là bậc Vô trước, du hành trong nước kia. Vua nghĩ, ‘Nay
ta sai tín sứ đến thỉnh Như Lai sang du hóa ở đây. Nếu
Ngài đến, bổn nguyện của ta thỏa mãn. Nếu không đến,
ta đích thân đến lễ lạy, thăm hỏi.’ Vua liền sai một
vị đại thần, ‘Ngươi đến đó, nhân danh ta đảnh lễ
sát chân, thăm hỏi Như Lai, đời sống có nhẹ nhàng, đi đứng
có mạnh khoẻ không? Hãy thưa: Vua Địa Chủ thăm hỏi Như
Lai, đời sống có nhẹ nhàng, đi đứng có mạnh khỏe không?
Cúi xin Thế Tôn chiếu cố chốn nầy.’
“Người
đó vâng lệnh vua đi đến đất nước kia. Đến nơi, đảnh
lễ sát chân Phật, rồi đứng qua một bên, thưa như vầy:
‘Đại vương Địa Chủ lễ sát chân Như Lai. Lễ xong thăm
hỏi đời sống có nhẹ nhàng, đi đứng có mạnh khỏe không?
Cúi xin Thế Tôn chiếu cố nước này.’
“Bấy
giờ, đức Thế Tôn im lặng nhận lời thỉnh cầu ấy. Rồi
Như Lai Đăng Quang dẫn đại chúng, lần lượt du hành trong
dân gian, cùng với bốn mươi ức đại Tỳ-kheo, ở bất kỳ
nơi nào cũng đều được cung kính, cúng dường y phục, đồ
ăn thức uống, giường chiếu, tọa cụ, thuốc men trị bệnh.
Như Lai và đại chúng đi lần đến nước Địa Chủ.
“Đại
vương Địa Chủ nghe Đăng Quang Như Lai đến nước mình, hiện
đang ở trong vườn [610b01] Bà-la phía Bắc, dẫn bốn mươi
ức đại Tỳ-kheo. Vua nghĩ, ‘Nay ta nên đích thân đến nghinh
đón.’
“Khi
đó, đại vương Địa Chủ cũng lại dẫn bốn mươi ức người
đến chỗ đức Như Lai Đăng Quang. Đến nơi, vua đảnh lễ
sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên. Bốn mươi ức người
lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên.
“Bấy
giờ, Như Lai Đăng Quang lần lượt trực tiếp nói các đề
tài vi diệu cho vua cùng với bốn mươi ức người nghe. Ngài
nói về thí, về giới, về sanh thiên, về dục là ô uế,
là hữu lậu, là hạnh bất tịnh, xuất gia là con đường
xuất yếu, đạt được quả báo thanh tịnh.
“Như
Lai quán sát tâm ý của chúng sanh này, tâm tánh đã hòa dịu,
bèn như pháp mà chư Phật Như Lai thường thuyết, nói về
khổ, tập, diệt, đạo; Ngài cũng vì bốn mươi ức người
mà nói rộng hết nghĩa này. Ngay trên chỗ ngồi, họ sạch
hết các trần cấu, được pháp nhãn tịnh. Khi đó bốn mươi
ức người bạch Như Lai Đăng Quang rằng, ‘Chúng con có ý
muốn cạo bảo râu tóc, xuất gia học đạo.’
“Đại
vương nên biết, bấy giờ cả thảy bốn mươi ức người
đều được xuất gia học đạo. Ngay ngày hôm ấy, họ thảy
đều đắc đạo, thành A-la-hán. Khi đó quốc vương Địa
Chủ từ chỗ ngồi đứng dậy, đầu mặt lễ sát chân Phật
rồi thối lui ra về.
“Bấy
giờ, Như Lai Đăng Quang dẫn tám mươi vạn ức người đều
là A-la-hán, du hành trong nước. Nhân dân trong nước cúng dường
tứ sự, y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, tọa cụ,
thuốc men chữa bệnh, cung cấp mọi thứ, không gì thiếu hụt.
“Thời
gian sau, quốc vương Địa Chủ lại dẫn các quần thần đến
chỗ đức Như Lai đó, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một
bên. Khi đó, đức Như Lai Đăng Quang vì quốc vương kia thuyết
pháp vi diệu. Quốc vương Địa Chủ bạch đức Như Lai rằng,
‘Cúi xin đức Thế Tôn cho con được suốt đời cúng dường
Ngài và Tỳ-kheo Tăng, cung cấp y phục, đồ ăn thức uống,
giường nằm, tọa cụ, thuốc mên trị bệnh, sẽ không có
gì thiếu hụt.’
“Như
Lai Đăng Quang im lặng nhận lời thỉnh cầu của vua kia. Khi
vua thấy đức Phật im lặng nhận thỉnh, lại tiếp bạch
Thế Tôn, ‘Nay con có điều cầu nguyện từ Thế Tôn. Cúi
mong Thế Tôn chấp nhận.’ Thế Tôn bảo, ‘Pháp của Như
Lai siêu quá nguyện này.’[64] Vua bạch Thế Tôn, ‘Nguyện
cầu của con hôm nay rất là tịnh diệu.’ Thế Tôn bảo,
‘Những điều nguyện cầu tịnh diệu ấy là gì?’ Vua bạch
Thế Tôn, ‘Như ý của con, hôm nay chúng tăng ăn bằng bát
này, ngày mai ăn dùng bát khác; hôm nay chúng tăng mặc y phục
này, ngày mai mặc y phục khác; hôm nay chúng tăng ngồi tòa
này, ngày mai ngồi tòa khác; hôm nay sai [610c01] người này
đến hầu chúng tăng, ngày mai thay đổi người khác đến
hầu chúng tăng. Những điều mà con cầu mong chính là như
vậy.’ Như Lai Đăng Quang bảo, ‘Tùy ý nguyện của vua. Nay
là lúc thích hợp.”
Đại
vương Địa Chủ vui mừng hớn hở không thể tự chế, từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, rồi thối
lui, trở về cung.
“Về
đến nơi, vua bảo các quần thần, ‘Nay ta phát tâm trọn
đời cúng dường Như Lai Đăng Quang, Chí chân, Đẳng chánh
giác và chúng Tỳ-kheo, y phục, đồ ăn thức uống, giường
nằm, tọa cụ, thuốc men chữa bệnh. Ta khuyên các khanh cũng
nên giúp ta lo việc cúng dường.’ Các đại thần đáp, ‘Như
lời Đại vương dạy.’
“Cách
thành không bao xa, trong vòng một do tuần, vua cho xây dựng
giảng đường chạm trổ điêu khắc, năm màu rực rỡ, treo
màn, tràng phan, dù lọng, trổi nhạc hát múa, rưới hương
trên đất, sửa sang hồ tắm, bày đủ thứ đèn đuốc, sửa
soạn các thứ đồ ăn thức uống ngon ngọt, bày biện chỗ
ngồi. Rồi đến cho biết đã đến giờ, bạch, ‘Bây giờ,
đã đúng giờ, xin Thế Tôn chiếu cố.’
“Như
Lai biết đã đến giờ, khóac y cầm bát, dẫn các Tỳ-kheo
trước sau vây quanh, đi đến chỗ giảng đường. Mọi người
ngồi trên chỗ ngồi dọn sẵn. Khi đại vương Địa Chủ
thấy đức Phật và các Tỳ-kheo Tăng ngồi xong, dẫn cung nhân
thể nữ và các quan đại thần, tự tay rót nước, bưng sớt
nhiều đồ ăn thức uống, có đến trăm vị.
“Đại
vương nên biết, khi ấy quốc vương Địa Chủ cúng dường
Như Lai Đăng Quang và tám mươi ức vị A-la-hán trong vòng bảy
vạn năm, chưa từng lười bỏ. Khi đức Như Lai đó giáo hóa
khắp tất cả xong, bèn nhập Niết-bàn ở trong vô dư Niết-bàn
giới.
“Khi
đó, đại vương Địa Chủ dùng hàng trăm thứ hoa thơm cúng
dường. Rồi ở các ngả tư đường dựng bốn tháp lớn.
Mỗi tháp được làm bằng bảy báu, vàng, bạc, lưu ly, thủy
tinh; treo lụa, phướn, dù lọng. Tám mươi ức A-la-hán cũng
lần lượ