TẠP
A-HÀM QUYỂN 2
KINH
33. PHI NGÃ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc
không phải là ngã. Nếu sắc là ngã, không nên ở nơi sắc
mà bệnh, khổ sanh và cũng không thể có ước muốn khiến
như vậy hay không như vậy đối với sắc. Vì sắc là vô
ngã cho nên ở nơi sắc có bệnh, khổ sanh và nó cũng có ước
muốn khiến như vậy, hay không như vậy đối với sắc. Thọ,
tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
“Tỳ-kheo,
ý ngươi thế nào, sắc là thường hay vô thường?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Là
vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Tỳ-kheo,
nếu là vô thường, thì có phải là khổ?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Là
khổ, bạch Thế Tôn.”
“Vậy,
nếu vô thường là khổ, thì nó là pháp biến dịch. Đa văn
Thánh đệ tử ở trong đó có nên thấy là có ngã, khác ngã,
hay ở trong nhau[2]?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Không
nên, bạchThế Tôn.”
“Đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Cho
nên, Tỳ-kheo, những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị
lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc
tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng
không phải là ngã, không phải khác ngã, hay không ở trong
nhau. Hãy quán sát như vậy. Đối với thọ, tưởng, hành,
thức lại cũng như vậy.
“Tỳ-kheo,
đa văn Thánh đệ tử, đối với năm thọ ấm này, hãy quán
sát như thật chúng là chẳng phải ngã, chẳng phải ngã sở.
Khi quán sát như thật rồi, thì đối với thế gian không có
gì phải chấp thủ. Vì đã không có gì để chấp thủ, nên
cũng không có gì để đắm trước. Vì đã không có gì để
đắm trước, nên tự giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong,
tự biết sẽ không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
34. NGŨ TỲ-KHEO[3]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Lộc dã, nơi Tiên nhân trú xứ,
nước Ba-la-nại.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo năm vị Tỳ-kheo:
“Sắc
không có ngã[4]. Nếu sắc mà có ngã, thì bệnh, khổ không
thể sanh nơi sắc được, cũng không thể có ước muốn khiến
cho như vầy hay không như vầy đối với sắc được. Vì sắc
là vô ngã, cho nên nơi sắc bệnh, khổ sanh và cũng có thể
có ước muốn khiến cho như vầy hay không như vầy được.
Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Tỳ-kheo,
ý ngươi thế nào, sắc là thường hay vô thường?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Là
vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Tỳ-kheo,
vô thường là khổ chăng?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Là
khổ, bạch Thế Tôn.”
“Tỳ-kheo,
vô thường là khổ, thì nó là pháp biến dịch. Đa văn Thánh
đệ tử ở nơi sắc có nên thấy là ngã, khác ngã, hay ở
trong nhau không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Không
nên, bạch Thế Tôn.”
“Đối
với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
“Cho
nên, Tỳ-kheo, những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị
lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc
tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; hãy quán sát
như thật tất cả chúng chẳng phải là ngã, chẳng phải là
ngã sở. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như
vậy.
“Này
Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử đối với năm thọ ấm này,
hãy quán sát như thật, thấy chẳng phải ngã, chẳng phải
ngã sở. Quán sát như vậy, đối với thế gian đều không
có gì để thủ. Vì không có gì để thủ, nên không có gì
để đắm trước. Vì không có gì để đắm trước, cho nên
tự giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn
tái sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
35. TAM CHÁNH SĨ [5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tinh xá Trúc viên, tại Chi-đề.
Bấy
giờ có ba vị Chánh sĩ[6] mới xuất gia. Đó là Tôn giả A-nậu-luật-đà[7],
Tôn giả Nan-đề[8], Tôn giả Kim-tỳ-la[9].
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn biết trong tâm họ đang nghĩ những gì,
nên răn dạy họ rằng:
“Tỳ-kheo,
đây là tâm, đây là ý, đây là thức. Hãy tư duy điều này.
Chớ tư duy điều này. Hãy đoạn trừ dục này, đoạn trừ
sắc này, tự thân tác chứng, thành tựu và an trụ.
“Tỳ-kheo,
có sắc nào là thường còn, không biến dịch, tồn tại mãi
không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch
không, Thế Tôn.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Sắc là vô thường, là pháp biến dịch, yểm
ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh. Sắc như vậy từ xưa tới
nay, tất cả đều là pháp vô thường, khổ, biến dịch. Khi
đã biết như vậy rồi, thì tất cả các lậu, hại, xí nhiên,
ưu não đã từng duyên vào sắc này mà sanh ra, thảy đều
bị đoạn diệt. Khi đã đoạn diệt rồi, thì không còn gì
để chấp trước. Khi đã không còn gì để chấp trước rồi,
thì sống an lạc. Khi đã sống an lạc rồi, thì đạt được
Bát-niết-bàn. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng
như vậy.”
Khi
Đức Phật nói kinh này, ba vị Chánh sĩ lậu hoạêc không
còn khởi lên nữa, tâm được giải thoát.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
36. THẬP LỤC TỲ-KHEO[10]
Tôi
nghe như vầy:
Khi
Đức Phật ở trong vườn xoài Tán cái, bên bờ sông Bạt-đề,
nước Ma-thâu-la[11].
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
an trú nơi hòn đảo chính mình[12], an trú nơi nương tựa chính
mình[13], an trú nơi hòn đảo pháp[14], an trú nơi nương tựa
pháp[15], chứ đừng an trú nơi hòn đảo nào khác, hay nương
tựa nơi nào khác.
“Tỳ-kheo
hãy quán sát chân chánh, an trú nơi hòn đảo chính mình, an
trú nơi nương tựa chính mình, an trú nơi hòn đảo pháp, an
trú nơi nương tựa pháp, chứ đừng an trú nơi hòn đảo nào
khác, hay nơi nương tựa nào khác.
“Do
nhân gì mà ưu, bi, khổ, não sanh? Tại sao có bốn? Do bởi
đâu bị cái gì trói buộc[16]? Làm sao tự quán sát, ưu, bi,
khổ, não chưa sanh nay sanh; ưu, bi, khổ, não đã sanh nay lại
tăng trưởng rộng?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp. Cúi
xin Đức Thế Tôn vì chúng con mà nói, sau khi chúng con nghe
xong, sẽ y như những lời dạy mà làm theo.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Này
các Tỳ-kheo, có sắc, nhân sắc mà trói buộc vào sắc; tự
quán sát ưu, bi, khổ, não chưa sanh nay sanh, đã sanh rồi nay
lại tăng trưởng rộng. Đối với thọ, tưởng, hành, thức
cũng lại như vậy.
“Tỳ-kheo,
có sắc nào là thường hằng, không biến dịch, tồn tại
mãi mãi không?”
Đáp:
“Bạch
không, Thế Tôn.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Tỳ-kheo, sắc là vô thường. Nếu thiện nam
tử biết sắc là vô thường, khổ, biến dịch, dục, diệt
tận, tịch tĩnh; từ xưa tới nay tất cả sắc đều là pháp
vô thường, khổ, biến dịch; biết rồi, nếu sắc là nhân
duyên sanh ra ưu, bi, khổ, não, thì nên đoạn trừ chúng. Khi
đã đoạn trừ rồi, thì không còn gì để chấp trước. Vì
không chấp trước nên sống an vui. Khi đã sống an vui rồi,
thì đó gọi là Niết-bàn. Đối với thọ tưởng, hành và
thức lại cũng như vậy.”
Khi
Đức Phật nói kinh này, thì mười sáu Tỳ-kheo không sanh các
lậu, tâm đạt được giải thoát.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Kệ
tóm tắt:
Trúc
viên, Tỳ-xá-ly,
Thanh
tịnh, chánh quán sát,
Vô
thường, khổ, phi ngã,
Năm,
ba và mười sáu.
KINH
37. NGÃ[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Ta
không tranh luận với thế gian. Thế gian tranh luận với Ta.
Vì sao vậy? Tỳ-kheo, nếu người nào nói đúng pháp, thì người
ấy không tranh luận với thế gian.
“Những
gì người trí thế gian nói có, Ta cũng nói có. Thế nào là
người trí thế gian nói có, Ta cũng nói có? Tỳ-kheo, sắc
là vô thường, khổ, là pháp biến dịch; người trí thế
gian nói có, Ta cũng nói có. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành,
thức là vô thường, khổ, là pháp biến dịch; người trí
thế gian nói có, thì Ta cũng nói có.
“Những
gì người trí thế gian nói không, Ta cũng nói không. Thế nào
là người trí thế gian nói không, Ta cũng nói không? Tỳ-kheo,
sắc thường hằng, không biến dịch, tồn tại mãi mãi, là
điều người trí thế gian nói là không, thì Ta cũng nói là
không. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức là thường hằng,
không biến dịch, tồn tại mãi mãi; là điều người trí
nói không, thì Ta cũng nói không. Đó gọi là người trí thế
gian nói không, Ta cũng nói không.
“Tỳ-kheo,
có những pháp thế gian, ở trong thế gian[18], Ta đã tự chứng
tri, tự giác ngộ, rồi vì mọi người mà phân biệt, giảng
nói, hiển thị, nhưng những kẻ mù không có mắt trong thế
gian đã không biết, không thấy, đó không phải là lỗi của
Ta.
“Tỳ-kheo,
những gì là pháp thế gian ở trong thế gian mà Ta đã tự
chứng tri, tự giác ngộ, rồi vì mọi người phân biệt, giảng
nói, hiển hiện, nhưng những kẻ mù không mắt, không biết
không thấy? Tỳ-kheo, đó là, sắc là pháp vô thường, khổ,
biến dịch, nó là pháp thế gian ở trong thế gian. Cũng vậy,
thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, khổ, là pháp thế
gian ở trong thế gian.
“Tỳ-kheo,
đó là pháp thế gian ở trong thế gian, mà Ta đã tự chứng
tri, đã tự giác ngộ, rồi vì mọi người phân biệt, giảng
nói, hiển hiện, nhưng những kẻ mù không mắt, không biết,
không thấy. Đối với những kẻ mù, không mắt, không biết,
không thấy kia, Ta làm gì được.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
38. TY HẠ[19]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Người
đời làm nghề thấp hèn, bằng đủ mọi cách mưu sinh tìm
cầu của cải, mà được giàu sang; điều đó người đời
ai cũng biết. Như điều mà người đời biết, Ta cũng nói
như vậy. Vì sao? Chớ nghĩ Ta khác người đời.
“Tỳ-kheo,
giống như cùng một món đồ, có nơi người ta gọi là kiền-tỳ,
có nơi gọi là bát, có nơi gọi là chủy-chủy-la, có nơi
gọi là giá-lưu, có nơi gọi là tỳ-tất-đa, có nơi gọi
là bà-xà-na, có nơi gọi là tát-lao[20], theo sự hiểu biết
chỗ này hay chỗ kia. Ta cũng nói như vậy. Vì sao? Đừng nghĩ
Ta khác người đời.
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, có pháp thế gian mà Ta đã tự chứng
tri, đã tự giác ngộ, rồi vì mọi người phân biệt, giảng
nói, hiển hiện, nhưng những kẻ mù không mắt, không biết,
không thấy. Đối với những kẻ mù, không mắt, không biết,
không thấy kia, Ta làm gì được.”
“Tỳ-kheo,
những gì là pháp thế gian ở trong thế gian mà Ta đã tự
chứng tri, tự giác ngộ, rồi vì mọi người phân biệt, giảng
nói, hiển hiện, nhưng những kẻ mù không mắt, không biết,
không thấy? Tỳ-kheo, đó là, sắc là pháp vô thường, khổ,
biến dịch, nó là pháp thế gian ở trong thế gian. Cũng vậy,
thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, khổ, là pháp thế
gian ở trong thế gian.
“Tỳ-kheo,
đó là pháp thế gian ở trong thế gian, mà Ta đã tự biết,
tự thấy,… cho đến, những kẻ mù không mắt, không biết
không thấy, thì Ta làm gì được!”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
39. CHỦNG TỬ[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
năm loại hạt giống. Năm loại đó là gì? Đó là, hạt giống
từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt[22], hạt
giống tự rụng, hạt giống từ quả. Năm loại hạt giống
này tuy không bị gián đoạn, không bị hư hoại, không bị
mục thối, không bị trúng gió[23], vừa chín, chắc hạt, có
đất, nhưng nếu không có nước[24], thì những loại hạt
giống đó không thể sanh trưởng lớn mạnh được. Nếu những
hạt giống mới vừa chín tới, chắc hạt này, tuy không bị
gián đoạn, không bị hư hoại, không bị mục thối, không
bị trúng gió, có nước, nhưng nếu không có đất, thì chúng
cũng không sanh trưởng lớn mạnh được. Nếu những hạt
giống mới vừa chín tới, chắc hạt này, mà không bị gián
đoạn, không bị hư hoại, không bị mục thối, không bị
trúng gió, có nước, có đất đầy đủ, thì những hạt giống
này sẽ sanh trưởng lớn mạnh.
“Tỳ-kheo,
năm loại hạt giống này được ví cho các thọ ấm cùng hiện
hữu với thức. Đất được ví cho bốn thức trụ[25]. Nước
được ví cho hỷ tham[26]. Bốn thủ[27] vin bám nơi thức mà
trụ. Bốn là những gì? Thức trụ ở trong sắc, vin bám sắc,
hỷ tham được ướt nhuần, sanh trưởng lớn mạnh. Cũng vậy,
thức trụ trong thọ, tưởng và hành, vin bám thọ, tưởng,
hành, hỷ tham được ướt nhuần, sanh trưởng lớn mạnh.
“Tỳ-kheo,
thức ở trong đó, hoặc đến, hoặc đi, hoặc hiện, hoặc
mất, hoặc sanh trưởng lớn mạnh.
“Tỳ-kheo,
nếu lìa sắc, thọ, tưởng, hành mà thức có đến, có đi,
có hiện, có mất, có sanh, thì chỉ có trên ngôn thuyết, chứ
nếu hỏi đến thì sẽ không biết, càng làm cho si mê, vì
không phải là cảnh giới.
“Đối
với sắc giới mà lìa tham. Khi đã lìa tham rồi, sự trói
buộc bởi ý sanh[28] và sự ngưng trệ nơi sắc bị đoạn
trừ[29]. Khi sự trói buộc bởi ý sanh[30] và sự ngưng trệ
nơi thức bị đoạn trừ rồi, thì sự vin bám bị cắt đứt[31].
Khi sự vin bám bị cắt đứt rồi, thì thức cũng không còn
chỗ trụ để sanh trưởng lớn mạnh trở lại. Cũng vậy,
đối với thọ, tưởng và hành giới[32] lìa tham. Khi đã lìa
tham rồi, thì ý sanh xúc[33] và sự ngưng trệ nơi hành bị
đoạn trừ. Khi ý sanh xúc và sự ngưng trệ nơi hành bị đoạn
trừ rồi, thì sự vin bám bị cắt đứt. Khi sự vin bám bị
cắt đứt rồi, thì thức cũng không còn chỗ trụ để sanh
trưởng lớn mạnh trở lại. Vì đã không sanh trưởng cho
nên không tác hành[34]. Khi đã không tác hành, thì trụ vững[35].
Do an trụ vững mà tri túc. Do tri túc mà giải thoát.[36] Do
giải thoát mà đối với các thế gian không còn gì để thủ,
không còn gì để chấp trước. Khi đã không còn gì để thủ
và không còn gì để chấp trước, do đó tự mình giác ngộ
Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
việc cần làm đã làm xong, tự biết sẽ không còn tái sanh
đời sau nữa.’
“Ta
nói thức này, không đi sang Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phía,
trên, dưới. Nó không đi đến đâu cả, mà chỉ ngay trong
đời hiện tại sẽ nhập Niết-bàn, tịch diệt, thanh lương,
thanh tịnh, chân thật[37].”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
40. PHONG TRỆ[38]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Phong
trệ[39], thì không giải thoát. Không phong trệ, thì được
giải thoát.
“Thế
nào là phong trệ không giải thoát?
“Tỳ-kheo,
thức vin bám vào bốn thủ ấm mà trụ. Bốn là những gì?
Thức bị phong trệ bởi sắc mà trụ. Cũng vậy, thức bị
phong trệ bởi thọ, tưởng và hành mà trụ… cho đến chẳng
phải là cảnh giới.[40] Đó gọi là phong trệ nên không giải
thoát.
“Thế
nào là không bị phong tỏa trì trệ, thì giải thoát?
“Đối
với sắc giới ly tham; với thọ, tưởng, hành mà ly tham…
cho đến thanh lương, thanh tịnh, chân thật. Đó gọi là không
bị phong trệ, thì được giải thoát.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
41. NGŨ CHUYỂN[41]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
năm thọ ấm. Đó là sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức
thọ ấm. Ta đối với năm thọ ấm này, có năm như thật
tri[42]. Như thật tri về sắc, về sự tập khởi của sắc,
về vị ngọt của sắc, về tai hại của sắc và về sự
xuất ly sắc. Cũng vậy, như thật tri về thọ, tưởng, hành,
thức, về sự tập khởi của thức, về vị ngọt của thức,
về tai hại của thức và về sự xuất ly thức.
“Thế
nào là như thật tri về sắc? Những gì là sắc là tất cả
bốn đại và sắc do bốn đại sanh ra. Đó gọi là sắc. Như
vậy, như thật tri về sắc.
“Thế
nào là như thật tri về sự tập khởi của sắc? Đối với
sắc mà có hỷ ái. Đó gọi là sự tập khởi của sắc. Như
vậy, như thật tri về sự tập khởi của sắc.
“Thế
nào là như thật tri về vị ngọt của sắc? Do duyên vào sắc
mà sanh ra hỷ lạc. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như vậy,
như thật tri về vị ngọt của sắc.
“Thế
nào là như thật tri về sự tai hại của sắc? Sắc là vô
thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là sự tai hại
của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của sắc.
“Thế
nào là như thật tri về sự xuất ly sắc? Đối với sắc
mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham,
vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly sắc. Như
vậy, như thật tri về sự xuất ly sắc.
“Thế
nào là như thật tri về thọ? Có sáu thọ thân. Thọ phát
sanh từ nhãn xúc, thọ phát sanh từ tai, mũi, lưỡi, thân và
ý xúc. Đó gọi là sáu thọ. Như vậy, như thật tri về thọ.
“Thế
nào là như thật tri về sự tập khởi của thọ? Sự tập
khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Như vậy, như thật
tri về sự tập khởi của thọ.
“Thế
nào là như thật tri về vị ngọt của thọ? Hỷ lạc duyên
vào sáu thọ mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thọ. Như
vậy, như thật tri về vị ngọt của thọ.
“Thế
nào là như thật tri về sự tai hại của thọ? Thọ là vô
thường, khổ, là pháp biến dịch. Đóù gọi là tai hại của
thọ. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thọ.
“Thế
nào là như thật tri về sự xuất ly thọ? Đối với thọ
mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham,
vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là lìa thọ. Như vậy, như
thật tri về sự lìa thọ.
“Thế
nào là như thật tri về về tưởng? Có sáu tưởng thân. Tưởng
phát sanh bởi nhãn xúc; tưởng phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi,
thân, ý xúc. Đó gọi là tưởng. Như vậy, như thật tri về
tưởng.
“Thế
nào là như thật tri về sự tập khởi của tưởng? Sự tập
khởi của xúc là sự tập khởi của tưởng. Như vậy, như
thật tri về sự tập khởi của tưởng.
“Thế
nào là như thật tri về vị ngọt của tưởng? Hỷ lạc do
duyên vào tưởng mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của tưởng.
Như vậy, như thật tri về vị ngọt của tưởng.
“Thế
nào như thật tri về sự tai hại của tưởng? Tưởng là vô
thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại
của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của tưởng.
“Thế
nào là như thật tri về sự xuất ly tưởng? Đối với tưởng
mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham,
vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa tưởng. Như
vậy, như thật tri về sự lìa tưởng.
“Thế
nào là như thật tri về sự hiện hữu của hành? Có sáu tư
thân. Tư phát sanh bởi nhãn xúc. Tư phát sanh bởi tai, mũi,
lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là hành. Như vậy, như thật
tri về hành.
“Thế
nào là như thật tri về sự tập khởi của hành? Sự tập
khởi của xúc là sự tập khởi của hành. Như vậy, như thật
tri về sự tập khởi của hành.
“Thế
nào là như thật tri về vị ngọt của hành? Hỷ lạc do duyên
vào hành mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của hành. Như vậy,
như thật tri về vị ngọt của hành.
“Thế
nào gọi là như thật tri về sự tai hại của hành? Hành là
vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai
hại của hành. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của
hành.
“Thế
nào là như thật tri về sự xuất ly hành? Đối với hành
mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham,
vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly hành. Như
vậy, như thật tri về sự xuất ly hành.
“Thế
nào là như thật tri về thức? Có sáu thức thân. Thức của
mắt, thức của tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó gọi là thức.
Như vậy, như thật tri về thức.
“Thế
nào là như thật tri về sự tập khởi của thức? Sự tập
khởi của sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy, như
thật tri về sự tập khởi của thức.
“Thế
nào là như thật tri về vị ngọt của thức? Hỷ lạc do duyên
vào thức mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thức. Như vậy,
như thật tri về vị ngọt của thức.
“Thế
nào là như thật tri về sự tại hại của thức? Thức là
vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai
hại của thức. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của
thức.
“Thế
nào là như thật tri về sự xuất ly thức? Đối với thức
mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham,
vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa thức. Như vậy,
như thật tri về sự xuất ly của thức.
“Tỳ-kheo,
nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như vậy,
mà thấy như vậy, thì do biết như vậy, thấy như vậy người
đó hướng đến ly dục, đó gọi là chánh hướng[43]. Nếu
người nào hướng đến chân chánh, thì ta nói người đó
đã được thể nhập[44]. Đối với thọ, tưởng, hành, thức
lại cũng như vậy.
“Nếu
Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như thật, thấy
như thật; do biết như thật, thấy như thật, đối với sắc
sanh yểm ly, ly dục, không khởi lên các lậu, tâm đạt được
giải thoát. Nếu người nào đã đạt được tâm giải thoát,
thì người đó thuần nhứt[45]. Người nào đã được thuần
nhứt, thì phạm hạnh đã lập. Người nào phạm hạnh đã
lập, không còn bị ai khống chế[46]. Đó gọi là biên tế
của khổ[47]. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng
như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
42. THẤT XỨ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
bảy xứ thiện[48], với ba phương pháp quán nghĩa[49], hoàn
toàn[50] ở trong trong pháp này mà chứng đắc lậu tận[51],
đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời
này mà tự tri, tự thân chứng ngộ cụ túc và an trụ, biết
rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’
“Tỳ-kheo,
thế nào là bảy xứ thiện? Tỳ-kheo biết như thật về sắc;
biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự tận
diệt của sắc, về con đường đưa đến sự diệt tận của
sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về
sự xuất ly sắc. Cũng vậy, biết như thật về thọ, tưởng,
hành, thức; biết như thật về sự tập khởi của thức,
về sự tận diệt của thức, về con đường đưa đến sự
diệt tạân của thức, về vị ngọt của thức, về sự tai
hại của thức, về sự xuất ly của thức.
“Thế
nào là biết như thật về sắc? Những gì là sắc là tất
cả bốn đại và sắc do bốn đại tạo ra. Đó gọi là sắc.
Như vậy là biết như thật về sắc.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của sắc? Ái hỷ
là sự tập khởi của sắc. Như vậy là biết như thật về
sự tập khởi của sắc
“Thế
nào là biết như thật về sự đoạn tận của sắc? Ái hỷ
diệt. Đó gọi là sự diệt tận của sắc. Như vậy là biết
như thật về sự diệt tận của sắc.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự tận
diệt của sắc? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến, chánh chí,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh
niệm, chánh định. Đó gọi là con đường đưa đến sự
tận diệt của sắc. Như vậy là biết như thật về con đường
đưa đến sự tận diệt của sắc.
“Thế
nào là biết như thật về vị ngọt của sắc? Hỷ lạc do
duyên vào sắc mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như
vậy là biết như thật về vị ngọt của sắc.
“Thế
nào là biết như thật về sự tai hại của sắc? Sắc là
vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai
hại của sắc. Như vậy là biết như thật về sự tai hại
của sắc.
“Thế
nào là biết như thật về sự xuất ly sắc? Đối với sắc
mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt qua khỏi
dục tham. Đó gọi là sự xuất ly sắc. Như vậy là biết
như thật về sự xuất ly sắc.
“Thế
nào là biết như thật về sự hiện hữu của thọ? Có sáu
loại thọ: mắt tiếp xúc sanh ra thọ và tai, mũi, lưỡi, thân,
ý khi tiếp xúc sanh ra thọ, đó gọi là sự hiện hữu của
thọ. Như vậy là biết như thật về sự hiện hữu của thọ.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của thọ? Sự tập
khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Như vậy là biết
như thật về sự tập khởi của thọ.
“Thế
nào là biết như thật về sự đoạn tận của thọ? Khi xúc
diệt, thì đó là sự diệt tận của thọ. Như vậy là biết
như thật về sự diệt tận của thọ.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự tận
diệt của thọ? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến... cho đến
chánh định, đó gọi là con đường đưa đến sự tận diệt
của thọ. Như vậy là biết như thật về con đường đưa
đến sự tận diệt của thọ.
“Thế
nào là biết như thật về vị ngọt của thọ? Hỷ lạc do
duyên thọ mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thọ. Như vậy
là biết như thật về vị ngọt của thọ.
“Thế
nào là biết như thật về sự tai hại của thọ? Thọ là
vô thường, khổ, là biến dịch. Đó gọi là sự tai hại
của thọ. Như vậy là biết như thật về sự tai hại của
thọ.
“Thế
nào là biết như thật về sự xuất ly thọ? Nếu ở nơi thọ
mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt qua khỏi
dục tham. Đó gọi là sự lìa thọ. Như vậy là biết như
thật về sự lìa thọ.
“Thế
nào là biết như thật về tưởng? Có sáu tưởng thân. Tưởng
phát sanh từ xúc của mắt; tưởng phát sanh từ xúc của tai,
mũi, lưỡi, thân, ý. Đó gọi là sự hiện hữu của tưởng.
Như vậy là biết như thật về sự hiện hữu của tưởng.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của tưởng? Tập
khởi của xúc là tập khởi của tưởng. Như vậy là biết
như thật về sự tập khởi của tưởng.
“Thế
nào là biết như thật về sự diệt tận của tưởng? Diệt
tận xúc là diệt tận tưởng. Như vậy là biết như thật
về sự đoạn diệt của tưởng.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt
tận của tưởng? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến... cho đến
chánh định. Đó gọi là con đường đưa đến sự đoạn
diệt của tưởng. Như vậy là biết như thật về con đường
đoạn diệt của tưởng.
“Thế
nào là biết như thật về vị ngọt của tưởng? Hỷ lạc
nhờ duyên vào tưởng mà sanh ra. Đó gọi là vị ngọt của
tưởng. Như vậy là biết như thật về vị ngọt của tưởng.
“Thế
nào là biết như thật về sự tai hại của tưởng? Tưởng
làø vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự
tai hại của tưởng. Như vậy là biết như thật về sự tai
hại của tưởng.
“Thế
nào là biết như thật về sự xuất ly tưởng? Nếu ở nơi
tưởng mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt
qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly tưởng. Như vậy
là biết như thật về sự xuất ly tưởng.
“Thế
nào là biết như thật về hành? Có sáu tư thân. Tư phát sanh
từ xúc của mắt. Tư phát sanh từ xúc của tai, mũi, lưỡi,
thân, ý. Đó gọi là hành. Như vậy là biết như thật về
sự hiện hữu của hành.
Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của hành? Sự tập
khởi của xúc là sự tập khởi của hành. Như vậy là biết
như thật về sự tập khởi của hành.
“Thế
nào là biết như thật về sự diệt tận của hành? Sự diệt
tận của xúc là sự diệt tận của hành. Như vậy là biết
như thật về sự diệt tận của hành.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt
tận của hành? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến cho đến chánh
định. Đóù gọi là con đường đưa đến sự diệt tận
của hành. Như vậy là biết như thật về con đường đưa
đến sự diệt tận của hành.
Thế
nào là biết như thật về vị ngọt của hành? Hỷ lạc do
duyên vào hành mà sanh ra, nên gọi là vị ngọt của hành.
Như vậy là biết như thật về vị ngọt của hành.
“Thế
nào là biết như thật về sự tai hại của hành? Hành là
vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai
hại của hành. Như vậy là biết như thật về sự tai hại
của hành.
“Thế
nào là biết như thật về sự xuất ly hành? Nếu ở nơi hành
mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt qua được
dục tham. Đó gọi là sự xuất ly hành. Như vậy là biết
như thật về sự xuất ly hành.
“Thế
nào là biết như thật về thức? Có sáu thức thân. Thức
của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó gọi là sự hiện
hữu của thức. Như vậy là biết như thật về sự hiện
hữu của thức.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của thức? Sự tập
khởi của danh sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy
là biết như thật về sự tập khởi của thức.
“Thế
nào là biết như thật về sự diệt tận của thức? Sự diệt
tận của danh sắc là sự diệt tận của thức. Như vậy là
biết như thật về sự diệt tận của thức.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt
tận của thức? Là tám Thánh đạo: Chánh kiến cho đến chánh
định. Đó gọi là con đường đưa đến sự diệt tận của
thức. Như vậy là biết như thật về con đường đưa đến
sự diệt tận của thức.
“Thế
nào là biết như thật về vị ngọt của thức? Hỷ lạc do
duyên thức mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thức. Như vậy
là biết như thật về vị ngọt của thức.
“Thế
nào là biết như thật về sự tai hại của thức? Thức là
vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai
hại của thức. Như vậy là biết như thật về sự tai hại
của thức.
“Thế
nào là biết như thật về sự xuất ly thức? Nếu ở nơi
thức mà điều phục dục tham, đoạn trừ dục tham, vượt
qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly thức. Như vậy
là biết như thật về sự xuất ly thức.
“Tỳ-kheo,
đó gọi là bảy xứ thiện.
“Thế
nào là ba phương pháp quán nghĩa? Nếu, Tỳ-kheo ở nơi hoang
vắng, dưới gốc cây, hay nơi đồng trống, quán sát ấm,
giới, nhập[52] bằng phương tiện chân chánh[53] mà tư duy
nghĩa của chúng. Đó gọi là ba phương pháp quán nghĩa của
Tỳ-kheo.
“Đó
gọi là bảy xứ thiện và ba phương pháp quán nghĩa của Tỳ-kheo,
hoàn toàn ở trong trong pháp này mà chứng đắc lậu tận,
đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời
này mà tự tri, tự thân chứng ngộ cụ túc và an trụ, biết
rằng, ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
43. THỦ TRƯỚC[54]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Chấp
thủ nên sanh đắm trước[55]. Không chấp thủ, không đắm
trước. Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà
nói.”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thưa
vâng, chúng con xin theo lời dạy.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là do chấp thủ nên sanh đắm trước? Phàm phu ngu si không
học, đối với sắc thấy là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau[56];
thấy sắc là ngã, hay ngã sở để mà chấp thủ. Khi đã chấp
thủ, nếu sắc kia chuyển biến hay đổi khác, thì tâm cũng
chuyển theo[57]. Khi tâm đã chuyển theo, thì sanh ra sự chấp
thủ, nắm giữ tâm mà trụ[58]. Sau khi trụ, sanh ra sợ hãi,
chướng ngại tâm loạn[59], do thủ trước[60] vậy.
“Phàm
phu ngu si vô học, ở nơi thọ, tưởng, hành, thức thấy là
ngã, khác ngã, hay ở trong nhau; thấy thức là ngã, hay ngã
sở để mà chấp thủ. Khi đã chấp thủ, nếu thức kia chuyển
biến hay đổi khác, thì tâm cũng chuyển theo. Khi tâm đã chuyển
theo, thì sanh ra sự chấp thủ, nắm giữ tâm mà trụ. Sau khi
trụ, sanh ra sợ hãi, chướng ngại tâm loạn; do thủ trước
vậy. Đó gọi là thủ trước.
“Thế
nào là không thủ, thì không đắm? Đa văn Thánh đệ tử ở
nơi sắc không thấy ngã, khác ngã, hay ở trong nhau; ở nơi
sắc không thấy ngã và ngã sở để mà chấp thủ. Không thấy
ngã và ngã sở để mà chấp thủ, khi sắc kia chuyển biến,
hay đổi khác, thì tâm cũng không chuyển theo. Tâm không chuyển
theo, không sanh thủ trước, nắm giữ tâm mà trụ. Do không
nắm giữ tâm mà trụ, không sanh sợ hãi, chướng ngại, tâm
loạn; do không thủ trước vậy.
“Cũng
vậy, ở nơi thọ, tưởng, hành, thức không thấy ngã, khác
ngã, hay ở trong nhau; ở nơi thức không thấy ngã và ngã sở
để mà chấp thủ. Không thấy ngã và ngã sở để mà chấp
thủ, khi thức kia chuyển biến, hay đổi khác, thì tâm cũng
không chuyển theo. Tâm không chuyển theo, không sanh thủ trước,
nắm giữ tâm mà trụ. Do không nắm giữ tâm mà trụ, không
sanh sợ hãi, chướng ngại, tâm loạn; do không thủ trước
vậy. Đó gọi là không thủ trước.
“Đó
gọi là thủ trước và không thủ trước.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
44. HỆ TRƯỚC[61]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
có sanh thì sẽ có trói buộc[62], nếu không sanh thì sẽ không
có trói buộc. Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các
ông mà nói.
“Thế
nào là nếu có sanh thì sẽ có trói buộc? Phàm phu ngu si vô
học, không biết như thật về sự tập khởi của sắc, sự
diệt tận của sắc, vị ngọt của sắc, sự tai hại của
sắc, sự xuất ly sắc, nên đối với sắc mà ái hỷ, tán
thán, thủ trước; ở nơi sắc thấy là ngã, là ngã sở mà
chấp thủ. Khi đã chấp thủ rồi, nếu sắc kia biến chuyển
hay đổi khác, tâm theo đó mà biến khác. Vì tâm theo đó biến
khác, nên nắm giữ tâm mà trụ[63]. Vì nắm giữ tâm trụ
nên sanh sợ hãi, chướng ngại, hoài vọng[64]. Vì có sanh nên
có sự trói buộc[65]. Đối với thọ, tưởng, hành, thức
cũng lại như vậy. Đó gọi là có sanh nên có sự trói buộc.
“Thế
nào là nếu không sanh thì không trói buộc? Đa văn Thánh đệ
tử biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự tận
diệt của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của
sắc, về sự xuất ly của sắc. Vì đã biết như thật, nên
không ái hỷ, tán thán, thủ trước; không buộc chặt ngã
và ngã sở, mà chấp thủ. Vì không chấp thủ nên sắc kia
nếu biến chuyển hay đổi khác, tâm không theo đó mà biến
khác. Vì tâm không theo sự biến khác, nên tâm không bị trói
buộc, nắm giữ tâm mà trụ. Do không nắm giữ tâm mà trụ,
nên tâm không sợ hãi, chướng ngại, hoài vọng; vì không
sanh nên không trói buộc vậy. Đó gọi là không sanh, nên không
có trói buộc.
“Đối
với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Đó gọi
là không sanh, nên không bị trói buộc.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
45. GIÁC[66]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
năm thọ ấm. Những gì là năm? Sắc thọ ấm; thọ, tưởng,
hành, thức thọ ấm. Nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào thấy
có ngã, thì tất cả cũng đều ở nơi năm thọ ấm này mà
thấy có ngã. Các Sa-môn, Bà-la-môn thấy sắc là ngã, sắc
là khác ngã, hay ngã ở trong sắc, sắc ở trong ngã[67]; thấy
thọ, tưởng, hành, thức là ngã, khác ngã, ngã ở trong thức,
thức ở trong ngã.
“Phàm
phu ngu si vô học vì vô minh nên thấy sắc là ngã, là khác
ngã, hay ở trong nhau và nói ngã là chân thật nên không xả.
Vì không xả nên các căn tăng trưởng. Khi các căn đã tăng
trưởng rồi, thì sẽ sanh ra các xúc. Do bị xúc chạm bởi
sáu xúc nhập xứ[68], do đó phàm phu ngu si vô học khởi lên
cảm giác khổ vui, từ xúc mà nhập xứ khởi lên. Những gì
là sáu? Nhãn xúc nhập xứ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý xúc
nhập xứ.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, có ý giới, pháp giới, vô minh giới. Kẻ phàm
phu ngu si vô học, vì vô minh xúc[69] cho nên khởi lên ý tưởng
có, ý tưởng không, ý tưởng vừa có vừa không, ý tưởng
ta hơn, ý tưởng ta bằng, ý tưởng ta kém, ý tưởng ta biết,
ta thấy. Những ý tưởng biết như vậy, những ý tưởng thấy
như vậy đều do sáu xúc–nhập xứ mà phát sanh.
“Đa
văn Thánh đệ tử đối với sáu xúc–nhập xứ này, xả
bỏ vô minh mà sanh minh. Không sanh ra ý tưởng về có, ý tưởng
về không, ý tưởng về vừa có vừa không, ý tưởng hơn,
ý tưởng bằng, ý tưởng kém, ý tưởng ta biết, ta thấy.
Khi đã biết như vậy, đã thấy như vậy rồi, thì những
gì do vô minh–xúc khởi lên trước kia sẽ bị diệt và cảm
thọ phát sanh do minh xúc sau đó sẽ khởi lên.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
46. TAM THẾ ẤM THẾ THỰC[70]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
năm thọ ấm. Những gì là năm? Sắc thọ ấm; thọ, tưởng,
hành, thức thọ ấm.
“Nếu
Sa-môn, Bà-la-môn nào nhờ trí túc mạng tự biết rõ những
đời sống trước của mình, thì việc đã biết, đang biết,
sẽ biết đều phát xuất từ năm thọ ấm này. Việc đã
biết đang biết, sẽ biết về đời quá khứ của ta đã từng
trải qua, có sắc như vậy, thọ như vậy, tưởng như vậy,
hành như vậy, thức như vậy.
“Cái
gì có thể phân tán, trở ngại[71], thì cái đó gọi là sắc
thọ ấm[72]. Như bàn tay, đá, gậy, dao, bị trở ngại bởi
ngón tay; hoặc do lạnh, nóng, khát, đói, hoặc do xúc bởi
muỗi mòng, độc trùng, mưa gió; đó gọi là trở ngại do
xúc[73]. Cho nên, chướng ngại, đó là sắc thọ ấm. Lại
nữa, sắc thọ ấm này là vô thường, khổ, biến dịch.
“Những
tướng cảm nhận, đó là thọ thọ ấm[74]. Cảm nhận cái
gì? Cảm nhận sự khổ, cảm nhận sự lạc, cảm nhận sự
không khổ không lạc. Cho nên gọi tướng cảm nhận là thọ
thọ ấm. Lại nữa, thọ thọ ấm này là vô thường, khổ,
biến dịch.
“Các
tưởng, là tưởng thọ ấm[75]. Tưởng cái gì? Tưởng ít,
tưởng nhiều, tưởng vô lượng, hoàn toàn không có gì tưởng
là không có gì. Đó gọi là tưởng thọ ấm. Lại nữa, tưởng
thọ ấm này là vô thường, khổ, là pháp biến dịch.
“Tướng
tạo tác hữu vi là hành thọ ấm[76]. Tạo tác cái gì? là
tạo tác sắc, tạo tác thọ, tưởng, hành và thức. Cho nên
tướng tạo tác hữu vi là hành thọ ấm.
“Lại
nữa, hành thọ ấm này là pháp vô thường, khổ, biến dịch.
“Tướng
phân biệt biết rõ là thức thọ ấm[77]. Biết rõ cái gì?
Là biết rõ sắc, biết rõ thanh, hương, vị, xúc và pháp,
cho nên gọi là thức thọ ấm. Lại nữa, thức thọ ấm là
pháp vô thường, khổ, biến dịch.
“Này
các Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử kia đối với sắc thọ
ấm kia phải học như vầy, ‘Ta nay bị sắc hiện tại ăn[78].
Quá khứ đã từng bị sắc kia ăn, như trong hiện tại.’
Lại nghĩ như vầy: ‘Nay ta đang bị sắc hiện tại ăn, nếu
mà ta ham muốn sắc vị lai, thì cũng sẽ bị sắc kia ăn như
trong hiện tại.’ Biết như vậy rồi, người ấy không hoài
niệm sắc quá khứ, không ham muốn sắc vị lai, đối với
sắc hiện tại sanh yểm ly, lìa dục, diệt hết tai hại, hướng
đến tịch diệt. Đa văn Thánh đệ tử đối với thọ, tưởng,
hành, thức thọ ấm hãy học như vầy, ‘Ta nay bị thức hiện
tại ăn. Quá khứ đã từng bị thức kia ăn, như trong hiện
tại. Nếu mà ta ham muốn thức vị lai, thì cũng sẽ bị thức
kia ăn như trong hiện tại.’ Biết như vậy rồi, người ấy
không hoài niệm thức quá khứ, không ham muốn thức vị lai,
đối với thức hiện tại sanh yểm ly, lìa dục, diệt tận[79],
hướng đến tịch diệt. Ở đây, diệt chứ không tăng, lui
chứ không tiến, diệt chứ không khởi, xả chứ không thủ[80].
“Ở
nơi cái gì diệt mà không tăng? Sắc diệt mà không tăng. Thọ,
tưởng, hành, thức diệt mà không tăng.
“Ở
nơi cái gì lùi mà không tiến? Sắc lùi mà không tiến. Thọ,
tưởng, hành, thức lùi mà không tiến.
“Ở
nơi cái gì diệt mà không khởi? Sắc diệt mà không khởi.
Thọ, tưởng, hành, thức diệt mà không khởi.
“Ở
nơi cái gì xả mà không thủ? Sắc xả mà không thủ. Thọ,
tưởng, hành, thức xả mà không thủ.
“Diệt
chứ không tăng, tịch diệt mà an trụ. Lùi chứ không tiến,
im lặng lui mà an trụ. Diệt chứ không khởi, tịch diệt mà
an trụ. Xả chứ không thủ, không sanh ra sự trói buộc. Không
bị trói buộc, nên tự mình giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc gì cần làm
đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Khi
Đức Phật nói kinh này số đông các Tỳ-kheo không khởi các
lậu, tâm được giải thoát.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Bài
kệ tóm tắt:
Ngã,
ty hạ, chủng tử,
Phong
trệ, ngũ chuyển, thất (xứ thiện)
Hai
hệ trước và giác,
Tam
thế ấm thế thực.
KINH
47. TÍN[81]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Thiện
nam có lòng tin, cần suy nghĩ như vầy: ‘Ta nên thuận theo
pháp. Ta hãy an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều, về yểm
ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều,
về yểm ly đối với thọ, tưởng, hành, thức.’ Thiện nam
tử có lòng tin bèn an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều,
về yểm ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập tu tập
nhiều, về yểm ly đối với thọ, tưởng, hành, thức, nên
đối với sắc được yểm ly; đối với thọ, tưởng, hành,
thức được yểm ly. Do yểm ly mà ly dục, giải thoát, giải
thoát tri kiến, biết rằng ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn
tái sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
48. A-NAN (1)[82]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Thiện
nam tử có lòng tin, chánh tín xuất gia, sống không gia đình,
tự nghĩ: ‘Ta nên thuận theo pháp. Ta hãy an trụ với sự
tu tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với sắc; an trụ với
sự tu tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với thọ, tưởng,
hành, thức.’ Thiện nam tử có lòng tin bèn an trụ với sự
tu tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với sắc; an trụ với
sự tu tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với thọ, tưởng,
hành, thức, nên đối với sắc được yểm ly; đối với
thọ, tưởng, hành, thức được yểm ly[83]. Ta nói người
ấy chắc chắn sẽ được thoát ly khỏi tất cả sanh, già,
bệnh, chết, ưu bi, khổ não.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
49. A-NAN (2)[84]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
có trưởng giả hay người con trưởng giả nào có lòng tin,
đến hỏi ngươi rằng, ‘Ở nơi pháp nào mà biết rõ được
sự sanh diệt của nó?’ thì ngươi sẽ trả lời như thế
nào?”
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu có trưởng giả hay con trưởng giả nào, đến
hỏi con như vậy, thì con sẽ đáp rằng, ‘Biết sắc là pháp
sanh diệt; biết thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt.’
Bạch Thế Tôn, nếu có trưởng giả hay con trưởng giả nào
hỏi như vậy, thì con sẽ trả lời như vậy.”
Phật
bảo Tôn giả A-nan:
“Lành
thay! Lành thay! Nên đáp như vậy. Vì sao vậy? Vì sắc là pháp
sanh diệt; thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt. Biết
sắc là pháp sanh diệt, thì đó gọi là biết sắc. Biết thọ,
tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt, thì đó gọi là biết…
thức.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
50. A-NAN (3)[85]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
có các ngoại đạo xuất gia đến hỏi ngươi rằng, ‘A-nan,
vì sao Thế Tôn dạy người tu các phạm hạnh.’ Được hỏi
như vậy, nên đáp thế nào?”
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu có người ngoại đạo xuất gia đến hỏi con
rằng, ‘A-nan, vì sao Thế Tôn dạy người tu các phạm hạnh?’
Thì con sẽ trả lời rằng, ‘Vì để đối với sắc, tu tập
yểm ly, ly dục, diệt tạân, giải thoát, không sanh, nên Đức
Thế Tôn dạy tu các phạm hạnh. Vì để đối với thọ, tưởng,
hành, thức, tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát,
không sanh, nên dạy tu các phạm hạnh.’ Bạch Thế Tôn, nếu
có người ngoại đạo xuất gia hỏi như vậy, thì con cũng
sẽ đáp như vậy.”
Phật
bảo Tôn giả A-nan:
“Lành
thay! Lành thay! Nên đáp như vậy. Vì sao vậy? Thật vậy, Ta
vì đối với sắc mà tu tập yểm ly, lìa dục, diệt tận,
giải thoát, không sanh, nên dạy tu các phạm hạnh. Và vì đối
với thọ, tưởng, hành, thức, tu tập yểm ly, ly dục, diệt
tận, giải thoát, không sanh, nên dạy tu các phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
51. HOẠI PHÁP[86]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ vì các ông nói pháp hoại và bất hoại[87]. Hãy lắng
nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Này
các Tỳ-kheo, sắc là pháp hoại. Sắc kia diệt, Niết-bàn là
pháp bất hoại[88]. Thọ, tưởng, hành, thức là pháp hoại.
Thức kia diệt, Niết-bàn, là pháp bất hoại.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
52. UẤT-ĐÊ-CA
Như
trong Tăng Nhất A-hàm, phẩm Bốn pháp.
KINH
53. BÀ-LA-MÔN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật du hành trong nhân gian, đến ở trong rừng Thân-thứ[89],
phía Bắc tụ lạc Tát-la thuộc nước Câu-tát-la[90].
Bấy
giờ chủ tụ lạc Bà-la-môn Đại Tánh nghe đồn rằng, “Sa-môn
dòng họ Thích, ở nơi dòng họ lớn Thích-ca mà cạo bỏ râu
tóc, mặc áo ca-sa, chánh tín xuất gia, học đạo, sống không
gia đình, thành Bậc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác, đang du hành
trong nhân gian, đến ở trong rừng Thân-thứ, phía Bắc tụ
lạc Tát-la thuộc nước Câu-tát-la này. Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm
này, tướng mạo danh xưng, công đức chân thật như vậy được
cả trời và người ca tụng, tiếng đồn bay khắp tám phương;
là Bậc Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài ở giữa các cõi,
chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, với trí tuệ rộng
lớn có thể tự mình chứng biết rõ rằng: ‘Ta, sự sanh
đã dứt, phạm hạnh đã lập, những điều cần làm đã làm
xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ngài vì
đời nói pháp, khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối
đều toàn thiện; có nghĩa, có vị đều thiện, thuần nhất
thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, diễn nói chánh pháp vi diệu.
Lành thay, nên gặp! Lành thay, nên đi đến! Lành thay, nên cung
kính thừa sự!”
Nghĩ
như vậy rồi, ông liền sửa soạn xe cộ, đem theo nhiều tùy
tùng, bưng bình vàng, người cầm lọng cán vàng, đi đến
chỗ Đức Phật, cung kính phụng sự. Khi đến cửa rừng,
xuống xe đi bộ đến chỗ Đức Thế Tôn, hỏi thăm sức khỏe
có an lành không? Rồi ngồi qua một bên, bạch Đức Thế Tôn
rằng:
“Thưa
Sa-môn Cù-đàm, Ngài luận về cái gì? Và thuyết về cái gì?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Ta
luận về nhân và thuyết về nhân.”
Lại
bạch Phật rằng:
“Thế
nào là luận về nhân? Và thế nào là thuyết về nhân?”
Đức
Phật bảo Bà-la-môn:
“Có
nhân, có duyên để thế gian tập khởi; có nhân, có duyên
cho sự tập khởi của thế gian. Có nhân, có duyên để thế
gian diệt; có nhân, có duyên cho sự diệt tận của thế gian.”
Bà-la-môn
bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, thế nào là có nhân, có duyên để thế gian tập
khởi? Và có nhân, có duyên cho sự tập khởi của thế gian?”
Đức
Phật bảo Bà-la-môn:
“Phàm
phu ngu si không học, nên không biết như thật về sự tập
khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt
của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc.
Vì không biết như thật, nên ái lạc sắc, khen ngợi sắc,
tâm nhiễm đắm mà trụ. Kia đối với sắc mà ái lạc nên
sanh thủ; duyên thủ nên có hữu; duyên hữu nên có sanh; duyên
sanh nên có lão, tử, ưu, bi, khổ, não. Đó chính là sự tập
khởi của toàn bộ khối khổ lớn. Đối với thọ, tưởng,
hành, thức, lại cũng như vậy. Này Bà-la-môn, đó gọi là
có nhân, có duyên để thế gian tập khởi; có nhân, có duyên
cho sự tập khởi của thế gian.”
Bà-la-môn
bạch Phật:
“Thế
nào là có nhân, có duyên để thế gian diệt tận? Và có nhân,
có duyên cho sự diệt tận của thế gian?”
Đức
Phật bảo Bà-la-môn:
“Đa