TẠP
A-HÀM QUYỂN 5
KINH
103. SAI-MA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Bấy
giờ, có số đông Tỳ-kheo Thượng tọa trú ở tại vườn
Cù-sư-la, nước Câu-xá-di[2]. Lúc ấy cũng ở nước Câu-xá-di
tại vườn Bạt-đà-lê[3] có Tỳ-kheo Sai-ma[4] thân mang trọng
bệnh. Bấy giờ, Tỳ-kheo Đà-sa[5] là người nuôi bệnh. Tỳ-kheo
Đà-sa đến chỗ các Tỳ-kheo Thượng tọa, lễ dưới chân
các Tỳ-kheo Thượng tọa rồi đứng sang một bên. Các Tỳ-kheo
Thượng tọa bảo Tỳ-kheo Đà-sa rằng:
“Thầy
trở về chỗ Tỳ-kheo Sai-ma nói rằng: ‘Các Thượng tọa
hỏi thăm thầy, thân thể có an ổn chút nào không? Đau đớn
không tăng lắm chứ?’”
Lúc
ấy, Tỳ-kheo Đà-sa vâng lời các Tỳ-kheo Thượng tọa trở
về chỗ Tỳ-kheo Sai-ma, nói với Tỳ-kheo Sai-ma rằng: ‘Các
Thượng tọa hỏi thăm thầy, thân thể có an ổn chút nào
không? Đau đớn không tăng lắm chứ?’
Tỳ-kheo
Sai-ma nói với Tỳ-kheo Đà-sa rằng:
“Bệnh
của tôi không bớt, thân không được an ổn, các thứ khổ
bức bách càng tăng thêm, không cứu nổi. Giống như người
có nhiều sức mạnh bắt lấy người gầy yếu đuối, dùng
dây trói chặt vào đầu cùng hai tay, rồi siết chặt làm cho
đau đớn vô cùng. Hiện tại sự thống khổ của tôi còn
hơn cả người kia nữa. Giống như tên đồ tể dùng dao bén
mổ bụng bò lấy nội tạng nó ra; sự đau đớn bụng con
bò như thế nào có thể chịu nổi, còn hiện tại sự đau
đớn bụng của tôi, hơn cả sự đau của con bò kia. Như hai
lực sĩ bắt một người yếu đuối treo lên trên lửa rồi
đốt hai chân họ, hiện nay hai chân của tôi còn nóng hơn
người kia.”
Bấy
giờ, Tỳ-kheo Đà-sa đến lại chỗ các Thượng tọa, đem
những lời đã nói về bệnh trạng của Tỳ-kheo Sai-ma bạch
lại đầy đủ cho các Thượng tọa. Các Thượng tọa lại
sai Tỳ-kheo Đà-sa trở về chỗ Tỳ-kheo Sai-ma và nói với
Tỳ-kheo Sai-ma rằng: “Đức Thế Tôn đã dạy có năm thọ
ấm, đó là: Sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ
ấm. Tỳ-kheo Sai-ma, thầy có thể quán sát một chút về năm
thọ ấm này, không phải ngã, không phải ngã sở, được
không?”
Tỳ-kheo
Đà-sa vâng lời các Tỳ-kheo Thượng tọa dạy rồi trở về
nói với Tỳ-kheo Sai-ma rằng:
“Các
Thượng tọa nhắn lại thầy là: ‘Thế Tôn đã từng dạy
về năm thọ ấm, thầy có thể quán sát một chút, không phải
ngã, không ngã sở được không?’”
Tỳ-kheo
Sai-ma nói với Tỳ-kheo Đà-sa rằng:
“Đối
với năm thọ ấm này, tôi có thể quán sát không phải ngã,
không phải ngã sở.”
Tỳ-kheo
Đà-sa trở lại bạch với các Thượng tọa rằng:
“Tỳ-kheo
Sai-ma nói, ‘Đối với năm thọ ấm này, tôi có thể quán
sát không phải ngã, không phải ngã sở.’”.
Các
Tỳ-kheo Thượng tọa lại sai Tỳ-kheo Đà-sa nói với Tỳ-kheo
Sai-ma rằng: “Thầy có thể đối với năm thọ ấm quán sát
về không phải ngã, không phải những gì thuộc về ngã như
các bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc được không?”
Tỳ-kheo
Đà-sa vâng lời các Tỳ-kheo Thượng tọa dạy, lại đến
chỗ Tỳ-kheo Sai-ma, nói với Sai-ma rằng: “Thầy có thể quán
sát năm thọ ấm như các bậc A-la-hán đã đoạn tận các
lậu hoặc được không?”
Tỳ-kheo
Sai-ma nói với Tỳ-kheo Đà-sa rằng:
“Tôi
có thể quán sát năm thọ ấm là không phải ngã, không phải
ngã sở; nhưng chẳng phải là A-la-hán đã đoạn tận lậu
hoặc.”
Tỳ-kheo
Đà-sa trở lại chỗ các Thượng tọa, bạch với các Thượng
tọa, Tỳ-kheo Sai-ma nói, ‘Tôi có thể quán sát năm thọ ấm
là không phải ngã, không phải ngã sở; nhưng chẳng phải
là A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc.’”
Bây
giờ, các Thượng tọa bảo Tỳ-kheo Đà-sa, “ngươi hãy trở
về nói với Tỳ-kheo Sai-ma: ‘Thầy nói là thầy quán sát
năm thọ ấm không phải là ngã, không phải là ngã sở, nhưng
chẳng phải là A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc. Trước
sau mâu thuẫn nhau.’”
Tỳ-kheo
Đà-sa lại vâng lời dạy các Thượng tọa, đến nói với
Tỳ-kheo Sai-ma là: ‘Thầy nói là thầy quán sát năm thọ ấm
không phải là ngã, không phải là ngã sở, nhưng chẳng phải
là A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc. Trước sau mâu thuẫn
nhau.’
Tỳ-kheo
Sai-ma nói với Tỳ-kheo Đà-sa rằng:
“Đối
với năm thọ ấm tôi quán sát không phải là ngã, không phải
là ngã sở. Nhưng chẳng phải là A-la-hán. Vì đối với ngã
mạn, ngã dục, ngã sử, tôi chưa đoạn hết, chưa biết rõ,
chưa xả ly, chưa nhàm tởm, chưa nhổ ra hết.”
Tỳ-kheo
Đà-sa trở lại chỗ các Thượng tọa, bạch với các Thượng
tọa, là Tỳ-kheo Sai-ma xin thưa rằng: ‘Đối với năm thọ
ấm tôi quán sát không phải là ngã, không phải là ngã sở.
Nhưng chẳng phải là A-la-hán. Vì đối với ngã mạn, ngã
dục, ngã sử, tôi chưa đoạn hết, chưa biết rõ, chưa xả
ly, chưa nhàm tởm, chưa nhổ ra hết.’
Các
Thượng tọa lại sai Tỳ-kheo Đà-sa nói với Tỳ-kheo Sai-ma
rằng: ‘Thầy nói có ngã. Vậy thì ở chỗ nào có ngã? Sắc
là ngã hay ngã khác sắc? Và thọ, tưởng, hành, thức là ngã
hay ngã khác thức?’
Tỳ-kheo
Sai-ma nói với Tỳ-kheo Đà-sa rằng:
“Tôi
không nói sắc là ngã hay ngã khác sắc; thọ, tưởng, hành,
thức là ngã hay ngã khác thức. Nhưng đối với năm thọ ấm,
ngã mạn, ngã dục, ngã sử tôi chưa đoạn hết, chưa biết
rõ, chưa xa lìa, chưa nhàm tởm, chưa nhổ ra hết.”
Tỳ-kheo
Sai-ma nói với Tỳ-kheo Đà-sa rằng:
“Sao
dám làm phiền thầy phải chạy qua chạy lại! Thầy mang giùm
cây gậy đến đây, tôi sẽ tự chống gậy đến các Thượng
tọa kia. Xin trao gậy cho tôi.”
Tỳ-kheo
Sai-ma liền tự chống gậy đi đến chỗ các Thượng tọa.
Từ xa các Thượng tọa nhìn thấy Tỳ-kheo Sai-ma chống gậy
đi lại, liền trải tòa, sửa ghế ngồi, đích thân ra nghinh
tiếp, vì thầy mang giúp y bát và mời ngồi, cùng thăm hỏi
sức khỏe nhau, rồi các Thượng tọa nói với Tỳ-kheo Sai-ma
rằng:
“Thầy
bảo ngã mạn; vậy chỗ nào thấy ngã? Sắc là ngã chăng?
Ngã khác sắc chăng? Và thọ, tưởng, hành, thức là ngã chăng?
Ngã khác thức chăng?”
Tỳ-kheo
Sai-ma bạch rằng:
“Chẳng
phải sắc là ngã, chẳng phải ngã khác sắc; chẳng phải
thọ, tưởng, hành, thức là ngã, chẳng phải ngã khác thức.
Nhưng đối với năm thọ ấm, ngã mạn, ngã dục, ngã sử
tôi có thể chưa đoạn hết, chưa có thể biết rõ, chưa có
thể xa lìa, chưa nhàm tởm, chưa nhổ ra hết.
“Giống
như hương thơm của hoa Ưu-bát-la, Bát-đàm-ma, Câu-mâu-đầu,
Phân-đà-lợi, có phải là mùi hương của rễ? Hay hương khác
rễ; là mùi hương tinh thô của thân, lá, cuống? Là mùi hương
khác tinh thô? Hay là tất cả những thứ đó chăng?”
Các
Thượng tọa đáp rằng:
“Không
phải đâu, Tỳ-kheo Sai-ma, chẳng phải rễ của hoa Ưu-bát-la,
Bát-đàm-ma, Câu-mâu-đầu, Phân-đà-lợi, là mùi hương và
chẳng phải mùi hương khác rễ; cũng chẳng phải thân, lá,
cuống, tinh thô là mùi hương; cũng chẳng phải mùi hương
khác tinh thô.”
Tỳ-kheo
Sai-ma lại hỏi:
“Vậy
đó là những thứ hương gì?”
Các
Thượng tọa đáp rằng:
“Là
mùi hương của hoa.”
Tỳ-kheo
Sai-ma lại nói:
“Vậy
thì ngã cũng như vậy. Chẳng phải sắc là ngã, ngã không
lìa sắc và chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức là ngã,
ngã không lìa thức; nhưng đối với năm thọ ấm, tôi thấy
không phải ngã, không phải ngã sở, mà đối với ngã mạn,
ngã dục, ngã sử tôi chưa đoạn hết, chưa biết rõ, chưa
xa lìa, chưa nhàm tởm, chưa nhổ ra hết.
“Các
Thượng tọa hãy nghe tôi nói thí dụ, vì người trí nhờ
thí dụ mà được hiểu rõ. Giống như chiếc áo của người
nhũ mẫu giao cho người giặt. Họ giặt bằng nước tro, tuy
có sạch bụi nhơ, nhưng vẫn còn có mùi. Nếu muốn hết mùi
này thì cần phải dùng các thứ hương thơm xông ướp. Cũng
vậy, đa văn Thánh đệ tử xa lìa năm thọ ấm, quán sát chân
chánh rằng không phải ngã, không phải ngã sở, có thể đối
với năm thọ ấm, ngã mạn, ngã dục, ngã sử chưa đoạn
hết, chưa biết rõ, chưa xa lìa, chưa nhàm chán, nhưng đối
với năm thọ ấm sau đó vị ấy tư duy thêm nữa, quán sát
sự sanh diệt của chúng, rằng: ‘Đây là sắc; đây là sự
tập khởi của sắc này, đây là sự diệt tận của sắc
này. Đây là thọ, tưởng, hành, thức này, đây là sự tập
khởi... thức này và sự đoạn tận của... thức này cũng
như vậy. Đối với năm thọ ấm khi đã quán sát sự sanh
diệt của chúng như vậy rồi, thì ngã mạn, ngã dục, ngã
sử, tất cả đều được tiêu trừ. Đó gọi là quán sát
chân chánh chân thật.”
Khi
Tỳ-kheo Sai-ma nói pháp này, thì các vị Thượng tọa xa lìa
được trần cấu, được trong sạch mắt pháp. Tỳ-kheo Sai-ma
nhờ không khởi các lậu hoặc, nên tâm được giải thoát.
Vì được an vui lợi ích nơi chánh pháp nên những bệnh của
thân tất cả đều được tiêu trừ.
Bấy
giờ, các Thượng tọa nói với Tỳ-kheo Sai-ma rằng:
“Lần
đầu chúng tôi được nghe những gì Nhân giả nói đã hiểu
rõ và mừng vui, huống chi là được nghe lại nhiều lần.
Sở dĩ chúng tôi hỏi nhiều là vì muốn phát khởi biện tài
vi diệu của Nhân giả, chứ không phải có ý nhiễu loạn.
Nhân giả là người có khả năng nói rộng chánh pháp của
Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.”
Sau
khi các Thượng tọa nghe những gì mà Tỳ-kheo Sai-ma nói xong,
tất cả đều hoan hỷ phụng hành.
KINH
104. DIỆM-MA-CA[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo tên là Diệm-ma-ca khởi
tà kiến ác nói rằng: ‘Theo chỗ hiểu của tôi về những
pháp mà Phật đã thuyết giảng, thì vị A-la-hán lậu tận,
sau khi thân hoại mạng chung sẽ không còn gì nữa.’
Lúc
ấy, có số đông Tỳ-kheo nghe những lời này, liền đến
đó nói với Tỳ-kheo Diệm-ma-ca rằng:
“Có
thật thầy đã nói: ‘Theo chỗ hiểu của tôi về những pháp
mà Phật đã thuyết giảng, thì vị A-la-hán lậu tận, sau
khi thân hoại mạng chung sẽ không còn gì nữa’?”
Đáp
rằng:
“Thưa
các Tôn giả, thật sự như vậy.”
Các
Tỳ-kheo nói với Diệm-ma-ca:
“Chớ
nên hủy báng Thế Tôn. Hủy báng Thế Tôn là không tốt. Thế
Tôn không hề nói những lời này. Thầy nên từ bỏ tà kiến
ác này đi.”
Khi
các Tỳ-kheo đã nói những lời này rồi, mà Tỳ-kheo Diệm-ma-ca
vẫn còn ôm chặt tà kiến ác này, lại nói như vầy:
“Thưa
các Tôn giả, chỉ có đây mới là sự thật, nếu khác đi
thì là giả dối.”
Thầy
nói ba lần như vậy.
Khi
các Tỳ-kheo không thể điều phục được Tỳ-kheo Diệm-ma-ca,
liền bỏ ra đi, đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, thưa Tôn
giả Xá-lợi-phất rằng:
“Tôn
giả biết cho, Tỳ-kheo Diệm-ma-ca kia đã khởi lên tà kiến
ác nói như vầy: ‘Theo chỗ hiểu của tôi về những pháp
mà Phật đã thuyết giảng, thì vị A-la-hán lậu tận, sau
khi thân hoại mạng chung sẽ không còn gì nữa.’ Chúng tôi
đã nghe những lời nói này, nên đến hỏi Tỳ-kheo Diệm-ma-ca,
có thật thầy đã nói: ‘Theo chỗ hiểu của tôi về những
pháp mà Phật đã thuyết giảng, thì vị A-la-hán lậu tận,
sau khi thân hoại mạng chung sẽ không còn gì nữa?’ Thầy
ấy đáp, ‘Thưa các Tôn giả, thật sự là như vậy, nếu
khác đi thì là kẻ ngu nói.’ Chúng tôi liền bảo rằng: ‘Chớ
nên hủy báng Thế Tôn. Hủy báng Thế Tôn là không tốt. Thế
Tôn không hề nói những lời này. Thầy nên từ bỏ tà kiến
ác này đi.’ Qua ba lần can gián, thầy vẫn ôm chặt tà kiến
ác mà không bỏ, nên nay chúng tôi đến chỗ Tôn giả, xin
Tôn giả thương xót Tỳ-kheo Diệm-ma-ca, hãy làm cho thầy dứt
bỏ tà kiến ác.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
“Vâng,
tôi sẽ làm cho thầy này dứt bỏ tà kiến ác.”
Sau
khi nghe những lời Tôn giả Xá-lợi-phất nói rồi, số đông
Tỳ-kheo tùy hỷ vui mừng, trở về chỗ ở của mình.
Bấy
giờ, lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-phất đắp y mang bát
vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong, ra khỏi thành trở về
tinh xá, cất y bát, rồi đến chỗ Tỳ-kheo Diệm-ma-ca.
Tỳ-kheo
Diệm-ma-ca từ xa trông thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đến,
liền trải tòa, chuẩn bị nước rửa chân, sắp đặt ghế
ngồi, ân cần nghinh tiếp, mang giúp y bát, rồi mời ngồi.
Sau khi Tôn giả Xá-lợi-phất vào chỗ ngồi và rửa chân xong,
nói với Tỳ-kheo Diệm-ma-ca:
“Có
thật thầy đã nói: ‘Theo chỗ hiểu của tôi về những pháp
mà Phật đã thuyết giảng, thì vị A-la-hán lậu tận, sau
khi thân hoại mạng chung, sẽ không còn gì nữa?’”
Tỳ-kheo
Diệm-ma-ca bạch Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, thật sự là như vậy.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
“Bây
giờ tôi hỏi thầy, cứ theo ý thầy mà trả lời tôi. Thế
nào, Diệm-ma-ca, sắc là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, là vô thường.”
Lại
hỏi:
“Nếu
là vô thường, thì là khổ chăng?”
Đáp:
“Là
khổ.”
Lại
hỏi:
“Nếu
vô thường, khổ là pháp biến dịch. Vậy đa văn Thánh đệ
tử ở trong đó có thấy ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, không.”
“Đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Lại
hỏi:
“Thế
nào Diệm-ma-ca, sắc là Như Lai chăng?”
Đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, không.”
Lại
hỏi:
“Thế
nào, Diệm-ma-ca, khác sắc là Như Lai chăng? Khác thọ, tưởng,
hành, thức là Như Lai chăng?”
Đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, không.”
Lại
hỏi:
“Ở
trong sắc có Như Lai không? Ở trong thọ, tưởng, hành, thức
có Như Lai không?”
Đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, không.”
Lại
hỏi:
“Trong
Như Lai có sắc không? Trong Như Lai có thọ, tưởng, hành, thức
không?”
Đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, không.”
Lại
hỏi:
“Phi
sắc, thọ, tưởng, hành, thức[7] có Như Lai phải không?”
Đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, không.”
“Như
vậy, này Diệm-ma-ca, Như Lai ngay trong đời này là chân thật,
như thật, thường trú, không thể nắm bắt, không thể giả
thiết[8]; sao thầy lại có thể nói, ‘Theo chỗ hiểu của
tôi về những pháp mà Phật đã thuyết giảng, thì vị A-la-hán
lậu tận, sau khi thân hoại mạng chung sẽ không còn gì nữa?’
Nói như vậy đúng thời chăng?”
Đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, không.”
Lại
hỏi:
“Này
Diệm-ma-ca, trước đây thầy nói: ‘Theo chỗ hiểu của tôi
về những pháp mà Phật đã thuyết giảng, thì vị A-la-hán
lậu tận, sau khi thân hoại mạng chung sẽ không còn gì nữa.’
Tại sao nay lại nói là không phải?”
Tỳ-kheo
Diệm-ma-ca nói:
“Trước
đây, vì vô minh tôi không hiểu, nên có tà kiến ác như vậy.
Nay đã nghe Tôn giả Xá-lợi-phất nói rồi, nên những gì
không hiểu do vô minh, tất cả đều dứt sạch.”
Lại
hỏi:
“Nếu
lại được hỏi: ‘Tỳ-kheo, tuyên bố tà kiến ác trước
đây, nay do biết gì, thấy gì, mà tất cả đều bị loại
bỏ?’ Thầy sẽ đáp như thế nào?”
Diệm-ma-ca
đáp:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu có người đến hỏi thì tôi
sẽ đáp như vầy, ‘A-la-hán lậu tận, sắc là vô thường;
vô thường là khổ. Khổ dứt thì vắng lặng, mát mẻ, lặng
im. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.’
Nếu có người nào đến hỏi thì tôi sẽ đáp như vậy.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Lành
thay! Lành thay! Tỳ-kheo Diệm-ma-ca, thầy nên đáp như vậy.
Vì sao? Vì bậc A-la-hán lậu đã hết, thì thấy sắc là vô
thường, mà vô thường là khổ. Nếu vô thường là khổ,
thì là pháp sanh diệt. Đối với thọ, tưởng, hành, thức
cũng lại như vậy.”
Sau
khi Tôn giả Xá-lợi-phất nói pháp này, thì Tỳ-kheo Diệm-ma-ca
xa lìa trần cấu, được mắt pháp trong sạch. Tôn giả Xá-lợi-phất
nói với Tỳ-kheo Diệm-ma-ca:
“Nay
tôi sẽ nói thí dụ, mà người trí nhờ thí dụ thì sẽ hiểu
rõ được. Thí như một trưởng giả, hay con một trưởng
giả giàu có, nhiều của cải, rất mong được nhiều người
giúp việc để khéo giữ gìn tài sản. Lúc ấy có kẻ thù
độc ác, giả đến gần gũi giúp đỡ và xin làm tôi tớ,
luôn luôn dò xét việc ngủ nghỉ sớm muộn của chủ nhân,
mà nhân đó hầu hạ hai bên, kính cẩn phục vụ; luôn thuận
theo lời chủ, khiến chủ nhân vừa lòng, xem như bạn thân,
tưởng như con cháu, rất tin tưởng, không nghi ngờ, nên không
bao giờ tự đề phòng giữ gìn. Sau đó tên này dùng dao bén,
giết chết người chủ.
“Này
Tỳ-kheo Diệm-ma-ca, thầy nghĩ thế nào về kẻ thù độc ác
kia, bạn thân trưởng giả ấy; đó chẳng phải là phương
tiện ban đầu, với tâm hại luôn luôn dò xét tìm cơ hội,
để dẫn đến cái chung cuộc đối với người chủ sao? Trong
khi trưởng giả không hay biết gì về cái hậu quả tai hại
mà mình phải gánh chịu hôm nay.”
Đáp:
“Thật
như vậy.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bảo Tỳ-kheo Diệm-ma-ca:
“Thầy
nghĩ thế nào về trưởng giả này, nếu biết người kia giả
làm người thân để ám hại, thì ông ta đã khéo tự đề
phòng giữ gìn và sẽ không bị làm hại phải không?”
Đáp:
“Đúng
vậy.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bảo:
“Cũng
vậy, Tỳ-kheo Diệm-ma-ca, kẻ phàm phu ngu si không học, đối
với năm thọ ấm tưởng là thường, tưởng là an ổn, tưởng
là không bệnh, tưởng là ngã, tưởng là ngã sở. Đối với
năm thọ ấm này giữ gìn, nuối tiếc, cuối cùng thì cũng
bị năm thọ ấm oan gia này làm hại, như trưởng giả kia
bị kẻ oan gia, giả làm người thân hại đi mà không hay biết.
“Này
Diệm-ma-ca, đa văn Thánh đệ tử đối với năm thọ ấm này
phải quán sát như bệnh, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát
hại; là vô thường, khổ, không, chẳng phải ngã, chẳng phải
ngã sở. Đối với năm thọ ấm này vị ấy không thọ lãnh,
không đắm trước. Vì không thọ lãnh nên không đắm trước,
vì không đắm trước nên tự giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã
làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Khi
Tôn giả Xá-lợi-phất nói bài pháp này, thì Tỳ-kheo Diệm-ma-ca
không khởi các lậu hoặc, tâm được giải thoát. Tôn giả
Xá-lợi-phất vì Tỳ-kheo Diệm-ma-ca nói pháp sáng soi, chỉ
bày làm cho vui vẻ rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.
KINH
105. TIÊN-NI[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương
xá.
Bấy
giờ có một ngoại đạo xuất gia tên là Tiên-ni[10] đến
chỗ Phật, cung kính thăm hỏi, rồi ngồi qua một bên, bạch
Phật:
“Ngày
hôm qua, có các Sa-môn, Bà-la-môn, Giá-la-ca[11], cùng nhau tập
trung tại giảng đường Hy hữu[12], khen ngợi như vầy: ‘Phú-lan-na
Ca-diếp[13], là người lãnh đạo đồ chúng, có năm trăm đệ
tử vây quanh trước sau. Trong số họ có người cực thông
minh, có người đần độn, nhưng đến khi họ chết đi, không
được xác nhận[14] là họ sẽ tái sanh ở đâu. Lại có Mạc-ca-lê
Cù-xá-lợi Tử[15] là người lãnh đạo đồ chúng, có năm
trăm đệ tử vây quanh trước sau. Trong số họ có người
cực thông minh, có người đần độn, nhưng đến khi họ chết
đi, không được xác nhận là họ sẽ tái sanh ở đâu. Cũng
vậy, Tiên-xà-na Tỳ-la-chi Tử, A-kỳ-đa Xí-xá-khâm-bà-la,
Ca-la-câu-đà Ca-chiên-diên, Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử[16] v.v…
mỗi người đều có năm trăm đệ tử vây quanh trước sau,
như đã nói trên.’
“Sa-môn
Cù-đàm lúc bấy giờ cũng được thảo luận trong đó, rằng:
‘Sa-môn Cù-đàm là thủ lãnh của đại chúng. Trong số đệ
tử của Ngài nếu có ai mạng chung thì liền được ghi nhận
là sẽ sanh vào chỗ này, sẽ sanh vào nơi kia. ‘Trước đây
tôi có sanh nghi, vì sao Sa-môn Cù-đàm đạt được pháp như
vậy[17]?’”
Phật
bảo Tiên-ni:
“Ông
chớ sanh nghi ngờ. Vì có mê lầm nên sanh ra nghi hoặc. Tiên-ni
nên biết, có ba hạng tôn sư. Những gì là ba? Có một hạng
tôn sư thấy đời hiện tại chân thật là ngã, rồi theo chỗ
biết ấy mà thuyết, nhưng không thể biết những việc sau
khi chết. Đó là hạng thầy thứ nhất xuất hiện ở thế
gian. Lại nữa, này Tiên-ni có một hạng tôn sư, thấy đời
hiện tại chân thật là ngã, sau khi chết cũng thấy là ngã,
rồi theo chỗ biết ấy mà thuyết. Lại nữa, này Tiên-ni có
một hạng tôn sư, không thấy đời hiện tại chân thật là
ngã, sau khi mạng chung cũng lại không thấy chân thật là ngã.
“Này
Tiên-ni, hạng tôn sư thứ nhất thấy đời hiện tại chân
thật là ngã, rồi theo chỗ biết ấy mà thuyết, thì đó gọi
là đoạn kiến. Hạng tôn sư thứ hai, thấy đời hiện tại
và đời vị lai chân thật là ngã, rồi theo chỗ biết ấy
mà thuyết, thì đó gọi là thường kiến. Hạng tôn sư thứ
ba, không thấy đời hiện tại chân thật là ngã và sau khi
chết cũng không thấy ngã, thì đó là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác nói, hiện tại cắt đứt ái, ly dục, diệt tận,
chứng Niết-bàn.”
Tiên-ni
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, tôi nghe những gì Đức Thế Tôn nói càng thêm nghi
ngờ.”
Phật
bảo Tiên-ni:
“Càng
nghi ngờ thêm là đúng. Vì sao? Vì đây chính là chỗ sâu xa
khó thấy khó biết, cần phải quán chiếu sâu xa, vi diệu
mới thấu đáo được, chỉ có bậc thông tuệ mới hiểu
rõ, còn loại chúng sanh thường tình thì chưa có khả năng
biết được. Vì sao? Vì chúng sanh lâu đời có những kiến
giải dị biệt, nhẫn thọ dị biệt, sự mong cầu dị biệt,
những ước muốn dị biệt.”
Tiên-ni
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con đối với Thế Tôn có lòng tin thuần tịnh, xin
Đức Thế Tôn vì con mà nói pháp, để ngay nơi chỗ ngồi
này tuệ nhãn của con được thanh tịnh.”
Phật
bảo Tiên-ni:
“Nay
Ta sẽ tùy thuộc vào chỗ ưa thích của ông mà nói.”
Phật
bảo Tiên-ni:
“Sắc
là thường, hay là vô thường?”
Đáp:
“Là
vô thường.”
Đức
Thế Tôn lại hỏi:
“Này
Tiên-ni, vô thường là khổ chăng?”
Đáp:
“Là
khổ.”
Đức
Thế Tôn lại hỏi Tiên-ni:
“Nếu
vô thường, khổ là pháp biến dịch, vậy đa văn Thánh đệ
tử ở trong đó có thấy ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
“Đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Lại
hỏi:
“Thế
nào, Tiên-ni, sắc có phải là Như Lai không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
“Thọ,
tưởng, hành, thức có phải là Như Lai không?”
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Lại
hỏi Tiên-ni:
“Ngoài
sắc có Như Lai không? Ngoài thọ, tưởng, hành, thức có Như
Lai không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Lại
hỏi Tiên-ni:
“Trong
sắc có Như Lai không? Trong thọ, tưởng, hành, thức có Như
Lai không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Lại
hỏi Tiên-ni:
“Trong
Như Lai có sắc không? Và trong Như Lai có thọ, tưởng, hành,
thức không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Lại
hỏi Tiên-ni:
“Phi
sắc, phi thọ, tưởng, hành, thức có Như Lai không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Phật
bảo Tiên-ni:
“Các
đệ tử của Ta nghe những gì Ta đã nói mà không hiểu nghĩa
lý để khởi vô gián đẳng[18] đối với mạn. Vì phi vô
gián đẳng nên mạn không bị đoạn trừ. Vì không dứt trừ
được mạn, nên khi bỏ ấm này thì ấm khác tiếp nối sinh.
Do vậy, này Tiên-ni, Ta ký thuyết cho các đệ tử, sau khi thân
hoại mạng chung sẽ sanh vào chỗ này hay chỗ kia. Vì sao? Vì
mạn còn sót lại.
“Này
Tiên-ni, các đệ tử của Ta đối với những gì Ta đã nói,
có khả năng hiểu rõ, thì đối với các mạn mà đạt được
vô gián đẳng. Nhờ đạt được vô gián đẳng nên các mạn
dứt trừ; vì các mạn được dứt trừ nên sau khi thân hoại
mạng chung sẽ không còn có tương tục. Này Tiên-ni, những
người đệ tử này, Ta không bảo là khi bỏ ấm này rồi,
họ sẽ sinh vào chỗ này hay chỗ kia. Vì sao? Vì không có nhân
duyên để có thể ký thuyết. Nếu muốn Ta ký thuyết, Ta sẽ
ký thuyết rằng, họ đã đoạn trừ các ái dục, vĩnh viễn
xa lìa kết sử hữu, chánh ý giải thoát, tận cùng mé khổ.
Từ xưa tới nay và ngay trong hiện tại, Ta thường nói, mạn
quá, mạn tập, mạn sanh, mạn khởi; nếu đối với mạn mà
thường xuyên quán sát thì các khổ sẽ không sanh.”
Khi
Phật nói pháp này, Tiên-ni Sa-môn ngoại đạo[19] xa lìa trần
cấu, được mắt pháp trong sạch. Bấy giờ, Tiên-ni thấy
pháp, đắc pháp, đoạn trừ các nghi hoặc, không do người
khác mà biết, không do người khác để được độ thoát.
Ở trong Chánh pháp, tâm đạt được vô sở úy. Ông từ chỗ
ngồi đứng dậy, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con có được phép ở trong Chánh pháp xuất gia tu
phạm hạnh không?”
Phật
bảo Tiên-ni:
“Ông
có thể xuất gia, thọ giới Cụ túc, được làm Tỳ-kheo ở
trong Chánh pháp.”
Sau
khi Tiên-ni đã được phép xuất gia rồi, một mình ở nơi
vắng vẻ tu tập không buông lung, tự suy nghĩ về lý do nào
mà người có dòng họ quý cạo bỏ râu tóc, chánh tín xuất
gia học đạo, sống không gia đình, tu hành phạm hạnh, thấy
pháp, tự biết đã chứng đắc: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa.’ Đã đạt được quả A-la-hán.
Sau
khi đã nghe những gì Đức Phật đã nói, hoan hỷ phụng hành.
KINH
106. A-NẬU-LA[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương
xá[21].
Bấy
giờ có Tỳ-kheo tên là A-nậu-la-độ[22] ở núi Kỳ-xà-quật.
Lúc ấy, có số đông người xuất gia ngoại đạo, đến chỗ
A-nậu-la-độ. Sau khi họ đã chào hỏi thăm nhau, rồi ngồi
sang một bên và, bạch với A-nậu-la-độ:
“Chúng
tôi có điều muốn hỏi. Ngài có rảnh mà giải thích cho chúng
tôi không?”
A-nậu-la-độ
nói với các ngoại đạo:
“Tùy
theo điều muốn hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”
Các
ngoại đạo lại hỏi:
“Thế
nào, Tôn giả, Như Lai sau khi chết tồn tại chăng?”
A-nậu-la-độ
nói:
“Như
Thế Tôn đã nói, điều này thuộc vô ký[23].”
Lại
hỏi:
“Như
Lai sau khi chết không tồn tại chăng?”
A-nậu-la-độ
nói:
“Như
Thế Tôn đã nói, điều này thuộc vô ký.”
Lại
hỏi:
“Như
Lai sau khi chết tồn tại và không tồn tại; chẳng phải tồn
tại, chẳng phải không tồn tại chăng?”
A-nậu-la-độ
nói:
“Như
Thế Tôn đã nói, điều này thuộc vô ký.”
Lại
hỏi A-nậu-la-độ:
“Thế
nào, Tôn giả, Như Lai sau khi chết là tồn tại chăng? Bảo
rằng vô ký. Như Lai sau khi chết không tồn tại chăng? Bảo
rằng vô ký. Như Lai sau khi chết là cũng tồn tại, cũng không
tồn tại; chẳng phải tồn tại, chẳng phải không tồn tại
chăng? Bảo rằng vô ký. Thế nào, Tôn giả, Sa-môn Cù-đàm
không biết, không thấy chăng?”
A-nậu-la-độ
nói:
“Đức
Thế Tôn chẳng phải không biết, chẳng phải không thấy.”
Bấy
giờ, các ngoại đạo không hài lòng về những gì mà Tôn
giả A-nậu-la-độ đã nói, bèn chỉ trích, rồi từ chỗ ngồi
đứng dậy ra về.
Tôn
giả A-nậu-la-độ chờ cho các ngoại đạo đi rồi, đến
chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi đứng sang một
bên, đem những gì các ngoại đạo đã hỏi trình lên tất
cả cho Phật:
“Bạch
Thế Tôn, họ đã hỏi như vậy và con đáp như vậy, nói như
vậy, có phù hợp với Chánh pháp không? Con không mắc tội
hủy báng Thế Tôn chăng? Là thuận theo pháp hay là trái với
pháp? Không khiến cho khi có người đến cật vấn mà bị
bế tắc chăng?”
Phật
bảo A-nậu-la-độ:
“Nay
Ta hỏi ngươi, theo những gì Ta hỏi mà trả lời. Này A-nậu-la-độ,
sắc là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Là
vô thường.”
“Thọ,
tưởng, hành, thức là thường hay là vô thường?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là vô thường.”
Nói
chi tiết như kinh Diệm-ma-ca, cho đến, thức là Như Lai chăng?
Đáp là không.
Phật
bảo A-nậu-la-độ:
“Nói
như vậy là nói lời phù hợp[24], chẳng phải hủy báng Như
Lai, chẳng phải vượt qua thứ lớp, như những lời của Như
Lai nói theo các pháp tùy thuận[25] không ai có thể đến cật
vấn chê trách được. Vì sao? Vì đối với sắc, Ta biết
như thật về sắc, về sự tập khởi của sắc, về sự đoạn
tận của sắc, về con đường đưa đến sự diệt tận của
sắc. Này A-nậu-la-độ, nếu bỏ qua những điều Như Lai giải
thích[26] mà bảo là Như Lai không biết, không thấy, thì đây
chẳng phải là lời nói chính xác[27].”
Phật
nói kinh này xong, A-nậu-la-độ nghe những gì Đức Phật đã
dạy, vui mừng thực hành theo.
KINH
107. TRƯỞNG GIẢ[28]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng sâu Lộc dã, tại núi Thiết-thủ-bà-la[29],
thuộc nước Bà-kỳ[30]. Bấy giờ có trưởng giả Na-câu-la[31]
đã một trăm hai mươi tuổi, già nua, các căn suy nhược, yếu
đuối bệnh khổ mà vẫn muốn diện kiến Đức Thế Tôn,
cùng các Tỳ-kheo thân quen đáng kính trước đây. Ông đến
chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi lui ngồi sang một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nay con đã già nua, yếu đuối, bệnh khổ, tự gắng
sức đến yết kiến Đức Thế Tôn cùng các vị Tỳ-kheo thân
quen đáng kính trước đây. Xin Đức Thế Tôn vì con mà nói
pháp khiến cho con luôn luôn được an lạc.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo gia chủ Na-câu-la:
“Lành
thay! Gia chủ, thật sự ông đã già nua, các căn suy nhược,
yếu đuối bệnh hoạn, mà có thể tự mình đến diện kiến
Như Lai cùng các Tỳ-kheo thân quen đáng kính khác. Gia chủ
nên biết, ở nơi cái thân khổ hoạn này mà tu học thân không
khổ hoạn[32].”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn vì gia chủ Na-câu-la, khai mở, chỉ dạy,
soi sáng, làm cho hoan hỷ[33] rồi ngồi im lặng. Sau khi gia chủ
Na-câu-la nghe những gì Đức Phật đã dạy, tùy hỷ vui mừng,
lễ Phật mà lui.
Lúc
ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất đang ngồi dưới một bóng cây
cách Phật không xa. Gia chủ Na-câu-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất,
đảnh lễ dưới chân, rồi lui ngồi sang một bên. Tôn giả
Xá-lợi-phất hỏi gia chủ:
“Hiện
tại các căn của gia chủ vui vẻ, nhan sắc sáng tươi, có
phải đã nghe pháp sâu xa từ nơi Thế Tôn rồi chăng?”
Gia
chủ Na-câu-la bạch ngài Xá-lợi-phất:
“Hôm
nay Đức Thế Tôn vì tôi nói pháp, khai mở, chỉ dạy, soi
sáng, làm cho hoan hỷ; vì nước pháp cam lộ rưới vào thân
tâm tôi, cho nên nay các căn của tôi vui vẻ, nhan sắc sáng
tươi.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất hỏi gia chủ:
“Đức
Thế Tôn đã vì ông nói những pháp gì, khai mở, chỉ dạy,
soi sáng, làm cho hoan hỷ, nhuần thắm nước cam lộ?”
Gia
chủ Na-câu-la bạch ngài Xá-lợi-phất:
“Con
đến chỗ Thế Tôn, bạch Thế Tôn rằng: ‘Con đã già nua,
yếu đuối, khổ hoạn, tự con đến diện kiến Đức Thế
Tôn cùng các Tỳ-kheo thân quen đáng kính.’ Đức Phật bảo
con: ‘Lành thay! Gia chủ, ông thực sự đã già nua, yếu đuối,
khổ hoạn, mà có thể tự nỗ lực đến gặp Ta cùng các
Tỳ-kheo thân quen đáng kính trước đây. Bây giờ đối với
thân khổ hoạn này, ông thường nên ở nơi cái thân khổ
hoạn này mà tu học thân không khổ hoạn.’ Đức Thế Tôn
đã vì con nói pháp như vậy, khai mở, chỉ dạy, soi sáng,
làm cho hoan hỷ, nước cam lộ nhuần thấm.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất hỏi gia chủ:
“Vừa
rồi sao ông không hỏi lại Đức Thế Tôn, thế nào là thân
bị bệnh khổ, là tâm bị bệnh khổ? Thế nào là thân bị
bệnh khổ mà tâm không bị bệnh khổ?”
Gia
chủ đáp:
“Vì
lý do này nên con đến gặp Tôn giả, xin vì con nói tóm lược
pháp yếu.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bảo gia chủ:
“Lành
thay! Gia chủ, nay ông hãy lắng nghe, tôi sẽ vì ông mà nói.
Kẻ phàm phu ngu si không học, đối với sự tập khởi của
sắc, sự diệt tận của sắc, sự tai hại của sắc, vị
ngọt của sắc, sự xuất ly sắc không biết như thật. Vì
không biết như thật nên ái lạc sắc, nói rằng sắc là ngã,
là ngã sở, rồi chấp thủ, nhiếp thủ. Khi sắc này hoặc
bị hư hoại, hoặc bị biến đổi; tâm thức cũng tùy theo
mà biến chuyển, khổ não liền sanh. Khi khổ não đã sanh thì
phát sinh sự sợ hãi, sự chướng ngại, sự hoài vọng, sự
lo nghĩ buồn khổ tham luyến. Đối với thọ, tưởng, hành,
thức lại cũng như vậy. Đó gọi là bệnh khổ của thân
tâm.
“Thế
nào là thân bị bệnh khổ mà tâm không bị bệnh khổ? Đa
văn Thánh đệ tử biết như thật về sự tập khởi của
sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc,
về sự tai hại của sắc, về xuất ly của sắc. Khi đã biết
như thật rồi thì không sanh ra ái lạc, thấy sắc là ngã,
hay ngã sở. Sắc này nếu biến dịch hay đổi khác đi nữa,
thì tâm cũng không thay đổi theo mà sanh ra khổ não. Khi tâm
đã không biến chuyển theo mà sanh ra khổ não rồi, thì được
sự không sợ hãi, chướng ngại, tiếc nuối, lo nghĩ, buồn
khổ, tham luyến. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại
cũng như vậy. Đó gọi là thân bị bệnh khổ mà tâm không
bị bệnh khổ.”
Khi
Tôn giả Xá-lợi-phất nói pháp này, gia chủ Na-câu-la đạt
được mắt pháp trong sạch. Bấy giờ, gia chủ Na-câu-la thấy
pháp, đắc pháp, biết pháp, thâm nhập pháp, vượt qua được
mọi sự hồ nghi mà không do ai khác, ở trong chánh pháp tâm
đạt được vô sở úy, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy sửa
lại y phục, chắp tay bạch Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Con
đã vượt qua, đã được độ thoát. Nay con xin nương về
Tam bảo Phật, Pháp, Tăng, làm người Ưu-bà-tắc; xin ngài
chứng biết cho con. Nay con xin nguyện suốt đời nương về
Tam bảo.”
Sau
khi gia chủ Na-câu-la đã nghe những gì Tôn giả Xá-lợi-phất
nói rồi, tùy hỷ hoan hỷ, làm lễ ra đi.
KINH
108. TÂY[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại tụ lạc Thiên hiện của dòng họ Thích[35].
Bấy
giờ có số đông Tỳ-kheo người phương Tây muốn trở về
phương Tây an cư, đến chỗ Đức Thế Tôn đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên. Bấy giờ, Đức Thế
Tôn vì họ mà nói pháp, khai mở, chỉ dạy, soi sáng, làm cho
hoan hỷ. Sau khi bằng nhiều cách được khai mở, chỉ dạy,
soi sáng, làm cho hoan hỷ rồi, số đông Tỳ-kheo phương Tây
từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, các Tỳ-kheo phương Tây chúng con, muốn trở về
phương Tây an cư, nay chúng con xin được từ giã.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo phương Tây:
“Các
ông đã từ giã Xá-lợi-phất chưa?”
Đáp:
“Bạch,
chưa từ giã.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo phương Tây:
“Xá-lợi-phất
thuần tu phạm hạnh, các ông nên từ giã. Ông ấy có thể
làm cho các ông được lợi ích và an lạc lâu dài.”
Các
Tỳ-kheo phương Tây từ tạ mà lui và chuẩn bị đi. Lúc ấy
Tôn giả Xá-lợi-phất đang ngồi dưới một bóng cây kiên
cố[36] cách Phật không xa. Các Tỳ-kheo đến chỗ Tôn giả
Xá-lợi-phất, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui sang một
bên, bạch Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Chúng
tôi muốn trở về phương Tây an cư, nên đến đây xin từ
giã.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất hỏi:
“Các
ông đã từ giã Đức Thế Tôn chưa?”
Đáp:
“Thưa,
đã từ giã rồi.”
Xá-lợi-phất
bảo:
“Các
ông trở về phương Tây, mỗi quốc độ mỗi khác nhau, mỗi
chúng hội mỗi khác nhau, ắt sẽ có người hỏi các ông.
Hiện tại các ông đang ở chỗ Đức Thế Tôn nghe pháp được
khéo giảng thuyết, hãy khéo lãnh thọ, khéo ghi nhớ, khéo
quán sát, khéo thâm nhập, để đủ khả năng vì mọi người
kia mà tuyên nói lại đầy đủ, để không phải là hủy báng
Đức Phật chăng? Không để cho các chúng kia nạn vấn, gạn
hỏi chê trách và bị bế tắc chăng?”
Các
Tỳ-kheo bạch ngài Xá-lợi-phất:
“Chúng
tôi vì muốn nghe pháp, nên đến chỗ Tôn giả. Xin Tôn giả
vì thương xót chúng tôi mà nói pháp đầy đủ.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
“Người
Diêm-phù-đề lợi căn thông minh. Hoặc Sát-lợi, Sa-môn, Bà-la-môn,
hay gia chủ, có thể họ sẽ hỏi các ông rằng: ‘Đại sư
của các ông nói pháp như thế nào? Dùng những pháp nào để
truyền dạy cho các ông?’ Thì các ông nên đáp: ‘Đại sư
chỉ nói điều phục dục tham và chỉ đem pháp này để truyền
dạy.’
“Họ
sẽ hỏi lại các ông: ‘Ở trong pháp nào mà điều phục
dục tham?’ Các ông nên đáp: ‘Đại sư chỉ nói ở trong
sắc ấm kia mà điều phục dục tham; ở trong thọ, tưởng,
hành, thức ấm kia mà điều phục dục tham. Đại sư của
chúng tôi nói pháp như vậy.’
“Họ
sẽ lại hỏi: ‘Dục tham có tai hại gì mà Đại sư lại
nói ở ngay nơi sắc điều phục dục tham; nơi thọ, tưởng,
hành, thức điều phục dục tham?’ Các ông nên trả lời:
‘Nếu ở nơi sắc mà dục không đoạn trừ, tham không đoạn
trừ, ái không đoạn trừ, niệm không đoạn trừ, khát không
đoạn trừ và khi sắc kia biến đổi, hoặc khác đi, thì sẽ
sanh ra ưu, bi, khổ, não; đối với thọ, tưởng, hành, thức
cũng lại như vậy. Vì thấy dục tham có những tai hại như
vậy, nên ở nơi sắc phải điều phục dục tham; ở nơi thọ,
tưởng, hành, thức điều phục dục tham.’
“Họ
sẽ lại hỏi: ‘Thấy có lợi ích gì trong việc dứt trừ
dục tham, mà Đại sư nói ở nơi sắc phải điều phục dục
tham; ở nơi thọ, tưởng, hành, thức điều phục dục tham?’
Các ông nên trả lời: ‘Nếu ở nơi sắc mà đoạn trừ dục,
đoạn trừ tham, đoạn trừ niệm, đoạn trừ ái, đoạn trừ
khát, thì đối với sắc nếu có biến đổi, hoặc khác đi,
vẫn không khởi lên ưu, bi, khổ, não; và đối với thọ,
tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Thưa các ngài, nếu
vì nguyên nhân nhận lãnh các pháp bất thiện mà khiến cho
cuộc sống ngay trong hiện tại vẫn được an vui, không khổ,
không chướng ngại, không phiền não, không nóng bức, thân
hoại mạng chung được sanh vào nơi tốt lành, thì Đức Thế
Tôn cuối cùng đã không dạy: Hãy đoạn trừ các pháp bất
thiện. Và cũng không dạy người ở trong Phật pháp tu các
phạm hạnh, để đạt được tận cùng của mé khổ. Vì nguyên
nhân nhận lãnh các pháp bất thiện nên sẽ đưa đến một
cuộc sống khổ đau ngay trong hiện tại và chướng ngại,
nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung sẽ đọa vào trong
đường ác. Cho nên Đức Thế Tôn dạy, hãy đoạn trừ pháp
bất thiện và ở trong Phật pháp phải tu các phạm hạnh để
đạt được rốt cùng mé khổ, bình đẳng giải thoát hết
khổ. Nếu vì nguyên nhân nhận lãnh các pháp thiện, mà ngay
trong cuộc sống hiện tại chịu khổ, chướng ngại, nhiệt
não và sẽ đọa vào trong đường ác, thì Thế Tôn đã không
dạy nên thọ trì pháp thiện, ở trong Phật pháp phải tu phạm
hạnh để đạt được rốt cùng mé khổ, bình đẳng giải
thoát hết khổ. Vì thọ trì pháp thiện nên ngay trong cuộc
sống hiện tại được an vui, không khổ, không chướng ngại,
không phiền não, không nhiệt bức; sau khi thân hoại mạng
chung sẽ sanh vào nơi tốt lành. Cho nên Đức Thế Tôn khen
ngợi việc dạy người lãnh thọ các pháp thiện, ở trong
Phật pháp tu các phạm hạnh để đạt được rốt cùng của
mé khổ, bình đẳng giải thoát hết khổ.”
Khi
Tôn giả Xá-lợi-phất nói pháp này, các Tỳ-kheo phương Tây
không khởi lên các lậu hoặc, tâm được giải thoát.
Sau
khi Tôn giả Xá-lợi-phất nói pháp này xong, các Tỳ-kheo tùy
hỷ hoan hỷ, làm lễ mà lui.
KINH
109. MAO ĐOAN[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Như
hồ nước vuông vức năm mươi do-tuần, chiều sâu cũng như
vậy, với nước tràn đầy. Lại có người dùng sợi lông,
dùng cọng cỏ, hay móng tay để hất nước. Này các Tỳ-kheo,
ý các ông thế nào? Nước do người kia hất lên là nhiều
hay là nước hồ nhiều?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Nước
mà người kia dùng lông, dùng cỏ, hay móng tay để hất lên
là rất ít, không đáng để nói. Nước hồ thì rất nhiều,
gấp cả trăm ngàn vạn lần, không thể nào so sánh được.”
“Cũng
vậy, này các Tỳ-kheo, các khổ được đoạn trừ do thấy
Thánh đế, cũng như nước hồ kia, vĩnh viễn không sanh lại
trong đời vị lai.”
Khi
Đức Thế Tôn nói pháp này xong, bèn vào thất tọa thiền.
Sau khi Đức Thế Tôn vào thất, bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất
đang ngồi trong chúng, bảo các Tỳ-kheo:
“Thật
là điều chưa từng được nghe, hôm nay Đức Thế Tôn khéo
nói thí dụ về cái hồ! Vì sao? Thánh đệ tử đầy đủ
kiến đế[38], đạt được quả vô gián đẳng[39]. Nếu kẻ
phàm tục nào khởi tà kiến, thân kiến, căn bản thân kiến,
tập thân kiến, sanh thân kiến, nghĩa là che giấu những cảm
giác lo âu, giữ gìn tiếc thương những điều vui mừng[40],
nói là ngã, nói là chúng sanh, nói là kỳ đặc, kiêu căng,
tự cao. Các thứ tà như vậy tất cả đều bị trừ diệt,
cắt đứt cội rễ như cây đa-la bị bẻ gãy, khiến cho đời
vị lai không còn tái sanh lại nữa.
“Này
các Tỳ-kheo, những gì là các thứ tà kể trên bị đoạn
trừ bởi Thánh đệ tử khi thấy Thánh đế, vị lai vĩnh viễn
không khởi lên lại nữa?
“Phàm
phu ngu si không học, thấy sắc là ngã, là khác ngã, là ngã
ở trong sắc, sắc ở trong ngã; thấy thọ, tưởng, hành, thức
là ngã, là khác ngã, là ngã ở trong thức, là thức ở trong
ngã.
“Thế
nào thấy sắc là ngã? Chứng đắc chánh thọ nhập nhất thiết
xứ về đất[41], sau khi quán, khởi lên ý nghĩ, ‘Đất tức
là ngã, ngã tức là đất; ngã và đất chỉ là một chứ
không phải hai, không phải khác, không phân biệt.’ Cũng vậy,
chánh thọ nhập nhất thiết xứ về nước, lửa, gió, xanh,
vàng, đỏ, trắng[42], sau khi quán, khởi lên ý nghĩ, ‘Hành
tức là ngã, ngã tức là hành, chỉ là một chứ không phải
hai, không phải khác, không phân biệt.’ Như vậy, ở nơi
các nhất thiết nhập xứ, mỗi mỗi đều được chấp là
ngã. Đó gọi là sắc tức là ngã.
“Thế
nào là sắc khác ngã[43]? Nếu người kia thấy thọ là ngã;
khi thấy thọ là ngã rồi thì thấy sắc là ngã sở; hoặc
thấy tưởng, hành, thức tức là ngã thì thấy sắc là ngã
sở.
“Thế
nào là thấy sắc ở trong ngã? Thấy thọ là ngã thì sắc
ở trong ngã; nếu lại thấy tưởng, hành, thức tức là ngã
thì sắc ở trong ngã.
“Thế
nào là thấy ngã ở trong sắc? Nếu thấy thọ tức là ngã
thì nó hiện hữu trong sắc, nhập vào trong sắc, phổ biến
khắp tứ chi; hay nếu thấy tưởng, hành, thức là ngã thì
nó hiện hữu ở trong sắc và, biến khắp tứ chi. Đó gọi
là ngã ở trong sắc.
“Thế
nào là thấy thọ tức là ngã? Là sáu thọ thân. Thọ phát
sanh từ xúc của mắt. tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu thọ thân
này, mỗi mỗi được thấy là ngã và ngã là thọ. Đó gọi
là thọ tức ngã.
“Thế
nào là thấy thọ khác ngã? Nếu thấy sắc là ngã, thì thọ
là ngã sở; và nếu tưởng, hành, thức là ngã, thì thọ là
ngã sở. Đó gọi là thọ khác ngã.
“Thế
nào là thấy thọ ở trong ngã? Nếu sắc là ngã, thì thọ
ở trong nó; và nếu tưởng, hành, thức là ngã, thì thọ ở
trong nó. Đó gọi là thọ trong ngã.
“Thế
nào là thấy ngã ở trong thọ? Nếu sắc là ngã, thì nó hiện
hữu ở trong thọ và biến khắp toàn thân; và nếu tưởng,
hành, thức là ngã, thì chúng hiện hữu ở trong thọ và biến
khắp toàn thân. Đó gọi là ngã ở trong thọ.
“Thế
nào là thấy tưởng tức là ngã? Là sáu tưởng thân. Tưởng
phát sanh từ xúc của mắt; tưởng phát sanh từ xúc của tai,
mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu tưởng thân này, mỗi mỗi được
thấy là ngã. Đó gọi là tưởng tức là ngã.
“Thế
nào là thấy tưởng khác ngã? Nếu thấy sắc là ngã, thì
tưởng là ngã sở; và nếu thức là ngã, thì tưởng là ngã
sở. Đó gọi là tưởng khác ngã.
“Thế
nào là thấy tưởng ở trong ngã? Nếu sắc là ngã, thì tưởng
hiện hữu ở trong nó; và nếu thọ, hành, thức là ngã, thì
tưởng hiện hữu ở trong chúng. Đó gọi là tưởng ở trong
ngã.
“Thế
nào là thấy ngã ở trong tưởng? Nếu sắc là ngã, thì nó
hiện hữu trong tưởng và biến khắp toàn thân; và nếu thọ,
hành, thức là ngã thì chúng hiện hữu trong tưởng và biến
khắp toàn thân. Đó gọi là ngã ở trong tưởng.
“Thế
nào là thấy hành là ngã? Là sáu tư thân; tư phát sanh từ
xúc của mắt; tư phát sanh từ xúc của tai, mũi, lưỡi, thân,
ý. Sáu tư thân này, mỗi mỗi được thấy ngã. Đó gọi là
hành tức ngã.
“Thế
nào là thấy hành khác ngã? Nếu thấy sắc là ngã, thì hành
là ngã sở; và nếu thọ, tưởng, thức là ngã, thì hành là
ngã sở. Đó gọi là hành khác ngã.
“Thế
nào là thấy hành ở trong ngã? Nếu sắc là ngã, thì hành
hiện hữu ở trong nó; và nếu thọ, tưởng, thức là ngã,
thì hành hiện hữu ở trong chúng. Đó gọi là hành ở trong
ngã.
“Thế
nào là thấy ngã ở trong hành? Nếu sắc là ngã, thì nó hiện
hữu ở trong hành và biến khắp toàn thân; và nếu thọ, tưởng,
thức là ngã, thì chúng hiện hữu ở trong hành và biến khắp
toàn thân thể. Đó gọi là ngã ở trong hành.
“Thế
nào là thấy thức là ngã? Chỉ cho sáu thức thân: nhãn thức,
nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Sáu
thức thân này, mỗi mỗi được thấy là ngã. Đó gọi là
thức tức ngã.
“Thế
nào là thấy thức khác ngã? Nếu thấy sắc là ngã, thì thức
là ngã sở; và nếu thấy thọ, tưởng, hành là ngã, thì thức
là ngã sở. Đó gọi là thức khác ngã.
“Thế
nào là thấy thức ở trong ngã? Nếu thấy sắc là ngã, thì
thức hiện hữu ở trong nó; và nếu thọ, tưởng, hành là
ngã, thì thức ở trong chúng. Đó gọi là thức ở trong ngã.
“Thế
nào là ngã ở trong thức? Nếu sắc là ngã, thì nó ở trong
thức và biến khắp toàn thân; và nếu thọ, tưởng, hành
là ngã thì chúng ở trong thức và biến khắp toàn thân. Đó
gọi là ngã ở trong thức.
“Như
vậy, Thánh đệ tử thấy Bốn chân đế sẽ đạt được
quả vô gián đẳng và đoạn trừ các thứ tà kiến, vĩnh
viễn không khởi lên trở lại trong đời vị lai.
“Những
gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại;
hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc
xấu; hoặc xa, hoặc gần, được tích tụ về một nơi, cần
được quán như vầy: ‘Tất cả đều là vô thường, tất
cả là khổ, tất cả là không, tất cả là phi ngã, không
nên ái lạc, thâu lấy, chấp thủ. Đối với thọ, tưởng,
hành, thức cũng lại như vậy, không nên ái lạc, chấp thủ,
bảo trì.’ Khéo quán sát như vậy, buộc tâm an trụ, không
mê mờ đối với pháp, lại luôn luôn tinh tấn quán sát, xa
lìa tâm biếng nhác, thì sẽ đạt được hỷ lạc, thân tâm
khinh an, tịch tĩnh, an trụ với xả[44]; đầy đủ các phẩm
đạo, tu hành trọn vẹn, vĩnh viễn xa lìa các thứ ác; không
phải không tiêu tan, không phải không tịch diệt; diệt mà
không khởi, giảm mà không tăng, đoạn mà không sanh, không
chấp thủ, không đắm trước, tự giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta,
sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm
đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Khi
Tôn giả Xá-lợi-phất nói pháp này, sáu mươi Tỳ-kheo không
khởi lên các lậu hoặc, tâm được giải thoát.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
110. TÁT-GIÁ[45]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở cạnh ao Di hầu tại Tỳ-xá-ly[46].
Bấy
giờ, tại Tỳ-xá-ly có một Ni-kiền tử[47] thông tuệ, minh
triết, hiểu rõ các luận và có sự kiêu mạn của thông minh;
trong các luận rộng rãi, trí tuệ đã đạt đến chỗ vi diệu[48];
nói pháp cho mọi người, vượt hẳn mọi luận sư. Ông thường
nghĩ rằng: ‘Các Sa-môn, Bà-la-môn không ai địch lại ta.
Ngay cả đến với Như Lai ta cũng có thể cùng luận bàn. Bọn
luận sư nghe đến tên ta thì trán và nách đều toát mồ hôi,
các lỗ chân lông đều chảy nước. Ta luận nghĩa như gió
có thể đè bẹp cỏ, bẻ gãy cây, phá vỡ vàng đá và hàng
phục các loài rồng voi, huống chi là bọn luận sư ở thế
gian lại có thể đương đầu với ta ư!”