TẠP
A-HÀM QUYỂN 10
KINH
256. VÔ MINH (1)[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la
ở tại núi Kỳ-xà-quật. Vào buổi chiều, sau khi từ thiền
tịnh dậy, Tôn giả Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất,
cùng chào hỏi và nói những lời tốt đẹp làm hài lòng,
rồi ngồi qua một bên, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Tôi
có những việc muốn hỏi, Nhân giả có rảnh thì giờ vì
tôi mà nói cho không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Tùy
theo những gì Nhân giả hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Gọi
là vô minh, vậy thế nào là vô minh? Ai có vô minh này?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Vô
minh là không biết[2], không biết tức là vô minh. Không biết
những gì? Sắc là vô thường, mà không biết như thật sắc
là vô thường. Sắc là pháp ma diệt mà không biết như thật
sắc là pháp ma diệt[3]. Sắc là pháp sanh diệt mà không biết
như thật sắc là pháp sanh diệt. Thọ, tưởng, hành, thức
là pháp vô thường mà không biết như thật thọ, tưởng,
hành, thức là pháp vô thường. Thức là pháp ma diệt mà không
biết như thật thức là pháp ma diệt; thức là pháp sanh diệt
mà không biết như thật thức là pháp sanh diệt. Này Ma-ha
Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này mà không thấy, không
biết như thật, không có vô gián đẳng[4], ngu si, mờ tối,
không sáng tỏ, thì gọi là vô minh. Ai thành tựu những điều
này gọi là vô minh.”
Lại
hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Gọi
là minh, vậy thế nào là minh? Ai có minh này?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la:
“Minh
là biết; biết gọi là minh.”
Lại
hỏi:
“Biết
những gì?”
Đáp:
“Sắc
là vô thường; biết như thật sắc là vô thường. Sắc là
pháp ma diệt, biết như thật sắc là pháp ma diệt. Sắc là
pháp sanh diệt, biết như thật sắc là pháp sanh diệt. Thọ,
tưởng, hành, thức là vô thường, biết như thật thọ, tưởng,
hành, thức là vô thường. Thức là pháp ma diệt, biết như
thật thức là pháp ma diệt. Thức là pháp sanh diệt, biết
như thật thức là pháp sanh diệt. Này Tôn giả Câu-hi-la, đối
với năm thọ ấm này, như thật biết, thấy, sáng tỏ, có
giác, có tuệ, có vô gián đẳng, đó gọi là minh. Ai thành
tựu những điều này thì gọi là người có minh.”
Sau
khi hai vị Chánh sĩ này, mỗi người nghe những điều được
nói, tùy hỷ lẫn nhau, từ chỗ ngồi đứng dậy về chỗ
ở của mình.
*
KINH
257. VÔ MINH (2)[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la
ở tại núi Kỳ-xà-quật. Vào buổi chiều, sau khi từ thiền
tịnh dậy, Tôn giả Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất,
cùng chào hỏi và nói những lời tốt đẹp làm hài lòng,
rồi ngồi qua một bên, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Tôi
có những việc muốn hỏi, Nhân giả có rảnh thì giờ vì
tôi mà nói cho không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Tùy
theo những gì Nhân giả hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Gọi
là vô minh, vậy thế nào là vô minh? Ai có vô minh này?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Vô
minh là không biết; không biết tức là vô minh. Không biết
những gì? Không biết như thật về sắc; không biết như thật
về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc,
về con đường đưa đến sự diệt tận của sắc. Không biết
như thật về thọ, tưởng, hành, thức; không biết như thật
về sự tập khởi của thức, về sự diệt tận của thức,
về con đường đưa đến sự diệt tận của thức. Này Ma-ha
Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, mà không biết như thật,
không biết, không thấy, không có vô gián đẳng, ngu si, mờ
tối, thì gọi là vô minh. Ai thành tựu những điều này, gọi
là vô minh.
Lại
hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Thế
nào là minh? Ai có minh này?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Gọi
minh là biết, biết tức là minh.”
Lại
hỏi:
“Biết
những gì?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Biết
như thật về sắc; biết như thật về sự tập khởi của
sắc, về sự diệt tận của sắc, về con đường đưa đến
sự đoạn tận của sắc. Biết như thật về thọ, tưởng,
hành, thức; biết như thật về sự tập khởi của thức,
về sự diệt tận của thức, về con đường đưa đến sự
diệt tận của thức. Này Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm
này, như thật biết, thấy, sáng tỏ, có giác, có tuệ, có
vô gián đẳng, thì đó gọi là minh. Ai thành tựu những điều
này thì gọi là người có minh.”
Sau
khi hai vị Chánh sĩ này, mỗi người nghe những điều được
nói, tùy hỷ lẫn nhau, từ chỗ ngồi đứng dậy về chỗ
ở của mình.
*
KINH
258. VÔ MINH (3)[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la
ở tại núi Kỳ-xà-quật. Vào buổi chiều, sau khi từ thiền
tịnh dậy, Tôn giả Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất,
cùng chào hỏi và nói những lời tốt đẹp làm hài lòng,
rồi ngồi qua một bên, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Tôi
có những việc muốn hỏi, Nhân giả có rảnh thì giờ vì
tôi mà nói cho không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Tùy
theo những gì Nhân giả hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Gọi
là vô minh, vậy thế nào là vô minh? Ai có vô minh này?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Không
biết là vô minh.
“Không
biết những gì?”
“Không
biết như thật về sắc. Không biết như thật về sự tập
khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt
của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của
sắc. Không biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức. Không
biết như thật về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành,
thức, về sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức, về
vị ngọt của thọ, tưởng, hành, thức, về sự tai hại của
thọ, tưởng, hành, thức, về sự xuất ly của thọ, tưởng,
hành, thức. Này Ma-ha Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này,
mà không biết như thật, không thấy như thật, không có vô
gián đẳng, mờ tối, hay ngu si, thì gọi là vô minh. Ai thành
tựu những điều này, thì gọi là vô minh.”
Lại
hỏi:
“Gọi
là minh, vậy thế nào là minh? Ai có minh này?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Biết
tức là minh.
Lại
hỏi:
“Biết
những gì?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Biết
như thật về sắc; biết như thật về sự tập khởi của
sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc,
về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc. Biết
như thật về thọ, tưởng, hành, thức; biết như thật về
sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, về sự diệt
tận của thọ, tưởng, hành, thức, về vị ngọt của thọ,
tưởng, hành, thức, về sự tai hại của thọ, tưởng, hành,
thức, về sự xuất ly của thọ, tưởng, hành, thức. Này
Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, biết như thật, thấy
như thật, sáng tỏ, có giác, có quán, có vô gián đẳng, thì
đó gọi là minh. Ai thành tựu những điều này thì gọi là
người có minh.”
Sau
khi hai vị Chánh sĩ này, mỗi người nghe những điều được
nói, tùy hỷ lẫn nhau, từ chỗ ngồi đứng dậy về chỗ
ở của mình.
*
KINH
259. VÔ GIÁN ĐẲNG[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la
ở tại núi Kỳ-xà-quật. Vào buổi chiều, sau khi từ thiền
tịnh dậy, Tôn giả Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất,
cùng chào hỏi và nói những lời tốt đẹp làm hài lòng,
rồi ngồi qua một bên, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Tôi
có những việc muốn hỏi, Nhân giả có rảnh thì giờ vì
tôi mà nói cho không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Tùy
theo những gì Nhân giả hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào, chưa đạt được pháp vô gián đẳng[8] mà
muốn cầu pháp vô gián đẳng, thì phải dùng phương tiện
nào mà tìm cầu; phải tư duy những pháp nào[9]?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào, chưa đạt được pháp vô gián đẳng, mà
muốn tìm cầu pháp vô gián đẳng, thì phải tinh cần tư duy,
năm thọ ấm là bệnh, là ung nhọt, là gai nhọn, là sát hại,
là vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì đó là chỗ
cần tư duy[10]. Nếu Tỳ-kheo nào, đối với năm thọ ấm này
mà tinh cần tư duy, thì sẽ chứng được quả Tu-đà-hoàn.”
Lại
hỏi:
“Xá-lợi-phất,
khi đã chứng được quả Tu-đà-hoàn rồi, mà muốn chứng
được quả Tư-đà-hàm, thì phải tư duy những pháp nào[11]?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
“Câu-hi-la,
khi đã chứng được quả Tu-đà-hoàn rồi, mà muốn chứng
được quả Tư-đà-hàm, thì cũng phải tinh cần tư duy năm
thọ ấm này là bệnh, là ung nhọt, là gai nhọn, là sát hại,
là vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì đây là chỗ
cần tư duy. Nếu Tỳ-kheo nào, đối với năm thọ ấm này
mà tinh cần tư duy, thì sẽ chứng được quả Tư-đà-hàm.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la lại hỏi:
“Xá-lợi-phất,
khi đã chứng được quả Tư-đà-hàm rồi, mà muốn chứng
được quả A-na-hàm, thì phải tư duy những pháp nào?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
“Câu-hi-la,
khi đã chứng được quả Tư-đà-hàm rồi, mà muốn chứng
được quả A-na-hàm, thì phải tinh cần tư duy năm pháp thọ
ấm này là bệnh, là ung nhọt, là gai nhọn, là sát hại, là
vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì đây là chỗ cần
tư duy. Nếu Tỳ-kheo nào, đối với năm thọ ấm này mà tinh
cần tư duy, thì cũng sẽ chứng được quả A-na-hàm. Sau khi
đã chứng được quả A-na-hàm, mà muốn chứng được quả
A-la-hán, cần phải tinh tấn tư duy về năm pháp thọ ấm này
là bệnh, là ung nhọt, là gai nhọn, là sát hại, là vô thường,
khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì đây là chỗ cần tư duy. Nếu
Tỳ-kheo nào, đối với năm thọ ấm này mà tinh cần tư duy,
thì cũng sẽ chứng được quả A-la-hán.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la lại hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Xá-lợi-phất,
khi đã chứng được quả A-la-hán rồi, thì còn phải tư duy
những pháp nào nữa?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
“Ma-ha
Câu-hi-la, A-la-hán lại cũng tư duy năm thọ ấm này là bệnh,
là ung nhọt, là gai nhọn, là sát hại, là vô thường, khổ,
không, phi ngã. Vì sao? Vì để được điều chưa được, để
chứng pháp chưa chứng, để có hiện pháp lạc trú[12].
Hai
vị Chánh sĩ nghe lẫn nhau những điều được nói, hoan hỷ
ra về.
*
KINH
260. DIỆT
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đến chỗ
Tôn giả A-nan, cùng thăm hỏi nhau, rồi ngồi qua một bên.
Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi Tôn giả A-nan:
“Tôi
có điều muốn hỏi, Nhân giả có rảnh mà giải đáp cho không?”
Tôn
giả A-nan đáp:
“Nhân
giả cứ hỏi, nếu tôi biết tôi sẽ trả lời.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất hỏi:
“A-nan,
gọi là diệt. Thế nào là diệt? Ai có diệt này?”
Tôn
giả A-nan nói:
“Xá-lợi-phất,
năm thọ ấm là cái được tạo tác bởi hành trước kia,
là cái được ước nguyện trước kia, là pháp vô thường,
diệt.[13] Pháp này diệt nên nói là diệt. Những gì là năm?
Sắc thọ ấm là cái được tạo tác bởi hành trước kia,
là cái được ước nguyện trước kia, là pháp vô thường,
diệt. Pháp này diệt nên nói là diệt. Cũng vậy thọ, tưởng,
hành, thức là cái được tạo tác bởi hành trước kia, là
cái được ước nguyện trước kia, là pháp vô thường, diệt.
Pháp này diệt nên nói là diệt.
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
“Đúng
vậy! Đúng vậy! A-nan, như những gì Nhân giả đã nói, năm
thọ ấm này là cái được tạo tác bởi hành trước kia,
là cái được ước nguyện trước kia, là pháp vô thường,
diệt. Pháp này diệt nên nói là diệt. Những gì là năm? Sắc
thọ ấm là cái được tạo tác bởi hành trước kia, là cái
được ước nguyện trước kia, là pháp vô thường, diệt.
Pháp này diệt nên nói là diệt. Cũng vậy thọ, tưởng, hành,
thức là cái được tạo tác bởi hành trước kia, là cái
được ước nguyện trước kia, là pháp vô thường, diệt.
Pháp này diệt nên nói là diệt.
“Này
A-nan, năm thọ ấm này, nếu không phải là cái được tạo
tác bởi hành trước kia, là cái được ước nguyện trước
kia, làm sao có thể bị diệt? Này A-nan, vì năm thọ ấm là
cái được tạo tác bởi hành trước kia, là cái được ước
nguyện trước kia, là pháp vô thường, diệt. Pháp này diệt
nên nói là diệt.
Hai
vị Chánh sĩ nghe lẫn nhau những điều được nói, hoan hỷ
ra về.
*
KINH
261. PHÚ-LƯU-NA[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Tôn giả A-nan ở trong vườn Cù-sư-la tại nước Câu-diệm-di[15],
bấy giờ Tôn giả A-nan nói với các Tỳ-kheo:
“Tôn
giả Phú-lưu-na Di-đa-la-ni Tử[16], khi tuổi niên thiếu, mới
xuất gia[17], thì thường hay nói pháp sâu xa như vầy:
“A-nan,
đối với pháp đã sanh khởi mà chấp là ngã, chứ không phải
pháp không sanh khởi. A-nan, thế nào là đối với pháp đã
sanh khởi mà chấp là ta, chứ không phải pháp không sanh khởi[18]?
Sắc sanh khởi[19], sanh khởi là ta chứ không phải không sanh.
Thọ, tưởng, hành, thức sanh khởi, sanh khởi là ta, chứ không
phải không sanh. Giống như người tay cầm tấm gương sáng,
hay dùng mặt nước trong, tự nhìn vào xem thấy mặt mình sanh
ra. Vì có sanh nên thấy, chứ không phải không sanh[20]. Cho
nên, A-nan, sắc sanh khởi, vì có sanh khởi nên chấp là ngã,
chứ không phải không sanh khởi. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành,
thức sanh khởi, vì có sanh khởi nên chấp là ngã, chứ chẳng
phải không sanh khởi. Thế nào A-nan, sắc là thường hay vô
thường?
“Đáp:
“Là
vô thường.”
Lại
hỏi:
“Vô
thường là khổ phải không?”
Đáp:
“Là
khổ.”
Lại
hỏi:
“Nếu
vô thường, khổ, là pháp biến dịch, vậy thì Thánh đệ
tử ở trong đó có chấp ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Đáp:
“Thưa
không.”
Lại
hỏi:
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Là
vô thường.”
Lại
hỏi:
“Vậy,
vô thường là khổ phải không?”
Đáp:
“Là
khổ.”
Lại
hỏi:
“Nếu
vô thường, khổ, là pháp biến dịch, vậy thì là đa văn
Thánh đệ tử ở trong đó có chấp ngã, khác ngã, hay ở trong
nhau không?”
Đáp:
“Thưa
không.”
“A-nan,
cho nên đối với sắc hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc
hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc
tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng đều
chẳng phải ngã, không khác ngã, chẳng ở trong nhau. Cũng vậy,
thọ, tưởng, hành, thức hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc
hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc
tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng đều
chẳng phải ngã, không khác ngã, không ở trong nhau. Cần phải
biết như thật, quán sát như thật. Quán sát như vậy rồi,
Thánh đệ tử đối với sắc sẽ sanh ra nhàm chán, xa lìa
dục, giải thoát: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập,
những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh
đời sau nữa.’ Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành,
thức cũng sanh ra nhàm chán, xa lìa dục, giải thoát: ‘Ta,
sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm
đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’
“Các
Tỳ-kheo nên biết, vị Tôn giả này đối với tôi có rất
nhiều lợi ích. Tôi nghe những gì từ Tôn giả ấy rồi, liền
xa lìa trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Từ đó tới
nay, tôi thường thuyết pháp này cho bốn chúng, chứ không
thuyết cho các người ngoại đạo xuất gia, Sa-môn, Bà-la-môn.”
*
KINH
262. XIỂN-ĐÀ[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, số đông Tỳ-kheo Thượng tọa, trú ở Tiên nhân đọa
xứ, trong vườn Lộc dã, nước Ba-la-nại[22]. Phật vào Niết-bàn
không bao lâu.
Bấy
giờ, vào sáng sớm, trưởng lão Xiển-đà[23] đắp y mang bát
vào thành Ba-la-nại khất thực. Ăn xong, thu dọn y bát, rửa
chân, rồi cầm chìa khóa cửa, đi từ rừng này đến rừng
khác, từ phòng này đến phòng khác, từ chỗ kinh hành này
đến chỗ kinh hành khác, chỗ nào cũng yêu cầu các Tỳ-kheo:
“Xin
chỉ dạy tôi, nói pháp cho tôi, để cho tôi biết pháp, thấy
pháp và tôi sẽ biết như pháp và quán như pháp[24].”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nói với Xiển-đà:
“Sắc
là vô thường. Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Tất
cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều vô
ngã. Niết-bàn tịch diệt[25].
Xiển-đà
thưa các Tỳ-kheo:
“Tôi
đã biết sắc là vô thường. Thọ, tưởng, hành, thức là
vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các
pháp đều vô ngã. Niết-bàn tịch diệt.”
Xiển-đà
lại thưa:
“Nhưng
tôi không thích nghe tất cả các hành đều không tịch, bất
khả đắc, ly dục, ái tận, Niết-bàn[26]. Ở trong đó làm
sao có ngã mà nói là biết như vậy, thấy như vậy, đó gọi
là thấy pháp?”
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy. Xiển-đà lại thưa:
“Ở
đây, vị nào có khả năng nói pháp cho tôi, khiến tôi biết
pháp, thấy pháp?”
Xiển-đà
lại nghĩ: ‘Tôn giả A-nan, hiẹân nay đang ở trong vườn
Cù-sư-la nước Câu-diệm-di, đã từng cúng dường gần gũi
Đức Thế Tôn và được Phật khen ngợi; những bậc Phạm
hạnh tất cả đều biết rõ. Tôn giả ắt có thể vì ta mà
nói pháp, khiến cho ta biết pháp, thấy pháp.”
Buổi
sáng sớm hôm sau, Xiển-đà đắp y mang bát vào thành Ba-la-nại
khất thực. Ăn xong, thu cất ngọa cụ, rồi mang y bát đến
nước Câu-diệm-di. Người lần hồi du hành đến nước Câu-diệm-di.
Sau khi thu cất y bát và rửa chân xong, liền đến chỗ Tôn
giả A-nan, cùng nhau thăm hỏi và ngồi qua một bên.
Bấy
giờ, Xiển-đà thưa Tôn giả A-nan:
“Một
thời, các Tỳ-kheo Thượng tọa, trú ở Tiên nhân đọa xứ,
trong vườn Lộc dã, nước Ba-la-nại. Bấy giờ, vào sáng sớm,
tôi đắp y mang bát vào thành Ba-la-nại khất thực. Ăn xong,
thu dọn y bát, rửa chân, rồi cầm chìa khóa cửa, đi từ
rừng này đến rừng khác, từ phòng này đến phòng khác,
từ chỗ kinh hành này đến chỗ kinh hành khác, chỗ nào cũng
yêu cầu các Tỳ-kheo: ‘Xin chỉ dạy tôi, nói pháp cho tôi,
để cho tôi biết pháp, thấy pháp và tôi sẽ biết như pháp
và quán như pháp.’ Khi ấy, các Tỳ-kheo nói pháp cho tôi rằng:
‘Sắc là vô thường. Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường.
Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả các pháp đều
vô ngã. Niết-bàn tịch diệt.’ Tôi bấy giờ thưa các Tỳ-kheo:
‘Tôi đã biết sắc là vô thường. Thọ, tưởng, hành, thức
là vô thường. Tất cả các hành đều vô thường. Tất cả
các pháp đều vô ngã. Niết-bàn tịch diệt. Nhưng tôi không
thích nghe tất cả các hành đều không tịch, bất khả đắc,
ly dục, ái tận, Niết-bàn. Ở trong đó làm sao có ngã mà
nói là biết như vậy, thấy như vậy, đó gọi là thấy pháp?’
Rồi suy nghĩ như vầy: ‘Ở đây, vị nào có khả năng nói
pháp cho tôi, khiến tôi biết pháp, thấy pháp?’ Tôi lại
nghĩ: ‘Tôn giả A-nan, hiẹân nay đang ở trong vườn Cù-sư-la
nước Câu-diệm-di, đã từng cúng dường gần gũi Đức Thế
Tôn và được Phật khen ngợi; những bậc Phạm hạnh tất
cả đều biết rõ. Tôn giả ắt có thể vì ta mà nói pháp,
khiến cho ta biết pháp, thấy pháp.’
“Lành
thay, Tôn giả A-nan, nay hãy nói pháp cho tôi, khiến tôi biết
pháp, thấy pháp.”
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan nói với Xiển-đà:
“Lành
thay! Xiển-đà, tôi rất hoan hỷ. Tôi chúc mừng Nhân giả,
có thể đối trước người phạm hạnh không che giấu, phá
bỏ gai nhọn giả dối. Này Xiển-đà, kẻ phàm phu ngu si không
có thể hiểu sắc là vô thường; thọ, tưởng, hành, thức
cũng là vô thường; tất cả các hành đều là vô thường,
tất cả các pháp đều là vô ngã, Niết-bàn là tịch diệt.
Nay ngươi có thể nhận lãnh pháp vi diệu hơn hết này. Thầy
hãy lắng nghe. Tôi sẽ vì ngươi mà nói.”
Lúc
này, Xiển-đà tự nghĩ: “Nay ta rất vui mừng, có được
cái tâm thù thắng vi diệu, được tâm phấn khởi hoan hỷ.
Nay ta có thể nhận lãnh được pháp vi diệu thù thắng này.”
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan nói với Xiển-đà:
“Chính
tôi đã từng trực tiếp nghe từ Đức Phật dạy Tôn giả
Ma-ha Ca-chiên-diên: ‘Người đời điên đảo nương chấp
vào hai bên: hoặc là hữu, hoặc là vô[27]. Người đời thủ
các cảnh giới, tâm liền phân biệt chấp trước[28]. Này
Ca-chiên-diên, nếu không thọ, không thủ, không trụ, không
phân biệt chấp trước ngã; khổ này khi sanh thì sanh, khi diệt
thì diệt[29]. Này Ca-chiên-diên, đối với điều đó không
nghi ngờ, không mê hoặc, không do ai khác mà tự mình biết,
đó gọi là chánh kiến mà Đức Như Lai đã giảng nói. Vì
sao? Này Ca-chiên-diên, vì nếu quán sát như thật về sự tập
khởi của thế gian, sẽ không sanh ra kiến chấp thế gian là
vô. Quán sát như thật về sự diệt tận của thế gian, sẽ
không sanh ra kiến chấp thế gian là hữu[30]. Này Ca-chiên-diên,
Như Lai đã xa lìa hai bên, thuyết ở Trung đạo, rằng: cái
này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh; nghĩa là
duyên vô minh nên có hành và, cho đến sự tập khởi của
sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não. Và rằng, cái này
không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt; có
nghĩa là vô minh diệt thì hành diệt, cho đến sự diệt tận
của sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.’”
Khi
Tôn giả A-nan nói kinh này xong, thì Tỳ-kheo Xiển-đà xa lìa
trần cấu, được mắt pháp thanh tịnh. Khi Tỳ-kheo Xiển-đà
đã thấy pháp, đắc pháp, biết pháp, khởi pháp, vượt qua
khỏi mọi sự hồ nghi, không do ai khác, đối với giáo pháp
của Bậc Đại Sư, đạt được vô sở úy; rồi cung kính
chắp tay bạch Tôn giả A-nan:
“Cần
phải như vậy, bậc trí tuệ Phạm hạnh, thiện tri thức,
như vậy giáo thọ, giáo giới, nói pháp. Hôm nay tôi từ chỗ
Tôn giả A-nan nghe pháp như vầy: ‘Tất cả hành đều không,
đều tịch diệt, bất khả đắc, ái tận, ly dục, diệt tận,
Niết-bàn, tâm an vui, hoàn toàn an trụ giải thoát, không còn
quay lại, không còn thấy ngã, chỉ thấy chánh pháp.”
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan nói với Xiển-đà:
“Nay,
thầy đã được cái lợi tốt nhất, ở trong pháp Phật sâu
xa đã đạt được tuệ nhãn của bậc Thánh.”
Lúc
này hai vị Chánh sĩ tùy hỷ lẫn nhau, từ chỗ ngồi đứng
dậy, họ trở về chỗ ở của mình.
Bài
kệ tóm tắt:
Ba
kinh Thâu-lũ-na,
Vô
minh cũng có ba,
Vô
gián đẳng và diệt,
Phú-lưu-na,
Xiển-đà.
*
KINH
263. ƯNG THUYẾT[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong xóm Tạp sắc mục ngưu[32], ở nước
Câu-lưu[33].
Bấy
giờ Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
do tri kiến mà diệt tận các lậu[34], chứ không phải không
tri kiến. Thế nào là do tri kiến mà diệt tận các lậu, chứ
không phải không tri kiến? Nghĩa là: ‘Đây là sắc, đây
là sự tập khởi của sắc này, đây là sự diệt tận của
sắc. Đây là thọ, tưởng, hành, thức; đây là sự tập khởi
của thức, đây là sự diệt tận của thức.’ Nếu không
cần phương tiện, tùy thuận thành tựu, mà dụng tâm cầu
mong rằng: ‘Mong ta diệt sạch được các lậu, tâm được
giải thoát,’ nên biết, Tỳ-kheo kia cuối cùng không thể
diệt sạch được các lậu để giải thoát. Vì sao? Vì không
tu tập. Không tu tập những gì? Không tu tập niệm xứ, chánh
cần, như ý túc, căn, lực, giác, đạo.
“Giống
như gà mái đẻ ra nhiều trứng, nên không thể thường xuyên
ấp, điều hòa nóng lạnh, mà lại mong cho gà con dùng móng
chân, dùng mỏ để mổ vỏ trứng chui ra an toàn. Nên biết,
gà con kia không đủ sức để dùng móng chân, dùng mỏ mổ
vỏ trứng chui ra an toàn. Vì sao? Vì gà mái kia không thể thường
xuyên ấp, điều hòa nóng lạnh, nuôi lớn gà con.
“Cũng
vậy, Tỳ-kheo không tinh cần tu tập, tùy thuạân thành tựu,
mà lại mong diệt sạch hết các lậu để giải thoát, thì
việc này không thể có được. Vì sao? Vì không tu tập. Không
tu tập những gì? Không tu niệm xứ, chánh cần, như ý túc,
căn, lực, giác, đạo.
“Nếu
Tỳ-kheo tu tập, tùy thuận thành tựu, thì tuy không muốn diệt
sạch các lậu để giải thoát, nhưng với Tỳ-kheo kia các
lậu cũng tự diệt sạch, tâm được giải thoát. Vì sao? Vì
nhờ đã tu tập. Tu tập những gì? Tu niệm xứ, chánh cần,
như ý túc, căn, lực, giác, đạo.
“Giống
như gà mái khéo nuôi dưỡng con mình, thường xuyên ấp, điều
hòa nóng lạnh, cho dù nó không muốn gà con tìm cách tự mổ
vỏ trứng để ra, nhưng các con của nó cũng tự tìm đủ
cách để thoát ra ngoài một cách an toàn. Vì sao? Vì gà mái
thường xuyên ấp, điều hòa nóng lạnh.
“Cũng
vậy, Tỳ-kheo khéo cần phương tiện, thì cho dù không muốn
diệt sạch các lậu để giải thoát, nhưng với Tỳ-kheo này
các lậu tự hết, tâm được giải thoát. Vì sao? Vì đã nhờ
vào sự chuyên cần tu tập. Tu tập những gì? Tu tập niệm
xứ, chánh cần, như ý túc, căn, lực, giác, đạo.
“Giống
như một người thợ khéo[35], hay học trò của người thợ
khéo, tay cầm cán búa, cầm mãi không rời, dần dần trên
cán búa mòn đi, hiện rõ chỗ ngón tay cầm, nhưng chỗ mòn
hiện ra vì quá vi tế nên người kia không biết cán búa bị
mòn.
“Cũng
vậy, Tỳ-kheo tinh cần tu tập, tùy thuận thành tựu, thì sẽ
không tự mình thấy biết là hôm nay lậu hết chừng mức
nào, hay ngày mai lậu hết chừng mức nào; nhưng Tỳ-kheo kia
biết là hữu lậu đã hết sạch. Vì sao? Vì nhờ đã tu tập.
Tu tập những gì? Tu tập niệm xứ, chánh cần, như ý túc,
căn, lực, giác, đạo.
“Giống
như chiếc thuyền lớn đậu bờ biển; trải qua tháng sáu
mùa hè[36] bị gió xát, mặt trời nung, dây cột đứt từ
từ[37]. Cũng vậy, Tỳ-kheo tinh cần tu tập, tùy thuận thành
tựu, thì tất cả những kết, sử, phiền não, triền[38] dần
dần sẽ được giải thoát. Vì sao? Vì nhờ khéo tu tập. Tu
tập những gì? Tu tập niệm xứ, chánh cần, như ý túc, căn,
lực, giác, đạo.”
Khi
nói pháp này, thì sáu mươi Tỳ-kheo không khởi lên các lậu,
tâm được giải thoát.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những điều Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
264. TIỂU THỔ ĐOÀN[39]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo nọ trong khi đang thiền
tọa tư duy, suy nghĩ như vầy: ‘Có sắc nào là thường trú,
vĩnh hằng, không biến dịch, tồn tại vĩnh cửu không? Cũng
vậy, có thọ, tưởng, hành, thức nào là thường trú, vĩnh
hằng, không biến dịch, tồn tại vĩnh cửu không?’
Vào
buổi chiều, sau khi Tỳ-kheo này từ thiền tọa dậy, đi đến
chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, trong khi con đang thiền tọa tư duy, suy nghĩ như vầy:
‘Có sắc nào là thường trú, vĩnh hằng, không biến dịch,
tồn tại vĩnh cửu không? Cũng vậy, có thọ, tưởng, hành,
thức nào là thường trú, vĩnh hằng, không biến dịch, tồn
tại vĩnh cửu không?’ Nay bạch Thế Tôn: ‘Có sắc nào là
thường trú, vĩnh hằng, không biến dịch, tồn tại vĩnh cửu
không? Và có thọ, tưởng, hành, thức nào là thường trú,
vĩnh hằng, không biến dịch, tồn tại vĩnh cửu không?’
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn tay cầm một hòn đất nhỏ[40] hỏi Tỳ-kheo
kia:
“Ông
có thấy hòn đất trong tay Ta không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con đã thấy.”
Phật
lại nói:
“Tỳ-kheo,
ngã nhỏ bằng một ít đất như vậy cũng là bất khả đắc.
Nếu ngã là khả đắc, thì nó là pháp thường hằng, không
biến dịch, tồn tại mãi mãi.”
Phật
nói với Tỳ-kheo:
“Ta
nhớ lại đời trước, tu phước lâu dài, đã được quả
báo thù thắng vi diệu, khả ái. Ta đã từng trong bảy năm
tu tập tâm từ, trải qua bảy kiếp thành hoại, không tái
sanh vào thế gian này. Trong bảy kiếp hoại Ta sanh lên cõi
trời Quang âm, trong bảy kiếp thành Ta lại sanh vào trong cung
điện trống không trong cõi Phạm, làm Đại Phạm vương, thống
lãnh ngàn thế giới, không ai hơn, không ai trên. Từ đó trở
về sau, ba mươi sáu lần Ta lại làm Thiên đế Thích, rồi
lại trăm ngàn lần làm Chuyển luân Thánh vương, thống lãnh
bốn thiên hạ, dùng chánh pháp để giáo hóa và cai trị; có
đầy đủ bảy báu: báu xe, báu voi, báu ngựa, báu ma-ni, báu
ngọc nữ, báu đại thần chủ kho tàng, báu đại thần chủ
binh. Ta có đầy đủ ngàn người con tất cả đều dõng mãnh.
Ở trong bốn biển, đất đai bằng phẳng, không có những
thứ gai độc; chỉ dùng chánh pháp để điều phục, chứ
không dùng oai thế, hay bức bách.
“Pháp
vua Quán đảnh[41], có tám vạn bốn ngàn long tượng đều
được dùng các thứ báu để trang sức trang nghiêm, lưới
báu phủ lên, dựng cờ quý báu; ở đây tượng vương Bố-tát[42]
dẫn đầu, hai buổi sáng chiều tự động hội tụ trước
điện. Lúc ấy Ta nghĩ: ‘Bầy voi lớn này, mỗi ngày qua lại
đạp chết chúng sanh vô số. Ta ước sao bốn vạn hai ngàn
voi, cứ một trăm năm trở lại một lần.’ và sở nguyện
của Ta liền được như ý. Trong tám vạn bốn ngàn voi đó,
có bốn vạn hai ngàn voi cứ trăm năm đến lại một lần.
“Pháp
vua Quán đảnh lại có tám vạn bốn ngàn con ngựa; cũng dùng
hoàn toàn vàng ròng làm dụng cụ để cưỡi, lưới vàng phủ
lên. Ở đây mã vương Bà-la[43] dẫn đầu chúng.
“Pháp
vua Quán đảnh có tám vạn bốn ngàn cỗ xe bằng bốn loại
báu như xe vàng, xe bạc, xe lưu ly, xe pha lê; dùng da sư tử,
da cọp, da beo và vải tạp sắc khâm-ba-la[44] phủ lên trên;
đứng đầu là xe âm thanh Bạt-cầu tỳ-xà-da-nan-đề[45].
“Pháp
vua Quán đảnh thống lãnh tám vạn bốn ngàn thành, nhân dân
đông đúc, an lạc, phồn vinh. Đứng đầu là thành Câu-xá-bà-đề[46].
“Pháp
vua Quán đảnh có tám vạn bốn ngàn cung điện bằng bốn
loại báu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, ma ni; Do-ha[47] là trên
hết.
“Này
Tỳ-kheo, pháp vua Quán đảnh có tám vạn bốn ngàn giường
bằng bốn loại báu vàng, bạc, lưu ly, pha lê; cùng các loại
nệm bằng lụa quý, được trải lên trên nó bằng loại ngọa
cụ Ca-lăng-già[48] và đặt lên những chiếc gối đỏ.
“Lại
nữa, này Tỳ-kheo, pháp vua quán đảnh lại có tám vạn bốn
ngàn y phục, gồm bốn thứ như y ca-thi-tế[49], y sô-ma[50],
y đầu-cưu-la[51], y câu-triêm-bà[52].
“Lại
nữa, này Tỳ-kheo, pháp vua Quán đảnh có tám vạn bốn ngàn
ngọc nữ, như nữ Sát-lợi, nữ tợ Sát-lợi, huống chi là
những người nữ khác.
“Lại
nữa, này Tỳ-kheo, pháp vua Quán đảnh có tám vạn bốn ngàn
đồ ăn thức uống đủ các hương vị.
“Này
Tỳ-kheo, trong tám vạn bốn ngàn ngọc nữ, chỉ có một người
được vua chọn để hầu hạ; trong tám vạn bốn ngàn y phục
báu, nhà vua chỉ mặc một y; trong tám vạn bốn ngàn giường
báu, nhà vua chỉ nằm một giường; trong tám vạn bốn ngàn
cung điện, nhà vua chỉ ở một cung; trong tám vạn bốn ngàn
thành, nhà vua chỉ chọn ở một thành, đó là Câu-xá-bà-đề;
trong tám vạn bốn ngàn xe báu, nhà vua chỉ đi có một xe đó
là Tỳ-xà-da-nan-đề cù-sa[53], để ra khỏi thành du lãm; trong
tám vạn bốn ngàn ngựa báu, nhà vua chỉ cưỡi có một con,
đó là Bà-la-ha, lông đuôi màu xanh biếc; trong tám vạn bốn
ngàn long tượng, nhà vua chỉ cưỡi một voi, đó là Bố-tát-đà
để ra khỏi thành du quán.
“Này
Tỳ-kheo, ở đây nhà vua nhờ những nghiệp báo gì mà có được
những oai đức tự tại như vậy? Ở đây nhờ vào ba loại
nghiệp báo. Những gì là ba? Một là bố thí, hai là điều
phục, ba là tu đạo. Tỳ-kheo nên biết, phàm phu vì quen đắm
nhiễm ngũ dục nên không biết chán và đủ; còn Thánh nhân
vì đã thành tựu được trí tuệ đầy đủ nên thường biết
đủ.
“Này
Tỳ-kheo, tất cả các hành, quá khứ diệt tận, quá khứ biến
dịch. Các vật dụng tự nhiên kia và tên gọi của chúng,
tất cả đều ma diệt. Cho nên này Tỳ-kheo, thôi hãy dừng
lại với các hành[54], hãy nhàm chán, đoạn trừ dục, giải
thoát.
“Tỳ-kheo,
sắc là thường hay vô thường?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Thế
Tôn, vô thường.”
“Nếu
vô thường thì khổ phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Thế
Tôn, là khổ.”
“Tỳ-kheo,
nếu vô thường là khổ, là pháp biến dịch, vậy Thánh đệ
tử ở trong đó có chấp ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Thế
Tôn, không.”
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức là thường hay là vô thường?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Thế
Tôn, vô thường.”
“Nếu
vậy, vô thường là khổ phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Thế
Tôn, là khổ.”
“Tỳ-kheo,
nếu vô thường là khổ, là pháp biến dịch, vậy Thánh đệ
tử ở trong đó có chấp ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Thế
Tôn, không.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Những
gì thuộc về hữu sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc
hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc
tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng đều
chẳng phải ngã, không khác ngã, không ở trong nhau. Cũng vậy,
thọ, tưởng, hành, thức, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc
hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc
tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng đều
chẳng phải ngã, không khác ngã, không ở trong nhau.
“Tỳ-kheo,
đối với sắc nên sanh tâm nhàm tởm. Do nhàm tởm mà ly dục,
giải thoát. Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức
cũng nên sanh tâm nhàm tởm. Do nhàm tởm mà ly dục, giải thoát,
giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái
sanh đời sau nữa.’”
Khi
Tỳ-kheo kia nghe những gì Đức Phật đã dạy, phấn khởi
vui mừng, làm lễ mà lui. Sau đó luôn luôn nhớ về những
lời dạy với thí dụ nhúm đất, một mình ở chỗ vắng
vẻ, tinh tấn siêng năng tư duy, sống không buông lung. Sau khi
sống không buông lung, vị ấy tư duy về lý do mà một thiện
nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc pháp y, có lòng
tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,… cho đến, tự
biết không còn tái sanh đời sau nữa.
Lúc
ấy, Tôn giả này cũng tự biết pháp, tâm đạt được giải
thoát, thành bậc A-la-hán.
*
KINH
265. BÀO MẠT[55]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trú xứ A-tỳ-đà, bên bờ sông Hằng[56].
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Giống
như nước lớn sông Hằng cuộn lên, bọt nước theo dòng chảy
mà tụ lại. Nếu như người nào có mắt sáng quán sát, phân
biệt thật kỹ, thì lúc quán sát, phân biệt thật kỹ đó,
sẽ thấy rằng không có gì cả, không gì là bền chắc, không
gì là chắc thật, không gì là kiên cố. Vì sao? Vì trong nhóm
bọt nước nổi kia không có gì là chắc thật. Cũng vậy những
gì thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, Tỳ-kheo, hãy quán sát, tư
duy, phân biệt thật kỹ, không gì là có, không gì là bền
chắc, không gì là chân thật, không có gì là kiên cố; chúng
như bệnh, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô
thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì sắc vốn không chắc
thật.
“Này
các Tỳ-kheo, giống như trời mưa lớn, bong bóng nước chợt
hiện chợt mất. Nếu người nào có mắt sáng quán sát, tư
duy, phân biệt thật kỹ, thì lúc quán sát tư duy, phân biệt
thật kỹ đó sẽ thấy rằng không có cả, không gì là bền
chắc, không gì là chắc thật, không gì là kiên cố. Vì sao?
Vì trong bong bóng nước kia không có gì là chắc thật. Cũng
vậy những gì thuộc về thọ, hoặc quá khứ, hoặc vị lai,
hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế;
hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, Tỳ-kheo, hãy quán
sát, tư duy, phân biệt thật kỹ, không gì là có, không gì
là bền chắc, không gì là chân thật, không có gì là kiên
cố; chúng như bệnh, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại;
là vô thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì thọ vốn không
chắc thật.
“Này
các Tỳ-kheo, giống như cuối xuân, đầu hạ, không mây, không
mưa, giữa trưa trời nắng gắt, sóng nắng[57] chập chờn,
người nào sáng mắt quán sát, tư duy, phân biệt kỹ càng
và, khi quán sát, tư duy, phân biệt kỹ càng thì sẽ thấy
rằng không có gì cả, không gì là bền chắc, không gì là
chắc thật, không gì là kiên cố. Vì sao? Vì trong quáng nắng
kia không có gì là chắc thật. Cũng vậy, những gì thuộc
về tưởng, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại;
hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc
xấu; hoặc xa, hoặc gần, Tỳ-kheo, hãy quán sát, tư duy, phân
biệt thật kỹ, không gì là có, không gì là bền chắc, không
gì là chân thật, không có gì là kiên cố; chúng như bệnh,
như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô thường, khổ,
không, phi ngã. Vì sao? Vì tưởng vốn không chắc thật.
“Này
các Tỳ-kheo, giống như người mắt sáng muốn tìm gỗ cứng
chắc, nên cầm búa bén đi vào rừng núi. Thấy một cây chuối
lớn, thân dài lớn ngay thẳng, y liền đốn gốc, chặt đứt
ngọn nó, lột bỏ hết bẹ, cuối cùng không có gì là chắc
thật. Nếu người nào có mắt sáng thì sẽ quán sát, tư duy,
phân biệt và khi đã quán sát, tư duy, phân biệt rồi thì
sẽ thấy rằng không gì có cả, không gì là bền chắc, không
gì là chắc thật, không gì là kiên cố. Vì sao? Vì trong cây
chuối kia không có gì là chắc thật. Cũng vậy những gì thuộc
về hành, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc
trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu;
hoặc xa, hoặc gần, Tỳ-kheo, hãy quán sát, tư duy, phân biệt
thật kỹ, không gì là có, không gì là bền chắc, không gì
là chân thật, không có gì là kiên cố; chúng như bệnh, như
ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô thường, khổ,
không, phi ngã. Vì sao? Vì hành vốn không chắc thật.
“Này
các Tỳ-kheo, giống như nhà ảo thuật, hay là học trò của
nhà ảo thuật, ở giữa ngã tư đường, huyễn hóa ra binh
voi, binh ngựa, binh xa, binh bộ. Lúc này có người trí mắt
sáng, quán sát, tư duy, phân biệt kỹ và khi họ đã quán sát,
tư duy, phân biệt kỹ, thì sẽ thấy rằng không gì là có,
không gì là bền chặt, không gì là chân thật, không có gì
là chắc thật. Vì sao? Vì những hiện tượng huyễn hóa kia
vốn không chắc thật. Như vậy, này các Tỳ-kheo những gì
thuộc về thức, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, thì Tỳ-kheo nên quán sát,
tư duy, phân biệt kỹ và khi đã quán sát, tư duy, phân biệt
kỹ thì sẽ thấy rằng không gì là có, không gì là bền chặt,
không gì là chân thật, không có gì là chắc thật; chúng như
bệnh hoạn, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại; là vô
thường, khổ, không, phi ngã. Vì sao? Vì thức vốn không chắc
thật.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói lại nghĩa này, nên nói bài kệ:
Quán
sắc như bọt nước,
Thọ
như bong bóng nước,
Tưởng
như quáng nắng xuân,
Các
hành như cây chuối,
Các
thức pháp như huyễn,
Đấng
Nhật thân[58] dạy vậy.
Tư
duy kỹ khắp cả,
Chánh
niệm khéo quán sát:
Không
thật, chẳng kiên cố,
Không
có ngã, ngã sở.
Đối
thân khổ ấm này,
Đại
Trí phân biệt dạy,
Xa
lìa ba pháp này,
Thân
thành vật vất bỏ:
Thọ,
hơi ấm và thức.
Lìa
chúng, phần thân khác,
Vĩnh
viễn vùi gò hoang,
Như
gỗ, không thức tưởng.
Thân
này thường như vậy,
Huyễn
dối dụ người ngu;
Như
gai độc, như sát,
Không
có gì chắc thật.
Tỳ-kheo
siêng tu tập,
Quán
sát thân ấm này,
Chuyên
tinh luôn ngày đêm,
Chánh
trí, buộc niệm lại,
Hành
hữu vi ngừng nghỉ,
Vĩnh
viễn chốn thanh lương.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
*
KINH
266. VÔ TRI (1)[59]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Đối
với sanh tử vô thỉ, vì bị vô minh che khuất, ái kết[60]
buộc ràng, luân hồi trong đêm dài tăm tối, nên không biết
được biên tế tối sơ[61] của khổ. Cũng như trăm thứ cỏ
cây, lúa, thóc, mọc trên mặt đất, tất cả đều bị khô
héo vì lâu ngày không mưa. Này các Tỳ-kheo, vì bị vô minh
che khuất, ái kết buộc ràng, nên chúng sanh sống chết luân
hồi. Ái kết không dứt, không chấm dứt được khổ[62].
“Này
các Tỳ-kheo, có khi nước trong biển lớn cũng khô cạn vì
lâu ngày trời không mưa. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vì vô
minh che khuất, ái kết buộc ràng, nên chúng sanh sống chết
luân hồi. Ái kết không dứt, không chấm dứt được khổ.
“Này
các Tỳ-kheo, có lúc, sau một thời gian lâu dài, núi chúa Tu-di[63]
tất phải sụp đổ. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vì vô minh
che khuất, ái kết buộc ràng, nên chúng sanh sống chết luân
hồi. Ái kết không dứt, không chấm dứt được khổ.
“Này
các Tỳ-kheo, có lúc, sau một thời gian lâu dài, quả đất
này bị tan hoại. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vì vô minh che
khuất, ái kết buộc ràng, nên chúng sanh sống chết luân hồi.
Ái kết không dứt, không chấm dứt được khổ.
“Này
các Tỳ-kheo, giống như con chó bị cột vào trụ. Khi sợi
dây chưa bứt, nó lâu dài đi quanh cây trụ, chuyển động
luân hồi. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vì chúng sanh ngu si không
biết như thật về sắc, về sự tập khởi của sắc, về
sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự
tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc, nên mãi mãi
bị xoay vần qua lại, bị chuyển vần theo sắc. Cũng vậy,
nếu không biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức; về
sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức; về sự diệt
tận của thọ, tưởng, hành, thức; về vị ngọt của thọ,
tưởng, hành, thức; về sự tai hại của thọ, tưởng, hành,
thức; về sự xuất ly của thọ, tưởng, hành, thức, thì
sẽ mãi mãi bị xoay vần qua lại, bị chuyển vần theo thọ,
tưởng, hành, thức.
“Này
các Tỳ-kheo, nó bị chuyển theo sắc, chuyển theo thọ, chuyển
theo tưởng, chuyển theo hành, chuyển theo thức. Vì bị chuyển
theo sắc nên không thoát khỏi sắc; vì bị chuyển theo thọ,
tưởng, hành, thức nên không thoát khỏi thọ, tưởng, hành,
thức. Vì không thoát, nên không thoát khỏi sanh, già, bệnh,
chết, ưu, bi, khổ, não. Đa văn Thánh đệ tử biết như thật
về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc,
về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự
xuất ly của sắc; biết như thật về thọ, tưởng, hành,
thức; về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức; về
sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức; về vị ngọt
của thọ, tưởng, hành, thức; về sự tai hại của thọ,
tưởng, hành, thức; về sự xuất ly của thọ, tưởng, hành,
thức, nên không bị chuyển theo thọ, tưởng, hành, thức.
Vì không bị chuyển theo, nên thoát khỏi sắc, thoát khỏi
thọ, tưởng, hành, thức. Ta nói vị ấy sẽ thoát khỏi sanh,
già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
*
KINH
267. VÔ TRI (2)[64]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh, đối với sanh tử vô thỉ, vì bị vô minh che khuất,
ái kết buộc ràng, luân hồi trong lâu dài, mà không biết
được biên tế tối sơ của khổ.
“Này
các Tỳ-kheo, giống như con chó bị dây cột vào trụ. Dây
trói không đứt, nó xoay chuyển quanh cây trụ, khi đứng, khi
nằm, không rời khỏi trụ. Cũng vậy, chúng sanh phàm phu ngu
muội, đối với sắc không lìa tham dục, không xa lìa ái,
không lìa niệm, không xa lìa khát, luân hồi theo sắc, chuyển
xoay theo sắc, khi đứng, khi ngồi, không rời khỏi sắc. Đối
với thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, theo thọ, tưởng,
hành, thức chuyển xoay, khi đứng, khi nằm không rời khỏi
thức.
“Này
các Tỳ-kheo, hãy khéo quán sát tư duy tâm. Vì sao? Vì trong
lâu đời tâm bị tham dục làm nhiễm ô, bị sân nhuế, ngu
si làm nhiễm uế. Này các Tỳ-kheo, vì tâm não nên chúng sanh
não; vì tâm thanh tịnh nên chúng sanh thanh tịnh[65].
“Này
các Tỳ-kheo, Ta không thấy có một sắc[66] mà đa dạng như
chim có sắc đốm[67], tâm mình lại còn hơn thế nữa. Vì
sao? Tâm chúng sanh kia đa dạng, nên sắc cũng đa dạng. Cho
nên này Tỳ-kheo, hãy tư duy quán sát rõ tâm mình. Này các
Tỳ-kheo, trong lâu đời tâm bị tham dục làm nhiễm ô, bị
sân nhuế, ngu si làm nhiễm uế. Này các Tỳ-kheo, vì tâm não
nên chúng sanh não; vì tâm thanh tịnh nên chúng sanh thanh tịnh.
“Tỳ-kheo,
nên biết, ngươi có thấy chim Ta-lan-na[68] có nhiều màu sắc
không?”
Đáp:
“Thế
Tôn, đã từng thấy.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Này
các Tỳ-kheo, như loài chim Ta-lan-na có nhiều màu sắc, Ta nói
tâm của chúng cũng có nhiều như vậy. Vì sao? Vì tâm của
chim Ta-lan-na đa dạng, nên màu sắc đa dạng[69]. Cho nên này
Tỳ-kheo, hãy tư duy quán sát rõ tâm mình. Này các Tỳ-kheo,
trong lâu đời tâm bị tham dục làm nhiễm ô, bị sân nhuế,
ngu si làm nhiễm uế. Này các Tỳ-kheo, vì tâm não nên chúng
sanh não; vì tâm thanh tịnh nên chúng sanh thanh tịnh.
“Giống
như người thợ vẽ, hay học trò của người thợ vẽ, khéo
dọn sạch đất, rồi dùng các thứ màu, theo ý mình vẽ nên
các loại hình tượng khác nhau.
“Cũng
vậy Tỳ-kheo, chúng sanh phàm phu ngu si, không biết như thật
về sắc, về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận
của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc,
về sự xuất ly của sắc. Không biết như thật về sắc nên
thích thú đắm nhiễm sắc. Vì thích thú đắm nhiễm sắc,
nên lại sanh ra các sắc vị lai. Cũng vậy, phàm phu ngu si,
không biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức; về sự
tập khởi của thức, về sự diệt tận của thức, về vị
ngọt của thức, về sự tai hại của thức, về sự xuất
ly của thức. Không biết như thật nên thích thú đắm nhiễm
thức. Thích thú đắm nhiễm thức, nên lại sanh ra các thức
vị lai. Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức vị lai sẽ sanh
nên đối với sắc không giải thoát; đối với thọ, tưởng,
hành, thức cũng không giải thoát. Ta nói người này không
giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.
“Có
đa văn Thánh đệ tử biết như thật về sắc, về sự tập
khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt
của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của
sắc. Biết như thật rồi nên không đắm nhiễm sắc. Không
đắm nhiễm nên không sanh ra sắc vị lai. Biết như thật về
thọ, tưởng, hành, thức; về sự tập khởi của thức, về
sự diệt tận của thức, về vị ngọt của thức, về sự
tai hại của thức, về sự xuất ly của thức. Biết như thật
nên không nhiễm đắm thức, vì không đắm nhiễm nên không
sanh ra các thức vị lai. Không thích nhiễm sắc, thọ, tưởng,
hành, thức nên đối với sắc sẽ được giải thoát và đối
với thọ, tưởng, hành, thức cũng sẽ được giải thoát.
Ta nói những người này sẽ giải thoát khỏi sanh, già, bệnh,
chết, ưu, bi, khổ, não.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
*
KINH
268. HÀ LƯU[70]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Giống
như nước sông phát xuất từ khe núi, nước sâu chảy xiết,
dòng nước cuồn cuộn cuốn trôi tất cả những vật chìm
nổi. Hai bên bờ sông mọc um tùm nhiều loại cỏ cây, bị
dòng nước lớn cuốn rạp cả hai bên bờ. Nhiều người lội
qua, số lớn bị nước cuốn trôi, theo dòng chìm đắm; gặp
sóng đẩy vào gần bờ, dùng tay chộp lấy cỏ cây, nhưng
cây cỏ lại bị đứt và trở lại theo dòng nước cuốn trôi.
“Cũng
vậy, này các Tỳ-kheo, nếu chúng sanh phàm phu ngu muội nào
không biết như thật về sắc, về sự tập khởi của sắc,
về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về
sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc; và vì không biết
như thật nên đắm nhiễm sắc, ở nơi sắc, nói sắc là ngã[71],
nhưng rồi sắc kia theo đó mà đoạn. Cũng vậy, không biết
như thật về thọ, tưởng, hành, thức,... về sự tập khởi
của thức, về sự diệt tận của thức, về vị ngọt của
thức, về sự tai hại của thức, về sự xuất ly thức. Vì
không biết như thật nên đắm nhiễm thức, nói thức là ngã,
nhưng rồi thức kia lại theo đó mà đoạn.
“Nếu
đa văn Thánh đệ tử biết như thật về sắc, về sự tập
khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt
của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc;
và vì đã biết như thật nên không đắm nhiễm sắc. Biết
như thật về thọ, tưởng, hành, thức; về sự tập khởi
của thọ, tưởng, hành, thức, về sự diệt tận của thọ,
tưởng, hành, thức, về vị ngọt của thọ, tưởng, hành,
thức, về sự tai hại của thọ, tưởng, hành, thức, về
sự xuất ly thọ, tưởng, hành, thức; biết như thật nên
không đắm nhiễm thọ, tưởng, hành, thức. Không đắm nhiễm
nên như vậ