TẠP
A-HÀM QUYỂN 18
KINH
490. DIÊM-PHÙ-XA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại xóm Na-la[2], nước Ma-kiệt-đề.
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất cũng ở xóm Na-la, Ma-kiệt-đề.
Khi
ấy, có xuất gia ngoại đạo tên là Diêm-phù-xa[3], là bạn
cũ của Xá-lợi-phất[4], đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất,
cùng nhau thăm hỏi sức khỏe, rồi ngồi lui qua một bên, hỏi
Xá-lợi-phất:
“Trong
pháp luật của Hiền thánh có việc gì khó[5]?”
Xá-lợi-phất
bảo Diêm-phù-xa:
“Chỉ
có xuất gia là khó.”
“Xuất
gia, cái gì là khó?”
Đáp:
“Ái
lạc[6] khó.”
“Ái
lạc, cái gì là khó?”
Đáp:
“Thường
tu tập thiện pháp là khó[7].”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành[8] nào mà tu tập, tu tập
nhiều, thường tu tập, thì thiện pháp tăng trưởng không?”
Đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo: chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định.”
Diêm-phù-xa
nói:
“Thưa
Tôn giả Xá-lợi-phất, đây là con đường tốt đẹp, đây
là sự thực hành tốt đẹp, nếu được tu tập, tu tập nhiều,
đối với các pháp thiện thường tu tập để tăng trưởng.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, nếu người xuất gia luôn luôn
tu tập con đường này, thì chẳng bao lâu sẽ nhanh chóng diệt
tận được các hữu lậu.”
Khi
ấy hai vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi
đứng dậy từ giã nhau.
Tương
tự như kinh trên, với những câu hỏi của Diêm-phù-xa, gồm
bốn mươi kinh[9].
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[10]
“Thế
nào là vị khéo thuyết pháp? Thế nào là vị chánh hướng
trong đời[11]? Thế nào là vị thiện thệ trong đời[12]?”
Xá-lợi-phất
nói:
“Nếu
thuyết pháp mà điều phục dục tham, điều phục sân nhuế,
điều phục ngu si; đó gọi là vị khéo thuyết pháp. Nếu
hướng đến sự điều phục dục tham, hướng đến sự điều
phục sân nhuế, hướng đến sự điều phục ngu si; đó gọi
là chánh hướng. Nếu tham dục đã bị đoạn tận, đã được
biến tri không dư tàn; sân nhuế và ngu si đã bị đoạn tận,
đã được biến tri không dư tàn; đó gọi là thiện thệ.”
Lại
hỏi:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thường tu tập, thì có thể phát khởi thiện thệ[13]?”
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến đến chánh định.”
Sau
khi hai vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi
đứng dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[14]
“Nói
là Niết-bàn; thế nào là Niết-bàn?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Niết-bàn
là sự đoạn tận vĩnh viễn của tham dục; sự đoạn tận
vĩnh viễn sân nhuế, ngu si; sự đoạn tận vĩnh viễn của
tất cả các phiền não. Đó gọi là Niết-bàn.”
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thường tu tập, thì chứng đắc Niết-bàn chăng?”
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến đến chánh định.”
Sau
khi hai vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi
đứng dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[15]
“Vì
sao ở chỗ Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm hạnh?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Vì
để đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân nhuế, đoạn trừ
ngu si nên ở chỗ Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm hạnh[16].”
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều
thì có đoạn được tham dục, sân nhuế, ngu si không?”
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến đến chánh định.”
Sau
khi hai vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi
đứng dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[17]
“Nói
là hữu lậu đã đoạn tận. Thế nào là hữu lậu đã được
đoạn tận?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Hữu
lậu có ba[18]; đó là dục hữu lậu, hữu hữu lậu và vô
minh hữu lậu. Ba thứ hữu lậu này đã trừ hết, không còn
sót, nên gọi là hữu lậu đã được đoạn tận.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì các lậu trừ hết không.”
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[19]
“Nói
là A-la-hán. Thế nào là A-la-hán?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Tham
dục, sân nhuế, ngu si đã trừ sạch không còn sót, thì gọi
là A-la-hán.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
để chứng đắc A-la-hán không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[20]
“Nói
là A-la-hán. Thế nào là A-la-hán?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Khi
tham dục, sân nhuế, ngu si đã vĩnh viễn diệt tận không còn
sót, đó gọi là A-la-hán.”
Lại
hỏi:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì chứng đắc A-la-hán không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[21]
“Nói
là vô minh. Thế nào là vô minh?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Nói
là vô minh, là không biết tiền tế, không biết hậu tế,
không biết tiền, hậu, trung tế[22]; không biết Phật, Pháp,
Tăng; không biết Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không biết thiện,
bất thiện và vô ký; không biết trong, không biết ngoài. Nếu
đối với những sự này hay sự kia mà không biết, bị ám
chướng, đó gọi là vô minh[23].”
Diêm-phù-xa
nói với Xá-lợi-phất:
“Đây
là khối u ám vĩ đại.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì đoạn trừ vô minh không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[24]
“Gọi
là hữu lậu. Thế nào là hữu lậu?”
Như
trên đã nói.[25]
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[26]
“Nói
là hữu. Thế nào là hữu?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Hữu
có ba; đó là dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có hướng đến nào để tu tập và khi tu
tập nhiều thì có đoạn trừ những hữu này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[27]
“Nói
là hữu thân[28]; thế nào là hữu thân?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Hữu
thân, đó là năm thọ ấm. Thế nào là năm thọ ấm? Đó là
sắc, thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào, để đoạn trừ hữu
thân này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[29]
“Nói
là khổ; thế nào là khổ?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Khổ
là chỉ cho sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ân ái
xa cách nhau khổ, oán ghét gặp nhau khổ, những gì cầu không
được khổ, lược nói về khổ của năm thọ ấm, thì đó
gọi là khổ.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào để có thể đoạn
trừ những khổ này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[30]
“Nói
là lưu[31]; thế nào là lưu?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Lưu
là chỉ cho dục lưu, hữu lưu, kiến lưu và vô minh lưu.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì có thể đoạn trừ những lưu này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[32]
“Nói
là ách[33]; thế nào là ách?”
Ách
cũng nói như lưu.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[34]
“Nói
là thủ[35]; thế nào là thủ?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Thủ
có bốn, đó là dục thủ, ngã thủ, kiến thủ và giới thủ.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì có thể đoạn trừ những thủ này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[36]
“Nói
là hệ phược[37]; thế nào là hệ phược?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Phược
có bốn, đó là tham dục phược, sân nhuế phược, giới thủ
phược và ngã kiến phược.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì có thể đoạn trừ những phược này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[38]
“Gọi
là kết; vậy thế nào là kết?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Kết
có chín[39], đó là ái kết, nhuế kết, mạn kết, vô minh
kết, kiến kết, tha thủ kết[40], nghi kết, tật kết và xan
kết.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì có thể đoạn trừ những kết này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[41]
“Gọi
là sử, vậy thế nào là sử?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Sử
có bảy, đó là tham dục sử, sân nhuế sử, hữu ái sử,
mạn sử, vô minh sử, kiến sử và nghi sử.”[42]
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào để có thể tu tập
và khi tu tập nhiều, có thể đoạn trừ những sử này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[43]
“Gọi
là dục, vậy thế nào là dục?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Dục
là, đối với sắc được nhận thức bởi mắt đáng yêu,
đáng thích, đáng nhớ nghĩ, mà đam mê sắc. Tiếng được
nhận thức bởi tai, hương bởi mũi, vị bởi lưỡi, xúc bởi
thân đáng yêu, đáng thích, đáng nghĩ nhớ, nhiễm đắm xúc.
“Này
Diêm-phù-xa, năm phẩm chất này không phải là dục. Nhưng
dục chỉ do giác tưởng tư duy.”
Bấy
giờ, Xá-lợi-phất liền nói bài kệ:
“Tất
cả sắc thế gian,
Không
phải ái dục sử[44],
Duy
chỉ là giác tưởng,
Đó
chính là người dục[45].
Bao
nhiêu hiện sắc này,
Thường
ở tại thế gian,
Điều
phục tâm ái dục,
Đó
là người thông tuệ.”
Diêm-phù-xa
hỏi lại Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào để có thể tu tập
và khi tu tập nhiều, thì có thể đoạn trừ được những
dục này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bà luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[46]
“Gọi
là cái; thế nào là cái[47]?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Cái
có năm, đó là tham dục cái, sân nhuế cái, thùy miên cái,
trạo hối cái và nghi cái.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào để có thể tu tập
và khi tu tập nhiều, có thể đoạn trừ được những cái
này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[48]
“Gọi
là sự nghỉ ngơi, vậy thế nào là sự nghỉ ngơi?”[49]
Xá-lợi-phất
đáp:
“Sự
nghỉ ngơi là sự đoạn trừ ba kết sử.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào để có thể tu tập
và khi tu tập nhiều, có thể đoạn trừ được ba kết sử
này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[50]
“Nói
là đạt đến sự nghỉ ngơi; thế nào là đạt đến sự
nghỉ ngơi?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Đạt
đến sự nghỉ ngơi là ba kết sử đã bị đoạn, đã được
biết.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào để có thể đoạn
trừ được ba kết sử này không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[51]
“Gọi
là đạt đến sự nghỉ ngơi tối thượng[52], vậy thế nào
là đạt đến sự nghỉ ngơi tối thượng?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Đạt
đến sự nghỉ ngơi tối thượng là đã vĩnh viễn đoạn
tận tham dục, sân nhuế và ngu si[53]. Đó gọi là đạt đến
sự nghỉ ngơi tối thượng[54].”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều
thì có thể đạt đến sự nghỉ ngơi tối thượng không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:[55]
“Gọi
là đạt đến chỗ nghỉ ngơi tối thượng[56]; thế nào là
được chỗ dừng nghỉ bậc thượng?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Đạt
đến chỗ nghỉ ngơi tối thượng là đối với tham dục vĩnh
viễn đã đoạn, đã biết không dư tàn; đối với sân nhuế,
ngu si, vĩnh viễn đã đoạn, đã biết không dư tàn. Đó gọi
là chỗ dừng nghỉ bậc thượng.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì có thể đạt đến chỗ nghỉ ngơi tối thượng không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[57]
“Nói
là thanh lương[58], vậy thế nào là thanh lương?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Thanh
lương là năm hạ phần kết đã trừ sạch; tức là thân kiến,
giới thủ, nghi, tham dục và sân nhuế.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
để có thể đoạn trừ năm hạ phần kết này, để đạt
đến thanh lương không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[59]
“Gọi
là được thanh lương, vậy thế nào là được thanh lương?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Đối
với năm hạ phần kết đã đoạn tận, đã niệm tri, đó
gọi là được thanh lương.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì được thanh lương không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[60]
“Gọi
là thanh lương bậc thượng, vậy thế nào là thanh lương bậc
thượng?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Thanh
lương bậc thượng là khi tham dục, sân nhuế, ngu si đã vĩnh
viễn trừ sạch không còn; tất cả mọi thứ phiền não đã
vĩnh viễn trừ sạch không còn. Đó gọi là thanh lương bậc
thượng.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì đạt được thanh lương bậc thượng không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[61]
“Nói
là đạt được thanh lương bậc thượng, vậy thế nào là
đạt được thanh lương bậc thượng?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Đạt
được thanh lương bậc thượng là đối với tham dục đã
vĩnh viễn đoạn trừ, vĩnh viễn biến tri không dư tàn; đối
với sân nhuế và ngu si đã vĩnh viễn đoạn trừ, vĩnh viễn
biến tri không dư tàn. Đó gọi là đạt được thanh lương
bậc thượng.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì được thanh lương bậc thượng này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất[62]:
“Gọi
là ái, vậy thế nào là ái?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Ái
có ba, đó là dục ái, sắc ái và vô sắc ái.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì có thể diệt trừ được ba ái này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[63]
“Gọi
là nghiệp đạo[64], vậy thế nào là nghiệp đạo?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Nghiệp
đạo. đó là mười nghiệp đạo bất thiện, tức sát sanh,
trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ
ngữ, tham dục, sân nhuế và tà kiến.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào để diệt trừ mười
nghiệp đạo này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Diêm-phù-xa
hỏi Xá-lợi-phất:[65]
“Gọi
là ô uế, vậy thế nào là ô uế?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Uế
có ba, đó là tham dục, sân nhuế và ngu si.”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Có
con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều,
thì có thể trừ được ba uế này không?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Có.
Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
Hai
vị Chánh sĩ bàn luận xong, mỗi người từ chỗ ngồi đứng
dậy từ giã nhau.
Như
kinh Uế, cũng vậy các kinh nói về Cấu bẩn [32], Cấu ghét
[33], Gai nhọn [34], Luyến [35] và Hệ phược [36] cũng như vậy.
*
KINH
491. SA-MÔN XUẤT GIA SỞ VẤN[66]
Như
kinh Diêm-phù-xa hỏi, kinh Sa-môn xuất gia hỏi cũng như vậy.
*
KINH
492. NÊ THỦY[67]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất cũng đang ở đây. Rồi
Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào[68] được vô lượng tam-muội[69], thân tác
chứng, thành tựu và an trụ, nhưng đối với Niết-bàn, sự
diệt tận của hữu thân[70], mà tâm không hoan hỷ[71], luyến
tiếc hữu thân[72]. Giống như người tay dính keo mà nắm trên
cành cây, thì tay liền bị dính trên cành không gỡ ra được.
Vì sao? Vì keo dính tay.
“Nếu
Tỳ-kheo tự thân đã tác chứng vô lượng Tam-ma-đề[73], nhưng
tâm không hoan hỷ[74] đối với Niết-bàn, sự diệt tận của
hữu thân[75]; luyến tiếc hữu thân, thì trọn không thể thoát
ly, ngay trong đời này không được tùy thuận giáo pháp, cho
đến khi mạng chung cũng không sở đắc mà phải sanh lại
cõi này; cuối cùng rồi cũng không phá được sự si ám. Như
bên cạnh làng có ao bùn; lớp bùn rất sâu. Lâu ngày trời
không mưa, nước ao khô cạn, đất nứt nẻ ra[76]. Cũng vậy,
Tỳ-kheo ngay trong đời này không được tùy thuận giáo pháp,
cho đến khi mạng chung cũng không sở đắc và sẽ trở lại
đọa vào cõi này.
“Nếu
có Tỳ-kheo nào được vô lượng tam-muội, tự thân tác chứng,
thành tựu và an trú, đối với sự diệt tận của hữu thân,
Niết-bàn, này khi hoại diệt mà tâm sanh ra tin vui, không luyến
tiếc hữu thân. Giống như người dùng bàn tay khô ráo, sạch
sẽ, vịn vào cành cây, thì tay sẽ không bị dính theo cây.
Vì sao? Vì bàn tay sạch. Cũng vậy, nếu Tỳ-kheo nào được
vô lượng tam-muội, tự thân tác chứng, thành tựu và an trú,
đối với sự diệt tận của hữu thân, Niết-bàn này khi
hoại diệt mà tâm sanh ra tin vui, không luyến tiếc hữu thân;
ngay trong đời này tùy thuận giáo pháp, cho đến khi mạng
chung không còn sanh lại cõi này nữa.
“Cho
nên Tỳ-kheo phải siêng năng phương tiện phá tan vô minh. Giống
như bên cạnh làng có ao bùn, nước từ bốn phía chảy vào,
trời lại hay mưa, nước thường vào ao đầy dẫy, đồ dơ
bẩn chảy ra hết, ao nước này trở nên trong sạch. Cũng vậy
Tỳ-kheo ngay trong đời này mà tùy thuận giáo pháp; cho đến
khi mạng chung sẽ không còn sanh trở lại cõi này. Bởi vậy,
Tỳ-kheo phải siêng năng phương tiện phá tan vô minh.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe lời Tôn
giả dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
493. THỪA THUYỀN NGHỊCH LƯU[77]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất cũng đang ở đây. Rồi
Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo a-luyện-nhã[78], hoặc ở giữa đất trống, trong rừng,
dưới bóng cây, nên học như vầy: Quay vào bên trong mà tư
duy, quán sát, tự biết trong tâm còn có dục tưởng không?
Nếu không tự biết được, thì ở nơi cảnh giới hoặc ở
nơi tịnh tướng, ở đó sẽ có ái dục khởi lên, trái với
hạnh viễn ly[79]. Giống như người dùng sức chèo thuyền
nghịch dòng đi lên, thân nếu hơi mệt mỏi, biếng nhác, thì
thuyền quay trở lại, xuôi dòng đi xuống. Cũng vậy, Tỳ-kheo
khi tư duy tịnh tưởng, trở lại sanh ra ái dục, trái với
hạnh viễn ly. Tỳ-kheo này tu học, tu phương tiện thấp kém,
hành không thuần tịnh. Vì vậy lại bị ái dục cuốn trôi,
không được pháp lực, tâm không tĩnh lặng, tâm không chuyên
nhất; đối với tịnh tướng kia theo đó mà sanh ái dục,
trôi nổi lăn lóc, trái với hạnh viễn ly. Nên biết Tỳ-kheo
này, không dám tự xác nhận là đối với năm phẩm chất
của dục mà ly dục, giải thoát.
“Nếu
Tỳ-kheo nào ở nơi đất trống, trong rừng hoặc dưới bóng
cây, tư duy như vầy: ‘Trong nội tâm ta đã ly dục chưa?’
Tỳ-kheo này sẽ ở nơi cảnh giới hoặc tiếp nhận tịnh
tướng, mà biết tâm mình đã xa lìa tướng ấy, không tùy
thuận tiến vào dòng xoáy. Giống như lông chim vào lửa thì
bị quắn lại, không có nở ra. Cũng vậy, Tỳ-kheo nào, hoặc
tiếp nhận tịnh tướng mà tùy thuận viễn ly, không tùy thuận
tiến vào dòng xoáy.
“Tỳ-kheo,
nên biết như vầy, đối với phương tiện thực hành tâm
không biếng nhác, chứng đắc pháp, tịch tĩnh, tĩnh chỉ,
an ổn, khoái lạc, thuần tịnh nhất tâm và tự nói: ‘Ta
sau khi tư duy, đối với tịnh tướng, mà tùy thuận viễn
ly, tùy thuận tu đạo, thì có thể tự xác nhận, đối với
năm phẩm chất của dục, đã ly dục giải thoát.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe lời Tôn
giả dạy, hoan hỷ, phụng hành.
*
KINH
494. KHÔ THỌ[80]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đang ở trong núi Kỳ-xà-quật.
Bấy
giờ, sáng sớm, Tôn giả đắp y mang bát ra khỏi núi, vào
thành Vương xá khất thực; thấy bên lề đường một cây
đại thọ khô liền đến bên cây này trải tọa cụ ngồi
ngay thẳng và nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào tu tập thiền tứ, đạt được thần thông,
tâm được tự tại, muốn biến cây khô này thành đất, thì
sẽ thành đất liền. Vì sao? Vì trong cây khô này có địa
giới. Cho nên Tỳ-kheo có sức thần thông, tâm muốn tạo ra
đất, tức thì thành đất không khác. Nếu có Tỳ-kheo nào
đạt được sức thần thông, tự tại như ý, mà muốn khiến
cây này thành nước, lửa, gió, vàng, bạc v.v… tất cả đều
thành tựu không khác. Vì sao? Vì cây khô này có thủy giới.
Cho nên, thiền tứ được sức thần thông, tự tại như ý;
nếu muốn khiến cây khô này thành vàng, tức thì thành vàng
không khác và những vật khác cũng đều thành tựu như vậy.
Vì sao? Vì cây khô này có các giới. Cho nên, Tỳ-kheo thiền
tứ, được sức thần thông, tự tại như ý, nến muốn làm
thành các vật khác thì cũng đều thành tựu không khác. Tỳ-kheo
nên biết, khi Tỳ-kheo thiền tứ, cảnh giới thần thông không
thể nghĩ bàn. Cho nên, Tỳ-kheo phải tinh cần thiền tứ, học
các thần thông.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những
gì Tôn giả dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
495. GIỚI[81]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đang ở trong núi Kỳ-xà-quật.
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
“Người
phạm giới, vì phá giới nên sở y sút giảm, tâm không an
trú với sự an lạc[82]. Vì tâm không an trú với sự an lạc
nên mất hoan hỷ, tĩnh chỉ, an lạc, tam-muội tịch tĩnh; mất
tri kiến như thật[83], sự yếm ly, ly dục, giải thoát, vĩnh
viễn không thể đạt được Vô dư Niết-bàn. Giống như cây
bị mục thì tất cả cành, lá, hoa, trái đều không thể thành
tựu. Tỳ-kheo phạm giới lại cũng như vậy, công đức sút
giảm[84], tâm không an trú với sự an lạc. Vì tâm không an
trú với sự an lạc[85] nên mất hoan hỷ, tĩnh chỉ, an lạc,
tam-muội tịch tĩnh; mất tri kiến như thật, sự yếm ly, ly
dục, giải thoát. Do thoái thất giải thoát nên vĩnh viễn
không thể đạt được Vô dư Niết-bàn.
“Tỳ-kheo
trì giới, căn bản đầy đủ, sở y đầy đủ, tâm được
tin vui. Vì được tin vui nên tâm được hoan hỷ, tĩnh chỉ,
an lạc, đạt đến tam-muội tịch tĩnh, thấy biết như thật,
yếm ly, ly dục, giải thoát. Do được giải thoát, nhanh chóng
đạt đến Vô dư Niết-bàn. Ví như gốc cây không bị mục
thời cành, lá, hoa, trái đều được thành tựu. Tỳ-kheo trì
giới lại cũng như vậy, căn bản đầy đủ, sở y đầy đủ,
tâm được tin vui. Vì được tin vui nên tâm được hoan hỷ,
tĩnh chỉ, an lạc, đạt đến tam-muội tịch tĩnh, thấy biết
như thật, yếm ly, ly dục, giải thoát. Do được giải thoát,
nhanh chóng đạt đến Vô dư Niết-bàn.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những
gì đã nói, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
496. TRÁNH
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
các Tỳ-kheo khởi lên tranh cãi với nhau, có Tỳ-kheo phạm
tội, Tỳ-kheo cử tội. Nhưng Tỳ-kheo này, nếu không bằng
vào tư duy đúng mà tự phản tỉnh quán sát, thì nên biết
Tỳ-kheo này ngang ngạnh lâu dài, tranh cãi, kiện tụng càng
tăng, chống đối nhau, nuôi hận càng ngày càng sâu. Đối
với những tội lỗi đã khởi lên, không thể dùng Chánh pháp
luật ngăn chặn cho dừng lại được.
“Nếu
Tỳ-kheo đã khởi lên việc tranh tụng, nhưng Tỳ-kheo phạm
tội, hay Tỳ-kheo cử tội, bằng vào tư duy đúng mà tự phản
tỉnh quán sát, chịu khiển trách, thì nên biết Tỳ-kheo này
không ngang ngạnh lâu dài, không chống đối nhau và hận thù
không còn tăng trưởng; đối với tội đã khởi có thể dùng
Chánh pháp luật để ngăn chặn cho dừng lại.
“Thế
nào là Tỳ-kheo bằng tư duy đúng mà tự phản tỉnh quán sát?
Tỳ-kheo nên tư duy như vầy: ‘Ta thật sự không phải, không
tốt, không nên tạo tội, để cho người khác bắt gặp mình.
Nếu ta không tạo tội này thì người kia sẽ không bắt gặp.
Vì người kia bắt gặp ta phạm tội, khiến họ không vui vẻ
và hiềm trách nên cử tội. Còn những Tỳ-kheo khác nếu nghe
cũng sẽ hiềm trách. Cho nên việc tranh tụng xảy ra lâu dài,
tính nganh ngạnh càng tăng và tranh cãi với nhau. Đối với
những tội đã khởi, không thể dùng Chánh pháp luật ngăn
chặn cho dừng lại được. Nay ta tự biết như mình đã nộp
thuế[86].’ Đó gọi là Tỳ-kheo đối với những tội đã
khởi có thể tự quán sát.
“Thế
nào là Tỳ-kheo cử tội có thể tự phản tỉnh quán sát?
Tỳ-kheo cử tội nên nghĩ như vầy: ‘Trưởng lão Tỳ-kheo
này phạm tội không tốt khiến ta bắt gặp. Nếu vị ấy
không phạm tội không tốt đó thì ta đâu có bắt gặp. Vì
ta đã bắt gặp tội của người này khiến không vui nên phải
nói ra. Còn những Tỳ-kheo khác nếu bắt gặp thì cũng sẽ
không vui và cũng sẽ nêu tội. Sự tranh tụng cứ như vậy
kéo dài tăng trưởng không dừng, không thể dùng Chánh pháp
luật để ngăn chặn những tội đã làm, khiến cho dừng lại.
Từ ngày hôm nay ta tự mình từ bỏ nó, như mình nộp thuế.’
Như vậy Tỳ-kheo cử tội nên khéo y cứ vào tư duy đúng,
để nội tĩnh quán sát.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, người có tội và người cử tội phải
y cứ vào tư duy đúng, tự quán sát đừng để cho sự ngang
ngạnh tăng trưởng thêm lên. Này các Tỳ-kheo, không nên tranh
tụng nữa, nếu việc tranh tụng có khởi lên thì có thể
dùng Chánh pháp luật ngăn chặn khiến nó dừng lại.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe rồi,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
497. CỬ TỘI[87]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui
qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu Tỳ-kheo cử tội muốn cử tội người khác,
khiến cho tâm an trụ, thì cần có bao nhiêu pháp để được
cử tội người khác?”
Phật
dạy Xá-lợi-phất:
“Nếu
Tỳ-kheo nào khiến tâm an trụ, có đủ năm pháp được cử
tội người khác. Năm pháp đó là: Thật, chứ không phải
không thật. Đúng thời, chứ không phải phi thời. Ích lợi,
chứ chẳng phải không ích lợi. Nhu nhuyến, chứ không thô
bạo. Từ tâm, chứ không sân hận. Này Xá-lợi-phất, Tỳ-kheo
nào muốn cử tội thì phải đủ năm pháp này mới được
cử tội người khác.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo bị cử tội, phải dùng bao nhiêu pháp để
tự an được tâm mình?”
Phật
dạy Xá-lợi-phất:
“Tỳ-kheo
bị cử tội phải nhờ vào năm pháp khiến cho tâm mình được
an. Phải nghĩ rằng, ‘Người này do đâu mà biết được?
Hãy là sự thật chứ đừng là không thật. Mong cho đúng thời,
chứ đừng khiến phi thời. Mong cho vì ích lợi chứ đừng
khiến không vì ích lợi. Mong nhu nhuyến, đừng khiến thô
bạo. Mong là từ tâm, đừng khiến sân hận. Này Xá-lợi-phất,
người bị cử tội phải đủ năm pháp này thì mới tự an
được tâm mình.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con thấy có sự cử tội người khác mà không thật,
chứ chẳng phải thật; phi thời, chứ chẳng phải đúng thời;
không vì ích lợi, chứ chẳng phải vì ích lợi; thô bạo,
chứ không nhu nhuyến; sân nhuế, chứ không có từ tâm. Bạch
Thế Tôn, đối với Tỳ-kheo cử tội người khác mà không
đúng sự thật đó, phải dùng bao nhiêu pháp vì lợi ích khiến
cho hối cải?”
Phật
dạy Xá-lợi-phất:
“Tỳ-kheo
cử tội mà không đúng sự thật, phải dùng năm pháp vì lợi
ích khiến cho hối cải. Nên nói với người ấy rằng, ‘Trưởng
lão, hôm nay Trưởng lão cử tội, không thật chứ chẳng phải
thật; Trưởng lão nên hối cải. Phi thời chứ chẳng phải
đúng thời; không vì ích lợi, chứ chẳng phải vì ích lợi;
thô bạo, chứ không nhu nhuyến; sân nhuế, chứ không có từ
tâm; Trưởng lão nên hối cải.’ Này Xá-lợi-phất, đối
với Tỳ-kheo cử tội người khác mà không đúng sự thật,
thì phải dùng năm pháp vì lợi ích này, khiến cho hối cải,
cũng khiến cho Tỳ-kheo trong vị lai không vì người khác mà
cử tội không đúng sự thật.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo bị cử tội không đúng sự thật, phải
dùng bao nhiêu pháp để khiến cho không bị hối hận[88]?”
Phật
dạy Xá-lợi-phất:
“Tỳ-kheo
bị cử tội không đúng, thì phải nhờ vào năm pháp để
không tự mình phải hối hận. Người này phải nghĩ như vầy,
‘Tỳ-kheo kia cử tội không thật, chứ chẳng phải thật;
phi thời chứ chẳng phải thời; không vì lợi ích chứ chẳng
phải vì lợi ích, thô bạo chứ chẳng phải nhu nhuyến, sân
hận chứ không phải từ tâm. Ta thật sự không phải hối
hận.’ Tỳ-kheo bị cử tội không thật đó phải nhờ vào
năm pháp này để tự an tâm mình, không tự mình phải hối
hận.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có Tỳ-kheo cử tội đúng sự thật, chứ không phải
không thật; đúng thời chứ không phải không đúng thời;
vì ích lợi chứ không phải không vì ích lợi; nhu nhuyến
chứ không phải thô bạo; từ tâm chứ không phải sân hận;
Tỳ-kheo cử tội đúng đó nên bằng bao nhiêu pháp vì lợi
ích để không bị hối hận?”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Tỳ-kheo
cử tội đúng sự thật, nên bằng năm pháp vì lợi ích để
khiến cho không bị hối hận. Nên nói như vầy, ‘Trưởng
lão, ngài đã cử tội đúng sự thật chứ không phải không
thật; đúng thời chứ không phải phi thời; vì ích lợi chứ
không phải không vì ích lợi; nhu nhuyến chứ không phải thô
bạo; từ tâm chứ không phải sân hận.’ Này Xá-lợi-phất,
Tỳ-kheo nào cử tội đúng thì phải bằng năm pháp lợi ích
này để khiến Tỳ-kheo đó không bị hối hận và cũng để
cho Tỳ-kheo vị lai cử tội người khác đúng mà không bị
hối hận.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo bị cử tội đúng, thì phải bằng bao nhiêu
pháp vì lợi ích để không bị hối hận?”
Phật
dạy Xá-lợi-phất:
“Tỳ-kheo
bị cử tội đúng, thì phải bằng năm pháp lợi ích này để
không bị hối hận. Nên nói như vầy, ‘Tỳ-kheo này cử tội
đúng chứ không phải không đúng, ông chớ hối hận; đúng
thời chứ không phải phi thời; nghĩa lợi chứ không phải
không nghĩa lợi; nhu nhuyến chứ không phải thô bạo; có từ
tâm chứ không phải sân hận, ông chớ hối hận.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con thấy Tỳ-kheo bị cử tội đúng mà lại sân
hận. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo bị cử tội đúng mà sân hận,
thì phải dùng bao nhiêu pháp để tự giải tỏa đối với
sân hận?”
Phật
dạy Xá-lợi-phất:
“Tỳ-kheo
bị cử tội đúng mà khởi lên sân hận, thì phải dùng năm
pháp để tự giải tỏa. Nên nói với người ấy rằng, ‘Trưởng
lão, Tỳ-kheo cử tội ông là đúng sự thật chứ không phải
không thật, ông chớ sân hận… cho đến từ tâm chứ không
phải sân hận.’ Này Xá-lợi-phất, Tỳ-kheo bị cử tội
đúng mà khởi lên sân hận, thì nên dùng năm pháp này để
đối với sân hận được giải tỏa.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có người cử tội đúng, có người không đúng;
đối với hai người này con tự an tâm. Nếu kia đúng sự
thật thì con phải tự biết. Nếu kia không đúng thì con phải
tự hóa giải rằng, ‘Điều đó không đúng, nay ta tự biết
là không có lỗi này.’ Bạch Thế Tôn, con phải như vậy,
như những gì Thế Tôn đã dạy trong kinh Thí dụ xẻ gỗ[89],
dạy các Sa-môn: ‘Nếu có giặc đến bắt ông, rồi dùng
cưa, cưa xẻ thân ông. Các ông đối với giặc mà khởi lên
niệm ác, nói lời ác, thì tự sanh ra chướng ngại. Cho nên,
Tỳ-kheo, nếu bị giặc dùng cưa, cưa xẻ thân các ông, các
ông đối với giặc chớ khởi lòng ác và nói lời ác, chỉ
tự làm chướng ngại mình mà thôi. Đối với những người
đó nên sanh lòng từ bi, không oán hận; chứng nhập, thành
tựu và trú với từ tâm cùng khắp bốn phương cảnh giới.’
Cho nên, bạch Thế Tôn, con phải như