TẠP
A-HÀM QUYỂN 32
KINH
905. NGOẠI ĐẠO[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Khi ấy, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp và Tôn giả Xá-lợi-phất
ở trong núi Kỳ-xà-quật. Bấy giờ có nhiều chúng xuất gia
ngoại đạo đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất. Sau khi cùng
Tôn giả thăm hỏi nhau, rồi ngồi lui qua một bên, nói với
Tôn giả Xá-lợi-phất rằng[2]:
“Thế
nào, Xá-lợi-phất, Như Lai có sanh tử đời sau không[3]?”
Xá-lợi-phất
nói:
“Này
các ngoại đạo, Thế Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký
thuyết[4].’”
Lại
hỏi:
“Thế
nào, Xá-lợi-phất! Như Lai không có sanh tử đời sau phải
chăng?”
Xá-lợi-phất
đáp rằng:
“Này
các ngoại đạo, Thế Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký
thuyết.’”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Như
Lai vừa có sanh tử đời sau, vừa không có sanh tử đời sau
chăng?”
Xá-lợi-phất
đáp rằng:
“Thế
Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký thuyết.’”
Lại
hỏi Xá-lợi-phất:
“Như
Lai vừa chẳng phải có sanh tử đời sau, vừa chẳng phải
không có sanh tử đời sau chăng?”
Xá-lợi-phất
đáp rằng:
“Này
các ngoại đạo, Thế Tôn nói rằng: ‘Điều này không ký
thuyết’”
Các
xuất gia ngoại đạo lại hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Thế
nào, những điều chúng tôi hỏi, Như Lai có sanh tử đời
sau; không có sanh tử đời sau; vừa có đời sau, vừa không
có đời sau; vừa chẳng phải có đời sau, vừa chẳng phải
không có đời sau. Tất cả đều đáp, Thế Tôn nói rằng:
‘Điều này không ký thuyết.’ Tại sao là một Thượng tọa
mà như ngu, như si, không khéo, không biết, như trẻ thơ không
có trí tự tánh[5]? Sau khi nói xong những lời này, từ chỗ
ngồi đứng dậy ra đi.”
Lúc
ấy, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp và Tôn giả Xá-lợi-phất ở cách
nhau không xa, cả hai ban ngày ngồi thiền tư dưới bóng cây.
Sau khi Tôn giả Xá-lợi-phất biết các xuất gia ngoại đạo
đã đi rồi, đến chỗ Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, cùng nhau thăm
hỏi khích lệ, rồi ngồi qua một bên, đem những việc bàn
luận vừa rồi cùng các xuất gia ngoại đạo thưa lại đầy
đủ cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp:
“Thưa
Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, vì nhân gì, duyên gì mà Thế Tôn không
ký thuyết đời sau có sanh tử; đời sau không có sanh tử;
đời sau vừa có đời sau vừa không; chẳng phải có chẳng
phải không sanh tử?”
Tôn
giả Ma-ha Ca-diếp bảo Xá-lợi-phất rằng:
“Nếu
nói Như Lai đời sau có sanh tử, thì đó là sắc. Nếu nói
Như Lai đời sau không có sanh tử, thì đó là sắc. Nếu nói
Như Lai đời sau vừa có sanh tử, đời sau vừa không có sanh
tử, thì đó là sắc. Nếu nói Như Lai đời sau chẳng phải
có, đời sau chẳng phải không sanh tử, thì đó là sắc. Vì
Như Lai, sắc đã dứt hết, tâm khéo giải thoát, nên bảo
có sanh tử đời sau, thì đây là điều không đúng; hoặc
đời sau không sanh tử; hoặc đời sau vừa có, đời sau vừa
không; hay đời sau chẳng phải có, đời sau chẳng phải không
sanh tử, thì điều này cũng không đúng. Vì Như Lai, đã dứt
hết sắc, tâm khéo giải thoát sâu xa, rộng lớn vô lượng,
vô số, Niết-bàn vắng lặng[6].
“Tôn
giả Xá-lợi-phất, nếu nói Như Lai có sanh tử đời sau, thì
đó là thọ, là tưởng, là hành, là thức, là động, là tư
lự, là hư dối, là hữu vi, là ái,… cho đến, chẳng phải
có chẳng phải không có sanh tử[7] đời sau cũng nói như vậy.
Vì Như Lai, đã diệt tận ái, tâm khéo giải thoát, nên nói
có sanh tử đời sau là không đúng; hoặc không đời sau; hoặc
đời sau vừa có, đời sau vừa không; hay chẳng phải có,
chẳng phải không đời sau, thì cũng không đúng. Vì Như Lai,
đã diệt tận ái, nên tâm khéo giải thoát sâu xa, rộng lớn
vô lượng, vô số, Niết-bàn vắng lặng.
“Tôn
giả Xá-lợi-phất, vì nhân như vậy, duyên như vậy, cho nên
có người hỏi Thế Tôn: ‘Như Lai hoặc có hoặc không, hoặc
vừa có vừa không, chẳng phải có chẳng phải không sanh tử
đời sau.’ Ngài đã không thể ký thuyết.”
Sau
khi hai vị Chánh sĩ cùng bàn luận với nhau xong, cả hai trở
về chỗ của mình.
*
KINH
906. PHÁP TƯỚNG HOẠI[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Ma-ha Ca-diếp đang ở tại
giảng đường Lộc tử mẫu, vườn phía Đông, nước Xá-vệ.
Vào buổi xế chiều, sau khi từ thiền tịnh tỉnh giấc, Tôn
giả đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân, rồi ngồi
lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, vì nhân gì, duyên gì, trước đây Thế Tôn ít chế
cấm giới cho các Thanh văn, mà lúc ấy nhiều Tỳ-kheo tâm
lại ưa thích học tập; còn ngày nay thì chế nhiều cấm giới,
mà các Tỳ-kheo lại ít thích học tập?”
Phật
bảo:
“Đúng
vậy, Ca-diếp, vì mạng trược, phiền não trược, kiếp trược,
chúng sanh trược, kiến trược[9] và pháp thiện của chúng
sanh bị sút giảm, nên Đại Sư vì các Thanh văn chế ra nhiều
cấm giới, nhưng họ lại ít thích học tập!
“Này
Ca-diếp, thí như lúc kiếp sắp muốn hoại, tuy vật báu thật
chưa diệt mất, nhưng vật báu ngụy tạo tương tợ lại xuất
hiện ở thế gian. Khi vật báu ngụy tạo đã xuất hiện,
vật báu thật sẽ mất[10]. Cũng vậy Ca-diếp, Chánh pháp[11]
Như Lai lúc sắp muốn diệt, lại có tượng pháp tương tợ[12]
sanh ra; khi tượng pháp tương tợ đã xuất hiện ở thế gian
rồi, thì Chánh pháp sẽ bị diệt.
“Thí
như trong biển cả, nếu thuyền chở nhiều trân bảo, chắc
sẽ nhanh chóng bị đắm chìm. Chánh pháp Như Lai không như
vậy, mà sẽ bị tiêu diệt từ từ. Chánh pháp của Như Lai
không bị đất làm hoại, không bị nước, lửa, gió làm hoại
đi. Cho đến lúc chúng sanh ác xuất hiện ở thế gian, thích
làm các điều ác, muốn làm các điều ác, thành tựu các
điều ác; phi pháp nói là pháp, pháp nói là phi pháp; phi luật
nói là luật; bằng pháp tương tợ mà cú vị thịnh hành.
Bấy giờ Chánh pháp Như Lai mới chìm mất.
“Này
Ca-diếp, có năm nhân duyên có khả năng làm cho Chánh pháp
Như Lai chìm mất. Những gì là năm? Đó là nếu Tỳ-kheo đối
với Đại Sư mà không kính, không trọng, không thành ý cúng
dường; khi đối với Đại Sư đã không kính, không trọng,
không thành ý cúng dường, sau đó vẫn nương tựa để sống.
Đối với pháp, hoặc học giới, hoặc giáo giới tùy thuận,
hay các phạm hạnh được Đại Sư khen ngợi cũng không kính,
không trọng, không thành ý cúng dường mà vẫn sống y chỉ[13].
Này Ca-diếp, đó gọi là năm nhân duyên làm cho Chánh pháp
Như Lai nhân đây chìm mất.
“Này
Ca-diếp, có năm nhân duyên khiến cho pháp luật của Như Lai
không chìm, không mất, không suy giảm. Những gì là năm? Đó
là nếu Tỳ-kheo đối với Đại Sư mà cung kính, tôn trọng,
thành ý cúng dường, sống y chỉ; đối với pháp, hoặc học
giới, hoặc giáo giới tùy thuận, hay phạm hạnh được Đại
Sư khen ngợi cũng cung kính, tôn trọng, thành ý cúng dường,
sống y chỉ. Này Ca-diếp, đó gọi là năm nhân duyên làm cho
pháp luật Như Lai không chìm, không mất, không sút giảm. Cho
nên này Ca-diếp, nên học như vầy: ‘Đối với Đại Sư
nên tu cung kính, tôn trọng, thành ý cúng dường, sống y chỉ;
đối với pháp, hoặc học giới, hoặc giáo giới tùy thuận,
hay các phạm hạnh mà được Đại Sư khen ngợi, cũng phải
cung kính, tôn trọng, thành ý cúng dường, sống y chỉ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, hoan hỷ tùy
hỷ làm lễ mà lui.
*
KINH
907. GIÁ-LA-CHÂU-LA[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ có thôn trưởng Giá-la-châu-la-na-la [15] đi đến
chỗ Phật. Sau khi chào hỏi úy lạo xong, ngồi lui qua một
bên bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, tôi nghe các vị kỳ cựu trong hàng ca vũ kịch [16]
ngày xưa nói như vầy ‘Nếu các con hát ở trước mọi người',
'ca múa', diễn hài', 'trình diễn các thứ ca kỹ', 'làm cho
mọi người vui cười hoan lạc'" [17] Còn ở trong pháp Cù-đàm
này thì nói như thế nào?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Thôi,
chớ nên hỏi nghĩa này!”
Ba
lần như vậy, nhưng ông vẫn hỏi thỉnh không thôi.
Phật
bảo thôn trưởng;
“Nay
Ta hỏi ông, cứ tùy theo ý ông mà đáp. Xưa kia ở nơi thôn
này chúng sanh không lìa tham dục, bị trói buộc bởi sự ràng
buộc của tham dục; không lìa sân nhuế, bị trói buộc bởi
sự ràng buộc của sân nhuế; không lìa ngu si, bị trói buộc
bởi sự ràng buộc của ngu si. Những con hát kia ở trước
mọi người trình diễn ca múa, kỹ nhạc và diễn hài làm
cho mọi vui cười hoan lạc. Vậy này thôn trưởng, ngay những
người vui cười hoan lạc kia, há không phải đang làm tăng
trưởng sự trói buộc của tham dục, sân nhuế và si mê đó
sao?”
Thôn
trưởng bạch Phật rằng:
“Đúng
vậy, thưa Cù-đàm!”
“Này
thôn trưởng, thí như có người dùng giây trói ngược, rồi
có người trong một thời gian dài với ác tâm muốn làm cho
người này chẳng đạt được nghĩa lợi ích, không được
an ổn, không được an lạc, nên thường dùng nước nhỏ lên
trên sợi dây trói. Người há không bị trói càng lúc càng
xiết chặt hơn sao?”
Thôn
trưởng nói:
“Đúng
vậy, thưa Cù-đàm!”
Phật
bảo:
“Này
thôn trưởng, xưa kia chúng sanh cũng lại như vậy. Không xa
lìa sự trói buộc của tham dục, sân nhuế và si; duyên vào
những cuộc giải trí vui cười, hoan lạc, làm tăng thêm sự
trói buộïc ấy.”
Thôn
trưởng nói:
“Thật
vậy, thưa Cù-đàm, những con hát này đã làm cho mọi người
vui cười hoan lạc, nhưng càng làm tăng thêm sự trói buộc
cho tham dục, sân nhuế và si mê mà thôi. Vì nhân duyên này
mà khi thân hoại mạng chung được sanh về đường thiện,
điều này không thể có được.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Nếu
bảo các con hát xưa kia có thể làm cho mọi người vui cười,
hoan lạc, vì nhờ nghiệp duyên này mà sanh về cõi trời Hoan
hỷ, thì đây là tà kiến. Nếu người nào là tà kiến, có
thể sanh về hai đường: hoặc là đường địa ngục, hoặc
là đường súc sanh.”
Lúc
nghe nói những lời này, thì thôn trưởng Giá-la-châu-la-na-la
buồn thương rơi lệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo thôn trưởng:
“Cho
nên, trước đây ba lần hỏi, Ta không đáp và bảo thôn trưởng
thôi, chớ hỏi nghĩa này.”
Thôn
trưởng bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, tôi không vì những lời nói của Cù-đàm mà thương
khóc rơi lệ. Tôi tự mình nghĩ, tại sao từ trước đến
giờ mình lại để cho những sở kiến ngu si, không minh bạch,
không lương thiện của bọn nghệ sĩ kia lừa dối rằng: ‘Nếu
các con hát ở trước mọi người, ca múa,… cho đến được
sanh về cõi trời Hoan hỷ.’ Bây giờ, tôi lại nghĩ, làm
sao các nghệ sĩ ca múa, diễn kịch có thể sanh về cõi trời
Hoan hỷ được?
“Thưa
Cù-đàm, từ nay tôi xin từ bỏ cái nghề nghệ sĩ ác bất
thiện kia, xin nương về Phật, nương về Pháp, nương về
Tăng Tỳ-kheo.”
Phật
dạy:
“Lành
thay, thôn trưởng! Đây là điều chân thật.”
Sau
khi thôn trưởng Giá-la-châu-la-na-la nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ tùy hỷ, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi vui vẻ
ra về.
*
KINH
908. CHIẾN ĐẤU HOẠT[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ có vị thôn trưởng sống về nghề chiến đấu[19],
đi đến chỗ Phật cung kính thăm hỏi, sau khi thăm hỏi xong,
ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, tôi nghe các vị tôn túc kỳ cựu sống về nghề
chiến đấu ngày xưa nói như vầy: ‘Nếu sống về nghề
chiến đấu, mình mặc giáp dày, tay cầm binh khí sắc bén,
dẫn đầu tướng sĩ, có khả năng cùng phương tiện bẻ gãy
mọi âm mưu oán địch; nhờ vào nghiệp báo này, mà sanh về
cõi trời Tiễn hàng phục[20].’ Còn ở trong pháp của Cù-đàm,
nghĩa này như thế nào?”
Phật
bảo vị thôn trưởng sống về chiến đấu:
“Thôi,
chớ nên hỏi nghĩa này!”
Ba
lần hỏi lại như vậy, ba lần cũng lại bảo thôi, nhưng
vẫn cứ hỏi không thôi.
Phật
bảo thôn trưởng, bây giờ, Ta hỏi ông, cứ tùy theo ý ông
mà trả lời:
“Này
thôn trưởng, theo ý ông thì sao: Nếu sống về nghề chiến
đấu, mình mặc giáp dày, tay cầm binh khí sắc bén, dẫn đầu
tướng sĩ, có khả năng cùng phương tiện bẻ gãy mọi âm
mưu oán địch, thì người này trước đó há không khởi lên
tâm làm thương tổn, sát hại; muốn bắt trói, xiềng xích,
đâm chém, sát hại đối với kẻ khác sao?”
Thôn
trưởng bạch Phật:
“Đúng
vậy, bạch Thế Tôn!”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Sống
làm nghề chiến đấu phạm ba thứ ác tà: Hoặc về thân,
hoặc miệng, hoặc ý. Vì nhân duyên ba thứ ác tà này, mà
sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh về cõi trời
Tiễn hàng phục thuộc đường thiện, thì điều này không
thể xảy ra!”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Nếu
các vị tôn túc kỳ cựu sống về nghề chiến đấu ngày
xưa thấy như vầy, nói như vầy: ‘Nếu sống về nghề chiến
đấu, mình mặc giáp trụ, tay cầm binh khí sắc bén, xông
lên trước đối địch, có khả năng cùng phương tiện bẻ
gãy mọi âm mưu oán địch, nhờ vào nhân duyên này, mà sanh
về cõi trời Tiễn hàng phục.’ Thì đây là tà kiến, vì
người tà kiến chắc chắn sẽ sanh về hai đường: hoặc
là đường địa ngục, hoặc là đường súc sanh.”
Lúc
nghe nói những lời này, thì thôn trưởng này buồn thương
rơi lệ. Phật bảo thôn trưởng:
“Vì
nghĩa này, nên trước đây ba lần Ta bảo thôn trưởng thôi
đi, mà không vì ông nói.”
Thôn
trưởng bạch Phật:
“Tôi
không vì những lời nói của Cù-đàm mà thương khóc rơi lệ
mà mình tự nghĩ các vị tôn túc kỳ cựu sống về nghề
chiến đấu ngày xưa ngu si, không lương thiện, không minh bạch,
sống lâu dài trong sự lừa dối, nói rằng: ‘Nếu sống về
nghề chiến đấu, mình mặc giáp trụ, tay cầm binh khí sắc
bén, xông lên trước đối địch,… cho đến được sanh về
cõi trời Tiễn hàng phục.’ Cho nên thương khóc rơi lệ.
Bây giờ, tôi lại nghĩ rằng các vị sống về chiến đấu
và nhờ nhân duyên ác nghiệp, mà sau khi thân hoại mạng chung,
sẽ được sanh về cõi trời Tiễn hàng phục, thì điều đó
không thể xảy ra được?
“Thưa
Cù-đàm, từ nay tôi xin từ bỏ các nghiệp ác, xin nương về
Phật, nương về Pháp, nương về Tăng Tỳ-kheo.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Đây
là điều chân thật.”
Sau
khi thôn trưởng sống về chiến đấu nghe những gì Phật
dạy, hoan hỷ tùy hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy làm
lễ rồi lui.
*
KINH
909. ĐIỀU MÃ[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ có thôn trưởng luyện ngựa[22] đến chỗ Phật
cung kính thăm hỏi, rồi ngồi lui qua một bên.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo thôn trưởng luyện ngựa[23]:
“Người
luyện ngựa có bao nhiêu cách?”
Thôn
trưởng đáp rằng:
“Thưa
Cù-đàm, có ba cách. Những gì là ba? Một là mềm mỏng, hai
là cứng rắn, ba là vừa mềm mỏng vừa cứng rắn.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Nếu
dùng ba cách này mà vẫn không điều khiển được ngựa nữa,
thì phải làm sao?”
Thôn
trưởng nói:
“Thì
phải giết nó.”
Thôn
trưởng bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, bậc Điều ngự trượng phu phải dùng bao nhiêu pháp
để điều ngự vị ấy?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Ta
cũng dùng ba pháp để điều ngự trượng phu[24]. Những gì
là ba? Một là mềm mỏng, hai là cứng rắn, ba là vừa mềm
mỏng vừa cứng rắn.”
Thôn
trưởng bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, nếu dùng ba pháp mà không điều phục được điều
ngự trượng phu thì phải làm như thế nào?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Nếu
dùng ba pháp mà vẫn không điều phục được, thì phải giết
người đó. Vì sao? Vì không để cho pháp của Ta bị khuất
nhục.”
Trưởng
thôn luyện ngựa bạch Phật rằng:
“Trong
pháp của Cù-đàm, sát sanh là bất tịnh. Vậy trong pháp của
Cù-đàm không cho sát hại, nhưng hôm nay lại nói rằng: ‘Người
nào không điều phục được, thì cũng nên giết họ?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Như
những lời ông đã nói, trong pháp của Như Lai, sát sanh là
bất tịnh. Như Lai không thể sát hại. Này thôn trưởng, nhưng
khi Ta dùng ba pháp để điều phục trượng phu mà không điều
phục được thì sẽ không nói với, không dạy dỗ, không
giáo giới nữa. Này thôn trưởng, nếu Như Lai khi điều ngự
trượng phu mà không nói với, không giáo thọ, không giáo giới
cho nữa, đó há không phải là sát hại sao?”
Thôn
trưởng luyện ngựa bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, nếu khi điều ngự trượng phu, mà không nói với,
không giáo thọ, không giáo giới cho nữa, thì thật sự đã
sát hại rồi. Cho nên từ nay tôi xin từ bỏ nghiệp ác, xin
nương về Phật, nương về Pháp, nương về Tăng Tỳ-kheo.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Đây
là điều chân thật.”
Sau
khi, Phật nói kinh này xong, thôn trưởng luyện ngựa nghe những
gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy làm lễ mà lui.
*
KINH
910. HUNG ÁC[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ có một thôn trưởng hung ác đi đến chỗ Phật
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch
Phật rằng:
“Vì
không tu pháp gì, nên sanh sân nhuế đối với người khác;
do đã sanh sân nhuế, nên miệng nói lời ác, người ta vì
vậy mà đặt tên là Ác tánh[26]?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Vì
không tu chánh kiến nên sanh ra sân nhuế đối với người
khác; do đã sanh ra sân nhuế nên miệng nói ra lời ác, người
ta vì vậy mà đặt tên là Ác Tánh. Vì không tu chánh chí,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh
niệm, chánh định, nên sanh ra sân nhuế đối với người
khác; do đã sanh ra sân nhuế, nên miệng nói ra lời ác, người
ta vì vậy đặt tên là Ác Tánh.”
Lại
hỏi Thế Tôn:
“Phải
tu tập pháp gì để không sân nhuế đối với người khác;
do không sân nhuế, nên miệng nói ra lời thiện, người ta
vì vậy đặt tên là Hiền Thiện[27]?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Vì
tu chánh kiến, nên không sân nhuế đối với người khác;
do không sân nhuế, nên miệng nói ra lời thiện, người ta
vì vậy đặt tên là Hiền Thiện. Vì tu tập chánh chí, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định, nên không sân đối với người khác; do không
sân nhuế nên miệng nói ra lời thiện, người ta vì vậy đặt
tên là Hiền Thiện.”
Thôn
trưởng hung ác bạch Phật:
“Lạ
thay Thế Tôn, Ngài khéo nói những lời này. Vì tôi không tu
Chánh kiến, nên sanh ra sân nhuế đối với người khác; do
đã sanh ra sân nhuế, nên miệng nói ra lời ác, người ta vì
tôi mà đặt tên là Ác Tánh. Vì tôi không tu chánh chí, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định, nên sanh ra sân nhuế đối với người khác; do
đã sanh ra sân nhuế, nên miệng nói ra lời ác, người ta vì
tôi mà đặt tên là Ác Tánh. Cho nên từ nay tôi sẽ từ bỏ
sân nhuế thô bạo.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Đây
là điều chân thật.”
Sau
khi, Phật nói kinh này xong, thôn trưởng hung ác, hoan hỷ tùy
hỷ, làm lễ mà lui.
*
KINH
911. MA-NI CHÂU KẾ[28]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ có thôn trưởng Ma-ni Châu Kế[29], đi đến chỗ
Phật đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, trước đây quốc vương có tập hợp các đại thần,
cùng nhau bàn luận rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo Sa-môn Thích
tử tự nhận và cất chứa vàng bạc của báu, là tịnh hay
bất tịnh?’ Trong các đại thần có người nói: ‘Sa-môn
Thích tử được phép tự nhận và cất chứa vàng bạc của
báu.’ Lại có vị nói: ‘Không được phép tự nhận và
cất chứa vàng bạc của báu.’
“Bạch
Thế Tôn, vị nói Sa-môn Thích tử được phép tự nhận và
cất chứa vàng bạc của báu, là do nghe từ Phật hay là tự
ý họ nói ra? Họ nói ra những lời này là tùy thuận pháp
hay là không tùy thuận, là lời nói chân thật hay là lời
nói hư vọng? Những lời nói như vậy không bị rơi vào chỗ
đáng bị chỉ trích chăng?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Đó
là những lời nói chẳng phải chân thật, chẳng phải pháp,
chẳng phải tùy thuận, đáng bị chỉ trích. Vì sao? Vì Sa-môn
Thích tử mà tự nhận và cất chứa vàng bạc của báu, là
không thanh tịnh. Cho nên, nếu người nào tự nhận và cất
chứa vàng bạc của báu cho mình, thì chẳng phải là pháp
Sa-môn, chẳng phải là pháp của dòng Thích tử.”
Thôn
trưởng bạch Phật rằng:
“Kỳ
thay, Thế Tôn! Sa-môn Thích tử nhận và chứa vàng bạc của
báu, là chẳng phải pháp Sa-môn, chẳng phải pháp của dòng
Thích tử. Đây là lời nói chân thật.
“Bạch
Thế Tôn, vị nói lời này làm tăng trưởng thắng diệu, tôi
cũng nói như vầy: ‘Sa-môn Thích tử không được tự nhận
và cất chứa vàng bạc của báu.’
Phật
bảo thôn trưởng:
“Nếu
Sa-môn Thích tử mà nhận và cất chứa vàng bạc, trân báu
cho là thanh tịnh, thì năm dục công đức ắt phải thanh thịnh!”
Thôn
trưởng Ma-ni Châu Kế, sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan
hỷ làm lễ mà lui.
Đức
Thế Tôn, sau khi biết thôn trưởng Ma-ni Châu Kế đi rồi,
bảo Tôn giả A-nan:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào hiện đang nương vào vườn Trúc, khu Ca-lan-đà
mà ở, thì hãy triệu tập hợp tất cả tại nhà ăn.”
Tôn
giả A-nan vâng lời Phật dạy đi khắp vườn Trúc, khu Ca-lan-đà
thông báo cho các Tỳ-kheo hiện còn đang ở đây, tập trung
đến nhà ăn. Khi các Tỳ-kheo đã tập trung rồi, Tôn giả
đến bạch Thế Tôn:
“Các
Tỳ-kheo đã tập trung tại nhà ăn rồi. Xin Thế Tôn biết
thời.”
Bấy
giờ, Thế Tôn đi đến nhà ăn ngồi trước đại chúng và
bảo các Tỳ-kheo:
“Hôm
nay có thôn trưởng Ma-ni Châu Kế đi đến chỗ Ta, nói như
vầy: ‘Trước đây quốc vương có tập hợp các đại thần,
cùng nhau bàn luận rằng: Sa-môn Thích tử tự nhận và cất
chứa vàng bạc của báu, có phải là thanh tịnh không? Trong
đó có vị nói là thanh tịnh, có vị nói là không thanh tịnh.
Vậy nay xin hỏi Thế Tôn, vị nói thanh tịnh là được nghe
từ Phật nói hay tự mình nói dối.’ Như đã nói đầy đủ
ở trên. Thôn trưởng Ma-ni Châu Kế, sau khi nghe những lời
Phật dạy, hoan hỷ làm lễ mà lui.
“Này
các Tỳ-kheo, trong khi quốc vương, đại thần cùng nhau hội
họp bàn luận, thì thôn trưởng Ma-ni Châu Kế này nói như
sư tử rống ở trước mọi người là: ‘Sa-môn Thích tử
không được phép tự nhận và cất chứa vàng bạc, của báu.’
“Này
các Tỳ-kheo, từ hôm nay các ông cần cây thì xin cây, cần
cỏ thì xin cỏ, cần xe thì xin xe, cần người giúp việc thì
xin người giúp việc. Cẩn thận chớ nên vì mình mà nhận
lấy vàng bạc và các thứ vật báu.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
912. VƯƠNG ĐẢNH[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở bên ao Yết-già tại nước Chiêm-bà. Bấy giờ
có thôn trưởng Vương Đảnh[31] đi đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên. Bấy giờ,
Thế Tôn bảo thôn trưởng Vương Đảnh:
“Hiện
nay chúng sanh chạy theo hai khuynh hướng. Những gì là hai? Một
là thích đắm vào năm dục, thuộc dạng phàm phu, tục tử
quê mùa thấp kém. Hai là tự làm khổ mình một cách sai lầm
không có bất cứ ý nghĩa lợi ích nào!
“Này
thôn trưởng, có ba hạng người thích hưởng thụ dục lạc,
thuộc hàng phàm phu, tục tử, quê mùa thấp kém. Cũng có ba
hạng người tự làm khổ mình một cách sai lầm không có
bất cứ ý nghĩa lợi ích nào!
“Này
thôn trưởng, những gì là ba hạng người thích hưởng thụ
dục lạc, thuộc hàng phàm phu tục tử quê mùa thấp kém?
Là có kẻ hưởng thụ dục lạc bằng cách lạm chiếm một
cách bất hợp pháp, không mang lại an vui cho chính mình, cũng
chẳng phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp đầy đủ cho anh em,
vợ con, kẻ ở, bà con quyến thuộc, bạn bè quen biết; cũng
không tùy thời cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, để cầu
quả báo an lạc nơi tốt đẹp, mong đời sau sanh lên cõi trời.
Đó gọi là hạng người thứ nhất hưởng thụ dục lạc
ở thế gian.
“Lại
nữa, này thôn trưởng, có kẻ hưởng thụ dục lạc bằng
cách dùng pháp lạm chiếm tài vật một cách bất hợp pháp
để tự cung cấp mọi sự vui sướng cho chính mình, phụng
dưỡng cho cha mẹ, cung cấp đầy đủ cho anh em, vợ con, kẻ
làm, bà con quyến thuộc, bạn bè quen biết; nhưng không tùy
thời cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, để cầu quả báo
an lạc nơi tốt đẹp, mong đời sau sanh lên cõi trời. Đó
gọi là hạng người thứ hai hưởng thụ dục lạc.
“Lại
nữa, này thôn trưởng, có kẻ hưởng thụ dục lạc bằng
cách dùng pháp tìm cầu tài vật chứ không bằng lạm chiếm
để tự cung cấp mọi sự vui sướng cho chính mình, cung phụng
cho cha mẹ, cung cấp đầy đủ cho anh em, vợ con, kẻ ở, bà
con quyến thuộc, bạn bè quen biết, cũng tùy thời cúng dường
cho Sa-môn, Bà-la-môn, để cầu quả báo an lạc nơi tốt đẹp,
mong đời sau sanh lên cõi trời. Đó gọi là hạng người thứ
ba hưởng thụ dục lạc.
“Này
thôn trưởng, Ta không nhất thiết nói bình đẳng trong hưởng
thụ dục lạc, mà Ta nói người hưởng thụ dục lạc có
người thuộc hạng thấp kém, có người thuộc hạng trung
bình, có người thuộc hạng hơn người.
“Thế
nào là hạng thấp kém, hưởng thụ dục lạc? Là loại lạm
chiếm bất hợp pháp,… cho đến chẳng cầu quả báo an lạc
nơi tốt đẹp, mong đời sau sanh lên cõi trời, thì đó Ta
gọi là hạng thấp kém hưởng thụ dục lạc.
“Thế
nào là hạng trung bình, hưởng thụ dục lạc? Là loại người
hưởng thụ dục lạc bằng cách đúng pháp mà tìm cầu tài
vật một cách bất hợp pháp,… cho đến chẳng mong đời
sau sanh lên cõi trời, thì đó Ta gọi là hạng trung bình thứ
hai hưởng thụ dục lạc.
“Thế
nào là hạng người, Ta nói hơn người, hưởng thụ dục lạc?
Là loại người đúng pháp để tìm cầu tài vật,… cho đến
đời sau sanh lên cõi trời, thì đó Ta gọi là hạng hơn người
thứ ba hưởng thụ dục lạc.
“Thế
nào là ba hạng người tự làm khổ chính mình? Đó là khổ
chẳng phải pháp, bất chính, chẳng có bất cứ ý nghĩa lợi
ích nào. Có một hạng người tự làm khổ bằng cách sống
khắc khổ. Ban đầu mới phạm giới, ô nhiễm giới, họ tu
đủ cách khổ hạnh, nỗ lực tinh tấn trụ ở một chỗ,
nhưng hiện tại họ chẳng thể xa lìa được nhiệt não bức
bách, chẳng được pháp hơn người, chẳng trụ vào được
an lạc, tri kiến thắng diệu. Này thôn trưởng, đó gọi là
hạng người thứ nhất tự làm khổ mình bằng cách sống
khắc khổ.
“Lại
nữa, tự làm khổ bằng cách sống khắc khổ. Ban đầu chẳng
phạm giới, chẳng ô nhiễm giới, nhưng tu đủ cách khổ hạnh
cũng chẳng nhờ vậy mà hiện tại xa lìa được nhiệt não
bức bách, chẳng được pháp hơn người, chẳng trụ vào được
an lạc, tri kiến thắng diệu. Đó gọi là hạng người thứ
hai tự làm khổ mình bằng cách sống khắc khổ.
“Lại
nữa, tự làm khổ bằng cách sống khắc khổ. Ban đầu chẳng
phạm giới, chẳng ô nhiễm giới, nhưng tu đủ cách khổ hạnh
tinh tấn, mà hiện tại vẫn không thể[32] xa lìa được nhiệt
não bức bách, được pháp hơn người, trụ vào an lạc, tri
kiến thắng diệu. Đó gọi là hạng người thứ ba tự làm
khổ mình bằng cách sống khắc khổ.
“Này
thôn trưởng, Ta không nói tất cả những người tự mình
làm khổ bằng cách sống khắc khổ đều giống nhau, mà Ta
đã nói trong những kẻ tự làm khổ, có người thuộc hạng
thấp kém, có người thuộc hạng trung bình, có người thuộc
hạng hơn người.
“Thế
nào là tự làm khổ thuộc hạng thấp kém? Nếu họ tự làm
khổ ban đầu mới phạm giới, mới làm ô nhiễm giới,…
cho đến chẳng được tri kiến thắng diệu, trụ vào an lạc,
Ta gọi đó là tự làm khổ thuộc hạng thấp kém.
“Thế
nào là tự làm khổ thuộc hạng trung bình? Nếu họ tự làm
khổ, ban đầu chẳng phạm giới, chẳng ô nhiễm giới,…
cho đến chẳng được tri kiến thắng diệu, trụ vào an lạc,
Ta gọi đó là tự làm khổ thuộc hạng trung.
“Thế
nào là tự làm khổ thuộc hạng hơn người? Nếu họ tự
làm khổ, bằng cách sống khắc khổ, ban đầu chẳng phạm
giới, chẳng ô nhiễm giới,… cho đến chẳng được tri kiến
thắng diệu, trụ vào an lạc, Ta gọi đó là tự làm khổ
thuộc hạng hơn người.
“Này
thôn trưởng, đó gọi là ba hạng người tự làm khổ mình,
cái khổ này chẳng phải pháp, chẳng đúng, chẳng có bất
cứ ý nghĩa lợi ích nào.
“Này
thôn trưởng, có đạo lộ, có sự thực hành đưa đến[33]
ba hạng phương tiện tùy thuộc hưởng thụ dục lạc, của
hàng phàm phu tục tử, quê mùa thấp kém; đưa đến phương
tiện tự làm khổ chính mình, mà cái khổ này chẳng phải
pháp, chẳng đúng, chẳng có bất cứ ý nghĩa lợi ích nào.
“Thế
nào là đạo lộ, sự thực hành đưa đến phương tiện hưởng
thọ dục lạc, tự làm khổ chính mình?
“Này
thôn trưởng, vì bị dục tham làm chướng ngại, hoặc muốn
tự hại, hoặc muốn hại kẻ khác, hoặc muốn hại cả hai,
hiện tại và đời sau mắc tội báo này, tâm luôn lo khổ.
Vì bị sân nhuế, ngu si làm chướng ngại, hoặc muốn tự
hại, hoặc muốn hại kẻ khác, hoặc muốn hại cả hai, hiện
tại và đời sau mắc tội báo này, tâm luôn lo khổ. Nếu
xa lìa chướng ngại của dục tham, không muốn phương tiện
tự hại, hại người, hại cả hai, hiện tại, đời sau khỏi
mắc tội báo này, khiến tâm, tâm pháp luôn luôn thọ hỷ
lạc. Cũng vậy, nếu xa lìa chướng ngại của sân nhuế, ngu
si, không muốn phương tiện tự hại, hại người, hại cả
hai, hiện tại, đời sau khỏi mắc tội báo này, khiến tâm,
tâm pháp luôn luôn hưởng hỷ lạc. Đối trong hiện tại xa
lìa nhiệt não bức bách, không cần đợi thời tiết, gần
gũi Niết-bàn, mà ngay trong thân này thể duyên tự mình mà
giác tri.
“Này
thôn trưởng, như pháp hiện tại này vĩnh viễn xa lìa nhiệt
não bức bách, không cần đợi thời tiết, gần gũi Niết-bàn,
mà ngay trong thân này duyên tự mình giác tri, đó là tám Thánh
đạo: Chánh kiến,… cho đến chánh định.”
Trong
lúc Đức Thế Tôn đang nói pháp này, thôn trưởng Vương Đảnh
xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh. Sau khi thôn trưởng
Vương Đảnh thấy pháp, đắc pháp, biết pháp, thâm nhập
vào pháp, thoát nghi không nhờ người khác, ở trong Chánh pháp
luật mà được vô sở úy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
sửa lại y phục chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nay con đã được độ, xin nương về Phật, nương
về Pháp, nương về Tăng Tỳ-kheo. Từ nay đến hết đời
con xin làm Ưu-bà-tắc.”
Sau
khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, làm lễ mà lui.
*
KINH
913. KIỆT ĐÀM[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật du hành giữa những người Lực sĩ[35], đến ở
rừng Anh vũ Diêm-phù[36], trú xứ của Uất-bệ-la. Bấy giờ
có thôn chủ Kiệt[37]-đàm[38] nghe tin Sa-môn Cù-đàm du hành
giữa những người Lực sĩ, đến ở rừng Anh vũ Diêm-phù,
trú xứ của Uất-bệ-la. Ngài nói về sự tập khởi của
khổ và sự tiêu diệt của khổ hiện tại[39]. Ông nghĩ: ‘Ta
nên đến chỗ Sa-môn Cù-đàm kia. Nếu ta đến thì chắc Sa-môn
Cù-đàm sẽ vì ta mà nói về sự tập khởi của khổ và sự
tiêu diệt của khổ hiện tại.’ Sau đó ông liền đến thôn
Uất-bệ-la và đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, tôi nghe Thế Tôn thường vì người nói về sự
tập khởi của khổ và sự tiêu diệt của khổ hiện tại.
Lành thay! Thế Tôn vì tôi nói về sự tập khởi của khổ
và sự tiêu diệt của khổ hiện tại.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Nếu
Ta nói về sự tập khởi của khổ và sự tiêu diệt của
khổ quá khứ, Ta biết đối với điều đó ông có thể tin
hay không tin, muốn hay không muốn, nhớ hay không nhớ, thích
hay chẳng thích[40]. Nay ông có khổ không? Nếu Ta nói về khổ
vị lai, đối với điều đó Ta biết ông có thể tin hay không
tin, muốn hay không muốn, nhớ hay không nhớ, thích hay chẳng
thích. Nay ông có khổ không? Hôm nay Ta sẽ nói về sự tập
khởi của khổ và sự tiêu diệt của khổ hiện tại.
“Này
thôn trưởng, tất cả những khổ phát sanh mà chúng sanh có,
tất cả đều do dục làm gốc: dục phát sanh, dục tập khởi,
dục hiện khởi, dục làm nhân, dục làm duyên mà khổ phát
sanh.”
Thôn
trưởng bạch Phật:
“Thế
Tôn nói pháp quá sơ lược, không phân biệt rộng rãi, nên
tôi có chỗ không hiểu. Lành thay, Thế Tôn! Xin nói đầy đủ
hơn cho chúng tôi được hiểu.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Bây
giờ Ta hỏi ông, cứ theo ý ông mà đáp. Này thôn trưởng,
ý ông thế nào, nếu chúng sanh ở thôn Uất-bệ-la này hoặc
bị trói, hoặc bị đánh, hoặc bị khiển trách, hoặc bị
giết, tâm ông có khởi buồn thương khổ não không?”
Thôn
trưởng bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, cũng không nhất thiết là vậy! Nếu mọi người
sống ở thôn Uất-bệ-la này đối với tôi mà có dục, có
tham, có ái, có nghĩ, gần gũi nhau, mà gặp khi họ hoặc bị
trói, hoặc bị đánh, hoặc bị trách, hoặc bị giết, thì
tôi sẽ cảm thấy buồn thương khổ não. Còn nếu những người
kia đối với tôi mà không có dục, không có tham, không có
ái, không có nghĩ và gần gũi nhau; khi gặp họ bị trói, đánh,
trách, giết, thì làm sao tôi có thể sanh lòng buồn thương
khổ não được?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Cho
nên ông phải biết, mọi cái khổ của chúng sanh được phát
sanh, tất cả chúng đều do từ dục làm gốc: dục phát sanh,
dục tập khởi, dục hiện khởi, dục là nhân, dục là duyên
mà sanh ra các thứ khổ.
“Này
thôn trưởng, ýù ông thế nào? Nếu ông cùng cha mẹ nuôi[41]
mà không gặp[42] nhau, thì có sanh lòng tham dục thương nhớ
không?”
Thôn
trưởng nói:
“Bạch
Thế Tôn, không!”
“Này
thôn trưởng, ý ông thế nào? Nếu hoặc thấy, hoặc nghe cha
mẹ nuôi, ông có sanh lòng dục, thương nhớ không?”
Thôn
trưởng nói:
“Bạch
Thế Tôn, có vậy!”
Lại
hỏi:
“Này
thôn trưởng, ý ông thế nào? Nếu cha mẹ nuôi kia bị vô
thường biến khác, ông có sanh lòng buồn thương khổ não
không?”
Thôn
trưởng nói:
“Bạch
Thế Tôn, có vậy! Nếu cha mẹ nuôi bị vô thường biến khác,
thì tôi sẽ khổ đến gần chết được, đâu phải chỉ buồn
thương khổ não!”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Cho
nên ông phải biết, nếu các chúng sanh có được cái khổ
phát sanh, thì tất cả đều do ái dục làm gốc: dục phát
sanh, dục tập khởi, dục hiện khởi, dục là nhân, dục là
duyên mà sanh ra các thứ khổ.”
Thôn
trưởng nói:
“Lạ
thay! Thế Tôn đã khéo nói thí dụ về cha mẹ nuôi như vậy.
Tôi có cha mẹ nuôi, nhưng sống tại nơi khác[43]. Hằng ngày
tôi sai người thăm hỏi, vấn an sức khỏe thế nào. Khi họ
đi chưa về tôi đã lấy làm lo lắng khổ sở, huống chi là
lại bị vô thường mà không lo lắng khổ đau sao được!”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Cho
nên Ta nói mọi lo khổ của chúng sanh, tất cả đều do dục
làm gốc rễ: dục phát sanh, dục tập khởi, dục hiện khởi,
dục là nhân, dục là duyên mà sanh ra lo khổ.”
Phật
bảo thôn trưởng tiếp:
“Nếu
có bốn ái niệm, mà bị vô thường biến khác, thì sẽ phát
sanh ra bốn ưu khổ. Nếu có một hoặc hai, ba ái niệm bị
vô thường biến khác, sẽ phát sanh một hoặc hai, ba ưu khổ.
“Này
thôn trưởng, nếu tất cả đều không có ái niệm, sẽ không
có trần lao ưu khổ.”
Rồi
Thế Tôn nói kệ rằng:
Nếu
không có ái niệm thế gian,
Thì
không lo trần lao ưu khổ;
Tiêu
diệt hết tất cả ưu khổ,
Giống
như hoa sen không dính nước.
Trong
khi Phật nói pháp này, thôn trưởng Kiệt-đàm xa lìa trần
cấu, được pháp nhãn tịnh, thấy pháp, đắc pháp, thâm nhập
pháp, thoát khỏi mọi nghi hoặc, không nhờ vào người khác,
không do người khác độ, được vô sở úy ở trong Chánh
pháp luật; từ chỗ ngồi đứng dậy sửa lại y phục, chắp
tay bạch Phật:
“Con
đã được độ, đã siêu việt, bạch Thế Tôn, từ hôm nay
con xin nương về Phật, nương về Pháp, nương về Tăng Tỳ-kheo;
suốt đời con làm Ưu-bà-tắc. Xin Ngài nhớ nghĩ gia hộ con.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, thôn trưởng Kiệt-đàm nghe những
gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, làm lễ mà lui.
*
KINH
914. ĐAO SƯ THỊ (1)[44]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo,
một ngàn vị Ưu-bà-tắc và năm trăm người xin đồ ăn dư[45],
du hành trong nhân gian; đi khắp từ thành này sang thành nọ,
từ thôn này sang thôn khác, đến trong vườn Hảo y Yêm-la,
thôn Na-la[46], nước Ma-kiệt-đề. Bấy giờ có thôn trưởng
đệ tử của Ni-kiền tên là Đao Sư Thị[47] đến chỗ Ni-kiền
lễ sát chân Ni-kiền, rồi ngồi lui qua một bên. Lúc ấy Ni-kiền
nói với thôn trưởng Đao Sư Thị:
“Ông
có thể dùng ‘Tật-lê luận[48]’ bàn luận cùng với Sa-môn
Cù-đàm, để làm cho Sa-môn Cù-đàm nói cũng không được,
không muốn nói cũng không được, được chăng?”
Thôn
trưởng thưa:
“Thưa
thầy, thế nào là luận thuyết ‘Tật-lê luận’ có thể
làm cho Sa-môn Cù-đàm muốn nói cũng không được, mà không
muốn nói cũng không được?”
Ni-kiền
bảo thôn trưởng rằng:
“Ông
hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm hỏi như vầy: ‘Cù-đàm lúc
nào cũng mong ước khiến cho mọi người tăng trưởng đầy
đủ phước-lợi, Ngài thường có mong ước như vậy và nói
như vậy phải không?’ Nếu trả lời cho ông là không, thì
ông nên hỏi rằng: ‘Vậy, Sa-môn Cù-đàm có khác gì với
kẻ phàm ngu si?’ Nếu trả lời là ‘Có mong ước và có
nói,’ thì ông nên hỏi lại rằng: ‘Nếu Sa-môn Cù-đàm
đã có mong ước và có nói như thế, vậy tại sao người
dân hiện đang mất mùa đói kém, mà Ngài còn du hành trong
nhân gian dẫn theo một ngàn hai trăm năm mươi chúng Tỳ-kheo,
một ngàn vị Ưu-bà-tắc và năm trăm người ăn xin đi từ
thành này sang thành nọ, từ thôn này sang thôn khác, làm hao
tổn của cải người dân, giống như mưa lớn, mưa đá, chỉ
có làm tổn hại chứ chẳng thêm được lợi ích nào! Những
lời nói của Cù-đàm trước sau mâu thuẫn nhau, không giống
nhau, không gần giống nhau, không phù hợp nhau, khác nhau.’
Thôn trưởng, như vậy gọi là ‘Tật-lê luận’, sẽ làm
cho Sa-môn Cù-đàm muốn nói cũng không được, không muốn
nói cũng không được.”
Bấy
giờ, thôn trưởng Đao Sư Thị vâng lời dạy bảo của Ni-kiền
đi đến chỗ Phật cung kính chào hỏi; sau khi cung kính chào
hỏi xong ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, có phải lúc nào Ngài cũng mong ước khiến cho mọi
người tăng trưởng phước lợi không?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Lúc
nào Như Lai cũng mong ước khiến cho mọi người tăng trưởng
phước lợi và cũng thường nói như vậy.”
Thôn
trưởng nói:
“Nếu
như vậy, thì tại sao, thưa Cù-đàm, trong khi những người
dân đang bị mất mùa đói kém, mà Ngài còn đi khất thực
trong nhân gian và dẫn theo đông đảo đại chúng,… cho đến
trước sau mâu thuẫn nhau, không giống nhau?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Ta
nhớ chín mươi mốt kiếp từ trước đến nay, không thấy
một người nào mà bố thí cho Tỳ-kheo lại bị cạn kiệt,
hay bị tổn giảm cả. Này thôn trưởng, ông nhìn xem hiện
nay có người giàu sang, nhiều tiền của, quyến thuộc đông
đảo, tôi tớ đầy nhà, thì biết nhà ấy lâu dài ưa thích
bố thí, chân thật tích chứa[49], nên được phước lợi
này. Này thôn trưởng, có tám nguyên nhân khiến cho phước
lợi người tổn giảm không tăng. Những gì là tám? Đó là
bị vua bức hiếp, bị giặc cướp lấy, bị lửa đốt cháy,
bị nước cuốn trôi, bị tiêu hao vì giấu cất, bị kẻ nợ
không trả, bị kẻ oán thù tàn phá, bị hoang phí bởi con
hư. Đó là tám nguyên nhân khiến cho tiền của khó tích tụ.
Này thôn trưởng, Ta nói vô thường là nguyên nhân thứ chín.
Như vậy, này thôn trưởng, ông đã bỏ đi chín nhân, chín
duyên trên mà nói Sa-môn Cù-đàm phá hoại nhà người. Nếu
ông không bỏ những lời nói ác, không bỏ ác kiến, thì cũng
như gươm ném xuống nước, khi thân hoại mạng chung, ông sẽ
sanh vào trong địa ngục.”
Bấy
giờ, thôn trưởng Đao Sư Thị lòng đâm ra sợ hãi, toàn thân
lông dựng đứng lên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, hiện tại con đã hối lỗi rồi, vì con như ngu như
si, không tốt, không hiểu biết, nên đối với Cù-đàm con
đã nói ra những lời dối trá hư vọng không thành thật.”
Sau
khi nghe những gì Phật dạy, thôn trưởng Đao Sư Thị hoan
hỷ tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
915. ĐAO SƯ THỊ (2)[50]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Hảo y Yêm-la, tại thôn Na-la. Bấy
giờ có thôn trưởng Đao Sư Thị, trước đây là đệ tử
của Ni-kiền, đi đến chỗ Ni-kiền lễ sát chân Ni-kiền,
rồi ngồi lui qua một bên. Bấy giờ, Ni-kiền bảo thôn trưởng:
“Ông
có thể dùng ‘Tật-lê luận’ bàn luận cùng với Sa-môn
Cù-đàm, để làm cho Sa-môn Cù-đàm nói cũng không được,
không muốn nói cũng không được, được chăng?”
Thôn
trưởng thưa Ni-kiền:
“Thưa
thầy[51], thế nào là luận thuyết ‘Tật-lê luận’ có thể
làm cho Sa-môn Cù-đàm muốn nói cũng không được, mà không
muốn nói cũng không được?”
Ni-kiền
bảo thôn trưởng:
“Ông
hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm nói như vầy: ‘Cù-đàm không
thường muốn an ủi tất cả chúng sanh và khen ngợi an ủi
tất cả chúng sanh phải không?’ Nếu nói là không, thì ông
nên nói rằng: ‘Vậy, Cù-đàm có khác gì với kẻ phàm ngu
si?’ Nếu trả lời là thường muốn an ủi tất cả chúng
sanh và khen ngợi an ủi tất cả chúng sanh, thì ông nên hỏi
lại rằng: ‘Nếu muốn an ủi tất cả chúng sanh, vậy thì
vì sao chỉ vì một hạng người này nói pháp mà không vì
một hạng người kia mà nói pháp?’ Hỏi như vậy thì đó
gọi là ‘Tật-lê luận’ sẽ làm cho Sa-môn Cù-đàm muốn
nói cũng không được, không muốn nói cũng không được.”
Bấy
giờ, thôn trưởng Đao Sư Thị được sự khuyến khích của
Ni-kiền rồi, đi đến chỗ Phật cung kính chào hỏi; sau khi
cung kính chào hỏi xong ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, Ngài há không thường muốn an ủi tất cả chúng
sanh và khen ngợi nói lời an ủi tất cả chúng sanh?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Lúc
nào Như Lai cũng thương xót, an ủi tất cả chúng sanh và lúc
nào cũng khen ngợi nói lời an ủi tất cả chúng sanh.”
Thôn
trưởng bạch Phật rằng:
“Nếu
như vậy, thì tại sao Như Lai chỉ vì một hạng người này
nói pháp, mà không vì một hạng người kia nói pháp?”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Bây
giờ, Ta hỏi ông, ông cứ tùy ý mà đáp cho Ta.
“Này
thôn trưởng, thí như có ba loại ruộng: Loại ruộng thứ
nhất thì mầu mỡ, phì nhiêu; loại ruộng thứ hai thì trung
bình; loại ruộng thứ ba thì cằn cỗi.
“Thế
nào thôn trưởng, người chủ của những đám ruộng kia, trước
tiên cày bừa, gieo giống vào đám ruộng nào?”
Thôn
trưởng nói:
“Thưa
Cù-đàm, trước tiên là phải cày bừa, gieo giống xuống đám
ruộng mầu mỡ phì nhiêu nhất.”
“Này
thôn trưởng, kế đến lại phải cày bừa, gieo giống xuống
đám ruộng nào?”
Thôn
trưởng nói:
“Thưa
Cù-đàm, kế đến cày bừa, gieo giống xuống đám ruộng trung
bình.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Kế
đến lại phải cày bừa, gieo giống xuống đám ruộng nào?”
Thôn
trưởng thưa:
“Kế
đến cày bừa, gieo giống xuống đám ruộng cằn cỗi xấu
nhất.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Vì
sao như vậy?”
Thôn
trưởng thưa:
“Vì
họ không muốn bỏ phế ruộng chỉ giữ lại giống mà thôi!”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Ta
cũng như vậy, như đám ruộng mầu mỡ, phì nhiêu kia, các
Tỳ-kheo Tỳ-kheo-ni của Ta lại cũng như vậy. Ta thường vì
họ mà giảng nói Chánh pháp, lúc đầu, khoảng giữa và sau
cùng đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, thanh tịnh thuần
nhất, phạm hạnh thanh bạch, khai thị rõ ràng. Sau khi họ
nghe pháp rồi, nương vào nhà của Ta, đạo của Ta, sự che
chở của Ta, bóng mát của Ta, đường hướng của Ta, lúc
nào cũng dùng tịnh nhãn nhìn theo Ta mà sống và tự nghĩ như
vầy: ‘Những pháp mà Phật đã nói ra, ta đều thọ trì,
luôn luôn đem lại cho ta ý nghĩa lợi ích và sống an ổn an
vui.’
“Này
thôn trưởng, như đám ruộng trung bình kia, các đệ tử Ưu-bà-tắc
và Ưu-bà-di của Ta cũng lại như vậy. Ta cũng vì họ giảng
nói Chánh pháp ban đầu, khoảng giữa, sau cùng đều thiện,
nghĩa thiện, vị thiện, thanh tịnh thuần nhất, phạm hạnh
thanh bạch, khai thị rõ ràng. Sau khi họ nghe pháp xong, nương
vào nhà của Ta, đạo của Ta, sự che chở của Ta, bóng mát
của Ta, đường hướng của Ta, mà lúc nào cũng dùng tịnh
nhãn nhìn theo Ta mà sống và nghĩ như vầy: ‘Những pháp Thế
Tôn đã nói ra ta đều thọ trì luôn luôn đem lại cho ta ý
nghĩa lợi ích, sống an ổn, an lạc.
“Này
thôn trưởng, như đám ruộng xấu nhất của nhà nông kia,
cũng vậy, Ta vì các dị học ngoại đạo Ni-kiền Tử, cũng
vì họ mà nói pháp, pháp ban đầu, khoảng giữa, sau cùng đều
thiện, nghĩa thiện, vị thiện, thanh tịnh thuần nhất, phạm
hạnh thanh bạch, khai thị rõ ràng. Song đối với những người
ít nghe pháp, Ta cũng vì họ mà nói và những người nghe pháp
nhiều Ta cũng vì họ mà nói. Nhưng trong số những người
này, đối với việc khéo nói pháp của Ta, đạt được một
câu pháp mà biết được ý nghĩa của nó, thì cũng lại nhờ
nghĩa lợi này mà sống yên ổn an lạc mãi mãi.”
Bấy
giờ, thôn trưởng bạch Phật:
“Thật
là kỳ diệu, Thế Tôn! Ngài đã khéo nói thí dụ về ba loại
ruộng như vậyï.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Ông
hãy lắng nghe Ta cho thí dụ khác: Như một người có ba loại
đồ vật đựng nước: loại thứ nhất không bị thủng, không
bị hư, cũng không bị thấm rỉ; loại thứ hai tuy không bị
thủng, không bị hư, nhưng bị thấm rỉ; loại thứ ba thì
vừa bị thủng, vừa bị hư, lại vừa bị thấm rỉ nữa.
“Thế
nào, thôn trưởng, trong ba loại đồ đó người kia sẽ chọn
loại nào để đựng nước sạch?”
Thôn
trưởng nói:
“Thưa
Cù-đàm, trước hết là nên dùng loại không bị thủng, không
bị hư, không bị thấm rỉ để đựng nước.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Tiếp
đến lại nên dùng loại nào để đựng nước?”
Thôn
trưởng nói:
“Thưa
Cù-đàm, kế đến nên đem loại không bị thủng, không bị
hư, nhưng bị thấm rỉ để đựng nước.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Hai
loại kia đã đầy rồi, sau cùng lại dùng loại nào để đựng
nước?”
Thôn
trưởng nói:
“Sau
cùng phải dùng loại vừa bị thủng, bị hư, bị thấm rỉ
để đựng nước thôi! Vì sao? Vì chỉ tạm thời dùng vào
việc nhỏ trong chốc lát.”
Phật
bảo thôn trưởng:
“Giống
như loại đồ của người kia không bị thủng, không bị hư,
không bị thấm rỉ, các đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni của
Ta lại cũng như vậy. Ta thường vì họ giảng nói Chánh pháp,…
cho đến luôn luôn vì nghĩa lợi, mà sống an ổn an vui.
“Giống
như loại đồ thứ hai tuy không bị thủng, không bị hư, nhưng
lại bị thấm rỉ, các đệ tử Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di của
Ta lại cũng như vậy. Ta thường vì họ giảng nói Chánh pháp,…
cho đến luôn luôn vì nghĩa lợi, mà sống an ổn an vui.
“Giống
như loại đồ thứ ba vừa bị thủng, bị hư, bị thấm rỉ;
các đệ tử dị học ngoại đạo của Ni-kiền lại cũng như
vậy. Ta thường vì họ giảng nói Chánh pháp, ban đầu, khoảng
giữa, sau cùng đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, hoàn toàn
thanh tịnh thuần nhất, phạm hạnh thanh bạch, khai thị rõ
ràng, dù nhiều hay ít Ta cũng vì họ mà nói. Nếu đối với
một câu nói pháp của Ta mà họ biết được nghĩa của nó,
thì cũng được sống an ổn, an vui mãi mãi.”
Lúc
thôn trưởng Đao Sư Thị nghe những gì Phật nói, tâm sợ
hãi vô cùng, lông toàn thân dựng đứng lên, liền đến trước
Phật lễ dưới chân, sám hối những lỗi lầm:
“Bạch
Thế Tôn, con như ngu, như si, không tốt, không hiểu biết;
đối với Thế Tôn con đã nói những lời lừa dối hư trá
không chân thật.”
Sau
khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ làm lễ mà lui.
*
KINH
916. ĐAO SƯ THỊ (3)[52]
Tôi
nghe như vầy:<