TẠP
A-HÀM QUYỂN 40
KINH
1104[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
người nào có khả năng thọ trì bảy thọ[2], chỉ nhờ nhân
duyên này, người ấy sẽ được sanh lên cõi Thiên đế Thích.
Thiên đế Thích xưa kia lúc còn làm người thường, phụng
dưỡng cha mẹ cùng các bậc tôn trưởng trong gia tộc, với
gương mặt hài hòa, lời nói mềm mỏng, không nói dữ, không
nói hai lưỡi, thường nói chân thật. Đối với thế gian
keo kiệt, người này tuy ở tại gia, nhưng không keo lẫn; thực
hành giải thoát thí[3], siêng bố thí, thường ưa hành bố
thí, mở hội bố thí cúng dường, bố thí bình đẳng tất
cả”.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ:
Phụng
dưỡng cho cha mẹ
Và
tôn trưởng gia tộc;
Lời
nhu hòa, cung kính,
Tránh
lời thô, hai lưỡi.
Điều
phục tâm keo kiệt,
Thường
nói lời chân thật,
Trời
Tam thập tam kia,
Thấy
người hành bảy pháp;
Tất
cả đều nói rằng,
Tương
lai sanh cõi này.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1105. MA-HA-LY[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở giảng đường Trùng các, bên ao Di hầu,
tại nước Tỳ-xá-ly.
Bấy
giờ, có người dòng Ly-xa tên là Ma-ha-lợi[5], đến chỗ Phật,
cúi đầu lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch
Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Ngài có thấy Thiên đế Thích không?”
Phật
đáp:
“Thấy.”
Ly-xa
lại hỏi:
“Thế
Tôn có thấy con quỷ giống hình Thiên đế Thích không?”[6]
Phật
bảo Ly-xa:
còn
làm con người, hay phụng dưỡng cha mẹ,… cho đến hành xả
bình đẳng.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Phụng
dưỡng cho cha mẹ
Và
tôn trưởng gia tộc;
Lời
nhu hòa, cung kính,
Lìa
lời thô, hai lưỡi.
Điều
phục tâm keo kiệt,
Thường
nói lời chân thật,
Trời
Tam thập tam kia,
Thấy
người hành bảy pháp;
Tất
cả đều nói rằng,
Tương
lai sanh cõi này.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1106. DO NHÂN GÌ[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở giảng đường Trùng các, bên ao Di hầu,
tại nước Tỳ-xá-ly.
Bấy
giờ, có một Tỳ-kheo đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới
chân Phật, đứng lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nhân gì, duyên gì mà Thích Đề-hoàn Nhân được
gọi là Thích Đề-hoàn Nhân[8]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân xưa kia, khi làm người, hành thí nhiệt thành[9],
bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, người bần cùng khốn khổ,
người đi đường, người đi ăn xin, bằng các thứ đồ ăn,
thức uống, tiền của, thóc gạo, lụa là, hoa hương, vật
dụng trang nghiêm, giường nằm, đèn đuốc. Vì có khả năng
làm như vậy, nên gọi là Thích Đề-hoàn Nhân[10].”
Tỳ-kheo
lại bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nhân gì, duyên gì mà Thích Đề-hoàn Nhân được
gọi là Phú-lan-đà-la[11]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân xưa kia khi còn làm người, thường hay hành
thí y phục, đồ ăn thức uống,… cho đến đèn đuốc. Vì
những nhân duyên này, nên gọi là Phú-lan-đà-la.”
Tỳ-kheo
lại bạch Phật:
“Nhân
gì, duyên gì mà được gọi là Ma-già-bà[12]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân khi còn làm người tên là Ma-già-bà[13], do đó
Ma-già-bà là tên cũ của Thích Đề-hoàn Nhân.”
Tỳ-kheo
lại bạch Phật:
“Nhân
gì, duyên gì mà lại có tên là Bà-sa-bà[14]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân xưa kia khi còn là người luôn luôn đem áo bà-tiên-hòa[15]
bố thí, cúng dường, vì nhân duyên này nên Thích Đề-hoàn
Nhân có tên Bà-sa-bà.”
Tỳ-kheo
lại bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nhân gì, duyên gì mà Thích Đề-hoàn Nhân lại có
tên là Kiều-thi-ca[16]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân xưa kia khi còn làm người, là người dòng họ
Kiều-thi[17]. Vì nhân duyên này, nên Thích Đề-hoàn Nhân lại
có tên là Kiều-thi-ca.”
Tỳ-kheo
hỏi Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nhân gì, duyên gì mà Thích Đề-hoàn Nhân được
gọi là Xá-chỉ-bát-đê[18]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Nữ
A-tu-la Xá-chỉ là đệ nhất thiên hậu của Thiên đế Thích.
Cho nên Đế Thích được gọi là Xá-chỉ-bát-đê.”
Tỳ-kheo
lại bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nhân gì, duyên gì mà Thích Đề-hoàn Nhân lại có
tên là Thiên Nhãn[19]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân xưa kia khi còn làm người, thông minh trí tuệ,
ngồi một chỗ mà suy nghĩ cả ngàn thứ nghĩa, xem xét, cân
nhắc. Vì nhân duyên này nên Thiên đế Thích còn gọi là Thiên
Nhãn.”
Tỳ-kheo
lại bạch Phật:
“Nhân
gì, duyên gì mà Thích Đề-hoàn Nhân còn có tên là Nhân-đề-lợi[20]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Thiên
đế Thích kia đối với cõi trời Tam thập tam là vua, là chủ.
Vì nhân duyên này nên Thiên đế Thích được gọi là Nhân-đề-lợi.”
Phật
lại bảo Tỳ-kheo:
“Song
Thích Đề-hoàn Nhân xưa kia khi còn làm người, thọ trì bảy
thứ thọ, vì nhân duyên này nên được làm Thiên đế Thích.
Những gì là bảy thọ? Thích Đề-hoàn Nhân xưa kia khi còn
làm người, phụng dưỡng cha mẹ… cho đến hành thí. Đó
là bảy thứ thọ, vì nhân duyên này nên được làm Thiên
đế Thích.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Nói
đầy đủ như trên.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1107. DẠ-XOA[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở giảng đường Trùng các, bên ao Di hầu,
tại Tỳ-xá-ly.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
đời quá khứ, có một con quỷ Dạ-xoa[22] xấu xí, ngồi trên
chỗ ngồi trống của Đế Thích. Khi chư Thiên Tam thập tam
thấy quỷ xấu xí này ngồi trên chỗ ngồi trống của Đế
Thích rồi, mọi người đều nổi sân. Lúc chư Thiên nổi
sân như vậy, thì cứ theo cái sân như vậy, như vậy, con quỷ
kia dung mạo dần dần trở nên xinh đẹp. Khi ấy chư Thiên
Tam thập tam đến chỗ Đế Thích, tâu Đế Thích rằng: “Kiều-thi-ca,
nên biết cho, có một con quỷ xấu xí ngồi trên chỗ ngồi
trống của Thiên vương. Khi chư Thiên chúng tôi thấy con quỷ
xấu xí ngồi trên chỗ ngồi trống của Thiên vương thì nổi
giận vô cùng và tùy theo sự nổi giận của chư Thiên chúng
tôi, con quỷ kia theo đó càng trở nên xinh đẹp.”
Thích
Đề-hoàn Nhân bảo chư Thiên Tam thập tam:
“Chính
sự sân nhuế kia có thể đối trị con quỷ.”
Bấy
giờ, Đế Thích tự đến chỗ con quỷ kia, sửa lại y phục,
bày vai hữu, chắp tay xưng tên ba lần rằng:
“Nhân
giả, tôi là Thích Đề-hoàn Nhân.”
Theo
sự cung kính khiêm hạ như vậy của Thích Đề-hoàn Nhân,
mà con quỷ kia cũng tùy thuộc vào như vậy, như vậy, dần
dần trở lại xấu xí, liền biến mất. Khi ấy, Thích Đề-hoàn
Nhân tự an tọa rồi nói kệ:
Người
chớ nên sân nhuế.
Bị
sân chớ đáp sân;
Đối
ác chớ sanh ác.
Nên
phá hoại kiêu mạn.
Không
sân cũng không hại,
Gọi
là chúng Hiền thánh,
Tội
ác khởi sân hận,
Trụ
vững như núi đá.
Nên
giữ cơn giận lại,
Như
điều xe ngựa sổng.
Ta
nói người khéo điều,
Chẳng
phải người cầm dây.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân ở cõi trời Tam thập tam là vua Tự tại, khen
ngợi không sân nhuế. Cũng vậy, các ông chánh tín, xuất gia
học đạo, không nhà, cũng nên khen ngợi không sân nhuế. Nên
học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1108. ĐƯỢC MẮT[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, vào sáng sớm, Thế Tôn đắp y ôm bát vào thành Xá-vệ
khất thực. Khất thực xong, trở về tinh xá, cất y bát, rửa
chân, cầm tọa cụ vắt lên vai phải, vào rừng An-đà, trải
tọa cụ ngồi dưới một bóng cây, nhập chánh thọ ban ngày.
Khi
ấy, trong tinh xá Kỳ-hoàn, có hai Tỳ-kheo tranh chấp. Một
người mạ lỵ, một người im lặng. Người mạ lỵ liền
hối cải, đến xin lỗi vị kia, mà Tỳ-kheo kia không nhận
sự sám hối của vị này. Vì không nhận sự sám hối, nên
trong tinh xá khi ấy, các Tỳ-kheo cùng đến khuyên can; lớn
tiếng ồn ào.
Bấy
giờ, Thế Tôn bằng tịnh thiên nhĩ hơn tai người, nghe trong
tinh xá Kỳ-hoàn đang lớn tiếng ồn ào. Nghe vậy, từ thiền
tịnh dậy, trở về tinh xá, trải tọa cụ ngồi trước đại
chúng, bảo các Tỳ-kheo:
“Sáng
nay Ta đi khất thực trở về, vào rừng An-đà ngồi thiền,
nhập chánh thọ ban ngày, nghe trong tinh xá, cao tiếng, lộn
xộn, ồn ào, rốt cuộc là ai vậy?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Trong
tinh xá này có hai Tỳ-kheo tranh chấp. Một người mắng, một
người im lặng. Khi ấy Tỳ-kheo mắng đến sám hối, vị kia
không nhận. Vì không nhận nên nhiều người khuyên can, cho
nên mới có lớn tiếng, cao tiếng, ồn ào.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Thế
nào, Tỳ-kheo ngu si? Người đến sám hối mà không nhận sự
sám hối của người ta. Nếu có người sám hối mà người
nào đó không nhận, thì đó là ngu si, bị khổ não lâu dài,
không có lợi ích.”
Này
các Tỳ-kheo, vào thời quá khứ, có chư Thiên Tam thập tam
tranh chấp nhau. Thích Đề-hoàn Nhân nói kệ dạy rằng:
Với
người, tâm không hại
Sân
cũng không trói buộc,
Không
ôm lòng hận lâu,
Vì
không trụ sân nhuế.
Tuy
lại nổi giận dữ,
Không
nói ra lời thô,
Không
tìm người trút giận,
Nêu
cái dở của người.
Luôn
luôn tự phòng hộ,
Bên
trong tỉnh sát nghĩa,
Không
giận cũng không hại,
Thường
câu hữu Hiền thánh.
Nếu
câu hữu người ác,
Cứng
rắn như núi đá,
Tự
giữ cơn giận lại,
Như
điều xe ngựa sổng,
Ta
nói người khéo điều,
Chẳng
phải người cầm dây.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân đối với trời Tam thập tam là vua Tự tại,
thường hành nhẫn nhục, cũng lại khen ngợi người hành nhẫn
nhục. Tỳ-kheo các ông chánh tín, xuất gia học đạo, không
nhà, cũng nên hành nhẫn nhục và khen ngợi người hành nhẫn
nhục. Nên học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1109. ĐƯỢC THIỆN THẮNG[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
thời quá khứ, chư Thiên và A-tu-la bày trận muốn đánh nhau.
Thích Đề-hoàn Nhân nói với A-tu-la là Tỳ-ma-chất-đa-la:
“Chúng
ta không được sát hại nhau, chỉ nên dùng lý luận nghị
để khuất phục.”
Vua
A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la nói:
“Giả
sử cùng nhau luận nghị, nhưng ai sẽ làm chứng để biết
lý đó là thông suốt hay bế tắc?”
Thiên
đế Thích trả lời:
“Trong
chúng chư Thiên tự có người trí tuệ sáng suốt, sẽ ghi
nhận điều này. Trong chúng A-tu-la cũng lại tự có người
sáng suốt ghi nhận.”
A-tu-la
Tỳ-ma-chất-đa-la nói:
“Được
vậy.”
Thích
Đề-hoàn Nhân nói:
“Các
ông có thể lập luận trước, sau tôi sẽ theo đó lập luận,
thì không khó.”
Khi
ấy, vua A-tu-la là Tỳ-ma-chất-đa-la liền nói kệ lập luận:
Nếu
tôi hành nhẫn nhục,
Thì
việc này thiếu sót,
Người
ngu si sẽ bảo,
Vì
sợ nên nhẫn nhục.
Thích
Đề-hoàn Nhân nói kệ đáp:
Giả
sử người ngu si,
Nói
vì sợ nên nhẫn.
Và
kẻ không nói kia,
Tổn
thương gì đạo lý?
Nên
tự xét nghĩa này,
Cũng
nên xét nghĩa kia,
Ta,
người đều được an,
Nhẫn
nhục là tối thượng.
A-tu-la
Tỳ-ma-chất-đa-la lại nói kệ:
Nếu
không chế ngu si
Thì
ngu si hại người.
Giống
như trâu hung dữ,
Chạy
xông theo húc người.
Cầm
roi mà áp chế,
Vì
sợ, sẽ khuất phục.
Cho
nên giữ chặt roi,
Chiết
phục kẻ ngu kia.
Đế
Thích lại nói kệ:
Tôi
thường xem xét họ,
Chiết
phục kẻ ngu kia,
Người
ngu nổi sân nhuế,
Người
trí giữ điềm tĩnh.
Không
sân cũng không hại,
Thường
câu hữu Hiền thánh,
Tội
ác khởi sân nhuế,
Cứng
chắc như núi đá.
Tự
giữ cơn giận lại,
Như
điều xe ngựa sổng,
Ta
nói người khéo điều,
Chẳng
phải người cầm dây.
Bấy
giờ, trong chúng trời có vị trời trí tuệ, trong chúng A-tu-la
cũng có vị A-tu-la trí tuệ, đối với kệ này suy xét, cân
nhắc, quan sát, tự nghĩ: ‘Bài kệ của A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la
nói cuối cùng lúc nào cũng chỉ khởi lên chiến đấu, tranh
tụng. Nên biết vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la luôn luôn dạy
người chiến đấu, tranh tụng, còn bài kệ của Thích Đề-hoàn
Nhân cuối cùng lúc nào cũng muốn dứt chiến đấu, tranh tụng,
nên biết trời Đế Thích luôn luôn dạy người đừng chiến
đấu, tranh tụng. Nên biết Đế Thích khéo lập luận thù
thắng.’
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân nhờ nghị luận đúng nên hàng phục được
A-tu-la. Này các Tỳ-kheo, Thích Đề-hoàn Nhân là vua Tự tại
của cõi trời Tam thập tam, an trú nơi thiện nghị luận, khen
ngợi những thiện nghị luận. Cũng nên như vậy, Tỳ-kheo
các ông chánh tín, xuất gia, học đạo, không nhà cũng nên
an trú nơi thiện nghị luận và khen ngợi những thiện nghị
luận. Nên học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1110. CỘT TRÓI[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
thời quá khứ có Thiên đế Thích và A-tu-la bày trận muốn
đánh nhau. Lúc ấy, Thích Đề-hoàn Nhân nói với chư Thiên
cõi trời Tam thập tam:
“Hôm
nay chư Thiên cùng A-tu-la đánh nhau, nếu chư Thiên thắng, A-tu-la
bại, thì sẽ bắt sống vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la, trói
chặt năm chỗ, đem về Thiên cung.”
A-tu-la
Tỳ-ma-chất-đa-la bảo các A-tu-la:
“Hôm
nay chư Thiên cùng A-tu-la đánh nhau, nếu A-tu-la thắng, chư
Thiên bại, thì sẽ bắt sống Thích Đề-hoàn Nhân, trói chặt
năm chỗ, đem về cung A-tu-la.”
Đang
lúc họ đánh nhau, chư Thiên đắc thắng, A-tu-la bị bại.
Khi ấy, chư Thiên bắt được vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la,
lấy dây trói lại năm chỗ đem về Thiên cung, cột dưới
cửa, trước điện Đoán pháp[26] của Đế Thích. Khi Đế
Thích ra vào cửa này, A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la bị cột ở
bên cửa tức giận, mạ lỵ. Lúc đó người hầu cận của
Đế Thích thấy vua A-tu-la thân bị trói năm vòng, cột bên
cửa, thấy Đế Thích ra vào thì nổi giận mạ lỵ, liền
làm bài kệ:
Nay
Đế Thích sợ nó,
Vì
không đủ sức chăng,
Nên
nhẫn A-tu-la,
Mắng
chưởi trước mặt mình?
Đế
Thích liền đáp:
Không
vì sợ nên nhẫn,
Không
phải sức không đủ.
Có
người trí tuệ nào,
Tranh
cãi với kẻ ngu.
Người
hầu cận lại tâu:
Nếu
chỉ hành nhẫn nhục,
Sự
việc tất thiếu sót.
Kẻ
ngu si sẽ bảo,
Vì
sợ nên nhẫn nhục.
Cho
nên phải khổ trị,
Dùng
trí chế ngu si.
Đế
Thích đáp:
Ta
thường xem xét kia,
Chế
ngự kẻ ngu kia.
Thấy
người ngu nổi sân,
Trí
dùng tĩnh chế phục.
Không
sức mà dùng sức,
Là
sức kẻ ngu kia.
Ngu
si trái xa pháp,
Thời
với đạo không có.
Giả
sử có sức mạnh,
Hay
nhẫn đối người yếu,
Thì
nhẫn này tối thượng.
Không
sức sao có nhẫn?
Bị
người mạ nhục quá,
Người
sức mạnh hay nhẫn,
Đó
là nhẫn tối thượng.
Không
sức làm sao nhẫn?
Đối
mình và với người,
Khéo
làm chủ sợ hãi,
Biết
kia nổi sân nhuế,
Mình
lại giữ an tĩnh.
Đối
hai nghĩa đều đủ,
Lợi
mình cũng lợi người.
Gọi
là kẻ ngu phu,
Do
vì không thấy pháp.
Ngu
bảo mình thắng nhẫn,
Càng
tăng thêm lời ác.
Chưa
biết nhẫn mạ lỵ,
Đối
kia thường đắc thắng.
Nhẫn
đối người hơn mình,
Đó
là nhẫn do sợ.
Hành
nhẫn, đối người bằng,
Đó
là nhẫn tránh nhẫn,
Hành
nhẫn, đối người thua,
Đó
là nhẫn tối thượng.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân là vua Tự tại của trời Tam thập tam, thường
hành nhẫn nhục, khen ngợi nhẫn nhục. Tỳ-kheo các ông chánh
tín, xuất gia, học đạo, không nhà, cũng nên nhẫn nhục như
vậy và khen ngợi nhẫn nhục, nên học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1111. KÍNH PHẬT[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
thời quá khứ, Thích Đề-hoàn Nhân muốn đi thăm công viên,
sai người đánh xe sửa soạn cỗ xe ngàn ngựa để đi thăm
vườn. Người đánh xe vâng lệnh liền sửa soạn cỗ xe ngàn
ngựa, rồi tâu với Đế Thích:
“Thưa
Câu-thi-la, đã sửa soạn xe cộ xong, xin vua biết thời.”
Đế
Thích liền bước xuống điện Thường thắng[28], hướng về
phía Đông chắp tay lễ Phật. Bấy giờ, người đánh xe thấy
vậy liền sanh lòng kinh hãi, lông dựng đứng, roi ngựa rớt
xuống đất. Khi ấy, Đế Thích thấy người đánh xe sanh lòng
kinh hãi, lông dựng đứng, roi ngựa rớt xuống đất, liền
nói kệ:
Ông
thấy gì lo sợ
Để
roi ngựa rớt đất?
Người
hầu cận nói kệ tâu Đế Thích:
Thấy
vua Thiên đế Thích,
Là
chồng của Xá-chỉ [29],
Cho
nên sanh sợ hãi,
Roi
ngựa rớt xuống đất!
Thường
thấy Thiên đế Thích,
Được
toàn thể đại địa,
Vua
lớn, nhỏ, trời, người,
Cùng
bốn Chúa hộ thế[30],
Thiên
chúng Tam thập tam,
Thảy
đều lễ cung kính.
Còn
nơi nào tôn hơn,
Đáng
tôn đối Đế Thích?
Mà
nay hướng về Đông,
Chắp
tay để kính lễ.
Lúc
ấy, Đế Thích nói kệ đáp:
Thật,
ta đối tất cả,
Vua
lớn, nhỏ thế gian,
Cùng
bốn Chúa hộ thế
Thiên
chúng Tam thập tam,
Tối
tôn, Chúa của họ,
Nên
họ đến cung kính.
Nhưng
thế gian lại có,
Đấng
Chánh Giác tùy thuận,
Là
Thầy cả chư Thiên,
Nên
ta cúi đầu lễ.
Người
đánh xe lại tâu:
Đó
chắc hơn thế gian,
Nên
khiến Thiên đế Thích,
Cung
kính mà chắp tay,
Cúi
đầu lễ hướng Đông.
Nay
con cũng nên lễ,
Đấng
vua Trời đã lễ.
Khi
ấy Đế Thích, chồng của Xá-chỉ, nói kệ lễ Phật như
vậy, rồi lên xe ngàn ngựa đến dạo xem vườn.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thiên
đế Thích kia là vua Tự tại của trời Tam thập tam còn cung
kính Phật, cũng lại khen ngợi sự cung kính Phật. Tỳ-kheo
các ông chánh tín, xuất gia, học đạo, không nhà, cũng nên
cung kính Phật như vậy, cũng nên khen ngợi sự cung kính Phật.
Nên học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1112. KÍNH PHÁP[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Nói
đầy đủ như trên nhưng chỉ có sự sai khác là:
Bấy
giờ, Thiên đế Thích bước xuống điện Thường thắng, chắp
tay hướng về hướng Đông kính lễ Tôn pháp… cho đến Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
Tôi
nghe như vầy[32]:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Nói
đầy đủ như trên nhưng chỉ có sự sai khác là:
Bấy
giờ, Thiên đế Thích nói ra kệ trả lời người đánh xe:
Ta
thật Vua cõi đất,
Vua
lớn nhỏ thế gian,
Và
bốn Chúa hộ thế
Thiên
chúng Tam thập tam.
Được
tất cả như vậy,
Đều
tôn trọng, cung kính.
Nhưng
có tịnh giới kia,
Luôn
luôn vào chánh thọ,
Với
chánh tín xuất gia,
Rốt
ráo các phạm hạnh.
Nên
ta đối với kia,
Tôn
trọng cung kính lễ.
Lại
điều phục tham, nhuế,
Vượt
cảnh giới ngu si.
Tu
học không buông lung,
Nên
cung kính, lễ kia,
Tham
dục, sân nhuế, si,
Đều
dứt hẳn không đắm.
Lậu
tận, A-la-hán,
Lại
nên kính lễ kia,
Nếu
người ở tại gia,
Phụng
trì giới thanh tịnh,
Đúng
như pháp Bố-tát[33]
Cũng
lại nên kính lễ.
Người
đánh xe tâu Đế Thích:
Người
này chắc hơn đời
Nên
Thiên vương kính lễ.
Tôi
cũng nên như vậy,
Kính
lễ theo Thiên vương.
“Này
các Tỳ-kheo, Thiên đế Thích chồng của Xá-chỉ kia kính lễ
Pháp, Tăng, cũng còn khen ngợi người kính lễ Pháp, Tăng.
Các ông đã chánh tín, xuất gia, học đạo, không nhà, cũng
nên kính lễ Pháp, Tăng và khen ngợi người kính lễ Pháp,
Tăng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1113. KÍNH TĂNG[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
thời quá khứ, Thích Đề-hoàn Nhân muốn đi thăm công viên,
sai người đánh xe sửa soạn cỗ xe ngàn ngựa để đi thăm
vườn. Người đánh xe vâng lệnh liền sửa soạn cỗ xe ngàn
ngựa, rồi tâu với Đế Thích:
“Thưa
Câu-thi-la, đã sửa soạn xe cộ xong, xin vua biết thời.”
Đế
Thích liền bước xuống điện Thường thắng[35], hướng về
phía Đông chắp tay lễ. Bấy giờ, người đánh xe thấy vậy
liền sanh lòng kinh hãi, lông dựng đứng, roi ngựa rớt xuống
đất. Khi ấy, Đế Thích thấy người đánh xe sanh lòng kinh
hãi, lông dựng đứng, roi ngựa rớt xuống đất, liền nói
kệ:
Các
phương chỉ có người,
Do
thai sanh, xú uế,
Thần
ở trong thây thối,
Đói
khát thường thiêu đốt.
Tại
sao Kiều-thi-ca,
Tôn
trọng người không nhà?
Vì
tôi nói nghĩa này,
Khao
khát xin muốn nghe.
Lúc
ấy, Thiên đế Thích nói kệ đáp:
Ta
chân thành kính lễ,
Người
xuất gia không nhà,
Tự
tại dạo khắp nơi,
Không
kể nơi đi, ở.
Cảnh
thành ấp, quốc độ,
Không
thể lụy tâm kia,
Không
chứa chất tư hữu,
Một
đi, không cố định.
Bước
đi không mong cầu,
Chỉ
vô vi là vui,
Lời
đã nói, là làm,
Không
nói, là tịch tịnh.
Chư
Thiên, A-tu-la,
Họ
cùng kình chống nhau,
Nhân
gian tranh giành nhau,
Nghịch
nhau cũng như vậy.
Chỉ
có người xuất gia,
Không
tranh giữa người tranh;
Với
tất cả chúng sanh,
Buông
bỏ mọi đao gậy.
Đối
tài, lìa tài sắc,
Không
say, không mê đắm,
Xa
lìa tất cả ác,
Cho
nên kính lễ kia.
Lúc
ấy, người đánh xe lại nói kệ:
Người
được Thiên vương kính,
Chắc
là bậc hơn đời.
Nên
từ hôm nay con
Sẽ
lễ người xuất gia.
Nói
như vậy rồi, Thiên đế Thích lễ tất cả Tăng ở các phương,
xong rồi leo lên xe ngựa dạo xem vườn rừng.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thiên
đế Thích kia là vua Tự tại của trời Tam thập tam mà thường
cung kính chúng Tăng, cũng thường khen ngợi công đức cung
kính Tăng. Tỳ-kheo các ông chánh tín, xuất gia, học đạo,
không nhà cũng nên cung kính chúng Tăng và cũng nên khen ngợi
công đức cung kính chúng Tăng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1114. TÚ-TỲ-LÊ[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
thời quá khứ, vua A-tu-la khởi bốn binh chủng là tượng binh,
mã binh, xa binh, bộ binh muốn đánh nhau với chư Thiên trời
Tam thập tam. Lúc ấy, Thích Đề-hoàn Nhân nghe vua A-tu-la khởi
bốn binh chủng là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, muốn
đến gây chiến. Nghe rồi liền bảo Thiên tử Tú-tỳ-lê[37]:
“Bố[38]
biết không, A-tu-la đem bốn binh chủng là tượng binh, mã binh,
xa binh, bộ binh, muốn gây chiến với trời Tam thập tam? Bố
hãy ra lệnh chư Thiên cõi trời Tam thập tam đem bốn binh chủng
là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, cùng đánh với A-tu-la
kia.”
Bấy
giờ, Thiên tử Tú-tỳ-lê vâng lệnh Đế Thích trở về Thiên
cung; biếng nhác, lơi lỏng, không nỗ lực chuẩn bị. Quân
A-tu-la đã ở đường lộ. Đế Thích nghe như vậy lại bảo
Thiên tử Tú-tỳ-lê:
“Này
Bố, quân A-tu-la đã ra giữa đường lộ, Bố hãy cấp tốc
ra lệnh khởi bốn binh chủng ra đánh với A-tu-la.”
Thiên
tử Tú-tỳ-lê vâng lệnh Đế Thích trở lại Thiên cung, biếng
nhác, lơi lỏng. Khi ấy vua A-tu-la đem quân áp sát. Thích Đề-hoàn
Nhân nghe quân A-tu-la đã áp sát, lại bảo với Thiên tử Tú-tỳ-lê:
“Bố
có biết chăng? Quân A-tu-la đã áp sát. Bố hãy cấp tốc ra
lệnh chư Thiên khởi bốn binh chủng.”
Khi
ấy Thiên tử Tú-tỳ-lê liền nói kệ:
Nếu
có nơi không khởi[39]
Vô
vi mà an vui;
Người
được chỗ như vậy,
Không
làm, cũng không lo[40].
Hãy
cho tôi chỗ ấy,
Để
tôi được an ổn.
Lúc
ấy, Đế Thích nói kệ đáp lại:
Nếu
có chỗ không khởi,
Vô
vi mà an vui;
Nếu
người được chỗ ấy,
Không
làm, cũng không lo.
Nếu
ông được chỗ ấy,
Hãy
đưa ta đến đó.
Thiên
tử Tú-tỳ-lê lại nói kệ:
Nếu
nơi không phương tiện[41],
Không
khởi, mà an vui;
Nếu
ai được chỗ ấy,
Thì
không tạo, không lo.
Hãy
cho tôi chốn này,
Để
tôi được an ổn.
Lúc
ấy, Đế Thích lại nói kệ:
Nếu
nơi không phương tiện,
Không
khởi, cũng không vui;
Nếu
ai được chỗ ấy,
Thì
không tạo, không lo.
Nếu
ông được chỗ ấy,
Hãy
đưa ta đến đó.
Thiên
tử Tú-tỳ-lê lại nói kệ:
Nếu
nơi không buông lung,
Không
khởi, mà an vui;
Nếu
ai được chỗ ấy,
Thì
không tạo, không lo.
Nên
cho tôi nơi ấy,
Để
tôi được an ổn.
Lúc
ấy, Đế Thích lại nói kệ:
Nếu
nơi không buông lung,
Không
khởi, mà an vui;
Nếu
ai được chỗ ấy,
Thì
không tạo, không lo.
Nếu
ông được chỗ ấy,
Hãy
đưa ta đến đó.
Tú-tỳ-lê
lại nói kệ:
Biếng
nhác, không phấn khởi,
Không
biết làm, đã làm;
Nhưng
hành dục hội đủ,
Nên
cho tôi chỗ ấy
Lúc
ấy, Đế Thích lại nói kệ:
Biếng
nhác, không phấn khởi,
Mà
rốt ráo an vui;
Nếu
ông được chỗ ấy,
Hãy
đưa ta đến đó.
Thiên
tử Tú-tỳ-lê lại nói kệ:
Không
việc vẫn an vui,
Không
làm, cũng không lo;
Nếu
cho tôi chỗ ấy,
Để
tôi được an vui.
Lúc
ấy, Đế Thích lại nói kệ:
Nếu
thấy hoặc lại nghe,
Chúng
sanh không làm gì;
Nếu
ông được chỗ ấy,
Hãy
đưa ta đến đó.
Ông
nếu sợ việc làm,
Chẳng
nghĩ đến hữu vi;
Hãy
nhanh chóng trừ sạch,
Là
đường tắt Niết-bàn[42].
Khi
ấy, Thiên tử Tú-tỳ-lê chuẩn bị bốn binh chủng là tượng
binh, mã binh, xa binh, bộ binh, cùng đánh với A-tu-la, diệt
hết quân A-tu-la. Chư Thiên đắc thắng trở về cung trời.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thích
Đề-hoàn Nhân khởi bốn binh chủng cùng chiến đấu với
A-tu-la, nhờ tinh cần nên thắng trận. Này các Tỳ-kheo, Thích
Đề-hoàn Nhân là vua Tự tại của trời Tam thập tam, thường
nhờ phương tiện tinh cần, cũng thường khen ngợi đức tinh
cần. Tỳ-kheo các ông chánh tín, xuất gia, học đạo, không
nhà cũng nên tinh cần tinh tấn và khen ngợi tinh cần.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1115. TIÊN NHÂN[43]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
thời quá khứ, một tụ lạc nọ, có các Tiên nhân dừng nghỉ
tại vùng đất trống bên cạnh tụ lạc ấy. Lúc đó chư
Thiên và A-tu-la đang bày trận đánh nhau cách tụ lạc không
xa. Bấy giờ, vua A-tu-la là Tỳ-ma-chất-đa-la dẹp đi năm loại
trang sức[44], bỏ mũ Thiên quan, dẹp dù lọng, bỏ gươm đao,
vứt quạt báu, cởi giày dép, đến chỗ ở các Tiên nhân
kia. Vào trong cửa, nhìn khắp mà không ngó ngàng các Tiên nhân,
cũng không chào hỏi. Nhìn rồi trở ra.
“Khi
ấy có một Tiên nhân từ xa nhìn thấy vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la
dẹp đi năm thứ trang sức vào trong vườn, quan sát xong trở
ra; thấy vậy, nói với các Tiên nhân rằng: ‘Đây là loại
người gì mà dung sắc không trấn tĩnh, không giống như hình
người, không đúng pháp oai nghi, giống như người quê mùa,
không phải là con nhà trưởng giả; dẹp đi năm thứ trang
sức, vào cửa vườn, nhìn quanh cao ngạo, mà không ngó ngàng
hỏi thăm các Tiên nhân?’
Có
một Tiên nhân đáp rằng:
“Đó
là Tỳ-ma-chất-đa-la, vua A-tu-la, dẹp đi năm thứ trang sức,
vào xem xét rồi đi.”
Tiên
nhân kia nói:
“Đây
không phải Hiền sĩ, không tốt, bất thiện, không phải Hiền
thánh, phi pháp, dẹp năm thứ trang sức đi vào trong cửa vườn
nhìn quanh rồi ra về, cũng không hề để ý chào hỏi các
Tiên nhân. Do đó mà biết Thiên chúng tăng trưởng, A-tu-la
giảm sút.”
“Trong
lúc ấy, Thích Đề-hoàn Nhân thì cởi bỏ năm thứ trang sức,
đi vào trú xứ của Tiên nhân, cùng với các Tiên nhân chào
đón, thăm hỏi an úy nhau, sau đó trở ra. Lại có Tiên nhân
thấy Thiên đế Thích cởi bỏ năm thứ trang sức vào trong
cửa vườn thăm hỏi khắp cả, thấy vậy hỏi các Tiên nhân:
‘Đây là người gì mà có dung sắc trấn tĩnh, dáng vẻ đáng
ưa, có vẻ oai nghi, không phải người quê mùa, tợ như con
nhà trưởng giả; vào trong vườn rừng cởi bỏ năm thứ trang
sức, đi vào cửa vườn thăm hỏi khắp cả, sau đó mới trở
ra?’
Có
Tiên nhân đáp: ‘Đây là Thiên đế Thích, cởi bỏ năm thứ
trang sức, vào trong cửa vườn thăm hỏi khắp cả rồi sau
đó trở ra.’
Tiên
nhân kia nói: ‘Đây là bậc Hiền sĩ, thiện, tốt, chân thật,
oai nghi, phép tắc, cởi bỏ năm thứ trang sức, vào trong cửa
vườn thăm hỏi khắp cả, rồi sau đó mới trở ra. Vì vậy
nên biết Thiên chúng tăng, chúng A-tu-la giảm.’
Lúc
ấy vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la nghe Tiên nhân kia khen ngợi
chư Thiên; sau khi nghe, nổi giận đùng đùng. Lúc này có vị
Tiên nhân ở chốn hư không nghe vua A-tu-la nổi giận đùng
đùng, liền đến chỗ A-tu-la vương Tỳ-ma-chất-đa-la nói
kệ:
Tiên
nhân cố đến đây,
Cầu
xin thí vô úy[45].
Nếu
ngươi thí vô úy,
Ban
ân giáo Mâu-ni.
A-tu-la
Tỳ-ma-chất-đa-la dùng kệ đáp:
Cho
Tiên nhân các ông,
Không
có thí vô úy.
Vì
chống A-tu-la,
Mà
gần gũi Đế Thích.
Thay
vì cho vô úy,
Ta
sẽ cho sợ hãi.
Tiên
nhân lại nói kệ:
Tùy
gieo trồng hạt giống,
Tùy
loại sanh quả báo.
Ta
cầu xin vô úy,
Chỉ
lại cho kinh sợ.
Ngươi
sẽ sợ vô cùng.
Vì
gieo giống kinh sợ.
“Sau
khi các Tiên nhân ở trước vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la nói
chú xong, bay lên hư không đi mất. Ngay đêm ấy vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la
lòng cảm thấy sợ hãi, ba phen trỗi dậy, trong giấc ngủ
nghe âm thanh dữ rằng: ‘Thích Đề-hoàn Nhân sẽ cất bốn
binh chủng đánh nhau với A-tu-la.’ Sau khi thức dậy, lòng
cảm thấy kinh hoàng, sợ hãi, lo lắng là chắc chắn sẽ chiến
bại, đành phải rút lui chạy về cung A-tu-la.
Bấy
giờ, quân địch đã rút lui, đắc thắng rồi, Thiên đế
Thích đi đến trú xứ các Tiên nhân nơi rừng vắng, lễ dưới
chân các Tiên nhân, rồi lui ra bốn phía trước các Tiên nhân,
hướng về Đông ngồi xuống. Lúc ấy gió Đông khởi lên,
có một Tiên nhân liền nói kệ:
Nay
các ẩn sĩ này,
Xuất
gia đã lâu ngày,
Nách
rịn mồ hôi nhơ,
Chớ
ngồi trước chiều gió,
Thiên
Nhãn hãy dời chỗ.
Ở
đây hôi khó chịu.
Thiên
đế Thích nói kệ đáp:
Dùng
mọi thứ hương hoa,
Kết
lại làm tràng hoa.
Nay
hương tôi ngửi được,
Còn
thơm cả hương kia,
Dù
ít ngửi hương này.
Nhưng
chưa từng ghê, chán.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thiên
đế Thích là vua Tự tại của cõi trời Tam thập tam mà cung
kính người xuất gia, cũng thường khen ngợi người xuất
gia, cũng thường khen ngợi đức cung kính. Tỳ-kheo các ông
chánh tín, xuất gia, học đạo, không nhà thường nên cung
kính các bậc phạm hạnh, cũng nên khen ngợi đức cung kính.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1116. DIỆT SÂN[46]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ sáng sớm, Thiên đế Thích đi đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật. Do thần lực của Đế Thích, ánh sáng
từ thân tỏa ra chiếu khắp tinh xá Kỳ thọ. Lúc này, Thích
Đề-hoàn Nhân nói kệ hỏi Phật:
Vì
giết hại những gì,
Mà
ngủ được an ổn?
Vì
giết hại những gì,
Mà
được không lo sợ?
Vì
sát hại những gì,
Được
Cù-đàm khen ngợi?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Hại
sân nhuế, hung ác,
Mà
ngủ được an ổn,
Hại
sân nhuế, hung ác,
Tâm
được không lo sợ.
Sân
nhuế là rắn độc,
Chủng
tử khổ tìm tàng.
Ta
đã diệt chúng rồi,
Nên
được không lo sợ,
Vì
giống khổ đã diệt,
Nên
được Hiền thánh khen.
Sau
khi Thích Đề-hoàn Nhân nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ,
tùy hỷ đảnh lễ lui ra.
*
KINH
1117. NGÀY MỒNG TÁM[47]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
ngày mồng tám mỗi tháng[48], bốn Đại thiên vương ra lệnh
các đại thần đi xem xét nhân gian. Những người nào cúng
dường cha mẹ, Sa-môn, Bà-la-môn, tôn kính tôn nhân, làm các
phước đức; thấy ác đời này lo sợ tội đời sau, bố
thí làm phước, thọ trì trai giới; vào các ngày mồng tám,
mười bốn, mười lăm mỗi tháng và tháng thần biến[49],
thọ giới, bố-tát.