Đức
Phật có đề cập gì đến sinh hoạt kinh tế hay không. Khi
theo dõi những hậu quả của kinh tế thị trường, tôi còn
phải đi tìm hiểu lập trường của Phật giáo về các vấn
đề môi sinh, nhất là đối với việc khai thác tài nguyên
không tái tạo, thái độ đối với sự nghèo khổ (và những
chế độ chính trị đưa đến nghèo khổ), đối với chủ
trương tiêu thụ hàng hóa thả cửa, đối với công ăn việc
làm, vai trò của từ bi trong các hoạt động thương mãi và
cuối cùng đến một câu hỏi tối hậu mà mọi tôn giáo đều
muốn có câu trả lời: ý nghĩa của đời sống là gì?
Sự
sụp đổ của Liên bang Xô-viết và khối Đông Âu khiến chủ
nghĩa tư bản trở thành một khuôn mẫu kinh tế và chính trị
duy nhất “tượng trưng” cho dân chủ và thịnh vượng của
cả thế giới. Trong tác phẩm The End of History, Fukuyama lạc
quan tuyên bố một cách chắc nịch “lịch sử đã đến giai
đoạn cuối với chủ nghĩa tư bản”. Để dân chúng tại
các nước đang phát triển khỏi lỡ “chuyến tàu lịch sử”,
quá trình toàn cầu hóa được phát động nhằm “khuyến
khích” chính quyền của các quốc gia này đón nhận mô thức
dân chủ kiểu phương Tây về mặt chính trị và mô thức
tự do mậu dịch về mặt kinh tế. Nga và khối Đông Âu, sau
một thời gian ngắn hồ hởi “dân chủ hóa”, nhà cầm quyền
và dân chúng bắt đầu tự hỏi việc đeo đuổi mô thức
chính trị – kinh tế kiểu Mỹ liệu có phải là một thái
độ sáng suốt? Các nước nghèo ở châu Mỹ La-tinh cũng sau
một thời gian theo chủ trương “Châu Mỹ của người châu
Mỹ”, mở rộng cửa cho chính sách tự do mậu dịch, trong
khi nhìn lại chỉ thấy cái hố sâu ngăn cách giữa người
nghèo và người giàu càng ngày càng thăm thẳm. Ngay cả các
nước Nam Mỹ giàu có nhất, qua một đêm bừng con mắt dậy,
chợt thấy mình đang nằm trên bờ vực phá sản, điển hình
là Mexico, Brazil và Argentina.
Khi
được thổ lộ là đang nghiên cứu về kinh tế Phật giáo,
một người bạn thân nhìn tôi một lúc lâu, rồi nói: “Như
vậy đề tài chắc giới hạn lắm!”. Giới hạn? Ngoài chuyện
trở lại lục lạo giáo lý căn bản của Phật giáo xem có
nguyên lý nào hỗ trợ cho ý niệm kinh tế, tôi còn phải theo
dõi xem Đức Phật có đề cập gì đến sinh hoạt kinh tế
hay không. Khi theo dõi những hậu quả của kinh tế thị trường,
tôi còn phải đi tìm hiểu lập trường của Phật giáo về
các vấn đề môi sinh, nhất là đối với việc khai thác tài
nguyên không tái tạo, thái độ đối với sự nghèo khổ (và
những chế độ chính trị đưa đến nghèo khổ), đối với
chủ trương tiêu thụ hàng hóa thả cửa, đối với công ăn
việc làm, vai trò của từ bi trong các hoạt động thương
mãi và cuối cùng đến một câu hỏi tối hậu mà mọi tôn
giáo đều muốn có câu trả lời: ý nghĩa của đời sống
là gì? Tại sao con người tiếp tục trầm luân trong biển
khổ và làm cách nào để qua bên kia bờ hạnh phúc? Không
những đề tài không bị giới hạn mà càng ngày tôi càng
bị lôi cuốn vào nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, chính
trị, tâm lý, đạo đức và siêu hình! Tôi có một người
bạn đang nghiên cứu về đề tài kinh tế Phật giáo để
trình luận án tiến sĩ ở đại học miền Tây Sydney (UWS).
Có lần anh nói: “Tôi sẽ đưa ra một mô thức để thay đổi
tận nền tảng đạo đức phương Tây”. Lúc đó tôi bán
tín bán nghi, chỉ chúc tụng xã giao: “Good luck!”.
Có
một đường lối “thứ ba” nào có thể làm kinh tế phát
triển mà không làm tổn hại đến địa cầu và giúp mọi
người cùng hưởng những thành quả kinh tế không? Và ngay
cả khi con người hưởng thụ tràn trề mọi tiện nghi vật
chất, con người có đạt đến “hạnh phúc” không? Con đường
“trung đạo” của đạo Phật có thể đóng góp được gì?
Không
phải đợi tới khi Schumacher nhắc nhở kinh tế phải phục
vụ con người, “as if People mattered”. “As if” là một ước
mơ, là một lời kêu cứu! Kinh tế càng ngày càng trở nên
chuyên biệt hóa và có tham vọng trở thành một “khoa học”
của những “con số”. Con người đột nhiên biến mất và
“People don't matter any more”! kể từ khi giải Nobel kinh tế
được Hội Hàn lâm Thụy Điển đề nghị từ năm 1968, các
kinh tế gia Mỹ (hay có quốc tịch Mỹ) khống chế số người
được giải. Cho đến năm 1996 có 24 kinh tế gia Mỹ trong số
40 người nhận giải Nobel và phần lớn chuyên về kinh toán
học (Econometrics). Các nhà kinh tế này thường đề nghị những
mô thức toán học để tiên đoán các mô thức phát triển.
Ngược lại các nhà kinh tế châu Âu có cái nhìn dịu dàng
hơn với con người. Sir John Hicks (được giải Nobel năm 1972)
cho thấy trong hàng ngũ của các kinh tế gia châu Âu đã có
những dấu hiệu “bất tín nhiệm” các mô thức dựa trên
kinh toán học và xem kinh tế không thể nào hoàn toàn là một
môn khoa học “phổ quát” “hợp lý” thường được gọi
là “economic rationalism”. Joseph E. Stiglitz, người được giải
Nobel 2001, Phó Giám đốc Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã
chỉ trích những biện pháp cứng nhắc sai lầm của Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF) và Amartya Sen, người được giải Nobel
năm 1998, đã đưa ra một con đường “thứ ba”, vừa giúp
các nước thuộc thế giới thứ ba phát triển, vừa bảo vệ
kinh tế và văn hóa địa phương, cũng như thực hiện một
chính sách phân phối tài sản quốc gia một cách công bằng
hơn. Quan điểm của hai kinh tế gia trên rất quan trọng bởi
họ là những người chủ trương “chủ nghĩa xét lại”.
Nỗ
lực dùng đạo đức để hướng dẫn đường lối phát triển
kinh tế không phải chỉ mới xuất hiện gần đây; ngay chính
“cha đẻ” của nền kinh tế tự do, Adam Smith (1723-1790) cũng
đã đặt vấn đề này. Trong khi tác phẩm The Wealth of Nations
được khai thác một cách tận tình và được xem như là thánh
kinh, tác phẩm The Theory of Moral Sentiments của Smith, đặt vấn
đề liên hệ giữa tư lợi và đạo đức, bị các nhà kinh
tế cố tình bỏ quên. Trong The Wealth of Nations, ông đã cổ
vũ cho một nền kinh tế bất can thiệp (laissez-faire) và cho
rằng tham lam và tư lợi là “bản chất” của con người
và là động cơ chính yếu thúc đẩy các hoạt động kinh
tế. Kinh tế bất can thiệp sẽ tạo sự giàu có cá nhân và
do đó đưa đến sự giàu có quốc gia. Giả thuyết như “bàn
tay vô hình” hướng dẫn thị trường của Smith đã bị thách
đố và hiện nguyên hình là những “giả thuyết”, những
“tiền đề, cũng giống như tiền đề "ai cũng có Phật tính”
hay “nhân chi sơ tánh bản thiện” của Mạnh Tử. Vào cuối
đời, khi cuộc cách mạng kỹ nghệ lên tới mức cao điểm,
chính Smith đã chứng kiến bộ mặt trái của nền kinh tế
tự do: các nông dân Anh bỏ nông thôn ra thành thị tìm việc
làm nhưng thay vì hưởng được thành quả của cuộc cách
mạng kỹ nghệ, họ trở thành công nhân vô sản ở các thành
phố lớn. Từ “bần cố nông” qua “bần công nhân”, họ
sống một cuộc đời lầm than, vất vưởng không gốc không
rễ. Chính sự bần cùng do cuộc cách mạng kỹ nghệ gây ra
đã biến thành một mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển
của chủ nghĩa Mác và sự thành lập các chế độ cộng sản.
Các kinh tế gia Anh sau đó ít người còn tin vào “bàn tay
vô hình” của Smith, như J.S. Mills (1806-1873), Alfred Marshall
(1842-1924) và nổi tiếng nhất là J.M. Keynes (1883-1946), đều
nghiêng về sự can thiệp của chính phủ trong trường hợp
cần thiết để ngăn chặn những hậu quả thái quá của kinh
tế thị trường.
Nhà
kinh tế Anh Joan Robinson (1903-1983) nửa thật nửa đùa nói là
mọi người nên học kinh tế, không phải để tìm một giải
pháp nào, nhưng để khỏi bị các huyền thoại kinh tế đánh
lừa. Cũng như nhiều môn tự nhận “khoa học” khác, môn
kinh tế có nhiều “huyền thoại” cần được “giải hoặc”.
Thí dụ như huyền thoại lòng tham lam là “bản tính con người”,
tư lợi cá nhân là động lực chính thúc đẩy các hoạt động
kinh tế và “bàn tay vô hình” sẽ tự động điều hợp
các hoạt động kinh tế. Từ lúc Thatcher-Reagan nắm chính quyền,
các quốc gia đang phát triển đã được “khuyến khích”,
“thúc đẩy” và nếu cần “ép buộc” các quốc gia này
“hồ hởi” chấp nhận mô thức phát triển của phương
Tây. Ở đâu người ta cũng nghe “kinh tế thị trường, please,
please!”.
Shinichi
Inuoe, một người lãnh đạo ngành tài chính và ngân hàng của
Nhật, đã dùng tư tưởng của đạo Phật để nghiên cứu
là cổ động cho một nền kinh tế không (hay ít ra cũng bớt)
tàn hại môi sinh. Sau khi tốt nghiệp ngành kinh tế tại Đại
học Tokyo, Inoue gia nhập Bank of Japan và dần dần đảm nhiệm
những chức vụ quản lý cao cấp. Sau đó ông được đề
cử vào chức vụ Chủ tịch Ban Quản trị Ngân hàng Miyakazi
vào năm 1975. Hiện nay ông là Chủ tịch Phong trào Tổ chức
Phát triển Phật giáo (Bukkyo Shinko Zaidan) và là một thành
viên của Viện Nghiên cứu Kinh tế Phật giáo thuộc Đai học
Komazawa. Cũng như phần lớn các thanh niên tân học, ông chỉ
đến với Phật giáo khi có những xáo động tâm linh lớn
lao. Cha mẹ ông qua đời khi ông còn là một học sinh tiểu
học. Nhận thấy lời Phật dạy về vô thường, ông bắt
đầu nghiên cứu tư tưởng của Đạo Nguyên, Tổ phái thiền
Tào Động và Thân Loan (Tổ phái Tân Tịnh Độ Nhật), dù
thoạt nhìn tư tưởng hai phái này có vẻ tương phản nhau.
Trong thời gian theo học ngành kinh tế, ông lấy làm ngạc nhiên
vì chương trình học không để ý gì đến mối liên hệ giữa
đạo đức và kinh tế, không để ý đến việc phân phối
tài sản quốc gia để mọi người có thể hưởng được
thành quả kinh tế. Dù Phật giáo đã thấm sâu vào văn hóa
Nhật, chương trình kinh tế tại các đại học không để
ý gì đến vai trò của Phật giáo trong các mô thức phát triển.
Chỉ khi ông về hưu, ông mới đọc được một tác phẩm
“kinh tế Phật giáo” do Giáo sư Tomoji Hirayama thuộc Đại
học Tsukuba. Sau đó ông hoàn toàn để thì giờ nghiên cứu
về kinh tế Phật giáo tại Đại học Phật giáo Komazawa. Ông
thú nhận đã bị ảnh hưởng sâu đậm từ tác phẩm của
E.F. Schumacher, Small is Beautiful, An Economic As If People Mattered.
Sự
tương phản giữa một khoa học công khai ca ngợi
“Greed
is Good”, cổ động cho lòng ham muốn tiêu thụ và vinh danh
luật “chọn lựa tự nhiên về phương diện xã hội”, ai
mạnh thì người ấy sống sót, và một tôn giáo chủ trương
giảm thiểu ham muốn và lấy từ bi làm căn bản đạo đức
đã quá rõ ràng! Sau nhiều năm thảo luận với các lãnh tụ
doanh nghiệp và công nhân, Inoue đã hoàn thành hai tác phẩm
Buddhist Business Management được phát hành vào năm 1987 và Economics
To Save the Earth, phát hành vào năm 1994. Hai tác phẩm trên được
tổng hợp và dịch ra Anh ngữ với nhan đề Putting Buddhism
To Work do Nhà Xuất bản Kodansha xuất bản vào năm 1997. Như
nhan đề cho thấy, Inoue không chú tâm bàn luận đến những
vấn đề lý thuyết như Schumacher, nhưng đề cập đến yếu
tính của một nền kinh tế Phật giáo cũng như những gì đã
được ứng dụng và thực hiện tại Nhật, một nước Á
châu có thành quả về kinh tế không thua bất cứ một nước
phương Tây nào.
Theo
Inoue, Nhật là một quốc gia thích hợp nhất để tìm một
mô thức phát triển kinh tế thị trường “mới”, dựa trên
những giá trị đạo đức truyền thống, nhất là Phật giáo.
Cuộc đời của Đức Phật là một thí dụ điển hình để
suy nghĩ về mô thức kinh tế. Đức Phật đã từ bỏ những
tiện nghi vật chất trong cung vàng để đi tìm một giải đáp
cho nhu cầu tâm linh. Sau nhiều năm học hỏi nhiều cách tu
tập khác nhau, Đức Phật nhận thấy rằng con đường khổ
tu cũng cực đoan như con đường hưởng thụ vật chất. Phật
giáo không bao giờ nên được hiểu như một tôn giáo phủ
nhận kiếp nhân sinh hay chỉ dành cho những người tu tập
trong hang thâm cùng cốc hay quay lưng lại với cuộc đời.
Trong khi thế hệ đệ tử sống gần Đức Phật khi Ngài còn
tại thế có thái độ bảo thủ và xa cách với quần chúng,
các tân tăng trong các phái Đại thừa hiểu rõ về bài học
của cuộc đời của Đức Phật. Nếu muốn từ bỏ cuộc
đời, Đức Phật đâu có bỏ ra 49 năm truyền bá giáo pháp.
Đối với các Phật tử Đại thừa, Phật giáo là con đường
Phật giáo nhập thế của các vị Bồ tát. Nói nhập thế
là nói gượng ép, vì nói cho rốt cùng, Phật giáo nào mà
chẳng nhập thế.
Một
trong những người thấm nhuần Phật giáo trong hoàng gia Nhật
là Thái tử Shotoku (574-622). Ông là một trong những người
thảo Hiến pháp Thập thất điều của Nhật, trong đó đã
phản ánh đậm đà tư tưởng Phật giáo. Hiến pháp Nhật
cổ động cho sự hòa hợp và độ lượng giữa các tôn giáo
(giữa Thần đạo và Phật giáo). Một dấu ấn quan trọng
khác trong Hiến pháp Thập thất điều là việc đặt trọng
tâm vào sự an sinh của dân chúng, nhất là những người nghèo.
Trong thời kỳ này, các tự viện Phật giáo Nhật thường
dựa vào sự cúng dường của giai cấp thương gia. Có thể
vì muốn đề cao vai trò của giới thương mại, quan niệm
về quyền sở hữu, tài sản và tiền bạc của giới Sa môn
cũng rộng rãi hơn so với Phật giáo Nguyên thủy. Trong thời
đại Tokugawa (1600-1868), Nhật bắt đầu bước vào một thời
đại phồn thịnh về kinh tế và hệ thống tiền tệ đã
bắt đầu có cơ sở vững chãi. Một nhà nghiên cứu về nước
Nhật, Edwin O. Reischauer (1910-1990) nhận xét đây là giai đoạn
nước Nhật phát triển một chủ nghĩa “tư bản” cho riêng
mình. Một nhà nghiên cứu khác, Robert Bellah, cho rằng thời
kỳ phát triển kinh tế này ở Nhật tương đương với thời
kỳ phát triển kinh tế tư bản ở phương Tây, dưới ảnh
hưởng của đạo đức Tin Lành.
Một
trong những nhà sư có ảnh hưởng đến chủ nghĩa “tư bản”
quốc gia Nhật là Suzuki Shasan (1579-1655). Nhà sư này cho rằng
dù làm một công việc gì, cá nhân đó đều đáng tôn trọng
vì họ đang hành trì một pháp môn trên con đường giác ngộ.
Shasan thường nhắc nhở đến pháp thoại sau: “Những người
nào đang làm việc trong các hoạt động kinh tế sẽ được
tưởng thưởng xứng đáng cho những cố gắng của họ, bởi
vì những công việc làm này cũng là một cách thực tập tâm
linh”. Sư khuyến khích các thương gia suy nghĩ về những giá
trị tâm linh, nên thành thật trong các hoạt động thương
mãi, và phát tâm Bồ tát, hành xử như các vị Bồ tát, lúc
nào cũng lo lắng đến an sinh của người khác. Quan niệm này
cũng tương tự như quan niệm của Schumacher về công việc
làm. Công ăn việc làm không những đem lại lợi tức cần
thiết để sinh sống, mà còn là thực phẩm nuôi dưỡng tâm
linh. Do đó một thương gia chân chính không những xứng đáng
có một đời sống vật chất dồi dào, họ còn có cơ hội
tu tập tâm linh. Tư tưởng này cũng rất gần gũi với quan
niệm của Weber về sự liên hệ giữa giá trị đạo đức
Tin Lành và quá trình phát triển kinh tế tư bản ở phương
Tây. Trái với hiểu lầm thông thường, Phật giáo không bao
giờ cổ động cho sự nghèo khổ, nhất là sự nghèo khổ
đó do một cơ cấu chính trị và xã hội bất công gây ra.
Thành quả vật chất và một đời sống sung túc không có
gì sai trái nếu như tài sản kiếm được bằng những phương
tiện chính đáng, như cần kiệm, khả năng cao và nhiều sáng
kiến. Tuy nhiên, một trong những hạnh nguyện của Bồ tát
là bố thí, nghĩa là sử dụng tài sản một cách hợp lý
và rộng rãi. Bủn xỉn mới là điều đáng trách vì chứng
tỏ người này còn chấp ngã và lúc nào cũng khư khư giữ
chặt tài sản. Đạo đức Tin Lành biện chính cho sự giàu
sang trong xã hội tư bản bằng cách cho rằng sự thành công
về mặt vật chất phản ánh ân sủng trực tiếp của Thiên
Chúa. Điểm khác nhau giữa hai bên là, trong khi Phật giáo khuyến
khích các tín đồ tiết dục, Tin Lành khuyến khích tín đồ
tích lũy tài sản. Càng giàu chừng nào chứng tỏ càng được
nhiều ân sủng của Thiên Chúa chừng đó.
Một
khuôn mặt khác đóng góp nhiều cho chủ nghĩa “tư bản”
quốc gia Nhật là Rennyo (1415-1499). Sư là Tổ thứ hai của
phái Jodo Shinshu thuộc tông Tịnh Độ. Nhà sư này đã khuyên
các thương gia: “Khi hoạt động thương mãi, nên xem công
việc của mình như là công việc hoằng hóa của Phật”.
Các thương gia khắp nước Nhật trân trọng lời khuyên này,
nhất là ở hai khu vực Ohmi (Shiga) và Osaka, nơi ảnh hưởng
của vị sư này mạnh nhất. Ngay cả đến ngày nay, một doanh
nghiệp được sáng lập ở khu này, Itochu, đã phát triển
thịnh vượng nhờ chấp nhận lời khuyên này.
Những
kinh nghiệm về kinh tế tư bản ở Nhật
Kinh
tế Nhật phát triển từ thời đại Tokugawa và mặc dù cần
nhiều nhiên liệu để sản xuất, nhưng đó là một mô
thức kinh tế “tái chế biến” và tránh làm ô nhiễm môi
sinh, khác với nền kinh tế hiện đại của Nhật.
Đây
là triều đại võ sĩ đạo sứ quân, kinh đô được đặt
ở Edo. Lúc đó triều đình và các sứ quân nơm nớp lo sợ
thế lực thực dân phương Tây vì Nhật chứng kiến các nước
thực dân đến xâm chiếm các quốc gia Đông Á, đàn áp chính
trị, bóc lột kinh tế và dùng các nhà truyền giáo dùng mọi
phương thức cải đạo tập thể dân địa phương. Tin Lành
lẫn Thiên Chúa, trở thành khí cụ xâm lăng văn hóa và nhắm
bứng gốc rễ tinh thần của các dân tộc bản địa. Chính
quyền sứ quân do đó đã thi hành một chính sách đóng cửa,
chỉ buôn bán với Hòa Lan và chỉ mở một cửa cảng, Nagasaki,
để giao thương. Edo trở thành trung tâm kinh tế quốc nội
và chính quyền trung ương áp lực các sứ quân địa phương
để có những giao hoán thường xuyên giữa kinh đô và các
thành phố địa phương. Người ta chứng kiến các giao lưu
nhân sự và thương mãi nhộn nhịp, hàng hóa, tiền bạc và
khiến kinh tế quốc nội phồn thịnh. Bấy giờ Edo là một
thành phố đông dân nhất thế giới và hoạt động kinh tế
làm các thành phố càng ngày càng nhộn nhịp. Thế nhưng vì
chính quyền áp dụng chính sách tái chế biến để giảm ô
nhiễm môi sinh nên đây là một mô hình kinh tế tái chế biến
có hệ thống quy mô so với thời bấy giờ. Phân người được
thu nhặt và tái chế biến thành phân bón và chuyên chở đến
các nông dân tại các vùng xa xôi. Phân bón được hoán đổi
với rau cải hay các hoa màu khác. Một hệ thống các ống
bằng gỗ được dùng để dẫn và phân phối nước một cách
có hiệu quả và tránh được phung phí. Các rác thải từ
các thành phố cũng được đốt và tái chế biến thành phân
bón. Các dụng cụ được chế tạo bền bỉ lâu hư để khỏi
phải sửa chữa. Các nước dơ thay vì thải ra có thể làm
dơ bẩn sông lạch, được dẫn về các nơi nhất định để
nước tự thấm vào lòng đất. Các kỹ thuật tái chế biến
này từ thời kinh tế Edo được Viện Nghiên cứu Nishihara
Eisei, thành lập từ năm 1916, tiếp tục cải thiện để chế
biến các rác rến thải ra từ các hệ thống rãnh hiện nay
ở Nhật. Những nguyên tắc tái chế biến để giảm mức
ô nhiễm một cách tối đa này được gọi là Mottainai. Từ
ngữ Nhật này có nghĩa là người cảm thấy nhỏ bé trước
thiên nhiên vĩ đại và đồng thời cũng cám ơn thiên nhiên
đã cung cấp tài nguyên cho mọi chủng loại sống còn. Ý niệm
này phát nguồn từ sự kính trọng thiên nhiên của đạo Phật:
tất cả chúng sinh, từ đất đá cỏ cây đều có đời sống
riêng và có Phật tánh.
Một
nhân vật nữa, Ishida Baigan (1685-1744) đã phối hợp đạo lý
của tam giáo tại Nhật (Thần đạo, Phật và Khổng) để
làm nền tảng đạo đức cho giới thương gia ở thời Edo
tại Nhật.
Đến
thời Minh Trị (1868-1912), Thần đạo bắt đầu thắng thế
và vai trò của Phật giáo bắt đầu lu mờ. Các tư tưởng
phương Tây cũng bắt đầu du nhập vào Nhật. Trong giai đoạn
này, một người được xem như là nhân vật đóng góp rất
nhiều vào kinh tế tư bản Nhật hiện đại, Eiichi Shibusawa
(1840-1931). Gốc nông dân, nhưng sau ông cố gắng vươn lên
một địa vị chính yếu trong chính quyền, Shibusawa tin tưởng
rằng thương mại và đạo đức phải song hành với nhau. Một
nhân vật khác, Zenjiro Yasuda (1838-1921) đã thành lập một ngân
hàng tư nhân lớn nhất ở Nhật, the Fuji Bank. Ông là một
tín đồ thuần thành của phái Tịnh Độ và bắt đầu sự
nghiệp từ vai trò của một người đổi tiền. Không như
những ngân hàng lớn khác thường đối xử với khách hàng
tùy theo địa vị xã hội, Yasuda đối xử với mọi người
hoàn toàn như nhau. Đối với các tín đồ trong phái Tịnh
Độ, mọi người đều tuyệt đối bình đẳng dưới mắt
của Phật A Di Đà. Châm ngôn của ngân hàng của ông là “khi
hoạt động thương mại, phải biết quên mình và đặt mình
vào địa vị của khách hàng”. Ông tặng nhiều số tiền
lớn cho các hội từ thiện nhưng không cho ai biết tông tích.
Đến khi ông mất, mọi người mới biết ông đã giúp đỡ
cho nhiều hội từ thiện. Đối với Phật tử, làm việc thiện
là một cách thực tập hạnh bố thí, không phải là một
cách khoe khoang. Người kế thừa Yasuda là Kichizaemon Takemura
(1900-1984), tiếp tục xây dựng Công ty Bảo hiểm Yasuda Mutual
Life Insurance và tiếp tục cổ động những ý tưởng Phật
giáo trong các hoạt động kinh tế. Ông xuất bản tập san
Kokoro no Kate (Thực phẩm tâm linh) và thành lập tổ chức
Hoằng hóa Phật giáo (Bukkyo Shinko Zaidan).
Những
nguyên tắc nền tảng của kinh tế Phật giáo
Không
như Tỳ kheo Payutto dùng kinh điển để giải thích các ý niệm
kinh tế, Inoue dùng một số nguyên tắc căn bản của Phật
giáo Đại thừa để thành hình một mô thức kinh tế mà trọng
tâm là phục vụ con người, nói như E.F. Schumacher, People Matter.
Kinh tế hiện đại sa lầy vào con đường định lượng và
cố gắng chứng tỏ tự thân là một loại khoa học không
bị ràng buộc vào một giá trị nào. Nguyên tắc đầu tiên
Đại thừa dựa trên lời nguyện của Bồ tát. Bồ tát từ
chối theo con đường Độc giác Phật, quyết ở lại cõi Ta
bà để cứu độ tất cả chúng sinh. Nguyên tắc kinh tế đầu
tiên do đó là “lợi mình và lợi người”, như một ngạn
ngữ Tây phương – Live and Let Live. Kinh tế thị trường chỉ
thúc đẩy con người nhắm mắt chạy theo tư lợi và làm tất
cả mọi cách để đạt đến mục đích này. Đó là một
thứ luật rừng xanh về mặt xã hội, như luật sống còn
của những chủng loại mạnh nhất trong thuyết tiến hóa của
Darwin. Thân Loan (Shinran, 1173-1263), người sáng lập ra tông
Tịnh Độ ở Nhật, nhấn mạnh đến nguyên tắc lợi mình
– lợi người trên bình diện tôn giáo, nhưng nguyên tắc
này có thể áp dụng vào mục tiêu kinh tế Phật giáo. Một
vị sư khác, Đạo Nguyên, cũng nói: “Khi đạt đạo thì không
còn phân biệt đâu là ta – đâu là người”. Nhà kinh tế
Schumacher cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc này trong Small is
Beautiful sau nhiều năm sống và quan sát xã hội Myanmar (Miến
Điện).
Nhiều
người nghĩ lòng vị tha – bố thí (hiểu như hạnh Bồ tát)
có thể giúp cá nhân trong việc tu nhân tích đức để kiếp
sau được tái sinh vào một giai tầng “khá” hơn, nhưng không
đóng một vai trò tích cực nào trong hoạt động kinh tế.
Inoue dẫn chứng trường hợp của Henry Ford (1853-1947), một
nhà sản xuất xe hơi lớn nhất ở Mỹ. Các quản lý doanh
nghiệp thông thường tìm cách giảm sở phí nhân công càng
nhiều càng tốt và trong trường hợp của kinh tế toàn cầu,
dùng nhân công ở các nước đang phát triển với tiền lương
rẻ mạt. Tuy nhiên Ford nhận thấy rằng hàng sản xuất phải
có người tiêu thụ, nên trả lương nhân công ở mức khá
cao để họ có đủ lợi tức để mua xe và đồng thời tìm
cách kiện toàn kỹ thuật sản xuất hàng loạt để hạ giá
thành của xe hơi ở mức độ tối thiểu. Inoue cũng đưa ra
một thí dụ khác liên hệ đến một nhà kỹ nghệ Nhật,
Tadao Yoshida, chủ nhân kỹ nghệ sản xuất zipper. Ông ta vừa
cố gắng giữ giá thành ở một mức hợp lý để cho có nhiều
người tiêu thụ và đồng thời dùng tiền lời đầu tư vào
việc nghiên cứu để hoàn thiện kỹ thuật sản xuất zipper
và công ty của ông hiện nay trở thành một công ty đứng
hàng đầu thế giới về ngành này.
Cũng
như Schumacher, Inoue nhận ra đặc tính thứ hai của kinh tế
Phật giáo là độ lượng và hòa bình. Các nước theo Phật
giáo có thể liên hệ đến các cuộc chiến tranh vì những
lý do khác nhau nhưng chưa bao giờ nhân danh Phật giáo để
liên hệ vào một cuộc “thánh chiến”. Giới sát là giới
quan trọng đứng hàng đầu trong các giới cấm và nếu giải
thích trong hoàn cảnh hiện đại, người Phật tử không những
không trực tiếp sát nhân, mà cũng không được cổ vũ hay
ủng hộ một cơ cấu chính trị gây chiến tranh. Giới sát
này đã gây hứng khởi cho Gandhi khởi xướng nguyên tắc bất
bạo động. Một trong những Phật tử thi hành chính sách độ
lượng và hòa bình là Asoka, một hình ảnh đúng nhất của
ẩn dụ đồ tể buông dao thành Phật. Sau khi gây ra cảnh máu
sông xương núi, Asoka cố gắng xây dựng một nền kinh tế
và chính trị trong đó mọi người có đủ ăn đủ mặc. Vị
hoàng đế này thừa biết rằng bần cùng sinh đạo tặc, chính
sự nghèo đói đã gây ra những bất ổn xã hội. Ông cũng
tạo ra những chế độ an sinh xã hội cần thiết, đi trước
chế độ an sinh phương Tây gần 20 thế kỷ.
Trong
quá khứ có nhiều Phật tử Nhật kêu gọi chính phủ không
nên giao dịch với những quốc gia sản xuất và buôn bán vũ
khí. Tuy nhiên những lời kêu gọi này chỉ là những tiếng
kêu lẻ loi không thực tế, nhất là trong hai cuộc thế chiến
vừa qua, các chính phủ quân phiệt Nhật xếp hàng với các
chế độ trong trục Quốc xã và cũng trong hai cuộc thế chiến,
có nhiều nhà sư Nhật đã dùng kỹ thuật thiền định để
huấn luyện cho các võ sĩ đạo và quân nhân, tuy nhiên điều
này không có nghĩa là những nguyên tắc bất bạo động không
còn áp dụng được nữa. Trong lịch sử Nhật có nhiều vị
hoàng đế có tinh thần “phản chiến” như Kammu (781-806).
Mặc dù bị Đại Hàn đe dọa trên mạn Bắc, vị hoàng đế
này đã cố gắng hành động theo những nguyên lý đạo đức
Phật giáo. Ông giải tán quân đội Nhật và chỉ giữ lại
một quân đoàn phòng vệ biên giới Nhật – Đại Hàn. Các
lãnh chúa địa phương chỉ được quyền tổ chức một đạo
quân kiểu “nhân dân tự vệ”, đóng vai trò cảnh sát ngày
nay. Trên thực tế Nhật không có một quân đội chính thức
nào cho đến thời đại Kamakura (1192-1333). Sau Thế chiến thứ
hai, Hiến pháp Nhật có ghi một điều luật cấm chính quyền
không được tổ chức một quân đội có khả năng tấn công.
Rất tiếc gần đây chính quốc gia chiến thắng (Mỹ) lại
là nước “khuyến khích” Nhật trở lại hàng ngũ của chủ
nghĩa quân phiệt. Cái viễn ảnh vừa là một cường quốc
kinh tế, vừa là một cường quốc quân sự có thể quyến
rũ các chính phủ Nhật trong thời gian sắp tới tái vũ trang
và không ai biết hậu quả sẽ đến mức nào.
Một
kinh tế cứu vãn địa cầu
Như
Weber chứng minh, giữa kinh tế tư bản và đạo đức Tin Lành
có một mối liên hệ mật thiết. Thần học Ky-tô giáo nói
chung tạo ra một lối suy nghĩ và lối sống của người Tây
phương. Nói một cách khác, văn hóa Tây phương tất nhiên
đưa đến kinh tế tư bản. Và theo Schumacher, những quốc
gia thấm nhuần văn hóa Phật giáo lẽ ra có thể thực hành
mô thức kinh tế Phật giáo. Mơ ước viển vông?
Schumacher
tin là điều này có thể thực hiện được. Nếu đạo đức
Tin Lành sản sinh ra kinh tế tiêu thụ, văn hóa Phật giáo (lẽ
ra) phải phát sinh ra một nền kinh tế Phật giáo. Nhưng Bụt
nhà không thiêng! Các chính quyền các quốc gia Đông Nam Á
đang phát triển “trân trọng” mời các “cố vấn” phương
Tây để lập ra những kế hoạch vĩ đại 5 năm hay 10 năm,
và hăm hở chấp nhận kinh tế thị trường. Không ai chịu
chậm chân vì không ai muốn trễ chuyến tàu lịch sử!
Thần
học Ky-tô đặt con người là trọng tâm duy nhất (anthropocentrism).
Con người là “sản phẩm” của Thượng đế nên chiếm
một địa vị tối thượng và địa cầu là trung tâm vũ trụ.
Ai nói ngược lại là lên giàn hỏa! Vào năm 1989, tạp chí
Time, thay vì chọn một nhân vật xuất sắc nhất trong năm,
đã chọn địa cầu là Planet of the Year. Đó là những năm
mà nhiều nước trong khối xã hội chủ nghĩa đang trên đà
sụp đổ, và chủ trương tự do mậu dịch và toàn cầu hóa
của Thatcher và Reagan trở thành chủ nghĩa “vô địch”.
Khủng hoảng môi sinh lên đến mức trầm trọng và viễn ảnh
của mối đe dọa Greenhouse Effects có thể đưa địa cầu đến
chỗ hủy diệt. Một trong những bài viết do một thượng
nghị sĩ Mỹ, cho là việc diễn dịch một đoạn trong Thánh
kinh một cách cứng nhắc có thể là một trong những lý do
đưa đến chính sách kinh tế hủy diệt các chủng loại trên
mặt địa cầu một cách không thương tiếc. Đó là đoạn
Thánh kinh Genesis 1:27-28:
“Thượng
đế tạo người nam và người nữ theo hình ảnh riêng của
Ngài. Thượng đế ban phép lành và nói với họ: “Các ngươi
phải sinh con đẻ cái cho thật nhiều, tràn đầy mặt đất
và chế ngự địa cầu. Khuất phục cá dưới biển, chim trên
trời và tất cả các sinh vật sống ở địa cầu”.
Dĩ
nhiên đoạn này có thể chú giải nhiều cách, nhưng có nhiều
người hiểu một cách chắc nịch là Thượng đế đã bật
đèn xanh cho con người thống trị và tàn sát những sinh vật
khác.
Phật
giáo trái lại không xem con người là quan trọng nhất mà chỉ
là một cõi trong lục đạo, dù Đức Phật nhiều lần nhắc
các đệ tử việc được sinh vào kiếp người là một điều
may mắn, vì chỉ có con người mới có nhiều cơ hội nghe
Chánh pháp và do đó có nhiều cơ duyên để giải thoát. Khi
nhìn nhận tất cả chúng sinh, đất đá, cỏ cây, vi sinh vật
và muôn thú, đều có Phật tính, tức là một hình thức chấp
nhận sự bình đẳng tuyệt đối giữa mọi chủng loại.
Nguyên
tắc thứ hai, nguyên tắc quan trọng nhất trong kho tàng kinh
điển, thường hay gọi là lý duyên khởi. Không có một chủng
loại nào có thể tồn tại biệt lập, cái này sống nhờ
cái kia, trong chuỗi nhân duyên trùng trùng không đầu không
cuối. Ẩn dụ xâu chuỗi Đế Thích, hạt chuỗi này phản
ánh hột chuỗi khác. Có một là có tất cả, từ một hạt
bụi, cho đến tam thiên đại thiên thế giới. Lý thuyết này
trong một chừng mực nào đó đã được hai khoa sinh học và
vũ trụ học hỗ trợ. Nhỏ nhất là genomes, lớn nhất là
vũ trụ – có thể có những vũ trụ song song – ngoài vũ
trụ – mà các nhà thiên văn vẫn chưa khám phá ra. Như Nguyễn
Công Trứ nói: “Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài”
hay như Thiền sư Từ Đạo Hạnh: “Có thì có tự mảy may.
Không thì cả thế gian này cũng không”.
Trong
bình diện kinh tế, việc khai thác tài nguyên không tái tạo
như than đá, quặng mỏ và dầu lửa sẽ gây ra những tổn
hại không thể cứu chữa được đối với địa cầu. Rừng
cây bị phá hủy (chỉ để làm gỗ vụn hay đũa gỗ!) một
cách thô bạo khiến bao nhiêu chủng loại sinh vật không còn
đất sống và bị diệt chủng dần dần. Điều đó khác nào
chúng ta gây ra trận chiến tranh diệt chủng! Thần học Ky-tô
chỉ để ý đến con người nên không thấy việc tận diệt
các chủng loại sinh vật khác là “tàn ác”, nhưng dưới
con mắt của Phật tử thì có khác. Hạt bụi nào hóa kiếp
thân tôi! Làm sao em biết bia đá không đau? (Trịnh Công Sơn).
Phật giáo Đại thừa, nhất là Thiền, nhấn mạnh tới thế
giới ở đây và bây giờ. Khai thác các tài nguyên không tái
tạo và nhất là sử dụng tài nguyên một cách phung phí là
một cách tự hủy diệt quê hương duy nhất của tất cả
“chúng sinh”. Thay vì chờ đến “kiếp sau”, chúng ta nên
xem địa cầu như là quê hương duy nhất ở đây bây giờ
và xem hành động hủy hoại sinh vật và tài nguyên như chuyện
một đứa con hư, châm lửa đốt nhà của cha mẹ mình. Chặt
cây cũng phải được xem như là hành động sát giới. Các
nhà sư ở Thái Lan chống đối việc chính phủ hủy hoại
rừng một cách vô trách nhiệm, bằng cách đã làm lễ quy
y cho các cội cây lớn. Dân Thái Lan phần lớn theo đạo Phật
nên các phu đẵn gỗ ngần ngại khi ra tay sát thủ, dù là
'sát thủ' một cội cây. Bất cứ môn phái nào trong Phật
giáo cũng đều đồng ý với nguyên lý trùng trùng duyên khởi.
Một tượng Phật vĩ đại được xây tại đền Todaiji ở
Nara. Phật ngồi tĩnh tọa trên một đài sen lớn và nếu đến
gần và nhìn kỹ, chúng ta thấy trên mỗi cánh sen, đều có
một vị Phật nhỏ khác đang tĩnh tọa. Dù có “linh ư vạn
vật” và là chủng loại khôn ngoan nhất trong quá trình tiến
hóa, con người cũng phải cộng sinh với hằng hà sa số chúng
sinh khác. Địa cầu bắt đầu tỏ những dấu hiệu giận
dữ vì sự tàn ác của con người trong việc khai thác tài
nguyên: khí hậu bất thường, hạn hán, ngập lụt, bão bụi...
tóm lại là những dấu hiệu của hiện tượng Global Warming.
Và không ai nghi ngờ gì nữa chính Global Economy gây ra nạn
Global Warming! Mỗi khi phải làm tổn hại bất cứ một chúng
sinh nào (kể cả cây cỏ đất đá), người Phật tử nên
hỏi: “Làm sao em biết bia đá không đau”. Bia đá còn đau
nữa là cây cỏ. Không chỉ giới hạn ở con người như đạo
đức Ky-tô, Á Đông, với nền văn hóa tam giáo, chủ trương
“chúng sinh chủ nghĩa”. Các học giả Phật giáo Mỹ có
lúc đề nghị một từ ngữ êm tai hơn để gọi Tăng già:
Eco-Sangha.
Một
nền kinh tế giản dị
Động
lực của kinh tế thị trường là tư lợi và tích lũy tài
sản. Thay vì là một phương tiện, tài sản biến thành mục
đích chính của đời người. Đạo đức Tin Lành cho rằng
sự thành công về vật chất là một biểu hiện cho ân sủng
trực tiếp từ Thượng đế, không qua trung gian của bất cứ
Giáo hội nào. Dần dần tích lũy tài sản trở thành mục
tiêu tối hậu của các hoạt động kinh tế. Tây phương nghĩ
là “tiến bộ” khoa học, kỹ thuật, kinh tế làm đời sống
con người càng thoải mái và hạnh phúc. Với những sự tiến
bộ vượt bậc về kỹ thuật và mức sống kinh tế được
nâng cao chưa hề có như hiện nay, con người lẽ ra có
rất nhiều hạnh phúc! Dùng chỉ số chính trị, xã hội, mức
sống, văn hóa và tâm lý để thăm dò, nước Mỹ là nước
giàu có nhất nhưng dân Mỹ không cảm thấy hạnh phúc nhất.
Các nước châu Phi là những nước ít hạnh phúc nhất vì
chỉ số kinh tế quá thấp và thể chế chính trị vừa bất
ổn vừa độc tài (nghèo đói nhất nhưng chiến tranh vẫn
xảy ra thường xuyên nhất). Mười trong những nước mà dân
chúng cảm thấy hạnh phúc nhất là các nước Bắc Âu. Các
quốc gia này có chế độ chính trị dân chủ, ổn định và
cởi mở, chỉ số kinh tế dù không đứng hàng đầu (không
nước nào trong G7 hay G8) nhưng dân chúng cảm thấy hạnh phúc
hơn vì nhờ vào chỉ số xã hội tuyệt hảo: lợi tức được
phân phối hợp lý hơn ở Bắc Mỹ và Tây Âu chế độ an
sinh rộng rãi và thuế khóa công bình. Đây mới là những
quốc gia theo xã hội chủ nghĩa thứ thiệt!
Phật
giáo thường bị hiểu lầm cổ động cho sự nghèo khổ qua
lý thuyết nghiệp báo. Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã từng
thú nhận “cái quay búa sẵn trên trời”, “vẻ chi ăn uống
sự thường” cũng đã được “Trời" định sẵn, huống
chi là chuyện giàu hay nghèo, sang hay hèn, thành công hay thất
bại! Cách giải thích nghiệp báo kiểu đó gây ra những ngộ
nhận cho Phật giáo là ù lì. Nghiệp không bao giờ nên được
hiểu như “tiền định tất yếu” hay chấp nhận một lối
sống an phận, thụ động. Nghiệp phải được hiểu như là
sự tự do lựa chọn để chuyển đổi hướng đi của đời
mình. Nếu chấp nhận một lối sống thụ động “trời cho
bao nhiêu ăn bấy nhiêu” thì làm sao chuyển nghiệp? Nếu chỉ
ngồi chờ sung rụng làm sao có chuyện “ai giàu ba họ, ai
khó ba đời”. Ambedkar, người đã đứng ra cải đạo cho
hàng triệu dân Intouchables ở Ấn, quyết liệt chống đối
thái độ dùng nghiệp báo để biện chính cho các cơ chế
xã hội và chính trị bất công. Chỉ đổ lỗi cho cái “nghiệp
báo” của hàng triệu người Intouchables, theo Ambedkar, là một
thái độ bất công, chẳng khác nào đổ lỗi cho nạn nhân,
thay vì đi tìm đích danh thủ phạm. Nền thần học của Bà
La Môn giáo đã dùng làm nền tảng đạo đức biện chính
cho chế độ đẳng cấp ở Ấn, và biện hộ cho những cơ
chế chính trị đã kềm giữ bao nhiêu người sống đời đời
trong kiếp lầm than. Tuy nhiên Phật giáo không đồng hóa sự
giàu có và hạnh phúc. Đối với Phật giáo, mục đích tối
hậu của mỗi người là có một cuộc sống an lạc (nguyện
ngày an lành đêm an lành). Nghèo thường đi đôi với khổ,
nhưng không phải người giàu nào cũng sung sướng. Một người
có đủ yếu tố để có “hạnh phúc” như tiền tài, danh
vọng, gia đình yên vui như tài tử Mel Gibson, gần đây thú
nhận có lúc ông muốn tự tử! Gần đây một tạp chí Úc
tiết lộ là tất cả 6 tài tử trên kênh truyền hình ăn khách
của Mỹ, Friends, không có người nào cảm thấy hạnh phúc.
Yếu tố để có một cuộc đời hạnh phúc, theo lời Phật
dạy, là biết thiểu dục, tri túc (tri túc tiện túc), biết
lúc dừng lại khi cần phải dừng lại (tri chỉ nhi hậu hữu
định – biết dừng đúng lúc mới yên ổn) như Nho gia thường
nói, biết nguyên lý vô thường – (giàu sang phú quý như mây
nổi), đừng bo bo ôm chặt tài sản – thân người còn như
mộng huyễn bào ảnh huống chi là tài sản. Sau 1975, chắc
chắn có nhiều người đã có những kinh nghiệm đau thương
này!
Con
đường Trung đạo của Phật giáo là con đường giản dị:
không hoang phí mà cũng không keo kiệt. Đức Phật có lúc đã
dạy cách sử dụng tài sản cho hàng cư sĩ để có một cuộc
đời an lạc, hạnh phúc. Chi tiêu một phần lợi tức cho bản
thân và gia đình, để dành một ít phòng khi trái gió trở
trời, bố thí giúp đỡ những người khác để nuôi dưỡng
tâm từ bi và nhất là đừng thiếu nợ! Đức Phật không
bao giờ nói tham lam là một điều tốt, không bao giờ đề
cao tư lợi, cũng không thơ mộng hóa sự nghèo khổ. Hạnh
phúc chỉ nửa vời nếu chúng ta quên lãng con đường tu tập
tâm linh. Đó là một lối sống với những nhu cầu đơn giản
trong một nền kinh tế giản dị. Nền kinh tế giản dị là
nền tảng của xã hội an lạc. Không còn ai lo giành giật
hay tìm cách cướp đoạt tài sản của người khác. Không
quốc gia nào tìm cách khống chế và giành giật tài nguyên
của các quốc gia khác. Nghĩa là không có chiến tranh. Một
kinh tế giản dị là kinh tế hòa bình. Một đời sống giản
dị là một cuộc đời an lạc. Hiện nay ai cũng thấy, dù
có che đậy bằng những danh từ hoa mỹ như thế nào, mục
tiêu chính của cuộc chiến tranh ở Trung Đông và Iraq vừa
qua là cuộc chiến tranh giành tài nguyên, nhất là dầu hỏa.
Sự
tương phản giữa kinh tế Phật giáo và kinh tế tiêu thụ
quá rõ ràng. Kinh tế tiêu thụ kích thích lòng tham lam. Chúng
ta hiện nay bị choáng ngợp bởi những hình thức quảng cáo,
xem tiêu thụ đồng nghĩa với hạnh phúc, trong khi kinh tế
Phật giáo nhằm tạo hoàn cảnh giúp con người an lạc và
hạnh phúc. Định nghĩa hạnh phúc thường bị ảnh hưởng
bởi những yếu tố chủ quan, nhất là tùy thuộc vào một
triết lý sống riêng của mỗi người. Không có một hệ thống
kinh tế nào không bao hàm một hệ thống giá trị. Chúng ta
cần giải hoặc huyền thoại xem kinh tế là một thứ khoa
học khách quan – value free. Kinh tế Phật giáo có thể bị
chỉ trích là dựa trên một nền tảng đạo đức, một nền
tảng mà không phải ai cũng đồng ý và có thể “chứng minh”
được. Lời phê bình này cũng có thể áp dụng vào kinh tế
thị trường – tiêu thụ, tuy nhiên tham lam, tư lợi không
phải lúc nào cũng tốt và không phải lúc nào cũng làm tăng
sự giàu có của quốc gia như Smith “mơ ước”. Smith có
ý tưởng như Đức Phật “mơ ước” con người có
một cuộc đời hạnh phúc. Nhưng Smith thiếu một triết lý
về hạnh phúc, đạo Phật hiện diện trên đời chỉ vì một
“đại sự nhân duyên”. Nhân duyên đó không có gì khác
hơn là diệt khổ. Diệt được khổ tức là hạnh phúc. Cả
ba tôn giáo lớn ở phương Đông đều đồng ý muốn diệt
khổ phải tri túc (Khổng), thiểu dục (Lão) và diệt dục
(Phật).
Sách
tham khảo trong chương này:
Allan
Hunt, Badiner, Mindfulness in the Market Place. Parallax Press, Berkeley,
California, 2002.
Shinichi
Inoue, Putting Buddhism to Work. Kodansha International Ltd, Tokyo, 1997.
Quan
Nhu Pham Van Minh: Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of
1963-1966. Van Nghe, California, 2002.
Quán
Như
04-05-2008
11:23:46