Theo
lịch sử tiến hóa của loài người, từ thời kỳ nguyên
thủy, dân số trên trái đất này còn rất ít. Vì thế, sự
ưu đãi của thiên nhiên mà con người được thừa hưởng
rất lớn. Dĩ nhiên lúc đó, người ta không phải đặt vấn
đề về kinh tế, mọi người chỉ sống và hưởng thụ tài
sản của thiên nhiên một cách đơn giản.
Nhưng
đến giai đoạn dân số được phát triển với đời sống
con người được tập hợp thành bộ tộc thì vấn đề bắt
đầu xảy ra, vì đã xuất hiện sự tranh chấp về những
nguồn lợi thiên nhiên.
Và
sang đến thời kỳ mà đời sống của bộ tộc phát triển,
các bộ tộc mạnh bắt đầu đi thôn tính những bộ tộc
yếu kém hơn để chiếm đoạt những nguồn lợi của thiên
nhiên mà địa phương họ không có. Từ đó, mới hình thành
các quốc gia ở thời kỳ phong kiến, khi muốn thể hiện sức
mạnh của họ, muốn làm bá chủ các nước khác, thì vấn
đề phát triển kinh tế quốc gia tất yếu được coi là quan
trọng.
Đức
Phật đã ra đời trong thời kỳ hình thành và phát triển
của các quốc gia trên quả địa cầu này. Có thể nói vấn
đề kinh tế ở thời kỳ đó đã được đặt lên hàng đầu,
vì nước nào có tài nguyên thiên nhiên phong phú là nước
đó giàu có; nước nào có dân số đông mới mạnh. Với sự
giàu có và đông dân, nước đó mới có thể tổ chức những
đoàn quân viễn chinh đi xâm chiếm các nước khác, để cướp
bóc tài sản của con người và tài sản thiên nhiên ở
nước khác về làm giàu cho nước họ. Bấy giờ, sức mạnh
về người và của cải đóng vai trò quyết định cho sự
bành trướng lãnh thổ quốc gia cả trong địa lý lẫn kinh
tế, mà ngày nay chúng ta thường nói là sức người, sức
của. Vì thế, chúng ta thấy rõ mọi quốc gia lúc đó đều
chủ trương phát triển dân số và phát triển kinh tế để
phục vụ cho mục tiêu xâm lăng và làm cho nước họ trở
thành giàu có, hùng mạnh.
Đức
Phật sống trong thời kỳ này, Ngài nhận thấy tình trạng
bất công của xã hội như vậy, mới nói rằng chỉ vì miếng
ăn mà các loài tranh giành, giết hại lẫn nhau. Vì vậy, Ngài
luôn suy tư để tìm cách sống có thể đem lại sự an lành
cho mọi người và tất cả các loài. Chủ trương của Đức
Phật là làm sao phát triển đời sống của cá nhân mà không
làm tổn hại đến người khác, làm sao phát triển đời sống
của con người mà không làm tổn hại đến các loài sinh vật
khác, cho đến sự sống của các loài vô tình như hoa lá,
cỏ cây cũng cần được tôn trọng, bảo vệ. Đó chính là
lý do mà Đức Phật của chúng ta đã xuất gia và dành hết
thì giờ cùng tâm sức trong cuộc sống của Ngài để tìm
ra phương thức hóa giải mọi sự xung đột, sát hại giữa
con người với nhau và giữa con người với muôn loài sống
chung trên trái đất này.
Với
mục tiêu đặt ra như vậy, sau khi thành đạo, Đức Phật
đã đi khắp mọi nơi của miền Ngũ hà ở Ấn Độ để giảng
dạy chân lý mà Ngài đã tìm ra. Những người may mắn gặp
Phật và tiếp nhận được sự giáo hóa của Ngài đã thay
đổi được cuộc sống vật chất lẫn tinh thần và ngày
càng trở thành tốt đẹp, giáo lý của Ngài cũng giúp cho
họ quản lý được xã hội an lành, phát triển hơn. Chúng
ta còn nhớ lịch sử đã ghi lại cuộc hòa giải thành công
một cách thật nhẹ nhàng của Đức Phật . Hai quốc gia tranh
giành chủ quyền về con sông giữa hai nước và cuộc xung
đột lên cao điểm đến độ cả hai nước đều dàn binh
lính để sẵn sàng giết nhau. May thay, Đức Phật đã xuất
hiện và bóng mát an lành của ngài đã xóa tan lửa sân hận,
cùng với những lời khuyên sáng suốt và tràn đầy từ ái
của Ngài đã khiến cho hai đạo quân buông bỏ vũ khí, chiến
tranh được dập tắt. Nghe theo lời Phật dạy, cả hai nước
đều vui vẻ cùng sử dụng chung dòng nước của con sông.
Sau
khi Đức Phật nhập diệt, tư tưởng của Ngài được phân
chia thành hai bộ phái là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ.
Thượng tọa bộ đi theo con đường tiến tới Niết bàn để
thực hiện cho được lý tưởng của cuộc sống. Đó là nếp
sống không làm tổn hại các sinh vật khác và cũng khuyên
mọi người nên thực hiện cuộc sống phát triển bản thân
mà
không xâm hại đến những người khác, đến các loài khác.
Đây chính là quan niệm của Phật giáo Nguyên thủy. Với nền
tảng của nếp sống như vậy, những hành giả của Thượng
tọa bộ hạn chế tối đa đời sống đòi hỏi thú vui vật
chất để có được niềm vui tinh thần và phát triển niềm
an lạc cao nhất là Niết bàn.
Bộ
phái thứ hai là Đại chúng bộ với tư tưởng tiến bộ cho
rằng nếu đời sống cá nhân của người tu đưa đến giải
thoát theo phương cách như vậy, mà không quan tâm đến mọi
sinh hoạt của những người xung quanh hoàn toàn khác với
mình, thì giải thoát này mang tính cách tiêu cực và đôi khi
còn bị tác động ngược lại của xã hội khiến cho họ
không thể giải thoát được.
Với
lý giải này, tư tưởng Phật giáo phát triển đã chủ trương
rằng giải thoát cho người là giải thoát cho mình, làm cho
xã hội tốt đẹp là làm cho mình tốt đẹp. Từ đó, Phật
giáo Đại thừa phát triển đời sống hành Bồ tát đạo,
tức lo phục vụ mọi người, giúp đỡ mọi người có đời
sống vật chất phát triển và tinh thần thăng hoa mới chính
là giải thoát thực sự và lâu dài của hành giả đi theo
dấu chân Phật.
Thể
hiện tư tưởng này là các bộ kinh như Bảo Tích, Duy Ma, Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa, v.v… đều đề cao vấn đề Bồ tát đạo,
nghĩa là xây dựng một xã hội tốt đẹp. Nói cách khác,
lý tưởng của Bồ tát đạo bấy giờ là thiết lập cõi
Tịnh độ ở nhân gian, tức phát triển đời sống vật chất
và tinh thần đến mức độ cao nhất, mà không gây tác hại
cho mọi người và cũng không làm tổn hại sự sống của
tất cả các loài cùng hiện hữu trên hành tinh này.
Nói
theo ngày nay, mô hình Tịnh độ của Bồ tát đề ra là xây
dựng xã hội văn minh, giàu có, nhưng không gây ra ảnh hưởng
độc hại đến mọi người và không làm hư hại môi trường
sống của con người, của muôn loài và của trái đất.
Một
xã hội tốt đẹp cần có đủ bốn yếu tố quan trọng là
không khí trong lành cho mọi người hít thở, không gây ra bệnh
tật, đất đai sạch và nước sạch để con người sống
khỏe mạnh và điều quan trọng không kém là tâm hồn con người
cũng trong sạch.
Các
Bồ tát dấn thân thực hiện lý tưởng này, thì tất cả
mọi người trong xã hội cũng phải đồng tâm hiệp lực trong
việc xây dựng xã hội tốt đẹp, lành mạnh như vậy. Vì
chỉ có một người xây dựng mà người khác phá thì không
có việc nào thành tựu được.
Tinh
thần Bồ tát đạo theo hướng tích cực xây dựng xã hội
như vậy đã thể hiện chiều hướng ngược lại với tư
tưởng tiêu cực nghĩ rằng chỉ lo giải thoát cho riêng mình
thôi, còn ai làm gì cũng được. Nhưng thực tế cuộc sống
ngày nay cho thấy rõ sự ảnh hưởng cộng tồn mật thiết
giữa con người với nhau, giữa con người với các loài và
giữa con người với môi trường. Nếu để cho những người
nhân danh phát triển kinh tế toàn quyền khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên theo hướng trục lợi, ích kỷ, chỉ nghĩ
đến quyền lợi riêng của cá nhân, của quốc gia họ, gây
tác hại cho không khí, đất đai, sông biển bị dơ bẩn, ô
nhiễm bởi các chất độc hại của nhà máy thải ra, hoặc
khai thác cạn kiệt các tài nguyên thiên nhiên gây ảnh hưởng
đến môi sinh, thì chắc chắn sự sống của chúng ta cũng
bị đe dọa.
Thấm
nhuần tinh hoa của Phật dạy, rằng muôn sự muôn vật trên
hành tinh này có mối tương quan tương duyên sâu xa, có sự
cộng tồn hỗ tương mật thiết, chúng ta hiểu loài người
hay bất cứ loài nào đều không thể sống tách biệt mà an
ổn được. Vì thế, Phật giáo Đại thừa luôn để tâm đến
sự phát triển môi trường, phát triển thiên nhiên, phát triển
xã hội để giúp cho đời sống kinh tế của mọi người,
của đất nước được nâng cao. Điển hình là kinh Đại
Bảo Tích đã giới thiệu pháp hội Vô Lượng Thọ nói về
công hạnh của Đức Phật Di Đà và mô hình tốt đẹp tuyệt
đối của thế giới Cực Lạc ở Tây phương do Ngài xây dựng
và điều hành.
Đức
Phật Di Đà đã thiết kế thế giới Cực Lạc có đầy đủ
những tiện nghi hoàn hảo nhất cho cư dân sống ở đó. Thật
vậy, với hệ thống Liên Hoa hóa sinh, không phải thai sinh,
người dân ở Cực Lạc sinh ra từ hoa sen đều có thân thể
khỏe mạnh, tinh khiết, vô nhiễm. Ngoài ra, người dân ở
Cực Lạc được nuôi dưỡng bằng nước bát công đức, nghĩa
là tâm đại bi thuần tịnh của Phật Di Đà tẩy sạch trần
tâm của họ và nuôi lớn tâm Bồ đề của họ, tác động
cho họ được an lạc, thanh tịnh. Đến khi họ chứng được
Vô sinh Pháp nhẫn, tức đã chuyển hóa từ thể xác đến
tâm lý hoàn toàn tốt lành, thì họ sinh ra với đầy đủ
32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, và được sinh hoạt với Thánh
chúng là những người có hiểu biết cao tột, có đạo đức
vô cùng.
Ngoài
ra, Phật Di Đà cũng tạo môi trường sống trong lành cho người
dân ở Cực Lạc, ở đó đất bằng lưu ly, bảy hàng cây
báu, bảy màn lưới giăng … tiêu biểu cho một thế giới
thuần khiết với đất sạch, không khí sạch và nước sạch,
v.v… Cũng có các loài chim như bạch hạc, khổng tước, ca
lăng tần già… nói được pháp Phật, giúp cho người dân
nghĩ đến Phật, Pháp, Tăng; nghĩa là làm cho họ phát chí
hướng thượng, nỗ lực phát huy trí tuệ và đức hạnh như
Phật, có hiểu biết chính xác và sống hòa hợp thanh tịnh,
làm việc ích lợi cho tập thể.
Ngày
đêm ở Cực Lạc chỉ nghe nhạc trời, thấy hoa trời, bất
cứ âm thanh và hình ảnh nào ở Cực Lạc cũng tác động
cho người dân phấn đấu thăng hoa; trong khi ngành công nghệ
phim ảnh và ca nhạc của một số nước văn minh, giàu có
ngày nay được khai thác theo hướng xấu. Họ thu được lợi
nhuận rất nhiều và dĩ nhiên sự phát triển sức mạnh kinh
tế của lĩnh vực hoạt động giải trí này rất lớn. Nhưng
sự phát triển đời sống vật chất và sự hưởng thụ tinh
thần theo hướng không lành mạnh, sa đọa như vậy đã gây
tác hại, nguy hiểm vô cùng cho giới thanh thiếu niên và cũng
tạo ra sự bất an cho xã hội. Thực tế cho thấy phim ảnh
và ca nhạc, múa hát đồi trụy đã gây kích động, bạo lực,
bạo hành cho người nghe, người xem, đã tạo thành một lớp
người hung ác thường sát hại người khác, thích tàn phá
mọi thứ, thích gây rối loạn, bạo động trong xã hội. Rõ
ràng một sự phát triển chỉ nghiêng về việc thu lợi nhuận
thì kết quả của nó luôn luôn song hành với sự tác hại,
một sự tác hại lâu dài và rộng lớn cho cả cộng đồng
xã hội; nhất là lớp thế hệ trẻ. Những người chủ tương
lai của đất nước mà sống cuồng loạn thì cái giá
phải trả cho sự phát triển đời sống vật chất theo cách
đó thật là quá đắt.
Thiết
nghĩ từ thời kỳ xa xưa, Đức Phật đã xây dựng được
một thế giới văn minh thực sự hoàn hảo, với cách nuôi
dạy từ trong thai sen, công dân nước Cực Lạc sinh ra là đã
có thân tâm toàn thiện. Kế đến, được sống trong môi trường
trong sạch hoàn toàn, nên tuổi thọ của người dân ở đó
nhất định phải lâu dài, và quan trọng hơn nữa là được
sinh hoạt với thầy bạn đều là những bậc thượng thiện
nhân hoàn toàn tốt, giỏi, thì tri thức và đạo đức chắc
chắn phải được thăng hoa tối đa. Vì vậy, có thể khẳng
định rằng Cực Lạc là mô hình thế giới phát triển tuyệt
vời nhất, ở đó chỉ có cuộc sống tốt đẹp, thánh thiện;
mọi bóng dáng của nghèo đói, ngu dốt, sa đọa, tranh chấp,
thù hận, khổ đau, tội ác, trộm cướp, giết chóc, chiến
tranh … còn không có cái tên, chứ nói chi đến hiện diện.
Vì thế, chư Phật mười phương đều khen ngợi công đức
của Phật Di Đà và thế giới Cực Lạc.
Tóm
lại, Phật giáo không hề tiêu cực; trái lại, theo dòng chảy
miên viễn của tâm từ bi và trí tuệ từ nghìn xưa cho đến
ngày nay và mãi đến nghìn sau, Phật giáo đã, đang và sẽ
mãi mãi tích cực xây dựng một cộng đồng xã hội phát
triển lành mạnh cho mọi người, xây dựng một cộng đồng
thế giới hòa bình, hòa hợp, an vui cho tất cả mọi người
thuộc mọi chủng tộc, xây dựng một ngôi nhà chung thân thương
nối kết cuộc sống của loài người và muôn loài cùng cộng
tồn, cùng phát triển theo hướng tốt đẹp nhất.
Tất
cả mọi sự xung đột, thù hận, sát hại, tàn phá, chiến
tranh đều được hóa giải bởi đôi tay tình thương, trái
tim nhân ái và khối óc minh mẫn vì lợi ích của mọi người,
mọi loài. Và từ đó, muôn người, muôn loài đều được
hưởng thụ hợp lý mọi của cải do chính họ làm ra và tận
hưởng một cách công bằng mọi của cải mà thiên nhiên đã
hào phóng để đặt trên hành tinh này.
Xây
dựng cuộc sống vật chất và tinh thần tốt đẹp cho mọi
người, mọi loài, ở khắp mọi nơi trên quả địa cầu này
luôn luôn là mục tiêu hướng đến trong mọi sinh hoạt của
hành giả Phật giáo Đại thừa. Đó chính là mở cửa Cực
Lạc tại chốn Ta bà, xây dựng thế giới Cực Lạc cho mọi
người ngay tại cuộc sống nhân gian này.
HT.
Thích Trí Quảng
04-05-2008
12:43:43