HUYỀN
LUẬN
KINH
THẮNG MAN
A.
ĐẠI Ý KINH
Thắng
Man là danh xưng giản gọn, nếu danh xưng đủ thì phải nói
là Kinh Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện
Phương Quảng. Đây là bộ kinh quan trọng trong Phật pháp,
thuyết minh về yếu nghĩa Đại thừa chơn thường diệu hữu.
Nội dung kinh Thắng Man bao hàm yếu nghĩa của các kinh Đại
thừa như Pháp Hoa, Niết Bàn, Lăng Già v.v… Vào thời Bắc
triều của Trung Hoa, kinh này được lưu truyền rộng sâu.
Nay đây, trước tiên lấy ba nghĩa chính của kinh là bình đẳng,
cứu cánh, nhiếp thọ để thuyết minh yếu nghĩa Kinh Thắng
Man này,
1.
Nghĩa bình đẳng:
Trong
Phật pháp Đại thừa có một câu rất nổi tiếng và cũng
rất quan trọng, đó là: “Tất cả chúng sanh đều được
thành Phật”. Câu nói này bao hàm ý nghĩa rất thâm diệu,
rất vĩ đại.Tất cả mọi chúng sanh đều có thể thành Phật,
không phân biệt hạng nào, người người đều có thể thành
phật. Chúng sanh luân chuyển trong lục đạo, không luận là
thế nào, đều có khả năng tu học Phật pháp và đều có
thể đạt đến mục đích thành Phật. Không thể nói những
chúng sanh này có thể thành Phật, những chúng sanh kia không
thể thành Phật, mà là phổ cập cho tất cả chúng sanh đều
có khả năng thành Phật, nên Phật pháp rất là bình đẳng.
So với tất cả tôn giáo khác, Phật giáo mới thật sự là
bình đẳng, mới là chân thật đại bình đẳng, mới đích
thực là rốt ráo chơn thật bình đẳng. Phật pháp là vì
tất cả chúng sanh, nghĩa là tất cả chúng sanh đều thành
Phật. Và con người vẫn là căn bản của sự giác ngộ thành
Phật. Ngoài loài người ra, những chúng sanh khác cần phải
đến địa vị con người mới có thể phát tâm tu học để
thành Phật. Vì thế học giả Phật học Bùi Hưu đời nhà
Đường khi làm bài tựa kinh Viên Giác có nói: “ Phật pháp
khắp cho tất cả chúng sanh, nhưng thực sự phát Bồ đề
tâm tiến lên Phật quả chỉ có nhơn đạo. Vì lấy người
làm tiêu chuẩn để thấy khả năng con người, chứ Phật
pháp không phân biệt người nào”. Quan hệ vấn đề này,
nay dựa vào Kinh Thắng Man đây để thuyết minh ba điểm:
a)
Xuất gia và tại gia:
Trong
Phật pháp gồm có hai hạng xuất gia và tại gia. Có người
cho rằng hàng xuất gia hoặc còn gọi là chúng xuất gia là
đặc biệt trọng yếu của Phật pháp. Kỳ thực, nếu y cứ
vào ý nghĩa bình đẳng của Đại thừa Phật giáo mà nói,
thì học Phật, thành Phật, cho đến hoằng dương chánh pháp
cứu độ chúng sanh, tại gia, xuất gia, đều bình đẳng. Như
Thắng Man phu nhơn trong kinh này là tại gia cư sĩ mà có thể
nói pháp môn hết sức là thâm diệu, viên mãn rốt ráo. Nếu
hỏi Đại thừa và Tiểu thừa có chỗ nào không giống nhau,
thì có thể nói rằng: Tiểu thừa lấy người xuất gia làm
trọng, Đại thừa lấy sự hiện thân của cư sĩ làm đa phần.
Như cư sĩ Duy Ma Cật đối với người học Phật không ai
mà không biết. Vậy Duy Ma Cật đã dùng phương tiện như thế
nào để độ chúng sanh? Khảo cứu kinh điển Đại thừa hiện
còn thì mười đến tám, chín là lấy tại gia Bồ Tát làm
chủ. Hình thức tại gia Bồ Tát thuyết pháp cũng không ít.
Vả lại đa số cũng vì tại gia mà thuyết pháp.
Xưa
nay thường có cảm nghĩ xuất gia hơn hẳn tại gia. Nhưng đứng
từ tinh thần Đại thừa chơn chánh mà nói, thì chúng tại
gia hoằng đạo độ sanh hơn chúng xuất gia cũng không phải
là ít. Có một lần nọ, Văn Thù và Ca Diếp cùng đi, Văn
Thù muốn mời Ca Diếp đi trước nên nói: “Tôn giả là người
đầy đủ giới đức, chứng quả”. Ca Diếp lại muốn mời
Văn Thù đi trước nên nói: “Tôn giả sớm đã phát Bồ đề
tâm lãnh đạo chúng sanh”. Kết quả ngài Văn Thù đi trước.
Đại thừa học giả phát Bồ đề tâm, mặc dù còn là chúng
tại gia, nhưng cũng được kính trọng. Đứng từ Phật giáo
sử, sự thật ấy: Vào đời Tấn, khi ngài Pháp Hiển đi Ấn
Độ cầu học, thấy Phật giáo ở thành Hoa Thị do cư sĩ
La Thêm Tư chủ trì. Đời Đường, Huyền Trang Pháp sư đến
Ấn Độ cầu học, trước tiên đến Bắc Ấn Độ học Trung
Quán Luận với ông Bà la môn Trường Thọ, tiếp đó đến
Trung Ấn học Du Già Sư Địa Luận với ông Thắng Quân Luận
sư. Cận đại Trung Hoa, hàng tại gia như cư sĩ Dương Nhơn
Tiên.v.v… đối với Phật giáo có sự cống hiến và ảnh
hưởng rất lớn. Gần đây ở Việt Nam, trong phong trào chấn
hưng Phật giáo có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám v.v…. cũng
có công lớn.
Tiểu
thừa Phật giáo quan niệm rằng xuất gia hành đạo chứng
đắc A la hán quả, còn tại gia thì không. Nếu lấy tinh thần
Đại thừa Phật giáo mà luận thì tất cả đều bình đẳng.
Trái lại, Phật tại Ấn Độ thị hiện tướng xuất gia,
học đạo, cùng tu với năm vị khổ hạnh, những điều này
là để thích ứng với văn minh Ấn Độ thời đó mà quyền
xảo thị hiện chứ không phải tướng chơn thật của Phật.
Thân chơn thật của Phật là thân Tỳ Lô Giá Na, không phải
xuất gia mà là tướng tại gia, vì không lấy chúng sanh làm
trọng, nên nói xuất gia và tại gia bình đẳng. Đây là một
trong những đặc điểm về tinh thần bình đẳng của Đại
thừa Phật giáo. Nhưng không có nghĩa là ái dục tam độc
còn vướng mắc chẳng dứt sạch mà có thể chứng quả. Đây
là điều căn bản nên lưu tâm.
b)
Nam và nữ:
Hiện
nay người ta thường hô hào nam nữ bình đẳng. Nhưng nào
có biết Phật giáo vốn đã chủ trương bình đẳng cách đây
gần ba ngàn năm. Nếu lấy Tiểu thứa Phật giáo mà nói thì,
Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đều đồng được chứng quả A la hán.
Còn Đại thừa Phật giáo thì cho rằng, tu công đức, trí
huệ, đọan trừ phiền não, thực hành tự lợi lợi tha, nam
nữ giống nhau. Điều này ta thấy các pháp hội Kinh Bảo Tích,
hội Thắng Man, hội Diệu Huệ đồng nữ, hội Hằng Hà Thượng
Ưu Bà Di v.v….Trong Kinh Đại Tập phẩm Bảo Nữ; Kinh Hoa Nghiêm,
Thiện Tài đồng tử tham bái cầu học các thiện tri thức
trong đó có nữ cư sĩ Hưu Xã, đồng nữ Từ Hạnh, Tỳ kheo
ni Tần Hạp v.v….Long nữ trong Kinh Pháp Hoa; Thiên nữ trong
Kinh Duy Ma Cật v.v… Trong Đại thừa Phật giáo xưa nay có
tinh thần nữ chúng và nam chúng bình đẳng. Nhưng trong quá
khứ Phật giáo chịu ảnh hưởng quan niệm trọng nam khinh
nữ của thế gian, nên do đó nữ chúng không tránh khỏi bị
xem nhẹ. Đứng trên tinh thần bình đẳng của Phật pháp mà
nói thì nam nữ bình đẳng, cùng đều gánh vác Phật pháp.
Sau khi Tỳ kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề viên tịch, Đức Phật
đem xá lợi của Bà đối trước đại chúng mà nói rằng:
“Nếu nói là đại trượng phu thì Ma Ha Ba Xà Ba Đề là đại
trượng phu. Những gì bậc đại trượng phu làm thì bà đều
làm tới cả”. Điều này có thể thấy rằng đại trượng
phu không phải chỉ câu nệ ở hình thức, mà hay y theo Phật
pháp thực hành, làm đến nơi đến chốn những gì Phật pháp
cần làm, không luận là nam hay nữ đều được danh xưng là
đại trượng phu.
Mỗi
khi chúng ta thấy trong kinh nói đến người nữ nghe Phật thuyết
pháp liền đó chuyển nữ thân thành nam thân. Như trong Kinh
Pháp Hoa, Long nữ chuyển nữ thân ra thân trượng phu mới thành
Phật. Việc này há chẳng phải là hiển thị cái nghĩa thâm
sâu của tinh thần bình đẳng đó ư? Kinh Thắng Man này có
nội dung hàm chứa ý nghĩa rất lá thâm áo viên mãn về tinh
thần Nhất thừa đại giáo, qua sự kiện Thắng Man phu nhơn
thuyết pháp hiển khai chân nghĩa nam nữ bình đẳng.
c)
Già và trẻ:
Trên
phương diện hình thức truyền thống của tăng đoàn Thanh
văn thì tôn trọng những bậc Thượng tọa tuổi lớn, nhân
đó mà trong Phật giáo dưỡng thành tập quán trọng già, như
nói “Hòa thượng già là quý báu”. Kỳ thực, trong Phật
giáo tôn trọng bậc Thượng tọa với ý nghĩa thù thắng,
tức là bậc thượng tọa đó chứng chân giải thoát.Với
ý nghĩa thù thắng này thì Tỳ kheo trẻ tuổi hoặc Sa di mà
giải thoát sanh tử cũng được xưng là Thắng nghĩa Thượng
tọa. Kế đến là Trí huệ Thượng tọa, là những bậc có
trí huệ thông bác, giới luật tinh nghiêm, thọ trì tam tạng,
xiển dương chánh pháp. Rồi Phước đức Thương tọa, là
những bậc có phước duyên thù thắng, được tín chúng kính
ngưỡng, có thể nhân nơi họ mà Phật pháp được tài lực,
sửa chùa, đắp tượng, nuôi tăng, in kinh sách v.v…Tất cả
phục vụ cho Phật pháp. Ba hạng Thượng tọa trên đây, Thắng
nghĩa Thượng tọa là người chuyên ròng tịnh tu thiền định,
niệm Phật. Trí tuệ Thượng tọa là người thọ trì tam tạng.
Phước đức Thượng tọa là người cần mẫn lao nhọc hết
mình phục vụ tăng sự. Ngoài ra còn có hạng Thượng tọa
sanh niên, tức là chỉ hạng Tỳ kheo xuất gia lâu năm và tuổi
già mới xuất gia làm Tỳ kheo. Hai hạng này do tuổi già suy
yếu lụm cụm mà được người thương xót xưng gọi vậy
thôi. Vì sao? Bởi vì xuất gia thọ giới tuy nhiều năm nhưng
tánh tình phàm tục cố hữu không sửa thì không ích gì cho
bản thân và đạo pháp. Còn người già đầy tội lỗi, thân
yếu trí mờ, không có nhiều cơ hội và năng lực tu dưỡng
và phục vụ đạo pháp. Kẻ xuất gia thọ giới tuy lâu năm,
nhưng phàm tâm danh lợi không xả bỏ thì cũng không hơn gì,
đáng thương hại. Khi Đức Thích Ca thành đạo chỉ mới ba
mươi lăm tuổi. Trong lúc đó những kẻ ngoại đạo bảy tám
mươi tuổi đến cầu quy y Phật. Trong kinh điển Đại thừa
Phật giáo ta thấy dẫy đầy tín chúng thanh niên, rất nhiều
đồng nam, đồng nữ đều phát tâm Đại thừa. Như Thiện
Tài đồng tử trong Kinh Hoa nghiêm, Thường Đề Bồ Tát
trong Kinh Bát Nhã v.v…đều là mẫu người tốt, tu học pháp
Đại thừa. Ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập khi thọ học
Luận Trung Quán chỉ mới hơn mười tuổi. Trong tạng kinh Phật
nói: Các Thượng tọa già đấu tranh phân tán làm năm bộ,
“chỉ có các Tỳ kheo trẻ phần nhiều căn tánh thông lợi
trụ trì Phật pháp”. Sa di tuy nhỏ nhưng không thể khinh thường”.
Kinh điển Tiểu thừa vốn đã có ý nghĩa này. Nhưng phải
đợi đến khi Phật pháp Đại thừa hưng thạnh thì tư tưởng
này mới được khai triển một cách rõ ràng. Thắng Man phu
nhơn là ái nữ của vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu Mạt Lợi
phu nhân. Thắng Man tuổi còn trẻ mà thông bác giáo pháp Đại
thừa, dẫn đạo những nam nữ nhi đồng từ bảy tuổi trở
lên đều tín tu Phật pháp. Từ Thắng Man phu nhơn tuổi hãy
còn trẻ mà phát tâm hoằng dương đại pháp cho tất cả thanh
niên tu học Phật pháp, phát tâm Bồ đề, điều này hiển
bày rõ ràng trong Phật pháp Đại thừa già trẻ gái trai đều
bình đẳng, quyết không có lựa chọn phân biệt khinh trọng.
2.
Ý nghĩa cứu cánh:
Ở
trên nói về người. Ở đây nói về pháp. Đại thừa Phật
pháp nói bình đẳng, không phải chỉ cầu bình đẳng, cũng
không phải phổ biến hạ thấp, mà là cần phổ biến tiến
triển, đề cao, khuếch trương hoằng dương rộng lớn để
đạt đến rốt ráo viên mãn. Trong Phật pháp nói cứu cánh
bình đẳng nghĩa là thành Phật, người người đều có thể
thành Phật, người người đều có thể đạt đến, vì vậy
gọi là bình đẳng rốt ráo viên mãn. Kinh này từ chương
Nhất Thừa đến chương Tự Tánh Thanh Tịnh đều phát huy
lý nghĩa của Phật thừa cứu cánh viên mãn. Trong Phật pháp
có Thanh văn, Duyên giác, nhung đây là phương tiện mà nói
chứ không phải là cứu cánh chân thật. Cứu cánh viên mãn
chỉ có Như Lai, tức là tất cả chúng sanh đều được thành
Phật, tức là chỉ có duy nhất quả vị Phật mà thôi. Nhưng
tại sao Như Lai mới là cứu cánh viên mãn? Nay đây có thể
lược cứ vào ba điểm: Như Lai công đức, Như Lai cảnh trí,
Như Lai nhơn y để thuyết giải:
a)
Như Lai công đức:
Phật
quả là công đức rốt ráo viên mãn, Tiểu thừa không thể
sánh bằng. Chứng đắc Niết Bàn của Như Lai Phật quả là
Vô Dư Niết bàn. Còn Tiểu thừa chứng phần nhỏ của Niết
bàn Phật, nên gọi là Hữu dư Niết bàn. Về phần đoạn
trừ phiền não thì Phật đoạn hết năm trụ phiền não[1].
Còn Nhị thừa Thanh văn chỉ đoạn trừ bốn phiền não trước
mà thôi. Về đoạn khổ sanh tử thì Phật đã vĩnh viễn xa
lìa
hai thứ khổ[2] . Còn Nhị thừa Thanh văn chỉ mới dứt Phần
đoạn sanh tử[3]. Đối với Đạo để tu thì Phật tu tất
cả đạo. Vì vậy Phật pháp trùm khắp tất cả như hằng
sa, nên đắc Đệ nhất nghĩa trí[4]. Còn Nhị thừa chỉ tu
số ít đạo, nên chỉ được Sơ thánh đế trí[5]. Bất luận
đứng từ phương diện nào để quán sát, thì chỉ có Như
Lai Phật quốc mới là thường trú công đức, mới là cứu
cánh viên mãn.
b)
Như Lai cảnh trí:
Cảnh
là Phật đã ngộ chứng chân thật tức là Diệt đế cũng
là thật tướng các pháp. Trí ở đây là chỉ ngộ chứng
thật tướng đệ nhất nghĩa trí của Phật, tức là đại
huệ bình đẳng. Trí là sở ngộ thật tướng, cảnh là sở
phát thật huệ. Cả hai đều là cứu cánh viên mãn. Trong Phật
pháp thường nói: “ Như như, Như như trí gọi là Pháp thân”.
Đây tức là Diệt đế và Đệ nhất nghĩa trí . Y cứ Phật
Địa Kinh Luận nói thì, công đức Phật quả tròn đầy. Nghĩa
là lấy tứ trí Bồ đề[6], viên thành thật tánh, ngũ pháp[7]
làm thể. Vì vậy, từ Đức Phật vô lượng vô biên thống
nhiếp trí và cảnh đều siêu việt Nhị thừa rốt ráo viên
mãn.
c)
Như Lai nhơn y:
Đức
Như Lai có đủ năng chứng trí và sở chứng lý, nên nói cho
cùng thì phải đạt đến cảnh giới của Như Lai mới rốt
ráo. Kỳ thực, cứu cánh chơn như thì thường hằng bất biến,
nên trí huệ và công đức vô biên cũng không lìa chơn thật,
tức là năng lực công đức thù thắng mà tất cả chúng sanh
xưa nay vốn sẵn có. Điều đó như kinh này nói là Như Lai
tạng, tức là Phật tánh. Như Lai tạng tức Không tánh của
tất cả pháp, tức Diệt đế là nơi nương tựa và phát sanh
của công đức thù thắng. Mọi người đều có Như Lai tạng,
nên mọi người đều có thể thành Phật. Từ cảnh trí cứu
cánh của Như Lai truy cầu căn nguyên, tức để chỉ bày Như
Lai tạng là chỗ sở y cứu cánh của Như Lai. Như sông dài
rộng lớn, nếu cứ một mạch theo dòng tìm nguồn thì có
thể phát hiện được chỗ phát nguyên của sông. Mọi người
đều có Như Lai tạng, chỉ cần xứng tánh thì trí năng công
đức của Như Lai tạng sẽ dẫn phát khai triển, tức đạt
Như Lai. Như Lai là cứu cánh. Bởi do tất cả chúng sanh đều
có Như Lai tạng, nên tất cả chúng sanh đều bình đẳng,
và rốt cùng tất cả đều thành Phật. Tư tưởng “Chơn
thường diệu hữu bất không” này được thể hiện và phát
huy đến cực điểm trong khắp điển Đại thừa.
3.
Nghĩa nhiếp thọ:
Đây
là nói về sự tương quan giữa người và pháp. Thọ là lãnh
thọ, tiếp thọ. Nhiếp là nhiếp thủ, nhiếp thuộc. Nhiếp
thọ chánh pháp tức là tiếp thọ Phật pháp, lãnh thọ Phật
pháp, khiến cho Phật pháp thuộc về hành giả. Nói cách khác
là Phật pháp thành của chính mình, đạt đến Phật pháp
thì mình và Phật pháp hợp nhất làm một. Nhiếp thọ chánh
pháp, đứng về lập trường người tu học Phật pháp mà
nói thì điều này rất là trọng yếu. Nếu như không thể
nhiếp thọ Phật pháp vào đời sống của mình, không thể
hiện mình với Phật pháp là một, thì cho dù nói bình đẳng,
cứu cánh, những danh từ hoa mỹ cao thượng, điều đó đối
với chính bản thân chúng ta nào có lợi gì? Chúng sanh vốn
có nguồn gốc công đức trí huệ, nhưng vẫn là phàm phu,
thì cái nguồn gốc đầy đủ đó nào có lợi ích gì, nếu
không biết sống khai triển? Nguyên nhân bởi tại không biết
nhiếp thọ Phật pháp, không biết khiến cho Phật pháp với
mình hợp nhất làm một. Tức là chưa đích thật từ thâm
tâm thực hành thể nghiệm Phật pháp. Không có chuyện trời
sanh Di Lặc, hay tự nhiên thành Thích Ca, mà sở dĩ Di Lặc,
Thích Ca thành tựu đều là do từ sức dõng mãnh tinh tấn
tu học Phật pháp không ngừng mà thành. Ấy là do sự quyết
chí hung lực phát triển nguồn gốc công đức trí tuệ khiến
cho Phật pháp chính từ thâm tâm mình thể hiện ra. Đây chính
là nhơn Như Lai tạng bình đẳng rốt ráo của tất cả chúng
sanh và chính chúng sanh hoàn thành cứu cánh Như Lai công đức
đó chứ không phải ai khác.
Nhiếp
thọ chính pháp cũng nên phân làm ba nghĩa để nói. Ấy là
Tín, Nguyện, Hạnh. Thường thì người ta cho rằng niệm Phật
phải đầy đủ Tín, Nguyện, Hạnh. Kỳ thực hễ phàm là
Phật pháp đều cần phải có ba yếu tố này chứ không phải
chỉ riêng cho người tu Tịnh độ thôi. Tín là nơi nương
tựa của lòng hâm mộ, mà hâm mộ là nơi nương tựa của
chí chuyên cần. Dùng Tín làm y chỉ mà khởi tâm nguyện hâm
mộ cầu đắc. Một khi có tâm nguyện cầu thì khởi chí tinh
tấn thực hành. Nhưng trong đây điều rất trọng yếu là
Tín. Về nghĩa Chơn thường diệu hữu trong Đại thừa Phật
pháp thì Tín lại còn đặc biệt trọng yếu hơn. Có người
thông hiểu Phật pháp, nhưng lại không y Phật pháp thực hành,
điều này chứng minh lòng tin không thật sự chân thành tha
thiết. Nếu thật một lòng tin Phật pháp chơn chánh, tức
là tin Đức Phật công đức vô biên, trí huệ vĩ đại; tin
công dụng Phật pháp có khả năng cứu độ chúng sanh, tin
nhơn sanh đích thực bị các khổ bức bách. Một khi đích
thực tin chắc như thế rồi thì không thể không khởi nguyện,
rồi từ nguyện mà khởi thực hành.
Tín
tâm là bước đầu của sự học Phật. Cũng như Thắng Man
phu nhơn nghe Phật là bậc có vô lượng công đức thì muốn
được gặp Phật. Khi thấy Phật, bà khởi tín tâm cầu quy
y, tiếp đó là phát ngưyện tu chánh hạnh. Điều này cho thấy
rằng tất cả đều từ tín tâm mà ra. Đến khi nghe Phật
giảng về Như Lai tạng là nhơn của Đại thừa Phật đạo
thì liền phát lòng tin sâu rộng, để rồi hình thành bài
pháp về “ Khuyến Tín “. Điều rốt ráo của Như Lai thừa
là chỉ có tâm khẩn thiết thành tín mới có thể nhiếp thọ
Phật pháp thành tựu. Thế nên, Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín là
nguồn gốc, mẹ các công đức lành”. Trí Độ Luận nói:
“Tín như cái tay”. Tay thì cầm, nắm, giữ tất cả vật.
Hành giả muốn đạt Phật pháp nên bắt đầu từ nơi Tín.
Phât pháp là kết tinh của vô biên trí huệ công đức quý
báu. Ai có tín tâm thực hành thì có thể đạt được ( nhiếp
thọ ) vô cùng kho báu. Nếu tu học Phật mà thiếu tín tâm,
thì chẳng khác nào người muốn làm giàu vào được núi đầy
vàng bạc ngọc ngà châu báu mà lại mang hai tay không ra về.
Quả vị Phật thừa rốt ráo bình đẳng. Từ bình đẳng đến
rốt ráo, yếu kiện nằm ở chỗ nhiếp thọ chánh pháp. Mà
muốn nhiếp thọ chánh pháp thì tín là bước đầu để vào
cửa Phật thừa. Có tin rồi mới lập đại nguyện, tu đại
hạnh. Kinh đây thuyết minh điều này, ở từ chương Tán Thán
Công Đức của Phật đến chương Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Như
vậy, ta thấy rằng cứu cánh, bình đẳng, nhiếp thọ, ba ý
nghĩa này là trọng tâm, là ý nghĩa tinh yếu của Kinh Thắng
Man.
B.
GIẢI THÍCH TÊN KINH
Thắng
Man Sử Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng
Kinh.
Kinh
khác với Luật và Luận. Kinh là tiếng gọi chung của tất
cả kinh. Kinh có kinh Đại thừa, kinh Tiểu thừa. Nay nói Phương
Quảng tức là khác biệt với kinh Tiểu thừa. Phương Quảng
là tiếng thông xưng cho tất cả kinh Đại thừa. Kinh Đại
thừa vốn có bộ môn rất nhiều. Hễ phàm nói nhất Phật
thừa mà lại có Thanh văn, Duyên giác thì chưa phải là cứu
cánh nhất Phật thừa, tức có thể xưng đó là Kinh Nhất
Thừa và Kinh Đại Phương Tiện. Như tên Kinh Pháp Hoa gồm
có mười ba chữ, trong đó lại có xưng là Nhất Thừa Kinh
và Đại Phương Tiện Kinh. Đây là thông danh trong kinh điển
Đại thừa “tam quy nhất giáo”. Kinh này nằm trong hệ thống
kinh điển Đại thừa, còn có danh xưng là Thắng Man Sư Tử
Hống. Bởi vì kinh đây do Thắng Man phu nhơn nói. Vì vậy đề
kinh có đến ba tầng thông biệt, nay phân khai để giảng giải:
1)
Thắng Man:
Tức
là Thắng Man phu nhơn, con gái của vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu
Mạt Lợi. Truyền thuyết rằng, Thắng Man phu nhơn đã đạt
đến thất địa hoặc bát địa Bồ Tát. Đứng về danh nghĩa
thế gian mà nói thì, tiếng Phạn gọi là Thất Lợi Mạt Lợi.
Trung Hoa dịch Thắng Man. Mạt Lợi là tên của Mẹ (Mạt Lợi
phu nhơn ), Tàu dịch là Man. Người Ấn Độ phần nhiều có
thói quen lấy tên cha mẹ đặt tên cho con mình. Như Xá Lợi
Phất là con của Ưu Bà Đề Xá. Thất Lợi, Trung Hoa dịch
là Thắng. Lấy tên Thắng Man với ý nghĩa cha mẹ hy vọng
con gái mình tướng tốt, tài cao phước đức hơn mình. Man
là thứ hoa kết thành tràng để trang sức của người Ấn
Độ đeo nơi trán hay đầu. Đứng về ý nghĩa Phật pháp “y
đức lập danh” mà nói thì, danh từ Man là chỉ cho các thứ
công đức, các bậc Thánh hiền lấy công đức để trang nghiêm
gọi là Man. Như Kinh Đại Niết Bàn nói: “Thất giác diệu
man”, “Đức man Ưu Bà Di”. Kinh Duy Ma Cật nói: “Thâm tâm
là Hoa Man”. Như Kinh Hoa Nghiêm thì lấy đại hạnh của Bồ
Tát là hoa làm nhơn để trang nghiêm Phật quả vô thượng.
Pháp
thân tức như Lai tạng thì tất cả chúng sanh đều có đầy
đủ. Nhưng vì chúng sanh không có công đức trang nghiêm, nên
Pháp thân chưa thể hiện bày. Còn Bồ Tát phát Bồ đề tâm
tu hạnh tự lợi lợi tha, nghĩa là vì trang nghiêm Pháp thân
Nhất thừa.
Nay Thắng Man phu nhơn tu Nhất thừa hạnh, hoằng Nhất thừa
giáo, tức là dùng công đức Man để trang nghiêm Nhất thừa
Phật quả. Nhơn thiên công đức, Nhị thừa công đức đều
có thể nói là trang nghiêm. Nhưng đại hạnh trang nghiêm của
Bồ Tát thì trang nghiêm thù thắng, tức là thù thắng công
đức Man. Vì vậy gọi là Thắng Man.
2)
Sư tử hống:
Sư
tử là chúa tể các loài thú. Trong kinh mỗi lần nói đến
Phật Bồ Tát thuyết pháp thường dụ như tiếng gầm của
sư tử gọi là Sư Tử Hống. Sư Tử Hống có rất nhiều ý
nghĩa, nay đây lược nói hai:
·
Vô úy: Khi Sư tử hống đối ở trong tất cả các loài thú,
nó chẳng những không có sự sợ hãi mà còn rất ung dung tự
tại. Nay Thắng Man phu nhơn ở trong Phật nói Nhất thừa Đại
pháp với tâm vô ngại, không có sự sợ hãi, nên khen như
Sư tử hống. Thắng Man phu nhơn thuyết pháp khéo hàng phục
phi pháp, đánh tan chủng tử hủ bại của ngoại đạo. Điều
này ta thấy trong kinh đây ở chương “ Thắng Man Sư Tử Hống”.
Chẳng khác nào một khi tiếng gầm của sư tử vang lên thì
muôn thú đều khiếp đảm. Vô úy ở đây hữu ý nghĩa là
không sợ kẻ khác mà khiến cho kẻ khác khiếp phục mình.
Kinh đây xưng là Sư Tử Hống có nghĩa đặc biệt để chỉ
giáo pháp Nhất thừa. Như ở chương Nhất Thừa trình bày:
“Nói Nhất thừa đạo, Như Lai thành tựu tứ vô sở úy[8]
tiếng nói pháp như Sư tử hống”. Do thành tựu bốn thứ
vô sở úy, xướng lên nghĩa cứu cánh của Nhất thừa, nên
gọi là Sư tử hống.
·
Quyết định: Truyền thuyết nói rằng Sư tử thẳng một mạch
đi tới chứ không đi quanh co. Thuyết pháp có hai cách. Một
là phương tiện nói: Nghĩa là nói không có rốt ráo triệt
để, nói rồi sau đó cần phải bổ túc giải thích. Hai là
quyết định thuyết: Nghĩa là nói một cách khẳng định chắc
chắn, chắc chắn triệt để. Kinh đây nói: “Như Sử Tử
Hống. Có nghĩa là kinh này nghĩa lý rõ ràng, một mạch rốt
ráo”. Một mạch rốt ráo có nghĩa là giáo pháp triệt để
rốt ráo không cần phải giải thích bổ túc, tu chính. Cách
thuyết pháp quyết định này giống như sư tử một mạch
đi thẳng tới không có quanh co. Pháp môn trong Phật pháp có
đủ các pháp cho Nhơn, Thiên, Thanh văn, Duyên giác thừa. Những
pháp này đều là pháp thừa phương tiện. Chỉ có Bồ Tát
đại hạnh, quả vị tột cùng Như Lai mới là duy nhất Đại
thừa pháp, mới là liễu nghĩa tối cứu cánh triệt để.
Nay Thắng Man phu nhơn cũng nói pháp cứu cánh liễu nghĩa, nên
mới gọi là Thắng Man Sư Tử Hống.
3)
Nhất thừa:
Nói
đến Nhất thừa, xưa nay tranh luận về Nhất thừa cũng lắm
người lợi dụng danh từ này để biện minh, đề cao cách
tu hành của mình cũng nhiều. Ngoài ba thừa thì Đại thừa
tức Nhất thừa, hay còn có thừa nào nữa? Ở Trung Hoa, từ
Ngài Quang Trạch Pháp Vân, Thiên Thai Trí Giả đến nay đều
có khuynh hướng như sau: Luận về Nhất thừa, nhất thì không
phải là hai. Nghĩa là chỉ duy nhất không có hai, nên gọi
là Nhất, Thừa tức là ngồi xe, xe chở, vận chuyển tự tại.
Đây là dụ cho Phật pháp có khả năng chuyên chở chúng sanh
từ sông mê biển khổ đến bến bờ giác ngộ an vui Niết
bàn, lìa ba cõi luân hồi sanh tử khổ. đến biển nhất thiết
trí huệ công đức. Trong Phật pháp, có chỗ nói năm thừa,
tức là Nhơn thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác
thừa, Bồ Tát thừa. Có chỗ nói ba thừa, tức là Thanh văn
thừa, Duyên giác thừa và Bồ Tát thừa. Có chỗ còn gọi
Bồ Tát thừa là Đại thừa. Nay đây nói Nhất thừa tức
là chỉ riêng nói về Nhất thừa chứ không phải phải Ngũ
thừa hay Tam thừa, Thanh văn thừa và Duyên giác thừa không
phải là thừa cứu cánh, nên hành giả chứng đắc Niết bàn
của hai thừa này chẳng phải chân thật Vô dư Niết bàn.
Vô dư Niết bàn là dứt sạch phiền não, đoạn sạch phân
biệt ngã chấp, pháp chấp, tâm cảnh đạt đến an lạc rốt
ráo. Chân thật cứu cánh Niết bàn, tức là Phật quả. Nên
Nhất thừa tức là Nhất Phật thừa, Để giản biệt Thanh
văn thừa, Duyên giác thừa, phủ định sự cứu cánh của
hai thừa này mà nói Nhất thừa, điều này là ý đương nhiên,
không phải có sự tranh cãi. Nhưng Nhất thừa chính là Đại
thừa trong Tam thừa, tức là vô nhị duy nhất Đại thừa phải
không? Hay là ngoài ba thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát còn
có Nhất thừa? Vấn đề này có nhiều cách nói khác nhau.
Kỳ thật, nói nhất là đối với nhị hoặc tam, nên có nhất,
đó chỉ là phương tiện chứ thật ra có một. Như trong tay
chỉ có một trái vải, chứ không có hai, ba. Kinh Pháp Hoa nói:
“Đây chỉ có một sự thật, nếu hai sự thật thì không
phải là chơn”. Nhưng cũng có thể nói luôn cả ba quả cũng
chẳng có mà chỉ có một quả duy nhất. Lúc ban sơ thì nói
có ba, đến khi mở tay ra thì chỉ có một quả. Như Kinh Pháp
Hoa nói: “Chỉ có duy nhất một Phật thừa, không có thừa
nào khác, nhưng vì chúng sanh mà nói pháp, hoặc hai, hoặc ba
thừa”. Do đây chúng ta thấy, giản lược ba mà nói một,
giản lược hai nói một, căn bản giống nhau, vẫn không có
sự mâu thuẫn nào. Vì vậy, bất luận nói là vô nhị duy
nhất hoặc nói vô tam duy nhất, tinh thần Đại thừa quán
triệt thỉ chung, tức là Nhất thừa. Đây chẳng qua là căn
cứ vào sự tu hành của Bồ Tát mà nói, thì đều gọi là
Đại thừa. Nếu giản biệt quả vị không cứu cánh của
Thanh văn, Duyên giác mà nói, thì chỉ có Phật quả mới là
cứu cánh, gọi là Nhất thừa, cũng tức là Đại thừa. Vì
vậy, Kinh Pháp Hoa chuyên nói Nhất thừa, lại cũng nói: “Phật
trụ Đại thừa”. Đại thừa và Nhất thừa có thể thấy
rõ qua đồ biểu dưới đây:
Nói
về Nhị thừa, Tam thừa thì lược có hai nghĩa. Một là phá
nhị để thuyết minh nhất. Tức là khi Phật nói pháp Thanh
văn, Duyên giác thì có hạng người liền chấp cho rằng chứng
Niết bàn Nhị thừa này là cứu cánh, không muốn phát Bồ
đề tâm tiến lên Phật thừa nữa. Vì để thuyết minh pháp
Nhị thừa chẳng phải là pháp cứu cánh, nên Đức Phật khai
bày pháp môn phương tiện để hiển bày tướng chơn thật.
“Khai phương tiện” theo sự giải thích của Quang Trạch
Pháp Vân đời nhà Lương thì có nghĩa khai trừ. Tín là chánh
trực xả bỏ phương tiện, chỉ nói Vô thượng đạo. Bởi
vì có hạng người tâm thiên chấp quá sâu dày, nên không
triệt để phá trừ không được. Trong khi đó Bồ Tát tu hành
chưa thành Phật quả vẫn không tự chấp Bồ Tát hạnh là
cứu cánh. Vì vậy ở đây nói khi nào còn hai thì không phải
là chơn, chẳng phải Bồ Tát thừa. Hai là hợp tam quy nhất.
Có nghĩa là thành Phật không nhất định phải trải qua Nhị
thừa, nhưng quả vị Thanh văn Duyên giác là phương tiện tiên
khởi của Nhất thừa Phật quả. Kinh Pháp Hoa nói: “Năm trăm
do tuần, Thanh văn Duyên giác đi được ba trăm do tuần đến
hóa thành. Nơi đây tuy chưa đạt đến mục đích, nhưng đã
đi được ba trăm do tuần cũng là hơn nửa phần đường đến
bảo thành Phật quả”. Do đó, cần nhận thức rõ Nhị thừa
chưa phải là cứu cánh. Thế nên, quá khứ sở hành, sở chứng
của Tiểu thừa quả đều là phương tiện để rồi hội
nhập Nhất thừa, thành Phật quả. Vì vậy, Kinh Pháp Hoa nói:
“Các ông sở hành là Bồ Tát đạo”. Có nghĩa là, quả
thừa Thanh văn Duyên giác không làm mất cái nhơn hạnh của
Nhất thừa. Vì vậy, nên gọi là hồi tiểu quy đại, hội
tam nhị quy nhất. Tức là rõ tiểu đạt đại, suốt ba hai
để quy về một. Đức Phật khiến cho hàng Nhị thừa biết
rõ Nhị thừa là pháp phương tiện của Nhất thừa, nên làm.
Với Bồ Tát thừa, người mới tu học Bồ Tát hạnh cũng
hiểu lầm cho rằng Bồ Tát đích thực là cứu cánh của Tam
thừa. Lại có người thấy tu Bồ Tát hạnh khó làm, nên lại
muốn thối tâm, tu chứng Tiểu thừa là đủ. Nếu biết Nhị
thừa không phải là chân thật, cứu cánh; Tam thừa đồng
quy Nhất thừa, thì tâm không thối đọa. Nếu hiểu theo tinh
thần đây cũng có thể nói là hiểu được lý Tam thừa Phật
nói để rồi đồng quy Nhất thừa. Tóm lại, trọng tâm của
Nhất thừa là ở chỗ thuyết minh rõ lý Nhị thừa chẳng
phải chơn, đồng thời hiển bày Như Lai quả đức. Đại
thừa quán triệt nhơn, hạnh, quả, đức, mà căn cứ từ nhơn,
hạnh của Bồ Tát để trắc nghiệm độ lượng.
4)
Đại Phương Tiện:
Kinh
Pháp Hoa cũng còn có tên là Kinh Đại Phương Tiện, thể hiện
điều này là phẩm Phương Tiện. Phương tức là phương pháp.
Tiện tức là tiện nghi, thích ứng. Vậy phương tiện có nghĩa
là phương pháp thích ứng hoàn cảnh và căn tánh. Chúng sanh
căn cơ không giống nhau, nếu chỗ nào cũng đều dùng chơn
thật pháp môn thì không chắc gì được chúng sanh tín thọ.
Thế nên phải dùng phương tiện để tiếp dẫn sau rồi mới
quy về chơn thật. Định nghĩa Phương Tiện: Y theo Kinh Pháp
Hoa để luận thì, Phật pháp chỉ có Đại thừa, tức là
Nhất thừa đạo. Nhưng vì thích ứng căn tánh chúng sanh mà
Đức Phật nói pháp có Nhơn thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác
thừa. Những thừa này đều là phương tiện cả. Phương tiện
có thể đứng hai phương diện mà bàn: Một, từ phương diện
pháp mà nói, thì pháp đây không phải là pháp cứu cánh. Hai,
từ người thuyết pháp mà nói, thì phương tiện tức là pháp
quyền thiện xảo để tránh bỏ rơi các chúng sanh căn tánh
hạ liệt chấp trước thành kiến. Vì Phật muốn độ hết
tất cả chúng sanh, nên dùng pháp môn phương tiện. Nhưng pháp
môn này không phải là dễ thực hiện, Nếu nói chỉ có Nhất
Phật thừa, hoặc vì căn tánh Nhị thừa mà chỉ nói pháp
Thanh văn Duyên giác không thôi, thì không thể quy về Nhất
thừa. Thế là không đủ phương tiện quyền xảo. Muốn độ
hết tất cả, nên Phật dùng đủ quyền chước xảo diệu
phương tiện. Chỉ duy nhất Phật mới có đủ khả năng tùy
căn cơ mà phân biệt nói ba thừa.Tuy nói có ba thừa để rồi
sau đó quy về Nhất thừa. Vì muốn hiển bày thật mà phải
thi thố quyền, rồi lại khéo từ quyền quy về thật. Đây
đích thực là đại phương tiện không thể sánh kịp. Kinh
Thắng Man này đây cũng như thế. Sơ khởi ở nơi Đại thừa
nói pháp Nhị thừa và Nhơn thiên thừa, kế đến lại khéo
từ Nhị thừa đưa vào Nhất Phật thừa. Nhị thừa pháp không
chỉ là phương tiện giả nói mà còn là đại phương tiện
để hướng đến thể nhập Nhứt thừa pháp. Đề kinh này
tên Thắng Man Sư Tử Hống. Tên kinh bao gồm ý nghĩa người
nói pháp liễu nghĩa. Nhất thừa đại phương tiện là pháp
cứu cánh được nói.
5)
Phưong Quảng:
Phương
Quảng tiếng Phạn là Vaipulya, Trung Hoa dịch là Phương Quảng,
cũng dịch là Phương Đẳng. Đây là tên xưng thông dụng của
kinh Đại thừa. Như Kinh Hoa Nghiêm còn gọi là Đại Phương
Quảng. Kinh Pháp Hoa còn có tên là Phương Quảng. Kinh Niết
Bàn cũng gọi là Hữu Phương Đẳng Nê Hoàn .v.v….Phương
Đẳng là tổng xưng của tất cả kinh điển Đại thừa, chứ
không riêng biệt là tên gọi của một bộ kinh Đại thừa
nào. Phương có nghĩa là chánh, không có thiên lệch tà ngụy.
Quảng là rộng lớn, không biên giới. Đẳng là phổ biến
khắp tất cả. Kinh Đại thừa văn tự phong phú nghĩa lý rộng
sâu, trực chánh không tà ngụy nên gọi là Phương Quảng.
6)
Kinh:
Kinh
tiếng Phạn Sutras, Trung Hoa dịch là Tuyến. Tuyến có công
năng quán xuyến, như sợi chỉ kết hoa thành tràng. Những
điều Phật, Bồ Tát tùy cơ thuyết pháp, được quán xuyến
kết tập thành bộ, làm cho Phật pháp được nhiếp trì lâu
dài, gọi là Kinh. Đối với Kinh, người Trung Hoa cho rằng
lời nói của bậc Thánh hiền là danh ngôn chí lý, nên những
lời này được quán xuyến kết hợp gọi là Kinh. Kinh còn
có nghĩa là thường pháp, khế cơ và khế lý. thường pháp
tức là Phật nào ra đời cũng nói như thế . Khế cơ có nghĩa
là bất cứ thời nào cũng hợp căn cơ chúng sanh. Khế lý
là lời Phật dạy xứng hợp với chân lý muôn đời.
C.
SỰ TRUYỀN DỊCH KINH NÀY.
Vào
thời Lưu Tống Trung Hoa, có ngài Tam tạng Pháp sư người Thiên
Trúc, tên gọi là Cầu Na Bạt Đà La dịch Kinh từ từ Phạn
văn ra Hán văn. Cầu Na Bạt Đà La tiếng Phạn là Gunabhadra,
Trung Hoa dịch là Đức Hiền hay Công Đức Hiền. Ngài vốn
là Quốc vương nước Kế Tân, từ bỏ ngôi vua, xuất gia làm
Tỳ kheo, tinh thông tam tạng Kinh, Luật, Luận nên được tôn
xưng là Thiên Trúc tam tạng. Bổn kinh này do Ngài dịch tại
tỉnh Giang Tô huyện Đơn Dương. Lưu Tống tức là người
họ Lưu làm vua ở triều Tống ( 420 – 479 ). Cũng nên phân
biệt rõ, đây không phải triều nhà Tống (960 – 1127 ) sau
đời Đường, mà Lưu Tống kế sau Đông Tấn, thủ đô Nam
Kinh. Đức Hiền từ Ấn Độ sang Tích Lan rồi đến Quảng
Châu vào thời Lưu Tống giữa niên hiệu Nguyên Gia dịch kinh
này. Ngoài ra, bản kinh này còn được dịch ở thời Đường
Võ Tắc Thiên do Tam tạng Pháp sư Bồ Đề Lưu Chi thực hiện,
thuộc hội bốn mươi tám của Kinh Đại Bảo Tích, với tên
là Thắng Man phu nhơn hội. Căn cứ truyền thuyết thì vào
cổ đại Đông tấn An Đế, kinh này còn có một dịch bản
nữa do Ngài Đàm Vô Sấm tam tạng, với tên là Thắng Man Kinh
hoặc Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Phương Tiện Kinh,
nhưng đã thất truyền. Nay, Tỳ kheo quê mùa tôi, Thích Đức
Niệm dung dịch bản thời Lưu Tống của Ngài Tam tạng Cầu
Na Bạt Đà La để dịch ra Việt văn với lời giảng của
Ấn Thuận đạo sư.
D.
LUẬN VỀ ĐỐN TIỆM:
1.
Đốn giáo và Tiệm giáo:
Khi
phân định về nghĩa của Đốn và Tiệm có thể nói do Huệ
Quán pháp sư thời Lưu Tống đề xướng. Đức Phật ban đầu
nói Đại thừa đốn giáo Hoa Nghiêm. Từ đây về sau dần
dần dẫn dắt chúng đông, căn cơ sai khác bất đồng, nên
từ A Hàm, Bát Nhã đến Niết Bàn v.v….là Tiệm giáo. Hai
giáo Đốn Tiệm trên phương diện thuyết pháp đều lấy Đại
thừa làm cứu cánh. Căn cứ vào đây để luận định kinh
này thì không phải là kinh Đức Phật nói lúc ban sơ. Vì vậy
nên không phải là Đốn, mà Thắng Man phu nhơn lúc đầu thấy
Phật liền ngộ nhập Nhất thừa cứu cánh, thể hiện Sư
Tử Hống, nên cũng không thể nói kinh này Tiệm giáo. Do đó,
cổ nhơn gọi bản kinh này là thiên (lệch), phương (tiện),
bất định giáo sau này Thiên Thai Tông cho làm căn bản cho
hóa nghi tứ giáo Đốn, Tiệm, Bí Mật, Bất Định. Nếu căn
cứ vào Đốn Tiệm nói giáo, thì bổn kinh này thuộc về phi
Đốn phi Tiệm tức là luật định giáo.
2.
Đốn ngộ va Tiệm ngộ:
Người
thời xưa phán định kinh này là Đốn ngộ môn. Bởi vì Thắng
Man phu nhơn ở lâu trong cung thành, vừa thấy Phật nghe pháp
thì liền ngộ sâu Nhất thừa cứu cánh. Nhưng điều nên biết
ở đây là Thắng Man phu nhơn đã ngộ như thế nào? Cứ trong
kinh này nói: “Ta từ lâu an lập ngươi, đời trước đã
khai ngộ”. Điều này cho thấy “Thắng Man đã thân cận
trăm ngàn ức Đức Phật, hay khéo nói nghĩa kinh này”. Từ
đây, ta có thể biết được Thắng Man phu nhơn cũng không
phải chỉ một bước chân liền đến trời. Nghĩa là không
phải vừa thấy Phật lần đầu mà ngộ đạo. Thật ra đã
nhiều kiếp tu học, chủng tử Bồ đề đã thâm sâu, nên
vừa mới nghe Phật pháp liền đốn ngộ. Điều này ngầm
nói với người học Phật rằng, Phật pháp là Tiệm chẳng
phải là Đốn. Cũng chẳng phải chờ đợi đến già, cũng
chẳng phải lý thuyết ba hoa. Điều thiết yếu của việc
tu học Phật không phải là để thỏa mãn hiếu kỳ không
tưởng, ưa cầu cao xa, giỏi dùng mỹ từ luận thuyết Đốn
giáo, Viên giáo để nghe cho hay, thỏa trí tò mò. Thậm chí
có kẻ lòe đời bằng lối nói, tức ngay thân này thành Phật,
sau khi bỏ cõi đời liền thành Phật v.v….thử tự vấn lại
chính mình xem. Học Phật chỉ cần thực phát tâm tu học thì
công thành chứng đắc quả mãn, tự nhiên thành tựu. Trong
Phật pháp có nói tức thân thành Phật v.v… với mục đích
khuyến hóa, chuyên dùng để nói với chúng sanh biếng nhác.
Bởi có số người nghe nói phải cần nhiều kiếp chuyên tu
huân tập, rồi sanh lòng sợ sệt, chán nản thối tâm, nên
mới dụng ý khuyến lệ nói: “Phát tâm tu, ngay trong đời
này có thể thành Phật”. Đây là nhằm để nhiếp dẫn họ
phát tâm tin hướng về Phật. Nếu chỉ ưa luận nói cao xa
viên đốn để khoe khoang, đó là kẻ mang chủng tử hủ bại,
lại tham lam cầu lợi rẻ tiền.
3.
Đốn nhập và Tiệm nhập:
Tu
học Đại thừa pháp có hai con đường. Một là ngay lúc ban
đầu phát tâm Bồ đề ý hướng đốn nhập Đại thừa, gọi
đây là Trực vãng Bồ đề. Hai là trước phát tâm Tiểu thừa
hoặc chứng quả Tiểu thừa rồi sau đó hồi tâm hướng Đại
thừa, gọi đây là Tiệm nhập Đại thừa. Trong Nhất thừa
pháp nói về Trực vãng Đốn nhập Đại thừa, đại biểu
cho cách tu này như Kinh Hoa Nghiêm. Còn trải qua Tiểu thừa
để Tiệm nhập Đại thừa, thể hiện cho phương thức hành
đạo này, như Kinh Pháp Hoa. Nhưng nói về thể nhập duy nhất
Đại thừa pháp môn thì mỗi kinh nói không đồng. Kinh Thắng
Man này thuộc về Đốn giáo trực vãng Đại thừa. Không những
Thắng Man như thế mà đồng nam, đồng nữ bảy tuổi trở
lên, nếu phát tâm học Đại thừa pháp thì cũng không cần
phải trải qua con đường nhỏ hẹp quanh co của Tiểu thừa.
Đại để thời xưa y theo chúng xuât gia mà mở bày cửa phương
tiện đến Nhất thừa, tức hồi Tiểu hướng Đại. Trong
kinh điển Phật giáo có những văn cú nói về thứ lớp tiệm
học không phải là ít. Như khởi đầu từ chúng tại gia mà
khai phát đến Đại thừa, đó tức là Trực vãng Đại thừa.
Đặc biệt Phật giáo Trung Hoa trên hình thức phổ thông không
thấy có dấu tích nào về căn bản học pháp Tiểu thừa,
mà đều cho là Đại thừa. Bởi lẽ Trung Hoa trực tiếp dùng
ngay tư tưởng Đại thừa Phật giáo hóa mà không cần phải
học trước Tiểu thừa giáo. Nghĩa là trực tiếp y kinh luận
Đại thừa mà hướng đến Đại thừa, tức là con đường
Đốn nhập. Nhưng có được Đốn nhập hay không, điều này
hành giả phải tự hỏi chính mình, tùy theo tâm lượng và
tinh thần hành đạo, chứ không phải căn cứ vào hý luận
hình thức.
[1]
Năm trụ phiền não: Còn gọi là năm trụ địa phiền não.
Trụ là gốc rễ. Địa là bền chắc sây dày. Nghĩa là năm
thứ phiền não gốc rễ sâu dày này hay sanh ra những phiền
não ngọn ngành nhánh lá. Những gì là năm?
1.
Kiến nhứt xứ trụ địa: Kiến hoặc phiền não của thân
kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ trong
tam giới. Hành giả khi thể nhập kiến đạo thì đoạn kiến
nhứt xứ phiền não, nên gọi là kiến nhứt xứ trụ địa.
2.
Dục ái trụ địa: Trong các phiền não cõi Dục giới trừ
kiến hoặc và vô minh hoặc ra, trong đó lỗi lầm nặng nề
nhất là ái trước, nên gọi là Dục ái trụ địa.
3.
Sắc ái trụ địa: Các phiền não cõi Sắc giới, trừ kiến
hoặc và vô minh hoặc ra, trong đó lỗi lầm nặng nề nhất
là ái trước, nên gọi là Sắc ái trụ địa.
4.
Hữu ái trụ địa: Trong các phiền não của cõi Vô sắc giới,
trừ kiến hoặc và vô minh hoặc ra, trong đó lỗi lầm nặng
nề nhất là ái trước, thế nên ái tiêu biểu cho danh xưng.
Hữu ái là còn có ái nhiễm thì còn sanh tử. Ái trong cõi
Vô sắc giới đối với quả báo sanh tử, ái là phiền não
rốt cùng, nên gọi là Hữu ái trụ địa.
5.
Vô minh trụ địa: Tức chỉ cho tất cả vô minh trong ba cõi.
Vô minh làm si ám tâm thể. Bởi không có trí huệ sáng soi,
nên là căn bản của tất cả phiền não. Ngũ trụ địa hay
năm thứ phiền não căn bản này, nó đeo đẳng chúng sanh khắp
ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Kiến nhứt
xứ trụ địa thuộc về kiến hoặc, nó đeo đẳng khắp ba
cõi. Còn Dục ái trụ địa thuộc cõi Dục giới. Sắc ái
trụ địa thuộc cõi Sắc giới và Vô minh trụ địa thuộc
cõi Vô sắc. Ba thứ trụ địa này thuộc về tư hoặc. Cả
kiến hoặc và tư hoặc đều thuộc về chi mạt phiền não.
Còn vô minh trụ địa mới là căn bản phiền não cho cả tam
giới.
[2]
Hai thứ khổ: 1/ Chết đúng tuổi thọ mạng gọi là mạng
chung. 2/ Tự sát hay bị người sát hại gọi là ngoại duyên
tử. Đức Phật không bị ràng buộc hai thứ chết đau khổ
này.
[3]
Phần đoạn sanh tử: Một trong hai thứ sanh tử, tức là phần
đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. Phần đoạn sanh tử
là các nghiệp hữu lậu thiện và ác do phiền não chướng
trợ duyên cảm thọ quả báo, luân lưu trong tam giới lục
đạo luân hồi, mang thân quả báo sai khác, sống chết theo
kỳ hạn. Người tu đoạn trừ phiền não nghiệp chướng từng
phần, nên gọi là phần đoạn sanh tử.
[4]
Đệ nhất nghĩa trí: Nghĩa là đọan sạch tất cả phiền
não, đạt đến cứu cánh Phật trí. gọi là đệ nhất nghĩa
trí.
[5]
Sơ thánh đế trí: Trí huệ của tứ quả Thanh văn do quán
Tứ đế, tu trải bốn cõi thiền, tám cõi định mà chứng
đuợc đế trí này.
[6]
Bốn trí Bồ đề là trí huệ giác ngộ. Những gì bốn?
1)
Đại viên cảnh trí: Do công năng tu tập chuyển đệ bát thức,
tức tàng thức phàm phu, chứa chủng tử hữu lậu thành Nhất
thiết chủng trí, tức tổng thể tất cả Như Lai công đức.
trí này như gương lớn sáng sạch chiếu soi tất cả sắc
tướng trang nghiêm, duyên cảnh thanh tịnh, gồm thâu chiếu
soi sự lý pháp giới viên dung, nên gọi là Đại viên cảnh
trí.
2)
Bình đẳng tánh trí: Chuyển thức thứ bảy Mạt na chấp ngã
đạt thành lý vô ngã. Đối tất cả chúng sanh khởi tâm vô
duyên trí đại từ bi, không còn nhiễm chấp, nên gọi là
Bình đẳng tánh trí.
3)
Diệu quan sát trí: Chuyển ý thức thứ sáu la thức bén nhạy
quán sát lanh lợi tướng của các pháp, đạt thành trí quán
sát diệu dụng thuyết pháp đoạn nghi, gọi là Diệu quan sát
trí.
4)
Thành sở tác trí: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Do tu hành chuyển
năm thức này thành thanh tịnh trí, thành trí biến hóa phương
tiện quyền xảo làm lợi ích cho tất cả hàng phàm phu Nhị
thừa. Như Đức Như Lai hiện thân độ, quốc độ và các
thần thông độ đều do sở tác diệu dụng của Thành sở
tác trí. Tóm lại, tám thức của phàm phu do chuyên cần công
phu tu tập mà chuyển tám phàm thức thành bốn thánh trí Bồ
đề.
[7]
Ngũ pháp:
1.
Tướng pháp: Tất cả các pháp hữu vi sum la vạn tượng đều
do nhơn duyên mà sanh khởi hình thành các tướng trạng.
2.
Danh pháp: Danh xưng, là tên gọi của các pháp. Tướng của
các pháp được đặt tên. Danh xưng là minh định chỉ rõ
đặc tánh tướng trạng của các pháp, nên gọi là danh pháp.
3.
Phân biệt: Do vọng tưởng phân biệt mà hình thành hai tướng
là, các pháp sở biến và tâm năng biến. Ba pháp vừa
kể trên đều do tâm hữu lậu mà hình thành các pháp hữu
lậu.
4.
Chánh trí: Tất cả vọng tưởng xen tạp vào vô lậu tâm,
nên bốn pháp trên hợp chung đều gọi là hữu vi pháp, do
đó mà có phân biệt các pháp hữu lậu và vô lậu.
5.
Như như: Do chánh trí mà chứng đắc được chơn như. Nghĩa
là do như trí mà chứng đắc chơn như, nên gọi là như như,
là vô vi pháp. Năm pháp trên đây gồm thâu tất cả pháp hữu
vi vô vi, không một pháp nào ngoài năm pháp này.
[8]
Tứ vô sở úy: Gọi tắt là tứ vô úy:
1.
Nhứt thiết trí vô sở úy: Nghĩa là Đức Thế Tôn ở trong
đại chúng thuyết pháp uy phong tự tại pháp âm vang dội như
tiếng sư tử rống. Bởi do đầy đủ chánh trí uy đức nên
không có tâm sợ sệt.
2.
Lậu tận vô sở úy: Nghĩa là Đức Thế Tôn ở trong đại
chúng thuyết pháp như tiếng sư tử rống, tự tại vô ngại
không có tâm e dè sợ sệt. Bởi do đoạn hết tất cả phiền
não.
3.
Thuyết chướng đạo vô sở úy: Nghĩa là Đức Thế Tôn ở
trong đại chúng nói pháp như tiếng sư tử rống khiến cho
những pháp chướng ngại đạo tiêu tan mà không có tâm sợ
sệt.
4.
Thuyết tận khổ đạo vô sở úy: Nghĩa là Đức Thế Tôn
ở trong đại chúng nói pháp như tiếng sư tử rống, không
có tâm sợ sệt. Bởi do dứt sạch tất cả các đường khổ.
Do công đức tu hành Đại thừa pháp viên mãn, nên Thế Tôn
thành tựu được bốn đức vô sở úy này.