II.
PHẦN CHÁNH TÔNG
Phần
chánh tông nay y theo nghĩa có thể phân làm hai khoa:
1/
Nhân hạnh quảng đại của Bồ Tát
2/
Quả đức cứu cánh của Như Lai.
Theo
như kinh đây nói thứ đệ có thể phân làm hai chương. Nhân
hạnh của Bồ Tát thì quảng đại, quả đức của Như Lai
thì cứu cánh. Đại thừa thông cả nhân quả. Nhân hạnh của
Bồ Tát là Đại thừa, nên quả đức của Như Lai cũng là
Đại thừa. Thế nên quả đức của Phật cũng gọi là Nhất
thừa. Nếu lìa Đại thừa chỉ nói Nhất thừa, thế là lìa
nhân mà chỉ nói quả. Nhân hạnh của Bồ Tát và quả đức
của Như Lai nhất quán tương quan bất khả phân ly. Thế nên
tu nhân hạnh của Bồ Tát thì đạt được quả đức của
Như Lai. Nương quả đức cứu cánh của Như Lai, phát khởi
nhân hạnh Bồ Tát quảng đại. Kinh Thắng Man đặc biệt hiển
bày nghĩa này, để hướng chánh những lý thuyết hoang đường
của thế tục, mà những thuyết này mới xem qua hình như chơn
thật, nhưng thật ra là tà ngụy, nên kinh này phân khoa để
thuyết minh nhằm hiển bày chánh lý. Nhân hạnh Bồ Tát quảng
đại lại có thể phân làm hai khoa quy tín và hạnh nguyện.
Do đó, người học Phật trước phải quy y rồi sau mới thọ
giới, phát nguyện, tu hành. Đây là quy phạm chung cho tất
cả Phật pháp. Kế đến tán thán ngưỡng mộ Phật cầu từ
bi nhiếp thọ, tức là thành tín và quy y. Trong Thanh văn thừa,
khi thọ quy y, giới tử nói: “Con tên họ gì, từ ngày hôm
nay cho đến khi hết thọ thân này, nguyện quy y Phật bậc
lưỡng túc tôn; quy y Pháp ly dục tôn; quy y Tăng chúng trung
tôn, ba ngôi quý báu vì con, cúi xin Tam Bảo nghĩ nhớ từ bi
hộ niệm cho”. Chỗ quy y là Tam Bảo. Theo tinh thần kinh này
thì Tam Bảo là nhất thể. Bởi vì Pháp Bảo, Tăng Bảo y Như
Lai mà lập. Chỉ Như Lai mới là thường trú, là chỗ chân
thật cứu cánh quy y. Thế nên Thắng Man phu nhơn nương Như
Lai làm chỗ quy y. Quy y có nghĩa là trở về y thác nương tựa
được sự cứu hộ. Trong văn quy y nói: “Cúi xin Đại Đức
nghĩ nhớ, từ bi hộ niệm”. Tức là cầu Tam Bảo nhiếp
thọ và cứu hộ. Do lòng tín kính quy y mà thỉnh Tam Bảo từ
bi hộ niệm nhiếp thọ con. Như thế mới là đầy đủ ý
nghĩa quy y. Vì vậy, khi bước vào cửa quy y, trước tiên là
tán thán công đức Phật, tiếp đến là thỉnh Phật từ bi
nhiếp thọ. Thắng Man phu nhơn tuy tu đại hạnh đã từ lâu
xa, chính đích thân bà thấy Như Lai hiện chứng, nhưng vì
để hiển thị cho chúng sanh biết thứ lớp, nên trước trình
hiện sự quy tín. Sự kiện hiện chứng này còn mang ý nghĩa
được sự chứng tín ở nơi Phật, Pháp, Tăng. Tán Phật tức
là hiển thị cảnh giới tự chứng.
CHÁNH
VĂN:
Sắc
thân Như Lai tuyệt diệu, trong thế gian không ai sánh bằng,
thật không thể nghĩ bàn, thế nên nay con cung kính đảnh lễ.
LỜI
GIẢI:
Trong
việc tán thán công đức Phật trước tiên là tổng tán thán.
Cổ đức nói đây là phần tán thán Hóa thân của Phật. Kế
đến phần tụng tán thán công đức Pháp thân Phật. Có thể
như thế này: Bởi do Thắng Man phu nhơn tâm chí thành mà Phật
cảm ứng hiện thân, nên được thấy Phật. Khi được thấy
Phật nên tán thán Phật. Do từ sự thấy được thân Phật
thanh tịnh sáng ngời không gì sánh bằng, nên bà sâu sắc
thấy được công đức chân thật của Như Lai. Như Lai là
một trong mười danh xưng về Phật, tức là khế chứng như
như thật tướng của các pháp. Trong Kinh Pháp Hoa, Long Nữ
tán thán Phật rằng: “Pháp thân Phật thanh tịnh vi diệu,
đủ ba mươi hai tướng tốt”. Giống như thân Phật mà Thắng
Man phu nhơn đã thấy và khen ngợi. Phật là bậc siêu xuất
thế gian đạt đến cứu cánh. Vì vậy, trong thế gian từ
phàm phu cho đến Thánh nhơn xưa nay chưa ai bằng. Tất cả
pháp trong thế gian cũng không có pháp nào sánh bằng Phật
pháp của Như Lai. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả pháp thế
gian đều không thể ví dụ cho thân Phật”. Có lúc lấy hư
không để ví dụ thân Phật. Nhưng thực tế hư không cũng
không đủ tánh cách để thí dụ thân Phật. Không ai bằng
Đức Như Lai. Cũng không có pháp nào làm ví dụ được Đức
Như Lai. Tâm thức chúng sanh có thể biết, có thể dùng lời
nói để giải bày, ca ngợi Như Lai. Nhưng cũng không thể duyên
nơi tâm thức ngôn ngữ, giải thích trọn vẹn về Phật. Vì
vậy, nói là không thể dùng tâm nghĩ, miệng nói. Sắc thân
của Như Lai vi diệu tuyệt vời, nên nay Thắng Man, con và quyến
thuộc thành tâm kính lễ.
CHÁNH
VĂN:
Sắc
thân Như Lai vô tận, trí huệ Như Lai vô biên. Nhất thiết
thường trú, thế nên con quy y.
LỜI
GIẢI:
Ba
văn tụng trên đây bày tỏ tâm thành đặc biệt tán thán.
Thường thì lấy ba đức để tán thán Phật, tức là Trí
Đức, Đoạn đức và Ân đức. Những kinh điển Đại thừa
tán thán Phật, cũng có ba đức. Như Kinh Đại Bát Niết Bàn
nói: Một là đức Pháp thân, hai là đức Bát nhã, ba đức
Giải thoát. Bát nhã tức là Trí đức, Giải thoát tức Đoạn
đức. Kinh Niết Bàn gọi đây là “ba đức bí tàng”. Ba
đức này không phải một không phải khác, không rộng dài
lớn nhỏ, tổng danh là Đại Bát Niết Bàn. Thắng Man phu nhơn
thấy Như Lai diệu sắc thân mà đặc biệt riêng tán thán
Phật đức. Đây có thể là y cứ vào ba đức giải thoát
này vậy. Kinh nói tròn đủ ba đức tức gọi là “Như Lai
diệu sắc thân". Trong việc đặc biệt tán thán công đức
thì trước tán thán đức Pháp thân. Tán thán Phật đức bao
hàm ý nghĩa thuyết minh đối tượng quy y. Luận về Pháp thân
Phật, theo Cổ đức xưa có hai thuyết:
1)
Phật có hai thân, tức là Hóa thân và Pháp thân. Phật có
ba thân: tức là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Như thế
Pháp thân là một trong hai hoặc ba thân.
2)
Pháp thân là tổng danh xưng của Phật thân. Vì vậy,
thân của Nhị thừa gọi là Giải thoát thân. Thân Như Lai
gọi là Pháp thân. Theo nghĩa này, thì Pháp thân là tổng nhiếp
Phật thân.
Pháp
thân Như Lai sắc tướng vi diệu vô cùng. Phật có vô lượng
tướng, tướng có vô lượng trang nghiêm tốt đẹp. Sắc tướng
của Như Lai sáng ngời chiếu khắp tất cả chỗ. Nhưng kinh
điển Đại thừa đặc biệt chú trọng chữ “thường”.
Như “thường trú” có nghĩa là vô lượng không đoạn diệt.
Sắc tướng Phật thường trú vô lượng, trí huệ của Như
Lai cũng thường trú vô tận như thế. Tất cả pháp không
ngoài sắc và tâm. Tâm vô lậu lấy trí làm chủ. Nói thế
có nghĩa là tâm và sắc của Phật đều là vô tận. Thường
trú vô tận mới là chỗ rốt ráo để quay về nương tựa
quy y. Vì thế nên nói Như Lai là nơi thường trú kết tụ
tất cả các pháp đại công đức. Do đức tánh đặc thù
nên Thắng Man nói: “Con và cả thảy quyến thuộc v.v…chí
thành quy y Như Lai chơn thật thường trú”
Ở
đây đối với Đức Như Lai công hạnh nhơn tròn quả đầy
thì có nên nói thêm rằng có sắc tướng hay vô sắc tướng
không? Điều này đối với giới Phật giáo Trung Hoa thời
cổ xưa đã tranh luận rất nhiều. Có người nói Phật thì
vô sắc. Có kẻ lại bảo Phật có sắc. Chín chắn nghiên
cứu nghĩa căn bản của các kinh điển Đại thừa về lý
chơn thường diệu hữu thì thấy Như Lai có sắc. Đây là
nhắm thẳng vào Nhị thừa mà nói. Chẳng hạn như thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ v.v….nói Phật nhập Vô dư Niết bàn
thì diệt hết thân trí, không thể nói là hữu sắc. hữu
tâm. Còn như học thuyết của Thượng Tọa Bộ v.v…lại nói
Phật nhập Vô dư y Niết bàn thì sắc không còn, nhưng tịnh
trí hay đoạn phiền não, thế là hữu. Theo lý luận này thì
có tâm nhưng không có sắc. Tư tưởng này gần giống với
tư tưởng Đại Chúng Bộ của Đại thừa là: “Sắc thân
Như Lai thật không biên giới…, thọ mạng Như Lai cũng không
ngằn mé”. “Phật khắp cả chỗ”. Vì vậy nói “nhập
Vô dư Niết bàn” cũng là “chẳng nhập Vô dư Niết bàn”.
Với tư tưởng này không những có trí mà còn có sắc nữa.
Giáo nghĩa của Đại Chúng Bộ v.v…rất gần với Kinh Pháp
Hoa, Kinh Thắng Man v.v….Tinh thần thường trú diệu hữu của
Đại thừa là nhằm phá bỏ tư tưởng của hàng Nhị thừa.
Thanh văn nói Như Lai nhập Niết bàn thì không còn sắc tướng,
đặc biệt chú trọng “giải thoát hữu sắc”. Kinh này tán
thán công đức Phật: “Như Lai sắc vô lượng trí huệ cũng
như thế”. Điều này rõ ràng hiển bày ý nghĩa Như Lai có
sắc. Kinh Niết Bàn nói: “Như Lai xả bỏ sắc thân vô thường,
được sắc thân thường trú”. Cũng Kinh Niết Bàn quyển
ba có ghi: “Nói không sắc tức là Thanh văn Duyên giác; nói
sắc tức là chư Phật Như Lai giải thoát”. Kinh Đại Pháp
Cổ cũng nói: “Thường giải thoát không sắc, diệu sắc
ngời sáng hằng còn”. Cũng trong kinh này nói: “ Các Phật
Thế Tôn đạt đến giải thoát thảy đều có sắc, giải
thoát cũng có sắc”. Như Lai giải thoát diệu sắc sáng ngời,
đây là hiển thị ý nghĩa thù thắng về dặc tánh chơn thường
của Đại thừa . Quả đức cứu cánh của Như Lai có tâm
có sắc. Điều này không có gì khác lạ, tức là ở trong
tất cả chúng sanh vốn có đầy đủ đức tánh thanh tịnh.
Gọi đó là Như Lai tạng, nên nói: “Như Lai tạng có đủ
ba mươi hai tướng”. Đây là ý nghĩa căn bản về diệu hữu
chơn thường trong Phật pháp Đại thừa.
CHÁNH
VĂN:
Hàng
phục tâm tội lỗi và luôn cả bốn thứ thân, đã đạt đến
chỗ khó điều phục, thế nên kính lễ đấng Pháp Vương.
LỜI
GIẢI:
Đây
là tán thán đức Giải thoát. Chúng sanh vì hoặc nghiệp trói
buộc mà chịu quả khổ sanh tử. Phật thì không bị hoặc
nghiệp trói buộc, nên giải thoát sanh tử, tự tại vô ngại,
thành đức giải thoát.
“Hàng
phục” là khiến cho phiền não và nhiễm nghiệp không sanh
khởi. Chữ “phục” vốn là đối với “đoạn” mà nói.
Phục là áp chế tạm thời không để khởi. Đoạn là nhổ
trừ luôn cả gốc rễ, triệt để giải quyết. Nhưng trong
kinh luận có lúc cũng gọi phục là tạm thời đoạn, còn
đoạn là vĩnh viễn phục. Ở đây nói phục là chỉ tánh
cách đoạn rốt ráo mà nói. “Tâm tội lỗi” là tổng quát
chỉ nội tâm tội lỗi, mà chủ yếu là căn bản phiền não.
Ý nghĩa kinh đây là tất cả đều triệt để giải quyết,
nên nói hàng phục tâm tội lỗi.
“Bốn
thứ thân”, ý nói hàng phục luôn tất cả bốn thứ tội
lỗi sát, đạo, dâm, vọng nơi thân. Trong Phật pháp nói về
thân, hàm ý nghĩa rộng và hẹp. Nghĩa hẹp của thân là thân
căn; nghĩa rộng của thân là năm căn nơi thân. Hoặc đối
miệng ý nói thân, hoặc đối tâm nói thân. Nay đối với
tâm nói thân là nghĩa rộng. Phần thân miệng biểu hiện ra
hành động thuộc về thân. Như sát sanh, trộm cắp, dâm dục,
dối láo, bốn thứ tội ác này đều thuộc về thân. Bốn
thứ tội ác này là giới căn bản của tại gia năm giới.
Sa di mười giới, Tỳ kheo hai trăm năm mươi giới, Tỳ kheo
ni ba trăm bốn mươi tám giới, và giới Bồ Tát. Còn những
giới khác đều là phương tiện hoặc là quyến thuộc của
bốn giới này. Nhưng rốt ráo thanh tịnh giới thì chỉ có
Phật.Thân tâm xa lìa hết thảy tội ác rốt ráo thanh tịnh
tức là hiển thị đức Giải thoát của Phật.
“Chỗ
khó hàng phục” tức là chỗ Phật địa. Phật công đức
lớn có mười lực, bốn vô sở úy, nên hay hàng phục tất
cả mà không bị tất cả hàng phục.. Được như thế là
do đã lìa bỏ tất cả ác trược của thân tâm mà đạt đến
chỗ Phật địa. Phật có công đức như vậy, thế nên con
nay cung kính đảnh lễ đấng Pháp Vương. Pháp Vương tức
chỉ cho Phật, Vương có nghĩa là tự tại. Chúng sanh bị hoặc
nghiệp ràng buộc nên không được tự tại. Phật xa lìa tất
cả ràng buộc, đương nhiên đối với tất cả pháp được
rốt ráo tự tại thành Đại pháp Vương. Nghĩa là Vua tất
cả pháp.
CHÁNH
VĂN:
Biết
tất cả chỗ biết, trí huệ thân tự tại, nhiếp trì tất
cả pháp, vì vậy nay kính lễ.
LỜI
GIẢI:
Đây
là tán thán đức Bát nhã. “Chỗ biết” tức là cảnh giới
tâm thức giác liễu. Tâm cảnh của chúng sanh bị chướng
ngại chỉ biết được phần ít nào thôi. Trí của Phật đối
với tất cả cảnh giới không có gì mà không thông đạt
trọn vẹn rốt ráo, nên nói “biết tất cả chỗ”. Học
giả Đại Chúng Bộ nói: “Trong một sát na tâm biết rõ tất
cả pháp. Một sát na tâm tương ưng Bát nhã biết tất cả
pháp”. Vì vậy thường nói Phật có “Nhất thiết trí, Nhất
thiết chủng trí”.
“Trí
huệ thân tự tại” tức là trí huệ có thể biết cảnh
giới các pháp một cách tự tại không bị ngăn ngại. Thân
có nghĩa là nhóm họp, hội tụ. Trí huệ thân là trí huệ
hội tụ. Phật vô lương vô biên trí huệ, nên gọi trí huệ
thân. Trí huệ đối với cảnh cố nhiên thông đạt, đồng
thời lại hay nhiếp trì tất cả các pháp tại tâm. Đặc
tánh của “nhiếp” chẳng khác như gương sáng nhiếp thâu
ngoại cảnh ảnh hiện trong gương. Trì là bảo trì mà không
làm mất nghĩa của vật. Phật đối tất cả cảnh giới có
thể một niệm từ trong tâm hiện tiền, mỗi niệm mỗi niệm
suốt biết tất cả pháp, xưa nay chưa từng quên mất. Vì
vậy nên xưng trí Phật là Đại viên cảnh trí. Có nghĩa là
gương sáng lớn nhiếp thâu tròn đủ. Đại Bát nhã của Phật
nhiếp tụ như thế, “nên nay hướng Phật kính kễ”.
CHÁNH
VĂN:
Kính
lễ sao xứng bằng, kính lễ sao trọn đủ, kính lễ sao cho
khắp, kính lễ khó nghĩ bàn.
LỜI
BÀN:
Bài
tụng này là kết thúc sự tán thán Phật đức. Phật đức
vô cùng, tán thán sao cho hết, nên tốt nhất là tổng kết
sự tán thán. Nên nói sao xứng bằng, sao tròn đủ, sao cho
khắp, khó nghĩ bàn. Những từ ngữ này đều là hình dung
Phật đức rộng lớn vô biên mà sự tán thán không thể nào
hết. Công đức của Phật vượt ngoài số lượng, xứng bằng,
nghĩ bàn, như Kinh Tịnh Danh nói: “Không thể đo lường, quá
sự đo lường”. Công đức của Phật không thể nào ví dụ
cho giống, cho trọn đủ. Các pháp thế gian hữu hạn với
thời gian và không gian, mà công đức của Phật thì rốt ráo
suốt cả ba đời, khắp cả mười phương, vô thỉ vô chung,
không trong không ngoài. Nghĩ là tâm nghĩ. Bàn là miệng nói.
Công đức Phật siêu việt cảnh giới nghĩ bàn, không thể
dùng tâm trí của chúng ta nghĩ tưởng, dùng miệng của chúng
ta luận bàn. Vì vậy, Phật đức không thể nào tán thán cùng
tận, nên bài tụng trên dùng bốn nghĩa để tổng kết sự
tán thán.
CHÁNH
VĂN:
Thương
xót che chở hộ trì con, khiến cho giống pháp được tăng
trưởng, đời này và đời sau, nguyện Phật thường nhiếp
thọ.
LỜI
GIẢI:
Thường
thường người Phật tử sau khi làm lễ quy y, cuối cùng bạch
với Giới sư: “Nguyện Đại đức nhớ nghĩ từ bi hộ niệm
cho” là ý nghĩa để nói lên lòng mong cầu nhiếp thọ. Thắng
Man phu nhơn khi tán thán Phật công đức xong, tiếp đến là
cầu Phật nhiếp thọ, đây là Đại thừa quy tín. Thương
xót tức là bi mẫn. Che chở tức là cầu Phật hộ trì, giúp
đỡ. Tại sao lại thỉnh Phật thương xót che chở, hộ trì,
khiến giống pháp con được tăng trưởng? Giống pháp là hột
giống chủng tử Pháp thân. Do đó, mọi người đều có thể
thành Phật. Nghĩa là khiến cho công năng vốn có sanh trưởng,
phát triển mới hy vọng thành Phật. Điều này phải
cần đến ngoại duyên huân tập dẫn phát, như quy y, thọ
giới, ăn chay v.v….Ngài Chơn Đế trong Nhiếp Đại Thừa Luận
Thắng nói: “Bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh là chủng
tử của Pháp thân, là nguồn gốc Phật đức vị lai”. Trong
Phật pháp cầu Phật che chở không mang ý nghĩa hay hình thức
cầu bảo hộ của các Thần giáo thường làm, mà là nương
thần lực sức gia bị nhiếp thọ của Phật tự mình tinh
tấn tu học. Bồ Tát phát tâm hành đạo suốt cả đời vị
lai, nên nói không chỉ riêng hiện tại mà là suốt cả đời
vị lai nữa, nguyện Phật từ bi thương xót nhiếp thọ cho
con!
CHÁNH
VĂN:
Ta
từ lâu đã an lập ngươi, đời trước đã khai giác, đời
này lại nhiếp thọ ngươi, đời sau cũng như vậy.
LỜI
GIẢI:
Đức
Phật đã nhận lời thỉnh cầu quy y tín kính của Thắng Man
phu nhơn, nên nói: “Ta từ lâu đã an lập ngươi”. An lập
đồng nghĩa với thiết lập. Chúng sanh ở trong sanh tử, Đức
Phật dùng Phật pháp giáo hóa chúng sanh, dẫn đạo chúng sanh,
khiến cho chúng sanh an lập trong Phật pháp. Như Phật đã phát
tâm Bồ đề, tu hạnh Bồ Tát giáo hóa chúng sanh, khiến cho
chúng sanh phát tâm tu hành gọi đó là an lập trong Đại thừa
giáo pháp. Phật từ lâu đã dùng Đại thừa pháp giáo hóa
Thắng Man phu nhơn , khiến cho Bà an lập trong Đại thừa pháp.
Thắng Man phu nhơn cầu thỉnh Phật hiện tại cũng như tương
lai nhiếp thọ Bà. Đức Phật nói từ những đời quá khứ,
Như Lai đã gia hộ, nhiếp thọ ngươi rồi. Vả lại, không
phải Thắng Man chỉ mới liễu ngộ thâm nghĩa của Như Lai
trong đời hiện tại, mà nhiều kiếp trước sớm đã được
khải giác, tức là đã khai ngộ rồi! Quá khứ đã nhiếp
thọ ngươi, hiện tại ngươi lại thỉnh cầu, đương nhiên
Như Lai lại nhiếp thọ ngươi, và đời sau cũng lại như vậy.
CHÁNH
VĂN:
Con
đã làm công đức, hiện nay và những đời khác, đối với
các thiện căn con cũng như thế. Ngưỡng mong Đức Thế Tôn
chứng minh nhiếp thọ cho! Lúc bấy giờ Thắng Man phu nhơn
và các quyến thuộc đầu mặt sát đất đảnh lễ Phật.
LỜI
GIẢI:
Người
tu học Phật pháp Đại thừa tưởng chỉ mới trong một đời
này được duyên với Đại thừa, nhưng có biết đâu từ
quá khứ xa xưa cũng đã học Đại thừa rồi. Chẳng qua
còn sanh tử lưu chuyển, nên tạm thời quên kiếp của mình
đó thôi. Nếu như có cơ duyên gặp Phật, Bồ Tát, Thiện
Tri thức chỉ điểm thì lập tức liễu giải những việc
đã tu học được ở đời quá khứ, Cũng như Thắng Man được
Phật khai thị thì liền biết ở đời quá khứ đã trường
kỳ tu học, nên ngay khi đó thưa với Phật rằng: “Con ở
trong đời quá khứ xác thực đã làm các công đức lành,
nhưng không lấy những công đức đó cho là đủ, mà hiện
tại cho đến những đời vị lai, con còn phải ở trong Phật
pháp tiếp tục nổ lực tinh tấn tu học. Con đối với các
công đức thiện căn nhiều này. Không ngừng huân tập tăng
tiến trên đường giác ngộ giải thoát. Ngưỡng nguyện Đức
Như Lai từ bi thường hay gia hộ nhiếp thọ cho con”.
“Lúc
bấy giờ” là chỉ cho thời điểm quy tín tròn đầy. Đức
Phật từ bi nhận lời thỉnh cầu tiếp thọ của Thắng Man,
nên Thắng Man và các quyến thuộc cung nữ thảy đều tỏ
lòng tạ ơn sự hứa khả nhiếp thọ của Phật, thảy đều
thành kính đầu mặt sát đất lễ Phật.
Học
giả có thể từ trình độ không đồng, nên nhận thức ý
nghĩa không đồng xem kinh Phật. Nếu từ nghĩa cạn xem, cho
tán thán ý niệm rằng, Thắng Man thấy Phật, quy kính Phật,
lễ Phật, tán thán Phật, cầu Phật nhiếp thọ, được Phật
nhiếp thọ. Trên bình diện khác, từ ý nghĩa thâm sâu, ta
thấy Thắng Man nhơn thấy Phật mà tán thán Như Lai. Nghĩa
là bà từ ngộ chứng chơn lý các pháp như như, thấu rõ công
đức của Phật, nên xưng tánh tán thán, tức thố lộ cảnh
giới chứng ngộ của bà. Chính vì Bà liễu ngộ, nên mới
có chánh kiến thấy được đức tướng cứu cánh của Phật
và được Phật nhiếp thọ, rồi liền đó được Phật thọ
ký.
Thọ
ký thành Phật, thông và biệt có hai: 1/ Nói tổng quát tất
cả chúng sanh đều có thể thành Phật, đây là thông thọ
ký. 2/ Nếu chỉ nói một chúng sanh nào đó sẽ được thành
Phật, thì gọi là biệt thọ ký. Với ý nghĩa trên, cũng có
thể nói là chưa phát tâm thọ ký và đã phát tâm thọ ký.
Ngoài ra còn có hiện tiền thọ ký và không hiện tiền thọ
ký. Nay Thắng Man đã phát tâm ở trước Phật, được Phật
thọ ký.
CHÁNH
VĂN:
Phật
ở trước đại chúng liền tuyên nói thọ ký: Ngươi tán thán
Như Lai chơn thật công đức, do thiện căn này sẽ ở vô lượng
kiếp a tăng kỳ, trong loài trời người làm Tự Tại Vương,
sanh ra chỗ nào cũng được thấy ta, tán thán ta như hiện
nay không khác. Rồi sẽ lại được cúng dường vô lượng
A tăng kỳ Phật, trải qua hai vạn a tăng kỳ kiếp.
LỜI
GIẢI:
Trong
việc được thọ ký, trước thọ ký nhơn, tức là thọ ký
nhơn địa dự định cho Thắng Man phu nhơn ở đời vị lai,
nên lúc đó Phật ở trong đại chúng liền vì Thắng Man mà
nói lời thọ ký rằng: “Ngươi đối với công đức Phật
đã thấu rõ, nên xưng dương tán thán công đức chơn thật
của Như Lai. Ngươi do thiện căn tán thán công đức Phật,
nên sẽ ở vô lượng a tăng kỳ làm Vua Tự Tại trong loài
trời người”.
Chữ
“Kiếp” trong Phật pháp là chỉ thời gian, đại để có
ba thứ, tiểu, trung và đại kiếp. Ý nghĩa của “a tăng kỳ”
nói lên thời gian vô lượng số, là vị thứ một trăm hai
mươi sáu trong số lượng Hoa Nghiêm. Vua Tự Tại trong loài
trời người, ý nói Thắng Man sẽ được quả báo nhơn địa
ở đời vị lai. Thắng Man còn phải tu trải qua trường kỳ
mới thành Phật. Thời gian trường kỳ này ở trong vô lượng
a tăng kỳ kiếp đều làm Vua Tự Tại trong loài trời người.
Trong Phật pháp thường nói hành giả trải qua ba đại a tăng
kỳ kiếp sẽ thành Phật. Nhưng trong kinh Đại thừa nói hành
giả cần phải trải qua vô lượng vô số a tăng kỳ kiếp
thành đạo mới kiến tạo được Phật quả. Bồ Tát dùng
thần thông nguyện lực cứu độ chúng sanh. Nhưng nếu nói
Bồ Tát hành đại hạnh sở cảm quả báo thì không những
không bị đọa đường ác, mà ở trong cõi trời người, Bồ
Tát vĩnh cữu cũng là nhân vật lãnh đạo tự tại. Như cư
sĩ Duy Ma Cật nói: “Nếu ở trong dòng tộc trưởng giả thì
được hàng trưởng giả tôn kính; nếu sanh trong hàng cư sĩ
thì được hàng cư sĩ tôn kính; nếu sanh trong dòng Sát Đế
Lợi thì được Sát Đế Lợi tôn kính; nếu sanh trong dòng
Bà la môn thì được Bà la môn tôn kính”. Bồ Tát vì nhiếp
hóa chúng sanh nên thường ở địa vị lãnh đạo, thường
làm vua trong loài trời người. Trong kinh nói: “ Thập tín
thì làm Thiếc Luân Vương; Thập trụ làm Đồng Luân Vương;
Thập hạnh làm Ngân Luân Vương; Thập hồi hướng làm Kim
Luân Vương. Trong Thập địa, sơ địa làm Tứ Đại Thiên
Vương; nhị địa làm Đao Lợi Thiên Vương; tam địa làm Diệm
Ma Thiên Vương; nhẫn đến Thập địa Bồ Tát làm Tứ Thiền
Thiên Vương. Đây là nói kỳ gian vị lai Thắng Man tu hành
được những quả báo thù thắng.
Bồ
Tát làm vua trong loài trời người, không phải vì hưởng thụ.
Thắng Man trong tương lai sanh bất cứ nơi nào cũng thường
thấy gặp Phật. Mỗi lần thấy Phật, Thắng Man đều hiện
tiền trước Phật. Từ trong cảnh giới liễu ngộ sâu xa tán
thán công đức Phật giống như hôm nay Thắng Man kính lễ
tán thán không có mảy may sai khác. Phật lại nói với Thắng
Man: “Ở trong thời gian trường kỳ tu tập, ngươi sẽ lại
được cúng dường vô lượng A tăng kỳ số Phật”. Cúng
dường không chỉ vật chất cúng dường, mà chân thật ý
nghĩa đại cúng dường chính là cần phải như Phật đã nói,
y theo đó hành trì mới là chân thật ý nghĩa thực hành. Cúng
dường nhiều Phật như thế trải qua thời gian trường kỳ
hai vạn a tăng kỳ mới có thể thành Phật. Đây là nói nhơn
địa tu hành trong tương lai của Thắng Man phu nhơn.
CHÁNH
VĂN:
Sẽ
được thành Phật hiệu là Phổ Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri. Cõi nước Phật kia không có các tướng trạng xấu
ác, suy, già, bịnh, não loạn, và các thứ khổ, các điều
không như ý, cũng không có nghe đến danh từ ác đạo. Chúng
sanh cõi nước đó sắc thân tốt đẹp, mạnh khỏe thọ mạng
lâu dài, đầy đủ ngũ dục vi diệu, thảy đều an vui, hơn
cả các cõi trời Tha hóa Tự Tại. Chúng sanh cõi nước đó
thuần nhất Đại thừa. Các chúng sanh tu tập căn lành đều
tập họp về cõi nước đó.
LỜI
GIẢI:
Được
Phật truyền thọ quả là hàm hữu ý nghĩa dự định Thắng
Man viên thành Phật quả. Khi thành Phật tất phải có hóa
chủ, hóa thổ, hóa chúng, hóa pháp. Nay y bốn thứ này phân
biệt thọ ký. Trước tiên nói hóa chủ: Đến lúc đó, Thắng
Man sẽ thành Phật hiệu là Phổ Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri. Nhơn khi Thắng Man thấy “Phật hiện ở không trung,
phóng hào quang sáng khắp”, bà liền tán thán Phật, là nhân
tố tăng trưởng thành thục công đức thiện căn, nên khi
thành Phật hiệu là Phổ Quang.
Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri là danh xưng chung cho tất cả
Phật. Thông hiệu của Phật gồm có mười hiệu, thường
gọi tắt là Thế Tôn. Trong kinh có những chỗ thường nói
về ba danh xưng này. Như Lai, Phạn ngữ Tathâgatha, có nghĩa
là khế hợp tất cả các pháp như như mà thành tựu. Ứng,
Phạn ngữ Arahat, thường dịch là Ứng cúng. Kỳ thực danh
xưng này hàm hữu ba ý nghĩa: Ứng sát tặc, tức là diệt
sạch phiền não. Ứng vô sanh, tức không còn sanh tử luân
hồi. Ứng cúng, nghĩa là xứng đáng được sự cúng dường.
Nhị thừa xứng đáng ứng thọ nhơn thiên cúng dường. Phật
ứng thọ đời đời tất cả phàm thánh cúng dường. Chánh
biến tri, Phạn ngữ là Samyaksam-bouddha, thường dịch âm là
Tam miệu tam bồ đà hoặcTam miệu tam bồ đề, có nghĩa là
chánh thật đích xác trọn vẹn. Kế đến nói hóa độ. Trong
cõi nước Phật Phổ Quang kia thanh tịnh không có các đường
ác, chỉ có trời, người. Trong loài trời người cũng không
có già, bệnh, suy não và cũng không có những phiền khổ bất
hợp ý. Chúng sanh trong thế giới Ta bà uế ác có đủ bốn
khổ sanh, lão, bệnh, tử. Chúng sanh trong cõi Tịnh độ tuy
còn có sanh tử, nhưng không có suy già bệnh tật. Trong thế
giới Ta bà của chúng ta đây, thân thể của chúng sanh do tứ
đại hòa hợp. Hoặc nương vào thân tứ đại thô kệch yếu
đuối, hoặc hoàn cảnh khí hậu, ăn uống v.v… không thích
hợp; hoặc phiền não tăng thạnh mà sanh nhiều tham dục lo
âu không tránh khỏi sự già, bệnh thống khổ trói buộc.
Chúng sanh trong cõi Tịnh độ, y báo của thân tứ đại tinh
diệu thanh nhàn, hoàn cảnh, khí hậu, ẩm thực v.v….đều
thiện mỹ tốt đẹp, phiền não nhẹ như sóng gợn gió thoảng,
không có già, bệnh, khổ. Suy là chỉ cho hiện trạng ngoại
vật suy tàn, như kinh tế từ giàu có bỗng chốc biến thành
nghèo thiếu v.v…Não là trong lòng nóng nảy phiền não uất
ức. Cõi nước Tịnh độ không có sự đau buồn biệt ly,
không có sự khổ não oán hận. Vì vậy không có tình trạng
không thích ý. Trên đây là nói trên cõi Tịnh độ, không
có cái quả khổ. Tiếp theo dưới đây là nói không có nhơn
khổ. Nhơn là chỉ trong tương lai cõi nước của Đức Phật
Phổ Quang “cũng không có cái tên bất thiện nghiệp ác đạo”.
Bất thiện nghiệp ác đạo tức là sát sanh, trộm cắp v.v…mười
ác nghiệp đạo gia hạnh, hậu khởi v.v…Chúng sanh cõi Tịnh
độ do nghiệp nghe pháp mà tự an vui, khởi tâm tu học tinh
tấn, chỉ biết hành thiện, chẳng biết đến điều ác. Vì
thế nên cả cái danh xưng ác nghiệp cũng không có trong cõi
Tịnh độ. Tiếp theo đây là nói giáo hóa chúng sanh “trong
hóa độ”. Chúng sanh trong cõi Tịnh độ của Đức Phật
Phổ Quang sắc thân tốt đẹp, thể lực cường tráng, thọ
mạng lâu dài không có chết yểu. Ba điều này tròn đủ tức
là Báo thân của chúng sanh cõi nước đó viên mãn. Chúng sanh
cõi nước đó không những Báo thân viên mãn mà thọ dụng
ngũ dục cũng đầy đủ, an lạc. Ngũ dục là sắc, thanh, hương,
vị, xúc. Năm thứ này trong cõi nước Phật Phổ Quang vô cùng
tinh hoa mỹ diệu. Tất cả nhu cầu y phục chỗ ở, đường
đi, phong cảnh v.v…đều tuyệt trần đầy đủ. Ngũ dục
và các nhu cầu vật chất, người chánh tâm học Phật đều
xem những thứ này là rắn độc thú dữ, nên chủ trương
nhàm chán xa lìa, vui sống thiểu dục tri túc. Kỳ thực ngũ
dục và các nhu cầu đầy đủ chưa hẳn nhất định là nguy
hiểm, mà vấn đề chính là ở chúng ta có biết sự tự chủ
mình để thọ dụng hay không đó thôi. Quan trọng là thọ
dụng đừng để bị ngũ dục vật chất chuyển cuốn lôi.
Ngũ dục cõi Tịnh độ đương nhiên là thù thắng mỹ diệu
hơn cõi Uế độ. Những thứ này là để trang nghiêm Tịnh
độ. Do phiền não của chúng sanh cõi Tịnh độ này nhẹ,
nên tuy thâm nhập lạc thú thanh sắc mà không bị chuyển,
không tạo thành nguyên nhân đọa lạc. Thế nên, ham muốn
là tại trong lòng chúng ta chứ đâu phải cảnh giới ngoại
vật.
Ngũ
dục trong cõi Tịnh độ vô cùng tịnh diệu hơn cả cõi trời
Tha Hóa Tự Tại. Trong thế giới Ta bà mà chúng tán thán đang
ở đây ngũ dục bẩn nhơ giả tạm. Ngũ dục tốt nhất là
cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Đến cõi Sắc giới sơ thiền thiên
không còn thọ dụng hương vị nữa. Từ nhị thiền trở lên,
ngũ trần còn không có huống nữa là ngũ dục. Thế nên, chỉ
có ngũ dục cõi trời Tha Hóa Tự Tại rất là tinh diệu khoái
lạc. Ngũ dục cõi Tịnh độ lại còn thắng diệu hơn là
ngũ dục cõi trời Tha Hóa nữa. Thế đủ thấy cõi Tịnh độ
thanh tịnh vi diệu biết dường nào. Trong kinh thường nói
ngũ dục vi diệu của cõi Tịnh độ như thanh hương quang minh,
mỹ vị diệu xúc, thất bảo trang nghiêm, rừng vườn ao hồ
xinh đẹp. Đây là nói lên sự thích ứng mong cầu của chúng
sanh cõi Dục giới, nên dùng phương tiện này để dẫn đạo
chúng sanh. Luận đến cõi Tịnh độ cứu cánh của Phật,
thân biến pháp giới, an trụ trong cõi Tịch quang Tịnh độ
thì không còn có thể dùng lời để thí dụ miêu tả được
nữa. Bản chất của ngũ trần không có ô nhiễm. Ngũ dục
là có tình thức đắm nhiễm ngũ trần, che lấp chân tánh
Phật tâm, sanh phiền não lầm lạc.
Giờ
đây nói đến “hóa pháp” trong cõi Tịnh độ. Do cảnh ngộ
bất đồng, nên pháp môn theo đó cũng có sai biệt. Chúng sanh
ở trong cõi Tịnh độ của Phổ Quang Như Lai kia thuần túy
tu học Đại thừa giáo. Đức Thích Ca xuất hiện ở thế
giới Ta bà. Bởi căn nghiệp của chúng sanh không đồng mà
phương tiện nói Tam thừa giáo, Ngũ thừa giáo. Đặc biệt,
ở Ấn Độ thời bấy giờ quan niệm tự lợi dẫy đầy,
tạo thành học phong độc thiện, khổ hạnh. Vì để thích
ứng căn tánh chúng sanh, nên Đức Phật nói pháp Thanh văn,
Duyên giác. Đối với căn tánh chúng sanh thông lợi, phong phú
ý hướng lợi tha, đương nhiên Đức Phật dùng Đại thừa
pháp giáo hóa. Chúng sanh cõi Tịnh độ đều là duy nhất Đại
thừa. Nhưng khi luận đến Đại thừa nhất giáo một cách
tinh tế, cũng có sự không đồng. Có hạng từ Nhị thừa
chuyển hướng vào Đại thừa thì ít nhiều không tránh khỏi
mang theo tập khí tự lợi, dùng trí chứng làm trước. Có
hạng từ Thiên thừa phát khởi tâm hướng Đại thừa thì
lại thường ẩn tàng mang theo nhơn tố huyền bí của
Thần giáo, nên phần nhiều lấy tín ngưỡng làm trước. Có
hạng từ Nhơn thừa trực hướng Đại thừa thì lại cho rằng
người vốn là Đại thừa Phật pháp, nên đặc biệt trọng
nơi từ bi hạnh lợi lạc nhân gian. Trong cõi Tịnh độ của
Phổ Quang Như Lai thì do từ Nhơn thừa trực hướng Đại thừa
có kiêm nhiếp một phần của Thiên hạnh. Trong cõi Tịnh độ
của Phổ Quang Như Lai thì thuần nhất Đại thừa. Các chúng
sanh do tu tập căn lành thảy đều tùy nguyện hạnh mà duyên
đến tập họp nơi cõi nước đó. Được như vậy là do Thắng
Man phu nhơn khi ở nhơn địa tu Bồ Tát hạnh đã kết pháp
duyên với quảng đại chúng sanh, nên khi thành Phật, những
chúng sanh được phu nhơn nhiếp thọ giáo hóa trong quá khứ
do thiện duyên sở cảm tự nhiên tập họp cõi Tịnh độ,
hình thành hóa chúng của Phật Phổ Quang Như Lai.
CHÁNH
VĂN:
Khi
Thắng Man phu nhơn được thọ ký, vô lượng chúng sanh trời
người nguyện sanh cõi nước Tịnh độ của bà làm hóa chủ.
Đức Thế Tôn thọ ký cho hết thảy đều vãng sanh.
LỜI
GIẢI:
Trong
khi Thắng Man phu nhơn đuợc Phật thọ ký thì vô lượng chúng
trờì người được bà nhiếp thọ cũng đều phát nguyện
sanh về cõi nước Tịnh độ của phu nhơn làm hóa chủ. Lúc
đó, Thắng Man ở trong cung, những cung nữ đều là quyến
thuộc của Bà. Do sự thỉnh cầu của Thắng Man phu nhơn mà
Phật xuất hiện ở không trung thuyết pháp thọ ký cho Thắng
Man, đồng thời những chư thiên đến tham dự pháp hội này
cũng đều muốn sẽ được sanh đế cõi nước của Phổ Quang
Như Lai để được nghe chánh pháp. Đức Thế Tôn thấy họ
có tâm nguyện như thế, nên thọ ký cho họ đều được vãng
sanh. Đây không phải chỉ đơn phương Phật Phổ Quang từ
bi nguyện lực nhiếp thọ chúng sanh, mà chủ yếu nguyên nhân
sâu xa là do những chúng sanh này vốn đã có nhơn duyên thâm
sâu cùng với Phật Phổ Quang đồng nguyện đồng hành mới
có thể vãng sanh Phật quốc kia. Kinh Duy Ma Cật nói: “Trực
tâm là Bồ Tát Tịnh độ. Khi Bồ Tát thành Phật, không luống
dối dụ hoặc để mong chúng sanh sanh về nước mình”, cũng
là ý nghĩa này. Ý đây không phải nói Bồ Tát thành Phật
hình thành Tịnh độ để mong mọi người phát nguyện vãng
sanh. Mà là ở trong nhơn địa tu hành Bồ Tát của Như Lai,
đã dùng các thứ pháp môn giáo hóa nhiếp thọ chúng sanh,
khiến chúng sanh theo Bồ Tát tu học. Nên chi, khi Bồ Tát thành
tựu Tịnh độ thì những chúng sanh hữu duyên đồng nguyện
đồng hành cộng đồng phát nguyện tu tập đều được vãng
sanh và trở thành hóa chúng. Như thế, hóa chủ, hóa chúng
và hóa độ do hiệp duyên, hiệp nguyện thực hiện. Ngày nay
hành giả tu Tịnh độ chỉ biết có cõi Tịnh độ Phật mong
cầu được vãng sanh về đó, chứ không biết học theo Bồ
Tát phát nguyện tu hành. Điều này chẳng khác nào chỉ biết
mong cầu có trái để ăn mà không cầu giống hạt gieo trồng,
thì e rằng Tịnh độ hãy còn xa vời với những người bỏ
gốc lấy ngọn, quên nhơn nhớ quả.
Thế
nên, sau khi quy y phải nên phát nguyện tu hành. Đã lập chí
quy y Đại thừa thì nên thọ Đại thừa giới, phát Đại
thừa nguyện, tu Đại thừa hạnh. Ba việc cân thiết là thập
thọ, tam nguyện và nhiếp thọ chánh pháp, thực hành đầy
đủ là Đại thừa hạnh nguyện.
Trước
thuyết minh về “thập thọ”. Trên nói về năng thọ, tức
là lĩnh thọ, thừa thọ, bẩm thọ. Dưới nói về sở thọ,
tức là những giới pháp mình thọ. Mười Đại thọ, đời
Đường Trung Hoa dịch là mười hoằng thệ. Bởi vì thọ giới
thì phát nguyện cầu nương, tôn trọng, gìn giữ để cho hành
vi được tương ứng với giới pháp. Vì vậy mà Đại thừa
có tam tụ giới, tức là nguyện đoạn tất cả ác, nguyện
độ tất cả chúng sanh, nguyện thành thục tất cả Phật
pháp. Như thế thì thọ giới là nguyện và trì giới là hành.
Đại
thừa giới và Thanh văn giới không đồng, lược nêu dưới
đây:
1.
Thông giới và Biệt giới:
Đức
Thế Tôn thích ứng thời nghi mà chế ra giới, gọi là Biệt
giới. Như cư sĩ tại gia thọ năm giới. Sa di, Sa di ni thọ
mười giới. Thức xoa ma na thọ sáu giới pháp. Tỳ kheo, Tỳ
kheo ni thọ cụ túc giới. Giới không những chỉ có tầng
thứ cạn sâu, mà còn nam nữ thọ riêng biệt. Thất chúng
đệ tử thọ giới riêng biệt. Riêng Bồ Tát giới là Thông
giới, tức là giới chung cho cả thất chúng đệ tử. Thất
chúng đệ tử tin Phật đều có thể thọ giới Bồ Tát. Như
trước thọ ngũ giới rồi sau thọ Bồ Tát giới thì gọi
là Bồ Tát Ưu bà tắc hoặc Bồ Tát Ưu bà di. Sa di thọ Bồ
Tát giới gọi lả Sa di Bồ Tát. Tỳ kheo thọ Bồ Tát giới
gọi là Tỳ kheo Bồ Tát giới. Bồ Tát giới không luận là
tại gia hay xuất gia nam nữ lão ấu, mà dành cho tất cả người
phát Bồ đề tâm đều có thể được thọ, nên gọi là Thông
giới hay Thông thọ.
2.
Nhiếp luật nghi giới và Tam tụ giới:
Giới
pháp mà bảy chúng Thanh văn thọ là Nhiếp luật nghi giới,
tức là chú trọng ở nơi ngừa lỗi, đoạn ác. Trên đây,
tuy còn có giới định cộng và đạo cộng, nhưng hai giới
này không phải do thọ mà được, mà là chú trọng ở sự
lìa ác mà thành. Bồ Tát giới ngoại trừ Nhiếp luật nghi
giới ra, còn có Nhiếp chúng sanh giới, Nhiếp Chánh pháp giới.
Thế nên, Bồ Tát lấy việc hóa độ chúng sanh làm gốc lấy
việc nhiếp hóa chúng sanh làm hạnh nguyện. Từ đây, ta thấy
tu học Bồ Tát pháp mới thành Phật chứ không phải chỉ
lìa nhiễm ô, không làm ác là có thể đạt thành Phật quả.
Cũng như đất trong vườn ruộng không phải chỉ nhổ
sạch cỏ thôi, mà cần phải trồng cây hữu dụng mới có
quả tốt ngon. Vì vậy mà Bồ Tát cần phải rộng học tất
cả Phật pháp, để thành tựu tất cả công đức, và luôn
luôn sống trong tinh thần tích cực lợi tha. Nội dung Bồ Tát
giới có ba phương diện như thế, đã hiển suất tinh thần
Đại thừa giáo.
3.
Nghi thức thọ giới:
Giới
của bảy chúng Thanh văn đều cần phải có Giới sư truyền
thọ, mà đặc biệt là thọ cụ túc giới thì cần phải có
Tam sư Thất chứng v.v…rất trọng nghi thức. Bồ Tát giới
thì không trọng nghi thức như vậy. Kinh Bồ Tát Bổn Nghiệp
Anh Lạc nói, thọ giới có ba phẩm: Thượng phẩm là thọ
nơi Phật, điều này thật khó được. Trung phẩm là thọ
với đệ tử xuất gia của Phật. Hạ phẩm là nếu như không
gặp Phật xuất thế hoặc Phật đã nhập diệt rồi và trong
khoảng ngàn dặm không có đệ tử nào của Phật hiện diện
để làm thầy truyền giới thì một mình đối diện trước
tượng Phật pháp nguyện tự thọ. Thậm chí trường hợp
không có tượng Phật, y theo Kinh Phổ Hiền Quán nói: “Lúc
đó có thể quán tưởng Đức Thích Ca Mâu Ni làm Hòa thượng,
Ngài Văn Thù Sư Lợi làm A xà lê, Ngài Di Lặc làm Giáo thọ.
Nhất tâm quán tưởng thiết tha, như thế có thể phát nguyện
thọ giới Bồ Tát. Trong trường hợp không có Phật, không
có đệ tử Phật, có thể ở trước tượng Phật hoặc quán
tưởng Phật để tự thọ giới. Nhưng nếu khi có đệ tử
Phật vẫn nên cầu thọ giới với đệ tử Phật thì được
hợp lý hơn. Bằng không thì phạm vào tội kiêu mạn, hủy
báng Tam Bảo và tự mình tạo nhơn biên địa hạ tiện.
4.
Mới được và huân phát:
Giới
Thanh văn có thể nói là nung luyện bên ngoài. Đại thừa giới
có thể nói là vốn đã huân tập và phát triển. Như bảy
chúng Thanh văn thọ giới thì phải trải qua nghi thức thọ
giới mới thành. Nhưng khi phạm căn bổn trọng giới
thì mất giới. Đồng thời, giới pháp Thanh văn là giới tướng
theo hình thể thọ suốt đời, một khi mạng sống kết thúc
thì giới cũng theo đó mất luôn. Vì vậy, Thanh văn học giả
hoặc cho giới thể là vô biểu sắc hoặc cho rằng bất tương
ưng hành. Quan niệm này gần với giáo nghĩa kinh Bộ Sư của
Đại thừa cho rằng: “Dù có công năng suy tư về giới ở
trong tâm tương tục thì đó cũng là mới huân tập”. Nghĩa
là giới Thanh văn là giới huân tập vào tâm. Trong lúc đó
Bồ Tát giới tự tâm vốn có đủ, nên Kinh Bổn Nghiệp Anh
Lạc nói: “Tất cả giới Bồ Tát, phàm thánh đều do tự
tâm làm thể. Tâm không cùng nên giới cũng vô tận”. Kinh
Phạm Võng cũng nói: “Bảo giới Kim Cang là bổn nguyên của
tất cả Phật, là bổn nguyên của tất cà Bồ Tát, là chủng
tử Phật tánh. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất
cả tâm thức sắc thân là tình là tâm đều nhập trong giới
Phật tánh”. Từ đây có thể cho ta thấy rằng, trong tâm
chúng sanh có đủ Như Lai tạng, vốn có công năng ngăn lỗi
dứt ác, có công năng từ bi làm lợi ích muôn loài, có công
năng định huệ vô biên thanh tịnh công đức. Thọ giới chẳng
qua là huân tập phát triển khiến cho nội tâm vốn có giới
đức trưởng dưỡng phát triển mà thôi. Vì vậy, Tâm là
giới thể. Một khi thọ rồi thì không có mất nữa. Sau khi
chết, giới vẫn tồn tại. Nếu có phạm trọng giới hoặc
là mất giới rồi, nhưng không trở ngại thọ lại. Thế nên,
Bồ Tát từ khi sơ phát tâm cho đến thân này tự tâm giới
đức ngày một huân tập tăng trưởng. Hiện tại gặp thiện
duyên lại thọ giới, đó chẳng qua là dùng ngoại duyên huân
phát cho giới đức thuần thục mà thôi. Đây là điểm đặc
biệt của giới Bồ Tát, vĩnh viễn không mất trong bất cứ
mọi trường hợp và thời gian.
5.
Về giới điều:
Tỳ
kheo giới, thông thường nói có hai trăm năm mươi giới. Trong
lúc đó Tăng Kỳ Luật Bổn nói hai trăm tám mươi giới. Cựu
Truyền Hữu Bộ Luật thì nói là hai trăm sáu mươi giới.
Như thế trên đại thể tương cận giống nhau. Còn về Bồ
Tát giới thì như Kinh Phạm Võng nói có mười giới trọng
và bốn mươi tám giới khinh. Trong lúc đó, Luận Du Già thì
lại nói có bốn giới trọng và năm mươi mốt giới khinh.
Như thế có sự sai biệt rất lớn. Nhưng các trọng giới
đại để vẫn gần giống nhau. Thường thì những người
thọ giới cứ nghĩ rằng thọ từng điều giới, giữ từng
điều để tu. Kỳ thực, ý nghĩa thọ giới rất là sâu sắc.
Nghĩa là do từ thọ giới mà dẫn phát công năng nội tâm
ngừa lỗi ngưng ác, chứ không hạn cuộc ở nơi giới điều
văn tự. Quyết cũng không phải giới luật không có nói đến
rồi cứ mặc tình làm. Chẳng hạn như giới rượu, hể là
đệ tử Phật từ xuất gia cho đến tại gia đều phải thọ
trì. Nhưng không nói đến giới cấm hút thuốc, lại cũng
không có giới điều cấm chỉ nha phiến, các thứ độc phẩm
v.v…Rồi từ đó, có người cho rằng Phật có cấm hút thuốc
thì cứ hút đâu cần phải giới thuốc. Đâu có biết rằng
khi Phật ở đời chưa có ác tập thói hư hút thuốc, hút
nha phiến, các thứ độc phẩm v.v…, nên thời đó Phật chưa
chế giới. Cứ suy luận từ việc Phật chế giới uống rượu,
chất men say sưa làm tê dại tác hại thân tâm mà nói, theo
tinh thần đó thì người hút thuốc, nha phiến, các thứ độc
phẩm v.v…. Phật cũng đều cấm không được ăn hút. Văn
tự giới luật quy định rõ ràng, chẳng qua đây tùy thời
ứng cơ mà chọn lấy vài điều cần yếu để làm ví dụ
thế thôi. Còn đối với người mê chấp thói quen hay cố
tâm hương thụ thì dù có văn tự giới luật cũng vô ích.
Bồ Tát Giới Kinh Luận nói: “ Dẫu có ít nhiều bất đồng,
thì cũng như trên mà lý giải”. Nay Thắng Man thọ thập đại
giới, giới điều tuy ít, nhưng ý nghĩa bao quát rất rộng.
CHÁNH
VĂN:
Lúc
bấy giờ Thắng Man nghe Phật thọ ký xong, cung kính đứng
dậy thọ mười đại giới.
LỜI
GIẢI:
Trước
nói nói về nghi thức thọ giới của Thắng Man. Lúc bấy giờ,
là lúc chỉ cho Thắng Man thọ giới. Sau khi Thắng Man phu nhơn
nghe Phật thọ ký cho bà rồi, liền đứng dậy cung kính trước
Phật phát nguyện thọ mười đại giới. Nghi thức thọ giới
thường là quỳ gối cung kính, chấp tay lãnh thọ. Nay Thắng
Man đứng cung kính chấp tay lãnh thọ, đây có thể Phật ở
giữa không trung truyền giới. Thọ giới thường là trước
do Giới sư làm pháp Yết ma, hỏi người cầu thọ giới “Có
thể thọ trì được không?”. Người thọ giới đáp “Có
thể được”. Nhưng đây Phật không có nói mà Thắng Man
nói thẳng là cần cầu thọ. Từ sự kiện này, ta thấy Thắng
Man đã thâm nhập Phật pháp thuần thục, thấu rõ giới pháp
Bồ Tát. Vả lại, trong hoàn cảnh thiếu duyên không còn cách
nào khác mà tâm thiết tha thọ Bồ Tát giới, thì trước tượng
Phật cũng có thể thọ, cùng lắm không có tượng Phật thì
quán tưởng cũng có thể thọ được. Chẳng may ở vào hai
trường hợp trên đây thì đâu có ai làm pháp Yết ma? Nay
Thắng Man cung kính đối trước Phật là nói lên tánh cách
viên thông, nương thần lực Phật hiện. Ý nghĩa này cùng
với quán tưởng tượng Phật hoặc đối trước Phật tượng
giống nhau “cảm ứng đạo giao nan tư nghì”. Mười đại
giới trong Tam tụ tịnh giới phân làm ba loại: Năm điều
trước thuộc Nhiếp luật nghi giới, tức là chuyên tâm giữ
trọn giới đã thọ. Bốn điều kế là Nhiếp chúng sanh giới.
tức là nguyện thực hành hạnh lợi tha, đưa chúng sanh về
đạo giác ngộ. Điều cuối cùng là Nhiếp chánh pháp giới,
tức là đem hết khả năng phương tiện để hoằng truyền
chánh pháp.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con từ nay cho đến khi chứng đạo quả Bồ
đề, đối với giáo pháp đã thọ không để phạm.
LỜI
GIẢI:
Đây là tổng tướng của Nhiếp luật nghi giới. Thắng Man
đối trước Phật lập thệ nguyện: “Bạch Đức Thế Tôn!
Con từ ngày hôm nay trở đi cho đến khi thành Phật, ở trong
khoảng thời gian trường kỳ tu học đó, đối với tất cả
giới pháp con đã thọ, quyết không để một niệm hủy phạm”.
Tâm phạm đã không khởi thì tất nhiên không dẫn đến thân
phạm. Khi phát tâm thọ giới không phạm. Nhưng sau đó do động
tâm móng ý bất tịnh rồi trôi thả theo vọng niệm không
còn sử dụng lực trí thúc liễm thân tâm, nên càng lâu càng
lúc phiền não càng thêm tăng trưởng, khiến cho giới lực
ngày một yếu kém dần, do đó không thể nghiêm trì mà sanh
ra phạm giới. Đại thừa đặc biệt trọng về ý giới. Ý
giới rất là trọng yếu. Nghĩa là đối với giới đã thọ
thì phải hành trì không khởi tâm phạm mới được gọi là
tịnh giới viên mãn.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến ngày thành đạo Bồ
đề, đối với các bậc Tôn trưởng không khởi tâm khinh
mạn.
LỜI
GIẢI:
Giới
tối quan trọng là sát, trộm, dâm, dối. Như mười giới trọng
trong Kinh Phạm Võng cũng như Kinh Anh Lạc đều nêu giới sát
trước. Nhưng Du Già Giới và Kinh Thắng Man này thọ mười
giới đều không nói đến điều đó. Như thế không có nghĩa
là không thọ giới sát này, mà thật ra nhơn vì giới này
chế chung cho bảy chúng đệ tử, nên trong giới Bồ Tát
có thể lược nói.
Các
bậc Tôn trưởng. đối với hàng tại gia là cha mẹ. chú bác,
Sư trưởng v.v….Đối với hàng xuất gia là Phật, Hòa thượng,
A xà lê, Thượng tọa, Đại đức v.v…Trong Phật giáo xưa
nay vốn tôn trọng hàng Thượng tọa. Vì vậy đới với Tôn
trưởng nên sanh tâm cung kính, không nên khởi tâm khinh mạn.
Có tâm khinh mạn thì đó có lỗi lầm, công đức lành khó
sanh. Bởi tâm khinh mạn nên khi thấy những bậc Sư trưởng
cũng vậy thôi, không có gì đặc biệt. Từ cái tâm khinh mạn
đối với các bậc Tôn trưởng, có thể dẫn đến tà kiến
làm tiêu tan tất cả công đức lành. Rồi đưa đến hành
vi hủy báng Tam Bảo, chê bai giáo pháp Đại thừa cũng đều
từ tâm khinh mạn mà ra. Điều này trong Kinh Phạm Võng quy
định thuộc về hủy báng Tam Bảo. Luận Du Già thì cho là
chê bai pháp tạng Bồ Tát. Đối với Tôn trưởng có tâm khinh
mạn là mặc nhiên hình thành tối đại chướng ngại cho sự
tu học Đại thừa pháp. Vì vậy, hành giả trên đường cầu
đạo giác ngộ, nên cẩn trọng thọ trì chớ nên để phạm
phải.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con từ nay cho đến ngày thành đạo quả Bồ
đề, đối với các chúng sanh không khởi tâm giận tức.
LỜI
GIẢI:
Các
chúng sanh là danh từ tổng quát chỉ tất cả chúng sanh hữu
tình và vô tình, mà ở đây chủ yếu chỉ loài người. Tâm
giận tức tương phản với tâm từ bi. Bồ Tát lấy tâm từ
bi làm gốc, nếu có tâm giận tức với chúng sanh là thiếu
tâm từ bi, tức là mất ý nghĩa Đại thừa Bồ Tát. Đại
hoạn của pháp Thanh văn là tham tâm. Tâm khởi tham nhiễm thì
thật khó mà ra khỏi thế gian. Đại hoạn của Đại thừa
pháp là sân tâm. Tâm khởi giận tức thì không thể nhiếp
thọ chúng sanh. Vì vậy Đại thừa pháp có Nhẫn ba la mật
để phòng chế sân tâm. Đối với chúng sanh khởi tâm sân
hận, điều này ở Kinh Phạm Võng, Luận Du Già đều thuộc
giới trọng.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi thành đạo Bồ
đề, đối với sắc thân và sự thọ dụng phong phú của
họ, không khởi tâm đố kỵ.
LỜI
GIẢI:
Bồ
Tát phát tâm vì muốn khiến cho tất cả chúng sanh đều được
phước lợi an vui. Chúng sanh có được phước lành, an vui
thì tâm Bồ Tát mới hoan hỷ. Bồ Tát không giống kẻ phàm
phu lúc nào cũng nghĩ mình tốt hơn kẻ khác. Bồ Tát đối
với kẻ khác được phước lành an vui tuyệt đối không sanh
tâm ganh tỵ. Vì thế, Thắng Man nói: “Con đối với sắc
thân và sự thọ dụng phong phú của họ” là chỉ cho chúng
sanh có được cái thân thể khỏe mạnh, tướng tốt trang
nghiêm. Thọ dụng là chỉ cho chúng sanh có các đồ thượng
hảo như y phục, nhà ở, nhu dụng v.v….Đối với những chúng
sanh được thọ dụng mỹ diệu phong phú đều không khởi
tâm đố kỵ. Giới này đồng như trong Kinh Phạm Võng và Kinh
Anh Lạc nói về giới “tự khen mình chê người”. Khen mình
chê người thì không thể có tâm tùy hỷ việc tốt của người.
Cội gốc của tâm đố kỵ phát xuất từ tâm lượng hẹp
hòi ích kỷ, thiếu từ bi.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con từ nay cho đến khi thành đạo Bồ đề,
đối với nội ngoại pháp không khởi tâm lẫn tiếc!
LỜI
GIẢI:
Thắng
Man nói: “ Con đối với nội ngoại pháp không khởi tâm lẫn
tiếc”. Nội ngoại pháp có thể phân làm hai để gỉải
thích:
1/
Nội pháp là chỉ cho chính thân thể của mình. Ngoại pháp
là chỉ cho cơm áo, các vật dụng bên ngoài v.v…
2/
Nội pháp là chỉ cho Phật pháp, ngoại pháp là chỉ cho học
thuật thế gian.
Bồ
Tát thông đạt tất cả pháp đều là vì tất cả chúng sanh.
Đại phàm đối thế pháp và xuất thế pháp, nếu có người
đến cầu thì Bồ Tát không nên có tâm lẫn tiếc. Lẫn tiếc
bất xả là tiêu mất tinh thần Bồ Tát.
Trên
kia đã nói về bốn điều luật nghi giới:
1)
Đối với Tôn trưởng khởi tâm khinh mạn.
2)
Đối với chúng sanh khởi tâm giận hờn.
3)
Đối với người khác khởi tâm đố kỵ .
4)
Đối với chính mình khởi tâm lẫn tiếc.
Một
cách tổng quát nhận định về bốn luật nghi này thì, hai
điều trước ước định tôn trọng chê ghét, hai điều sau
ước định tự mình và tha nhơn. Bồ Tát lấy lợi ích chúng
sanh làm tiền đề, nếu hủy phạm bốn giới này thì mất
giới Bồ Tát. Bốn giới căn bản sát sanh, trộm cắp, dâm
dục, dối ác xác thật là trọng yếu, nhưng chung cho cả Nhị
thừa. Còn khinh mạn, giận tức, đố kỵ, lẫn tiếc bốn
thứ tâm này là tối đại chướng ngại cho việc lợi ích
chúng sanh. Nó chính là bất cộng giới trọng của Bồ Tát.
Nghĩa là giới trọng riêng cho Bồ Tát. Trong KInh Phạm Võng
nó thuộc về giới thứ tư trong mười trọng giới, cũng là
bốn thù thắng pháp xứ trong Du Già Bồ Tát giới. Nay tóm
lược mười trọng giới và bốn luật nghi căn bản của Bồ
Tát trong kinh này có sự liên hệ với các kinh khác như sau:
- Kinh
Bổn Nghiệp Anh Lạc: Sát sanh, trộm cắp, dâm ái, vọng ngữ,
nói tội Bồ Tát, mua bán rượu, khen mình chê người, bỏn
sẻn, sân hận, chê bai Tam Bảo. Kinh gọi mười giới này không
thể sám hối.
- Kinh
Phạm Võng: Sát sanh, trộm cắp, dâm ái, vọng ngữ, mua bán
rượu, nói tội Bồ Tát, khen mình chê người, bỏn sẻn, sân
hận, chê bai Tam Bảo. Kinh gọi là mười trọng giới.
- Luận
Du Già: Tự khen mình chê người, bỏn sẻn, sân hận, chê bai
Bồ Tát tạng, gọi là bốn tha thắng xứ pháp.
- Kinh
Thắng Man: Đố kỵ, bỏn sẻn, giận ghét chúng sanh, khinh mạn
tôn trưởng.
Trên
đây cho ta thấy sự liên hệ và khác biệt thành phần luật
nghi của các kinh mang tinh thần Đại thừa Bồ Tát.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi thành đạo Bồ
đề, không vị kỷ nhận chứa tài vật cho mình. Phàm hễ
có thọ nhận thì thảy đều thành thục chúng sanh bần khổ.
LỜI
GIẢI:
Dưới
đây có bốn giới thuộc về Nhiếp chúng sanh giới. Thắng
Man tuyên thệ rằng: Từ hôm nay cho đến khi thành đạo quả
Bồ đề quyết không vì ích kỷ cho mình mà nhận lãnh chứa
chấp tài vật của cải. Thường thì người ta chứa chấp
tài vật là vì ích kỷ cho mình hoặc cho gia đình mình. Vì
mình mà tích chứa tài vật, ấy là căn nguyên tội ác của
xã hội ngày nay. Thanh văn thừa, xuất gia xả bỏ tất cả
tài vật mình tích chứa, căn bản là phủ định tất cả
tư hữu kinh tế không dám gom chứa. Nhưng Bồ Tát thì không
giống như Thanh văn sự nghiệp nhỏ bé hy vọng hẹp hòi, mà
Bồ Tát vì cứu độ chúng sanh, nên phải tích chứa tài vật.
Tuy nhiên, điều đặc biệt là Bồ Tát tích chứa tài vật
không phải cho cá nhân mình, nên “phàm hễ có thọ nhận”
thì tất cả sự thọ nhận đó “đều vì thành thục chúng
sanh bần khổ”. Nghĩa là đem tài vật ra cứu tế cho những
chúng sanh bần khổ. Chúng sanh khi được cứu tế thì, từ
đó có thể nhiếp hóa họ, khiến cho căn lành của họ thành
thục với Phật pháp.
Khi
mới phát tâm Bồ đề, người tu Bồ Tát hạnh cần phải
có tâm nguyện như thế này: Phàm tất cả những gì thuôc
sở hữu của mình đều thí xả và cũng là thuộc sở hữu
của chúng sanh, tùy nhu cầu của chúng sanh mà thí cho tất
cả. Nhưng nói thế không có nghĩa là đem tất cả tài vật
bố thí hết một lần rồi thôi. Như thế thuộc về pháp
hạnh Tiểu thừa. Nhưng tinh thần Đại thừa Bồ Tát là phải
quảng đại. Nghĩa là phải biết dùng tài vật có được
cần đem kinh doanh phát triển nó. Vì chúng sanh mà kinh doanh
phát triển chứ không phải vì mình. Mình chỉ là người quản
lý trông coi để phát triển tài vật làm lợi ích chúng sanh
thôi. Trừ hợp lý tiêu phí cho đời sồng ra, khi đem bố thí
phải thích ứng nhu cầu chúng sanh bần khổ. Chân tinh thần
của Bồ Tát bố thí ba la mật là thể hiện tâm hạnh thực
tiễn lợi ích nhân quần xã hội.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi thành đạo Bồ
đề, không vì tự kỷ mà hành Tứ nhiếp pháp. Duy nhất vì
tất cả chúng sanh nên đem tâm không ái nhiễm, tâm không nhàm
đủ, tâm không trở ngại để nhiếp thọ chúng sanh.
LỜI
GIẢI:
Tứ
nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Bồ
Tát cần nhiếp thọ chúng sanh, nên cần phải thực hành bốn
pháp này.
-Bố
thí: Dùng tiền của, dùng giáo pháp cho chúng sanh. Chúng sanh
thọ nhận của bố thí theo đó dễ tiếp thọ sự chỉ đạo
của Bồ Tát.
-Ái
ngữ: Phàm nói lời gì đều nghĩ đến lợi ích cho chúng sanh
mà nói. Lời nói thân ái dịu dàng không khẩu khí thô ác
nóng giận, lăng mạ người. Người vốn có tâm tự tôn, thích
nghe lời nói ngọt ngào tốt đẹp.
-Lợi
hành: Có nghĩa là Bồ Tát làm việc đều nghĩ đến phước
lợi chúng sanh, chịu giúp đỡ lợi ích tha nhân. Như thế
chúng sanh tự nhiên hoan hỷ vui lòng tiếp nhận sự giáo hóa
chỉ đạo của Bồ Tát.
-Đồng
sự: Bồ Tát còn phải dùng thân phận bình đẳng, cùng đồng
giai cấp, cùng đồng công việc với chúng sanh mới nhiếp
hóa được chúng sanh. Như Duy Ma Cật vào giòng họ Sát Đế
Lợi, làm việc Sát Đế Lợi, như thế mới lãnh đạo được
Sát Đế Lợi. Vào hạng nông công thương mới có thể lãnh
đạo nông công thương.
Tứ
nhiếp pháp này, Bồ Tát không thể thiếu. Thậm chí các hội
đoàn, tổ chức cho đến lãnh đạo hoặc giúp người lãnh
đạo cũng cần phải khéo áp dụng Tứ nhiếp pháp này. Nếu
không biết ứng dụng bốn điều trên đây thì gia đình, thầy
trò, hội đoàn, tổ chức, rồi ra cũng sẽ rơi vào tình trạng
mặt ngoài hòa hợp mà trong thì thần ly tâm tán. Nếu biết
ứng dụng Tứ nhiếp pháp thì sẽ gặt hái nhiếp phục đoàn
kết. Vì vậy, muốn nhiếp thọ lãnh đạo chúng sanh, điều
căn bản là áp dụng Tứ nhiếp pháp. Nhưng người thế gian
mang phàm tâm thực hành Tứ nhiếp pháp, là mưu lợi cho
mình hoặc lợi ích cho một ít người, ấy là người muốn
lãnh đạo, mới tiểu xảo sử dụng phương pháp này để
thu hút tổ chức người khác. Trái lại Bồ Tát không vì lợi
ích cho mình, không có tham vọng lãnh tụ, mà vì phước lợi
tất cả chúng sanh. Bồ Tát muốn giáo hóa chúng sanh tức phải
thực hành đầy đủ Tứ nhiếp pháp. Vì thế, đối với hành
giả Bồ Tát nói: “Tuy chưa thành Phật đạo, mà trước đã
kết thiện duyên với người”. Cùng người kết duyên thì
dễ hướng dẫn giáo hóa người học tập Phật pháp. Bồ
Tát hành Tứ nhiếp pháp là vì tế độ lợi ích chúng sanh.
Vì vậy mà cần phải dùng ba thứ tâm để thi hành:
1.Tâm
không ái nhiễm: Đối với cha mẹ, con cái, thầy trò, quyến
thuộc v.v… tuy cũng có ứng dụng phần ít Tứ nhiếp pháp,
nhưng đây là phát xuất từ tâm tư dục ái nhiễm. Bồ Tát
dĩ nhiên không như thế. Nếu không thì tâm ái nhiễm nặng
rồi sẽ dẫn đến vị nể. Đồng thời lơ là đối với
người khác. Thậm chí giải thích quanh công đức với người,
nói lời không hay về người, rồi vì mình mà biện hộ những
điều sai lầm.
2.Tâm
không nhàm đủ: Bồ Tát phát tâm quảng đại, không thể vì
nhiếp thọ một ít chúng sanh rồi tâm ý tự mãn cho là đủ,
mà phải phát khởi tâm nhiếp thọ tất cả chúng sanh, phát
nguyện rộng lớn độ tất cả chúng sanh.
3.Tâm
không trở ngại: Bồ Tát do y Bát nhã Ba la mật mà tâm không
trở ngại. Nếu tâm còn chấp trước thì có trở ngại. Tâm
chấp trước đối với việc nhiếp thọ chúng sanh thành chướng
ngại lớn.
Câu
“ nhiếp thọ chúng sanh” quán thông cả ba thứ tâm trên.
Tức là Bồ Tát nên dùng tâm không ái nhiễm để nhiếp thọ
chúng sanh, tâm không nhàm đủ để nhiếp thọ chúng sanh, tâm
không trở ngại để nhiếp thọ chúng sanh. Dùng ba tâm này
mà thực hành Tứ nhiếp pháp, ấy là yếu hạnh mà Bồ Tát
thực hành nhiếp chúng sanh giới.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con từ nay cho đến lúc thành đạo Bồ đề,
nếu thấy chúng sanh cô độc, tật bệnh, lầm than, tối tăm,
các thứ gian nan khốn khổ đeo đuổi buộc ràng không lúc
nào dứt, thì con quyết làm cho họ được an ổn, lấy việc
nghĩa khiến cho họ ấm no, lợi ích, thoát ly các khổ mới
thôi.
LỜI
GIẢI:
Hai
giới trên kia chú trọng nhiếp thọ chúng sanh. Hai giới vừa
rồi đặt trọng cứu độ chúng sanh. Thắng Man nói: “Con
từ nay về sau, nếu thấy chúng sanh cô độc tật bệnh lầm
than tăm tối, các thứ gian nan khốn khổ buộc ràng thì con
trọn không lúc nào xả bỏ”. Tuổi trẻ dại mà không cha
mẹ gọi là cô. Tuổi già mà không con cháu thì gọi là độc.
Tối tăm là bị cầm tù nơi lao ngục. Buộc ràng là bị trói
buộc xiềng xích v.v…Tật bệnh là bệnh đau nhức nhối hành
hạ tâm lý và sinh lý. Cô độc, tù đày gông cùm xiềng xích,
bệnh đau, ba thứ này đều là đại khổ thế gian. Ngoài ra
còn có các thứ chiến tranh, thủy hỏa tai biến, ôn dịch
v.v….đều là ách nạn bần cùng, không tri thức v.v….đều
là khốn khổ. Bồ Tát thấy chúng sanh chịu các thứ khổ
thống này, không luận là có khả năng lực lượng viện trợ
hay không, nhưng quyết không khởi tâm xả bỏ. Nếu Bồ Tát
xả bỏ thì ai ra tay cứu tế đây?! Bởi vì Bồ Tát lấy việc
cứu tế chúng sanh làm sự nghiệp, nên đối với sự khổ
thấy chúng sanh tất muốn cho an ổn, quyết tâm khiến cho họ
được no ấm an vui. Đây cần phải “lấy việc nghĩa làm
lợi ích”, dùng nghĩa lợi hợp lý khiến cho chúng sanh được
lợi ích “thoát khổ não”. Một khi chúng sanh thoát ly thống
khổ được an vui rồi, Bồ Tát “mới thôi”. Bồ Tát là
phải cứu tế chúng sanh. Nhưng không có năng lực cứu tế
chúng sanh và không muốn cứu tế chúng sanh thì không phải
Bồ Tát. Bồ Tát có thể chưa có năng lực cứu giúp chúng
sanh, nhưng quyết không xả bỏ chúng sanh, trước sau vẫn giữ
tâm cứu tế chúng sanh, cảm thấy rằng chưa có phương pháp
cứu tế chúng sanh thoát ly các khổ thì lòng Bồ Tát không
yên.
CHÁNH
VĂN:
Người
đưa bạn hữu và chúng sanh về với chánh pháp thì quyết
định được chư Phật thọ ký.
LỜI
GIẢI:
Bốn
chúng đệ tử được Bồ Tát hướng đạo vào trong chánh
pháp đều thành người vĩ đại, quý giá. Bởi đã phát tâm
Bồ đề gieo trồng hạt giống Phật, nên được chư Phật
theo đó mà thọ ký. Phật thọ ký tức là Phật tán thán người
thực hành chánh pháp, khéo hướng kẻ tà tâm tà hạnh bị
lợi danh mê hoặc trở về với chánh pháp.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Con thấy nhiếp thọ chánh pháp có đại lực
lớn như thế, quả thật Phật là bậc thật nhãn thật trí,
Phật là cội gốc của chánh pháp, thông đạt chánh pháp,
là nơi nương tựa của chánh pháp, cũng là bậc thấy biết
tất cả.
LỜI
GIẢI:
Bồ
Tát ở trước Phật thuyết pháp, đương nhiên thỉnh Phật
ấn chứng. Vì vậy Thắng Man trước tổng kết nói: “Con
thấy nhiếp thọ chánh pháp có năng lực vĩ đại như thế,
xả bỏ thân thể, mạng sống, tài sản để kiến lập chánh
pháp”. Tiếp đó tôn sùng Như Lai, bà liền nói: “Phật là
bậc thật nhãn thật trí. Nhãn suốt thấy, trí suốt biết.
Sự thấy biết của Phật thì hàm viên mãn”. Vì vậy xưng
Phật nhãn là như thật nhãn, Phật trí như thật trí, nhất
thiết chủng trí, thấy biết đúng như thật cứu cánh viên
mãn. Phật là căn bản của pháp, thông đạt tất cả pháp,
nên nói là nơi nương y của chánh pháp. Ở đây Thắng Man
muốn nói: Phật thấy biết suốt thông tất cả pháp. Thế
nên, những gì bà nói trên kia, hoặc đúng hoặc không đúng,
Phật đều thấy biết tất cả.
CHÁNH
VĂN:
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn đối với những điều Thắng Man
đã nói về sức đại tinh tấn nhiếp thọ chánh pháp, Ngài
đều khởi tâm tủy hỷ.
LỜI
GIẢI:
Đây
là nói, lúc Thắng Man hướng Phật tán thán công đức của
sức đại tinh tấn nhiếp thọ chánh pháp, thì Phật ngài khởi
tâm tùy hỷ những gì Thắng Man đã nói.
CHÁNH
VĂN:
Như
thế đó Thắng Man! Người đã nói về sức đại tinh tấn
của việc nhiếp thọ chánh pháp, chẳng khác nào người đại
lực sĩ ít bị người đụng đến thân thể thì cảm
sanh đại khổ não. Cũng giống như vậy đó Thắng Man, người
đại tinh tấn mà ít nhiếp thọ chánh pháp thì khiến cho con
ma khổ não khởi sanh. Ta không thấy còn một pháp lành nào
khác khiến cho ma khổ não khởi sanh bằng ít nhiếp thọ chánh
pháp.
LỜI
GIẢI:
Văn
dưới đây sẽ lấy ba thí dụ là đại lực sĩ, trâu vua và
núi Tu Di để tán thán về hạnh nhiếp thọ Đại thừa. Một
là thí dụ về đại lực sĩ: Phật ấn chứng cho Thắng Man
rằng: “Như thế đó Thắng Man! Đích thực như ngươi đã
nói sức đại tinh tấn nhiếp thọ chánh pháp chính thực vĩ
đại cao cả. Chẳng khác nào như nhà đại lực sĩ, nếu như
ít người đụng đến thân thể họ hoặc không đi đấu võ
thì họ cảm thấy hết sức khổ não, không thể chịu nổi!
Có khác nào Bồ Tát ít nhiếp thọ chánh pháp thì khiến cho
ma vương buồn bực khổ não”. Ma là loài ác, luôn luôn chướng
ngại cho kẻ thiện nam người thiện nữ có tâm tu hành thiện
pháp. Kẻ lãnh đạo làm chướng ngại thiện pháp, hoặc lợi
dụng Phật pháp làm điều tà ngụy thì gọi đó là ma vương.
Ngoài ra, kẻ làm chướng ngại thiện pháp mà không phải vai
trò lãnh đạo thì gọi là ma tử, tức là con cháu quyến thuộc
của ma vương. Nhiếp thọ chánh pháp là cội gốc của tất
cả thiện pháp. Bởi Bồ Tát nhiếp thọ chánh pháp tức là
tất cả thiện pháp thế gian và xuất thế gian đều từ đấy
phát sanh. Thế nên, ma làm chướng ngại thiện pháp tức là
ít nhiều ma cũng đã thấy rõ điều đó thuộc về chánh
pháp, nên chúng ma sanh tâm rất khiếp sợ. Người tu học chứng
đắc pháp Nhơn, Thiên cho đến Nhị thừa thì đó bất quá
chỉ là cá nhân chứng đắc giải thoát. Còn Bồ Tát nhiếp
thọ chánh pháp còn cần phải cứu độ tất cả chúng sanh,
nên Phật nói: “Ta không thấy một thiện pháp nào khác khiến
cho ma lo âu khổ não bằng ít nhiếp thọ chánh pháp”. Bởi
loài ma thích phá phách khuấy nhiễu, nên nếu Bồ Tát không
nhiếp thọ chánh pháp thì không có cơ hội phá phách. Không
phá phách thì chúng không thể chịu nổi. Chẳng khác nào vượn
khỉ không thể không chuyền cây, mèo chồn không thể không
bắt thịt, lực sĩ không thể không đấm đá.
CHÁNH
VĂN:
Lại
như hình sắc của vua trâu thì không trâu nào bì kịp, hơn
tất cả trâu thường. Cũng như thế đó, Đại thừa ít nhiếp
thọ chánh pháp cũng vẫn thắng hơn tất cả căn lành của
Nhị thừa. Bởi lẽ nhiếp thọ chánh pháp là quảng đại.
LỜI
GIẢI:
Đây
là thí dụ thứ hai về trâu vua. Trên kia dụ đại lực sĩ,
ý nói Bồ Tát nhiếp thọ chánh pháp đối với tất cả pháp
hơn cả. Ở đây, hai là dụ trâu vua nói lên ý nghĩa nhiếp
thọ chánh pháp đại thừa đối với pháp Nhị thừa.
Theo tục Ấn Độ, người chăn trâu đối trong bầy trâu tuyển
lựa một con trâu to lớn khoẻ mạnh đặt cho làm trâu vua.
Đầu và thân trâu này được trang sức đủ thứ hoa màu vải
đẹp sặc sỡ. Vì vậy, hình sắc trâu vua không trâu nào sánh
kịp. Hình thái cao lớn, lông sắc sạch sẽ, rực rỡ hơn
tất cả trâu thường cũng như thế đó, nhiếp thọ chánh
pháp Đại thừa đối với các thiện pháp khác chẳng
khác nào trâu vua đối với trâu thường. Tự thể, công đức,
tướng dụng của Đại thừa pháp đều là vĩ đại thù thắng
hơn tất cả thiện căn Nhị thừa. Thiện căn của Nhị thừa
như trâu thường. Pháp lành của Đại thừa như trâu vua.
CHÁNH
VĂN:
Lại
như núi Tu Di vương đặc thù đoan nghiêm hùng vĩ hơn tất
cả núi. Cũng như thế, Đại thừa xả bỏ thân mạng tài
sản để đem tâm hạnh nhiếp thọ chánh pháp thì thắng hơn
tất cả căn lành của bậc sơ trụ Đại thừa không xả thân
mạng tài sản huống nữa là hàng Nhị thừa ư? Bởi vì quảng
đại vậy.
LỜI
GIẢI:
Đây
là thứ ba dụ về núi Tu Di vương, Bồ Tát nhiếp thọ chánh
pháp đối với hàng Bồ Tát sơ học mà nói. Núi Tu Di vương
dịch nghĩa là Diệu Cao Sơn nằm giữa bốn đại bộ châu
(Đông thắng thần châu, Tây ngưu hoá châu, Nam thiệm bộ châu,
Bắc Câu lô châu). Núi Tu Di cao hơn mặt biển đến bốn vạn
tám ngàn do tuần, cao nhất trong tất cả núi, nên gọi là
núi Vua. Núi Tu Di chẳng những cao nhất mà núi đó còn do các
thử châu bảo hợp thành, nên kinh thường gọi là “đoan
nghiêm đặc thù”, có nghĩa là thù thắng hơn núi Thất Kim
Sơn và núi Thiết Vi Sơn. Cũng như thế đó, công đức của
Bồ Tát vì Đại thừa mà xả thân mạng tài sản để nhiếp
thủ tâm nhiếp thọ chánh pháp chẳng khác núi Tu Di vương
kia. Nghĩa là thù thắng hơn tất cả thiện căn của kẻ sơ
trụ Đại thừa không dám xả thân mạng tài sản. Sơ trụ
Đại thừa tức là mới phát tâm tu học Đại thừa được
ở trong dòng pháp Đại thừa. Nghĩa căn bản của nhiếp thọ
chánh pháp là dùng trí Bát nhã chứng đắc chánh pháp, tức
là chứng đắc thật tướng.
Dùng
tam vô lậu học Văn, Tư, Tu để tu tập chẳng qua là khai sự
học tập nhiếp thọ chánh pháp đến khi nào thật sự liễu
đạt tài sản thân mạng vốn là không, biết xả bỏ thân
mạng tài sản vì chánh pháp, thì lúc đó so với hạng Bồ
Tát sơ trụ đại thừa tâm hữu lậu còn trước tướng tu
hành đương nhiên siêu việt thù thắng hơn. Sơ học Bồ Tát
còn không thể bì kịp đối với hàng thiện nam thiện nữ
biết xả thân mạng tài sản nhiếp thọ chánh pháp, huống
nữa là hàng Nhị thừa! Cận đại Hòa thượng Quảng Đức
và các Thánh tử đạo vì pháp thiêu thân, đó là nhiếp thọ
chánh pháp. Kinh Kim Cang nói: Phật Thích Ca ở thời Phật Nhiên
Đăng đã chứng đắc Vô sanh pháp nhẫn, thù thắng hơn tất
cả công đức sở hành trước đó. Hàng Đại thừa sơ học,
tâm hạnh hữu lậu, chẳng bằng hàng vô lậu hạnh Bát nhã.
Cũng như bậc tối hậu thân Bồ Tát đương nhiên không thể
bằng Phật. Đây là nghĩa chung của kinh Đại thừa. Và đây
cũng không phải là vấn đề quyền thực hoặc liễu nghĩa
hay bất liễu nghĩa, sơ học cựu học viên chứng. Nhị thừa
chứng Niết bàn tưởng rằng là cứu cánh, kỳ thực chưa
thành Phật là chưa cứu cánh, nên trong Phật pháp gọi Nhị
thừa là phi thật quả. Nghĩa là không phải quả chơn thật.
Phật thừa mới là quả chơn thật. Bồ Tát chưa từng nghĩ
rằng mình đã chơn thật cứu cánh. Bởi vì biết rõ thành
Phật mới là cứu cánh, nên các Ngài chẳng cần bàn quyền
luận thật làm chi. Thế thì tại sao lại còn cho rằng sơ
hành là quyền giáo, cựu hành là thật giáo, hoặc giả còn
cho cựu hành là quyền giáo, viên chứng là thật giáo? Những
học giả tự xưng là thật giáo viên giáo lẽ nào lại không
biết phân định sơ học cựu hành ư? Lại có số người
mỗi lần dẫn kinh điển đề cập đến Nhất thừa thì bảo
rằng Đại thừa chưa phải là cứu cánh, lìa Đại thừa được
Nhất thừa mới rốt ráo, nói thế là nói lếu láo không đúng
chút nào. Y cứ vào ba thí dụ trên thì đủ thấy rằng hễ
bất cứ ai vì nhiếp thọ chánh pháp mà phát tâm đại tinh
tấn xả bỏ thân mạng tài sản thực chứng pháp Đại thừa
thì Đại thừa tức Nhất thừa vậy.
CHÁNH
VĂN:
Thế
nên Thắng Man cần phải dùng nhiếp thọ chánh pháp để khai
thị chúng sanh, giáo hoá chúng sanh, kiến lập chúng sanh. Như
vậy đó Thắng Man, nhiếp thọ chánh pháp thì được đại
lợi ích, đại phước báo, đại quả đức. Này Thắng Man!
Ta đã từng trong kiếp a tăng kỳ giảng nói về ý nghĩa nhiếp
thọ chánh pháp công đức không ngằn mé. Thế cho nên công
đức nhiếp thọ chánh pháp thì vô lượng vô biên.
LỜI
GIẢI:
Tóm
lại, trên đây là khuyến lệ học giả nên phát tâm Đại
thừa tu học thông bác để nhiếp thọ chánh pháp giáo hoá,
khai thị chúng sanh, hướng đạo kiến lập chúng sanh. Kinh
Pháp Hoa nói “Tri kiến Phật”. Kinh này nói “nhiếp thọ
chánh pháp chư Phật thật tri thật kiến”. Ý nghĩa đồng
nhau.
Kinh
Pháp Hoa nói “Khai thị ngộ nhập”. Kinh này nói “Khai thị,
giáo hoá, kiến lập”. Tức là cả hai bộ kinh cùng phát minh
nghĩa lý chỉ bày phương pháp tu hành. “Khai” là hiển bày
chánh lý. “Thị” là chỉ rõ phương pháp như thật tu hành,
tức là khai thị chúng sanh. “Ngộ” là giáo hoá hướng đạo
khiến cho chúng sanh liễu giải giác ngộ chánh pháp, thật
tánh chân tâm, tức giáo hoá chúng sanh. “Nhập” là thể
nhập chứng đắc tri kiến Phật, trụ nơi quả chứng, tức
là kiến lập chúng sanh. Đủ thấy bốn việc của Kinh Pháp
Hoa đồng với ba nghĩa của Kinh Thắng Man này vậy.
Đức
Như Lai vì bốn việc khai, thị, ngộ, nhập này làm đại sự
nhân duyên mà xuất thế, nên Đức Phật muốn Thắng Man lấy
ba việc khai thị, nhiếp hoá, kiến lập làm pháp môn tôn chỉ
giáo hoá chúng sanh. Kế đến nói: “Nhiếp thọ chánh pháp
thì có lợi lớn, phước lớn, quả lớn như thế”. Đại
lợi tức là lợi ích to lớn. Đại phước là phước báu
vĩ đại. Đại quả tức chứng quả Vô thượng Bồ đề.
Cũng có thể nói khai thị chúng sanh là khiến cho được lợi
ích lớn. Giáo hoá chúng sanh là khiến cho chúng sanh được
phước báu vĩ đại. Kiến lập chúng sanh là khiến cho chúng
sanh được đại quả Vô thượng Bồ đề. Đấy là ba việc
mà Đức Phật mong ước Thắng Man nguyện làm. Để khuyến
lệ Thắng Man Đức Phật nói: “Ta ở trong kiếp a tăng kỳ
đã từng nói công đức nghĩa lợi của việc nhiếp thọ chánh
pháp số lượng không ngằn mé”. Thế nên nhiếp thọ chánh
pháp có vô lượng vô biên công đức. Vì nhiếp thọ chánh
pháp có công đức vô lượng vô biên như thế, nên Bồ Tát
phải khai thị, giáo hoá và kiến lập chúng sanh ở trong chánh
pháp, khiến cho chúng sanh hoan hỷ tu học.
Trên
kia nói nhơn hạnh của Bồ Tát là quy y, thọ giới, phát nguyện,
ấy là sự việc tu hành của Bồ Tát. Giờ đây nói đến
quả đức của Như Lai. Kinh Pháp Hoa, Niết bàn tán thán công
đức Phật quả hồi quy Nhất Phật thừa. Được quả thù
thắng là do tu nhơn. Do đó, người tu học Phật chớ nên đơn
giản lấy việc tán thán quả đức cứu cánh của Như Lai
mà cho là đầy đủ. Quả đức có hai phần cần phải hiểu
rõ. Một là Nhất thừa đạo quả. Hai là Nhất thừa đạo
nhơn. Một cách chơn chánh giản gọn mà nói, Nhất thừa tức
là Đại thừa vậy.
Nhất
thừa đạo quả tức là nêu rõ quả đức của Phật, hiển
bày quả đức cứu cánh để cho chúng sanh khởi tín tâm tu
hành, nên tiếp theo đó nói rõ đạo nhơn của Đại thừa.
Ở đây nói đạo nhơn tức là nhơn địa hành đạo. Tin quả
đức của Phật, phát tâm tu hành, tức là Đại thừa Bồ
Tát đạo.
Trong
khi thuyết minh về quả đức của Như Lai thì đồng thời
cũng đã chỉ điểm đạo nhơn của Bồ Tát. Có nghĩa là tất
cả chúng sanh đều có đức tánh của Như Lai. Đức tánh Như
Lai là chánh pháp. Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay
nhiếp thọ chánh pháp, là tu đạo nhơn Đại thừa, nên tất
cả chúng sanh đều có thể sẽ thành Phật. Như thế, quán
thống toàn kinh mà luận thì, hành giả tu Bồ Tát đạo trước
phải khởi chơn tâm chánh tín quy y, tiếp đến là thọ giới
phát nguyện, rồi như giới pháp mà chuyên tâm tu hành, sau
cùng mới luận đến quả đức của Như Lai. Quả ở đây
hàm dưỡng ý nghĩa tất cả chúng sanh đều có chánh pháp
tánh tròn đầy hiển bày, nên lại y theo chánh pháp mà khởi
tín tâm. Tín, nguyện, hành, quả là bốn điều liên chuyền
triển chuyển tiếp nối nhau, phục thỉ mà thành. Ấy thế
có những kẻ miệng bô bô nói chuyện tu hành, nào là đã
có hào quang, xuất hồn thành thánh chứng quả, mà chẳng biết
kính tín Tam Bảo không phát nguyện quy y, thọ trì giới pháp,
không tìm hiểu nhơn quả nghiệp báo, lại chẳng lưu tâm sửa
tánh tu thân còn thích làm thầy đời giảng đạo, khoác lác
bịa nói mình đã sở đắc nọ kia. Suốt ngày nói xàm nào
là tu tắt, nào là Nhất thừa. Những kẻ như đây, nếu chẳng
phải là cuồng điên thì cũng là quyến thuộc của ma vương
để mê hoặc lòng người, lừa đời kết nạp quyến thuộc
với chúng ma, làm tổn thương những hành giả nhiếp thọ
chánh pháp. Bởi không tín, không nguyện, không hành thì không
bao giờ thành đạo quả. Nên biết những kẻ tà tâm, ngụy
tướng không giới luật, chẳng chuyên tâm trì kinh, niệm Phật,
tham thiền, suốt ngày không đàm tạp luận lý thuyết suông
không tưởng, là kẻ hành ma đạo. Đặc tánh của tín, nguyện,
hành, quả là sợi dây chuyền châu nhi phục thỉ, đưa người
đến đạo quả giải thoát.
CHÁNH
VĂN:
Phật
bảo Thắng Man rằng: Ngươi nay lại nói điều mà tất cả
chư Phật đều đã nói về nhiếp thọ chánh pháp .
LỜI
GIẢI:
Nhất
thừa đạo quả phân làm bốn, trước bảo nói. Trước kia
Thắng Man thọ giới, phát nguyện là hoàn toàn tự động chứ
không do Phật khuyên nói. Đến khi nói về việc nhiếp thọ
chánh pháp thì do chính Thắng Man xin nói, và được Phật hứa
khả, sau đó Bà mới nói. Phát nguyện, thọ giới, phải là
tự động phát tâm. Nhiếp thọ chánh pháp, Thắng Man tuy đã
tu, đã chứng, nhưng vẫn còn chưa đạt đến cứu cánh, nên
phải bẩm bạch Phật để nói chỗ sở đắc của mình. Giờ
đây, Bà sẽ thuyết minh về quả đức Nhất thừa là phần
Phật tự chứng. Điều này tuy Bà đã từng nghe và suy tư,
nhưng không có tự chứng, nên phải do Phật chỉ giáo hoá
Bà mới dám tuyên nói.
CHÁNH
VĂN:
Thắng
Man bạch Phật: Hay thay Đức Thế Tôn! Giờ đây con vâng mệnh
nhận lãnh giáo lệnh của Ngài.
LỜI
GIẢI:
Trên
kia tổng quát thuyết minh về công đức Phật quả, Bồ đề
Niết bàn cũng tức là Nhất thừa. Bồ đề Niết bàn chính
là cảnh giới trí huệ của Như Lai, là tri kiến Phật, cũng
là Như Lai tạng tánh, chánh pháp tánh, mà tất cả chúng sanh
đều có đầy đủ tánh này. Nếu chúng sanh khéo phát triển
khả năng tự tâm thì những đức tánh trên đây là nhơn tố
nương tựa cho công đức Phật quả, cho cứu cánh quả Đức
Như Lai. Để thuyết minh rõ về Như Lai quả đức, Đại thừa
hay sanh trưởng đức tánh thánh thiện, nên Thắng Man mừng
rỡ tiếp nhận giáo sắc của Phật, và liền thưa.
CHÁNH
VĂN:
Thắng
Man liền bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Nhiếp thọ
chánh pháp là Ma ha diễn. Vì sao? Bởi vì Ma ha diễn hay sanh
ra tất cả thiện pháp thế gian và xuất thế gian của Thanh
văn, Duyên giác.
LỜI
GIẢI:
Nói
về nhiếp thọ chánh pháp có ba việc là: Chánh pháp, Đại
thừa và Ba la mật. Như trên chúng ta đã rõ nhiếp thọ chánh
pháp tức là chánh pháp, tức là Ba la mật. Một khi hiểu rõ
việc nhiếp thọ chánh pháp thì quảng đại thù thắng tức
là hiểu rõ ý nghĩa Đại thừa. Đến đây mới đích thực
liễu giải nhiếp thọ chánh pháp chính là Ma ha diễn, là Đại
thừa, là căn bản chỗ sở y của Nhất thừa, Nhất đế.
Ma ha diễn tiếng Phạn là Mahayâna nghĩa là Đại thừa. Sở
dĩ gọi Ma ha diễn là Đại thừa, bởi vì nó hay sanh ra tất
cả thiện pháp thế gian và xuất thế gian của Thanh văn Duyên
giác. Thanh văn Duyên giác là nhị thừa thiện pháp. Thế gian
là nhơn thiện pháp. Xuất thế gian là Thanh văn, Duyên giác,
Bồ Tát pháp. Ngũ thừa này đều y nơi Đại thừa thiện pháp
cũng tức y nơi nhiếp thọ chánh pháp mà phát sanh.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Như ao A Nậu lớn chảy ra thành tám sông, Ma
ha diễn cũng như vậy, hay sánh tất cả thiện pháp thế gian
và xuất thế gian của Thanh văn Duyên giác.
LỜI
GIẢI:
A Nậu
nói cho đủ là A Nậu Đạt, tiếng Trung Hoa gọi là Vô Nhiệt,
có nghĩa là không nóng. Ao A Nậu Đạt nằm giữa núi Tuyết
Sơn và Hương Sơn. Kinh này nói nước trong ao chảy ra thành
tám sông, điều này đồng với Kinh Niết bàn. Nhưng các kinh
luận khác nói nước trong bốn sông tức chỉ sông Hằng, sông
Ấn, sông Phược Sô, sông Tỷ Đa đều từ ao A Nậu chảy
ra. Nay nói nước ao A Nậu chảy ra bốn sông lớn, theo giải
thuyết xưa nay thì mỗi sông lớn có bốn sông nhánh làm quyến
thuộc. Vì vậy Kinh A Hàm, Luận Tỳ Bà Sa đều nói là hai
mươi sông. Nay do Phật xuất hiện phương Đông nên lấy sông
Hằng làm gốc cùng bốn sông quyến thuộc của sông Hằng
hiệp lại thành năm, công thêm sông Ấn, sông Phược Sô, sông
Tỷ Đa thành tám sông. Trên kia là dụ, nay đây hợp pháp như
kinh này nói “Ma ha diễn cũng như thế, hay xuất sanh tất
cả thiện pháp thế gian và xuất thế gian của Thanh văn, Duyên
giác. Cũng như ao A Nậu lưu xuất nước thành tám sông lớn”
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Lại như tất cả hạt giống đều nương nhờ
nơi đất mà được sanh trưởng. Cũng giống như thế, tất
cả thiện pháp thế gian và xuất thế gian của Thanh văn Duyên
giác đều nương nơi Đại thừa mà được tăng trưởng.
LỜI
GIẢI:
Ao
lớn dụ cho chỗ xuất sanh. Hạt giống dụ cho sự tăng trưởng.
Tất cả hạt giống đều như thế. Đặc tánh của chủng
tử có năm: Gốc, rễ, lá, hoa, trái. Năm thứ này đều từ
đất sanh thành. Năm thứ này cũng dụ cho thiện pháp năm thừa.
Nếu hạt giống không gieo nơi ruộng đất thì không thể nào
sanh trưởng được. Cũng như tất cả thiện pháp thế gian
và xuất thế gian của Thanh văn Duyên giác đều y nơi Đại
thừa mà được sanh trưởng. Đại thừa pháp dụ như đất.
Tất cả thiện pháp thế gian và xuất thế gian của Thanh văn
Duyên giác như năm thứ chủng tử.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Thế cho nên trụ nơi Đại thừa, nhiếp thọ
Đại thừa tức là trụ nơi Nhị thừa nhiếp thọ tất cả
thiện pháp thế gian và xuất thế gian của Nhị thừa.
LỜI
GIẢI:
Thiện
pháp thế gian và xuất thế gian đều y nơi Đại thừa mà
được sanh trưởng. Thế nên, phàm tu Đại thừa pháp hay an
trụ nơi Đại thừa, nhiếp thọ Đại thừa, đối pháp Đại
thừa ưa thích tinh tấn tức là bao hàm Nhị thừa, nhiếp thọ
Nhị thừa, cho đến hàm dưỡng tất cả thiện pháp thế gian
và xuất thế gian. Điều này có hai cách giải thích:
1/
Nếu trụ nơi Đại thừa pháp, thì Thanh văn, Duyên giác v.v…ngũ
thừa pháp tự nhiên thành tựu, cũng chẳng khác nào trồng
tre thì chim tự nhiên đến đậu. Cũng giống như vậy, Bồ
Tát trụ trong pháp Đại thừa thì thiện pháp của Nhị thừa
v.v….tự nhiên mà thành tựu, chớ chẳng cần vì thiện pháp
của nhơn, thiên, Nhị thừa mà phải thêm gia công tu hành.
2/
Pháp Đại thừa có khả năng sanh trưởng tất cả thiện pháp.
Bồ Tát trụ trong Đại thừa, Đại thừa vốn hàm nhiếp thiện
pháp nhơn, thiên, Nhị thừa. Thiện pháp Nhị thừa v.v…tức
là cánh cửa lành thiện đầu tiên của Đại thừa. Như Kinh
pháp Hoa lấy việc hướng đến bảo sở tức Phật quả để
làm ví dụ. Trên đường đến bảo sở, Bồ Tát đã trải
qua năm trăm do tuần. Nhị thừa chỉ mới được ba trăm do
tuần. Như thế rõ ràng quảng đường năm trăm do tuần bào
hàm ba trăm. Thế nên, đứng từ quan điểm Đại thừa Bồ
Tát mà quán xét, thì pháp Nhị thừa không vượt ngoài pháp
Bồ Tát. Công đức trí huệ của Bồ Tát hàm nhiếp công đức
trí huệ Nhị thừa. Thế nên trong Phật pháp không tích cực
khuyến khích hành giả trước tu học Tiểu thừa rồi sau học
Đại thừa, mà tích cực khuyến lệ hành giả trước học
pháp Đại thừa. Bởi Đại thừa pháp hàm nhiếp công đức
Nhị thừa. Nhưng cũng nên lưu ý rằng, chớ nên tự cao thiên
kiến cho thiện pháp nhơn thiên, Thanh văn, Duyên giác không
đáng để học. Quan niệm như thế thì quá sai lầm, rơi vào
bệnh chấp pháp tự đại. Bởi những pháp này đều có đầy
đủ trong pháp Đại thừa.
CHÁNH
VĂN:
Như
Thế Tôn nói Lục xứ. Những gì là Lục xứ? Ấy là Chánh
pháp trụ, Chánh pháp diệt, Ba la đề mộc xoa, Tỳ ni, Xuất
gia, thọ Cụ túc giới. Vì Đại thừa mà nói sáu việc này.
LỜI
GIẢI:
Đây
là thuộc trong ngũ thừa chánh pháp rất xem trọng giới
luật. Kinh Niết Bàn, Kinh Đại Vân đại biểu cho việc tôn
trọng giới luật. Giới luật và Đại thừa không hai. Giới
luật là nền tảng cho quả vị Đại thừa. Giới luật đưa
hành giả đến ngưỡng cửa Vô thượng Bồ đề. Không thọ
trì giới luật, như người mù trong đêm tối khó tìm lối
ra khỏi rừng sâu để ngẩng đầu tìm phương hướng về
quê cũ.
Sáu
việc Phật đã từng nói: Chánh pháp trụ, Chánh pháp diệt,
Ba la đề mộc xoa, Tỳ ni, Xuất gia, thọ Cụ túc. Sáu việc
này làm thành ba cặp đối nhau:
1/
Chánh pháp trụ và chánh pháp diệt. Chánh pháp và tượng pháp
đối đãi nhau. Như nói chánh pháp ngàn năm, tượng pháp ngàn
năm. Hoặc một cách tổng quát nói: Thánh giáo của Như Lai,
nếu như chánh pháp diệt, thì hết các kinh điển v.v…. Chánh
pháp trụ thế thì Phật pháp trụ thế. Theo học giả Thanh
văn thừa nói thì, người xuất gia phải y theo giới luật
hoà hợp mà ở. Nghĩa là còn pháp Yết ma, thuyết giới, trì
tụng giới, giảng nói giới tức là chánh pháp còn trụ thế.
Nếu người xuất gia không y pháp luật mà sống thì dòng sanh
mệnh chánh pháp diệt.
2/
Ba la đề mộc xoa và Tỳ ni. Ba la đề mộc xoa dịch là biệt
biệt giải thoát. Có nghĩa là thọ giới nào được giải
thoát giới đó. Như mỗi điều luật trong Tỳ kheo, Tỳ kheo
ni Giới Kinh, nếu ai thọ giới nào thì ác nghiệp của thân
miệng ý tức theo đó được mỗi mỗi giải thoát. Chẳng
hạn thọ giới không sát sanh thì ác nghiệp của sát sanh được
giải thoát. Trì giới nào thì riêng giới đó được giải
thoát ác nghiệp, nên gọi là biệt biệt giải thoát. Tỳ ni
phiên âm từ Phạn ngữ Vinaya, tức là giới luật. Có chỗ
dịch là điều phục hoặc còn dịch là diệt. Có nghĩa là
người tu học Phật thọ trì giới luật đối với nghiệp
ác của thân, miệng, thất chi tội đều được hàng phục
diệt trừ. Ba la đề mộc xoa và Tỳ ni, hai danh từ này mang
ý nghĩa gần nhau. Chẳng qua Ba la đề mộc xoa là biệt thuyết
còn Tỳ ni là tổng luận thế thôi. Ba la đề mộc xoa là chỉ
trì, tức là ngăn ngừa trừ diệt. Tỳ ni không những thuyết
minh chỉ trì mà còn tiếp tục tạo phước đức. Ba la đề
mộc xoa mang ý nghĩa hẹp, còn Tỳ ni thì hàm hữu nghĩa rộng.
3/
Xuất gia thọ Cụ túc. Xuất gia là xa lìa quan hệ gia đình
cha mẹ vợ con, buông bỏ hết tất cả tài sản gia tộc tư
hữu, quy y theo hạnh Phật sống đời thanh đạm. Thọ Cụ
túc là thọ giới Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Cụ túc có nghĩa
là viên mãn. Viên mãn tức Niết bàn . Do ý nghĩa này nên thọ
Cụ túc giới còn gọi