II.
PHẦN CHÁNH TÔNG
(tiếp
theo)
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Bốn trụ địa lực này cùng với tất cả
các thứ chủng tử gốc rễ của thượng phiền não đem so
sánh với vô minh trụ địa tính đếm thí dụ cũng không thể
bằng. Bạch Đức Thế Tôn! Như thế vô minh trụ địa lực
đối với hữu và ái tứ trụ địa thì công lực của vô
minh trụ địa rất là lớn.
LỜI
GIẢI:
Vô
minh trụ địa so với tứ trụ địa phiền não thì vô minh
trụ địa lực lượng lại càng to, gốc rễ càng sâu. Kinh
nói công lực của tứ trụ địa là nơi nương của tất cả
chủng tử, gốc rễ của thượng phiền não. Thượng phiền
não còn có tên là tùy phiền não. Danh nghĩa của những thứ
phiền não có thông có biệt. Đứng về phía thông mà nói
thì tất cả phiền não đều là từ tâm thức mà phiền động
não loạn, hoặc y tùy chủng loại huân tập mà sanh khởi phiền
não. Vì vậy nên tất cả phiền não đều có thể gọi là
tùy phiền não. Đứng về biệt nghĩa mà nói thì trong phiền
não có căn bổn phiền não, như kiến, ái v.v…, tức là y
nơi phân biệt tứ trụ, mà điển hình là giáo hệ của Hữu
bộ thuyết minh về chín mươi tám tùy miên v.v… Ngoài ra vô
tàm, vô quý, phẫn, hận, trạo cử, hôn trầm v.v….là y tham
v.v…các thứ phiền não mà sanh khởi, mà phân vị thứ loại
phiền não, nên gọi là tùy phiền não. Trong đây nên quy định
phạm trù ở điểm “Thông” mà nói thì, y tâm y chủng huân
tập sanh khởi, nên gọi là tùy phiền não, cũng như trên kia
đã đề cập khởi phiền não. Tất cả khởi phiền não tứ
trụ địa phiền não là hạt giống, lấy tứ trụ địa phiền
não làm chỗ sở y. Tất cả khởi phiền não đều y tứ trụ
địa mà sanh khởi. Thế nên lượng tứ trụ địa là rất
lớn. Tuy nhiên đem so sánh với vô minh trụ địa thì lực
lượng tác dụng tính số thí dụ không thể bằng. Đem lực
lượng tác động của hai thứ này so sánh thì, nếu dùng số
mục chỉ bằng một phần tám. Nghĩa là tứ trụ địa phiền
não bằng một phần tám của vô minh trụ địa phiền não.
Vô minh trụ địa so với hữu ái số của tứ trụ địa tác
dụng lực vẫn thâm sâu rộng mạnh hơn nhiều. Điều này
cho ta thấy vô minh trụ địa lực lượng rất to lớn. Trong
tứ trụ địa thì hữu ái trụ địa tác dụng đặc biệt
sâu rộng thâm căn cố đế. Do đó mới nêu hữu ái để ví
dụ. Chữ số được dùng liên tiếp với chữ hữu trong đây
hàm mang ý nghĩa chỉ cùng đẳng loại. Trong đây nói cái nghĩa
lực lượng của vô minh to lớn không phải đứng về mặt
chiêu cảm sanh tử để nói, mà đứng từ tác lực dụng sâu
sắc vi tế của nó không dễ đoạn trừ mà nói, nó là chỗ
sở y cho tất cả phiền não.
CHÁNH
VĂN:
Thí
như ác ma ba tuần ở cõi trời Tha Hoá Tự Tại, với sắc,
lực, thọ mạng, quyến thuộc, đồ dùng, năng lực tự tại
thù thắng. Cũng như thế đó, sức lực vô minh trụ địa
đối với hữu, ái, số phiền não của tứ trụ địa thì
lực lượng của vô minh trụ địa thắng vượt hơn hết,
làm chỗ sở y cho hằng hà sa số các phiền não khác, lại
cũng khiến cho bốn thứ phiền não khác bền lâu.
LỜI
GIẢI:
Tiếp
theo đây là nêu sức công phá của Ma vương làm thí dụ: “Thí
như ác ma Ba Tuần”. Ma tiếng Phạn là Mâra, dịch là sát,
có nghĩa là loài ma Ba Tuần này lấy các việc tổn hại chúng
sanh, phá phách người tu hành làm thiện pháp. Ma là danh từ
chỉ chung cho tất cả loài ma. Ba tuần là tên chỉ cho Ma vương
cảnh trời thứ sáu cõi Dục giới. Đặc tánh của Ma vương
Ba Tuần thì rất ác độc. Chúng có cung điện, quyến thuộc
binh tướng, ma nữ, ma thiên. Ác ma Ba tuần là Thiên ma, một
trong bốn loài ma sinh hoạt ở từng trời Tha Hoá Tự Tại
trên đảnh cõi Dục giới này. Chúng hữu tình sanh lên cõi
trời Tha Hoá Tự Tại không phải đều được làm Ma vương.
Ma vương lãnh đạo chúng thiên ma giống như vị quốc vương
của thế gian. Dã tâm của Ma vương chiếm hữu công lực hoặc
thực quả sở đắc, biến hoá lực của người khác để
cung cấp năng lực cho mình hưởng thụ, nên gọi là Tha Hoá
Tự Tại. Ba tuần ở trong cõi trời Tha Hoá Tự Tại nó có
đủ vật dụng dục lạc rất là thù thắng. Kinh này lược
nói sáu việc thù thắng đó:
1)
Sắc thù thắng, tức là tướng tốt trang nghiêm.
2)
Lực thù thắng, tức là tinh lực sung túc.
3)
Thọ mạng thù thắng, tức là mạng sống lâu so với nhơn
gian ước chừng chín trăm hai mươi ức năm.
4)
Quyến thuộc thù thắng, tức là ma con ma cháu rất là nhiều.
5)
Đồ dùng thù thắng, tức là đồ ăn uống, đồ dùng tinh
mỹ rất nhiều.
6)
Tự tại thù thắng, tức thần thông lực tự tại.
Ma
vương có sáu thứ thù thắng này, nên so với thiên tử thiên
nữ khác thì Ma vương vẫn thù thắng siêu việt hơn.
Sự
kiện thù thắng của Ma vương như vô minh trụ địa. Còn những
thiên tử thiên nữ khác như bốn trụ địa khác. Thế nên
nói: Cũng như thế đó, sức của vô minh trụ địa đối với
hữu ái số của tứ trụ địa thì lực của nó thắng vượt
hơn hết. Hữu và ái v.v…tứ trụ địa có năng lực làm
chỗ sở y cho tất cả các thứ khởi phìên não, mà vô minh
trụ địa không những là chỗ sở y cho hằng sa đẳng số
thượng phiền não, mà lại còn hay khiến cho bốn thứ phiền
não thêm lâu dài. Danh từ hằng sa đẳng số là hình dung số
lượng phiền não nhiều vô số không thể tính đếm. Nhất
thiết khởi phiền não tức là nói tất cả hiện hành của
tất cả kiến hoặc, tư hoặc. Bốn thứ phiền não tức là
chỉ cho tứ trụ địa, đặc biệt nói về chủng tử huân
tập. Từ vô thỉ đến nay phiền não liên tục lâu dài bất
đoạn đều do lực lượng vô minh hình thành. Như thế, tứ
trụ địa và tùy phiền não hiện khởi đều y vô minh trụ
địa. Đây chẳng khác nào cành lá hoa quả của cây cổ thụ
đều y nơi gốc mà sanh trưởng tồn tại; gốc y nơi rễ mà
có. Thế nên, gốc rễ của cây là chỗ sở y của cành lá
hoa quả. Do đây có thể biết được lực lượng của vô
minh trụ địa to lớn biết là dường nào. Nó vốn là cội
nguồn của bao phiền não. Đoạn vô minh thì hết phiền não
sanh tử.
Kinh
này nói vô minh trụ địa tức là sở tri chướng. Tứ trụ
địa và thượng phiền não là phiền não chướng. Phiền não
chướng là do ngã, ngã sở chấp làm gốc. Bởi do ngã, ngã
sở chấp mà khởi tham v.v…các phiền não. Do đây mà chiêu
cảm cái khổ phần đoạn sanh tử luân lưu trong ba cõi. Sở
tri chướng là do vô minh mê muội đối với tất cả các pháp
tánh không mà không triệt ngộ thật sự thật lý của tất
cả pháp, nên trí bị chướng ngại đối với tất cả pháp.
Phiền não chướng là do nhơn chấp. Sở tri chướng là do pháp
chấp. Ngã chấp tất phải do nơi pháp chấp. Pháp không chấp
thì ngã không thành. Phiền não chướng có là do sở tri chướng.
Sở tri chướng là chỗ sở y, là cội nguồn phát sanh pháp
chấp. Phiền não chướng là chỗ sở y, là gốc rễ của ngã,
ngã sở chấp. Tóm lại, vô minh trụ địa là chỗ sở y cho
thượng phiền não và tứ chủng phiền não.
CHÁNH
VĂN:
Trí
của A la hán, Bích chi Phật không thể đoạn vô minh trụ địa.
Chỉ có Bồ đề trí của Như Lai mới có thể đoạn sạch.
Như thế đó, bạch Đức Thế Tôn! Vô minh trụ địa lực
lượng rất lớn mạnh thâm sâu.
LỜI
GIẢI:
Từ
những văn nghĩa trên, đoạn kinh đây kết luận rằng: Trí
của A la hán Bích chi Phật đối với vô minh trụ địa không
có khả năng đoạn được. Trí huệ của A la hán Bích chi
Phật có khả năng ngộ được ngã không mà không có khả
năng liễu đạt tự tánh của pháp không, không suốt thấu
Như Lai tạng tánh, nên không thể đoạn vô minh trụ địa.
Vô minh trụ địa chỉ có đại trí Bồ đề của Như Lai mới
đoạn được. Đủ thấy vô minh trụ địa lực lượng thâm
sâu lớn mạnh đến chừng nào, ngoài trí huệ Phật ra, không
có trí huệ nào đoạn sạch vô minh trụ địa một cách rốt
ráo.
Đối
với việc đoạn vô minh trụ địa này có một số vấn đề
cần phải luận giải:
1/
Khi chứng đắc Bồ đề trí thành Phật thì vô minh trụ địa
đã đoạn sạch. Ngoài Phật ra, đoạn vô minh trụ địa còn
có Bồ Tát Kim Cang dự định tối hậu tâm khởi trí huệ
kim cang có khả năng đoạn vô minh trụ địa. Kim cang dụ định
là vô gián đạo. Thành Phật đắc Bồ đề trí là giải thoát
đạo.
Trí Phật là Bồ đề trí thì vô minh trụ địa không có cơ
hội sanh khởi, nên mới nói Bồ đề trí hay đoạn.
2/
Bồ Tát cũng có thể đoạn vô minh. Đây là thông nghĩa của
Đại thừa Phật giáo. Như nói đoạn mười một thứ trọng
vô minh, hoặc nói đoạn hai mươi hai trọng ngu, mà mỗi địa
trong thập địa Bồ Tát đoạn một phần, cứ như thế Bồ
Tát tiến cho đến Đẳng giác thì đoạn phần chót. Khi phần
chót của vô minh trụ địa đoạn sạch liền chứng thành
Diệu giác tức Phật quả. Thiên Thai Tông giáo nghĩa nói bốn
mươi hai phần vô minh sơ trụ Bồ Tát trở lên có thể
đoạn. Đối với vô minh, Hiền Thủ Tông nói năm mươi hai
phần, từ Sơ tín trở lên có thể đoạn. Vô minh trụ địa
tức là sở tri chướng, mà kinh đây nói chướng này chỉ
có Bồ đề trí của Như Lai mới có thể đoạn. Nên biết
rằng, đây là ý nói đoạn sạch rốt ráo để đắc Niết
bàn. Nếu đứng về phần đoạn mà nói thì sơ địa Bồ Tát
trở lên cũng có thể đoạn. Chẳng khác nào chữ phấn trên
bảng đen chùi đi ba bốn chữ đương nhiên cũng là chùi, nhưng
chữ trên bảng đen vẫn chưa thể chùi hết được, nhưng
cũng nói là chùi. Cũng vậy, các kinh luận khác khi luận nghĩa
về đoạn vô minh phiền não thì thật sự đoạn phần ít,
nên nói sơ địa Bồ Tát có thể đoạn vô minh. Thế nên kinh
này xác định rõ chỉ có trí Bồ đề của Như Lai mới đoạn
rốt ráo.
Lại
như kinh luận thường nói, đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ
đề, ấy là đứng về phương diện cứu cánh mà nói thì
chỉ có Như Lai mới có thể đắc. Nếu đứng về phần chứng
mà nói thì sơ địa Bồ Tát cũng có thể chứng Vô thượng
Bồ đề, nghĩa là chứng từng phần Vô thượng Bồ đề.
Lại
như có chỗ nói, sơ địa Bồ Tát đắc Vô sanh pháp nhẫn.
Có chỗ nói bát địa Bồ Tát mới đắc là ý nghĩa này. Nên
biết rằng, hành vi Đại thừa đệ bát địa là một giai
đoạn đặc thù. Sơ địa Bồ Tát trở lên cũng có thể chứng
tánh của các pháp vốn không, nhưng đối với nhơn tục chưa
có thể dung thông, hữu tướng và vô tướng còn khởi niệm
xen tạp. Phải đợi đến bát địa Bồ Tát mới có thể đối
với chơn tục nhứt niệm, quán nhị đế vô ngại thường
chơn, không có tướng trí tùy tiện sanh khởi. Thế nên, nhiều
nơi tuy kinh điển nói bát địa Bồ Tát đắc Vô sanh nhẫn,
hoặc còn nói bát địa hoặc thất địa Bồ Tát trở lên
có thể đoạn vô minh nghiệp tập. Nhưng có chỗ còn nói sơ
địa Bồ Tát có thể đoạn có thể đắc, ấy là ý nghĩa
đoạn đắc từng phần. Đích thực chỉ có Như Lai mới hay
đoạn hay đắc triệt ngộ chơn không rốt ráo.
Một
cách tổng quát, tuy kinh luận đôi lúc nói không giống nhau,
nhưng thực ra thì không hai, không khác. Điều này cũng dễ
hiểu, tùy quan niệm mỗi tông mỗi người luận định đoạn
hoặc chứng chơn từng địa quả. Nhưng cùng tột chân nghĩa
có thể nói: Bổn nghĩa của Phật pháp chỉ có Như Lai mới
đoạn sạch phiền não rốt ráo viên mãn giác ngộ. Sơ kỳ
Đại thừa nói, bát địa có thể đoạn có thể giác. Hậu
kỳ Đại thừa thì lại nói Sơ địa hay đoạn hay giác. Nhưng
nếu đứng trên lập trường của hậu kỳ Đại thừa luận
định về chứng pháp tánh không thì ở sơ địa. Còn đối
với cảnh vô tướng vô công dụng mà luận định thì ở
bát địa. Nếu ước định cứu cánh viên mãn thì Phật địa.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Lại như thủ duyên, hữu lậu nghiệp nhơn
mà sanh ba hữu, như thế vô minh trụ địa duyên, vô lậu nghiệp
nhơn sanh ra ba thứ ý sanh thân của A la hán Bích chi Phật,
đại lực Bồ Tát. Ba địa này, ba thứ ý sanh thân kia và
vô lậu nghiệp sanh, y vô minh trụ địa, hữu phi vô duyên,
thế nên ba thứ ý sanh thân và vô lậu nghiệp, duyên vô minh
trụ địa. Bạch Đức Thế Tôn! Như thế, hữu ái trụ địa
cùng số tứ trụ địa không đồng với nghiệp của vô minh
trụ địa. Vô minh trụ địa khác biệt với tứ trụ địa.
Phật địa đã đoạn trừ, Bồ đề trí của Phật cũng đã
đoạn sạch.
LỜI
GIẢI:
Đây
thuyết minh về tác dụng sai biệt vô minh trụ địa. “Lại
như thủ duyên” tức là chấp lấy làm duyên. Thủ là danh
từ tổng xưng của tứ trụ địa phiền não. Đức Phật từng
tổng nói phiền não của kiến hoặc hay tư hoặc trong tam giới,
nên lập thành danh xưng tứ thủ là: Dục thủ, kiến thủ,
giới cấm thủ, ngã ngũ thủ.
Những
thứ phiền não này đều mang ý nghĩa chấp trước cảnh giới
tạo thành lực dụng chiêu cảm sanh tử, nên có danh từ thống
quát là “Thủ”. Còn phần đoạn sanh tử là do tứ trụ
phiền não phát nghiệp nhuận sanh mà cảm lấy quả báo. Bởi
nhơn phiền não dẫn phát mà tạo thành nghiệp quả thiện,
bất thiện, bất động nghiệp tổng xưng là phát nghiệp.
Chẳng hạn như khởi thiện tâm bố thí v.v….tạo các thiện
nghiệp thì cũng là do phiền não gián tiếp dẫn phát. Ngoài
dẫn phát nghiệp ra, phiền não còn có công lực nhuận nghiệp
khiến sanh khởi. Chẳng khác như giống lúa mạnh gieo xuống
đất còn cần phải tưới nước bón phân mới có thể nẩy
mầm. Do phiền não tạo nghiệp rồi lại do phiền não xúc
tác huân phát mới có thể cảm quả. Nghiệp do bởi phiền
não kích phát nhuận sanh, nên gọi là nhuận nghiệp. Lậu là
biệt danh của phiền não. Phiền não là trợ duyên chiêu cảm
sanh tử. Hữu lậu nghiệp chính là nhơn đích thật chiêu cảm
sanh tử khổ quả. Do nhơn và duyên này mà sanh tam hữu. Tam
hữu là danh từ trong Phật pháp để gọi ba cõi Dục hữu,
Sắc hữu và Vô sắc hữu, cũng gọi là Dục giới, Sắc giới
và Vô sắc giới. Tức là nghiệp báo của chúng sanh trong tam
giới là phần đoạn sanh tử. Phiền não có kiến nhất thiết
trụ địa v.v….thường có bốn tên gọi, nhưng hay chiêu cảm
phần đoạn sanh tử thì có ba. Ấy là: Tạo thiện nghiệp
được sanh về nhơn thiên cõi Dục giới. Tạo bất thiện
nghiệp thì đọa sanh trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh. Bất động nghiệp thì sanh cõi trời Sắc và Vô sắc.
Đặc
tánh của phần đoạn sanh tử có ba là: phiền não, nghiệp
và quả. Nay nêu lên để làm thí dụ: “ Như thế vô minh
trụ địa là trợ duyên vô lậu nghiệp, là nhơn gần hay chiêu
cảm ba thứ ý sanh thân biến dịch sanh tử của A la hán, Bích
chi Phật và đại lực Bồ Tát”. Thế nào là vô lậu nghiệp
nhơn? Nhà Duy Thức Học nói: “ Ấy là từ bi nguyện lực
v.v…” Nhưng vô lậu nghiệp nhơn vẫn chẳng thể là
chánh nhơn cảm sanh tử. Đây là ý nghĩa tinh diệu, nguyên
nhân vi tế mà sơ quả, nhị quả, tam quả Thanh văn đối với
hữu ái trụ địa phiền não chưa đoạn hết, đến như hồi
tiểu hướng đại vẫn do phiền não nhuận nghiệp. Nhưng nhơn
vì tâm bi nguyện v.v…, mang đặc tánh vô lậu nghiệp, huân
phát hữu lậu nghiệp có khả năng chuyển phần đoạn thân
làm biến dịch ý thành thân, chẳng hạn như thần thông sống
lâu thêm. Nếu như hành giả Nhị thừa chứng A la hán quả,
nhập Vô dư Niết bàn, tứ trụ phiền não đã hết thì không
còn hồi tiểu hướng đại nữa. Nhưng kinh đây lại không
nói như vậy. Y cứ Gia Tường Đại sư nói thì, Nhị thừa
không biết nhiễm ô, nhưng đối Đại thừa thì còn thấy
có nhiễm ô. Cũng như trạng thái biến dịch sanh tử của
Nhị thừa là còn vi tế sanh tử, nhưng phàm phu nhơn thiên
Nhị thừa thì cho đó là vô vi sanh tử. Nhưng kỳ thực vẫn
còn trong trạng thái hữu vi. Mà nói Nhị thừa đắc vô lậu
nghiệp là đối với phàm nhơn hữu lậu mà nói chứ kỳ thực
là còn hữu lậu. Bởi vì chỗ sở tu của A la hán Bích chi
Phật giới định huệ. Còn chỗ sở tu của Bồ Tát thì không
như Nhị thừa, mà chuyên tâm bi nguyện độ sanh, nên không
có cứu cánh thanh tịnh. Vì vậy nói do vô minh làm trợ duyên,
vô lậu nghiệp làm nhơn hay cảm biến sanh tử. Đây là nguyên
nhân khiến cho hành giả Nhị thừa có thể vào Niết bàn,
lại có thể hồi tiểu hướng đại.
Chứng
minh cho sự kiện trên đây, Luận Đại Trí Độ nói: “ Có
cõi tịnh độ vi diệu, siêu việt tam giới, A la hán, Bích
chi Phật sinh hoạt trong đó”. A la hán, Bích chi Phật, đại
lực Bồ Tát trong ba thừa đây, ba thứ ý sanh thân sanh và
vô lậu nghiệp sanh đều nương vô minh trụ địa mà sanh khởi.
Vô lậu nghiệp và ba loại ý sanh thân đều là “hữu duyên”
mà sanh khởi chứ chẳng phải là “phi vô duyên”. Xin đừng
nghĩ rằng một khi tứ trụ phiền não đã hết, hữu lậu
nghiệp không còn hoặc nhuận sanh, tức không có duyên cảm
sanh tử. Vì vậy, kinh này nói: “ Thế nên ba thứ ý sanh thân
và vô lậu nghiệp đều duyên vô minh trụ địa”. Phàm phu
cũng là vô minh trụ địa, nhưng không có tu vô lậu nghiệp,
nên không có thành thân, đợi đến khi nào tứ trụ địa
phiền não đoạn xong thì tác dụng của vô minh trụ địa
mới hiển phát. Chẳng khác nào như tiếng phèn la, tiếng trống
ngưng thì mới phát hiện những âm thanh nhỏ. Có nghĩa là
khi tứ trụ địa dứt thì vô minh trụ địa liền trợ giúp
vô lậu nghiệp cảm sanh ý sanh thân. Như thế, kinh này nói
“ hữu ái trụ địa, số ái trụ địa nghiệp không cùng
đồng với vô minh trụ địa”. Tứ trụ địa trợ duyên
hữu lậu nghiệp mà chiêu cảm ý sanh thân. Nên nhận định
một cách thiết thực rằng “Vô minh trụ địa khác biệt
tứ trụ địa”. Kinh đây xác quyết “Phật địa đã đoạn,
Bồ đề trí của Phật đã đoạn” mà không phải A la hán,
Bích chi Phật, đại lực Bồ tát có thể đoạn được, ấy
là đoạn vô minh trụ địa.
CHÁNH
VĂN:
Vì
cớ sao? A la hán Bích chi Phật đoạn bốn thứ trụ địa,
vô lậu chưa hết, chẳng được sức tự tại, cũng chẳng
tác chứng. Vô lậu chưa hết tức là vô minh trụ địa chưa
đoạn xong.
LỜI
GIẢI:
Vì
sao chẳng nói A la hán Bích chi Phật cũng đoạn vô minh trụ
địa? Bởi vì “A la hán Bích chi Phật đoạn bốn thứ
trụ địa”, vô minh trụ địa chưa đoạn, nên vô lậu chưa
hết. Lậu là phiền não, có phiền não tức chẳng thanh tịnh,
vì vậy vô lậu của Nhị thừa chưa được rốt ráo. Bởi
vô lậu chưa hết, nên tuy nói thành đạo mà “chẳng được
sức tự tại”. Tuy chứng đắc phần diệt độ mà chẳng
thể tác chứng. “Tác chứng” tức là chứng đắc Niết
bàn. Nghĩa là sở tác đã xong, được rốt ráo. Ba câu “vô
lậu chưa hết thì đoạn tập chẳng
cứu cánh”, tức là còn cảm biết khổ. “Chẳng được
sức tự tại” tức là tu đạo chưa rốt ráo. “Chẳng tác
chứng” tức là chứng tịch diệt chưa hoàn toàn, nên nói
là “vô lậu chưa hết”. Điều này chỉ cho vô minh trụ
địa mà nói. Đây hiển bày rõ ràng vô lậu của Nhị thừa
chưa rốt ráo.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Thế Tôn! A la hán Bích chi Phật, tối hậu thân của Bồ Tát
vì bị vô minh trụ địa chướng ngại che lấp, đối với
các pháp chẳng hay, chẳng biết. Do vì chẳng hay biết, nên
phiền não đáng đoạn mà chẳng đoạn, nên chẳng rốt ráo.
LỜI
GIẢI:
A la
hán Bích chi Phật chỉ mới đoạn phần đoạn sanh tử mà
tự cho đó là Niết bàn. Kỳ thực, chưa được chân thật
diệt độ (Niết bàn). Bồ Tát lấy mục đích thành Phật
làm cứu cánh, nên khi chưa thành Phật đương nhiên các Ngài
chẳng cho là cứu cánh. Vì vậy, Nhị thừa và tối hậu thân
Bồ Tát ngay cả một sát na trước khi thành Phật cũng còn
bị vô minh trụ địa làm chướng ngại. Do vô minh trụ địa
che lấp chân thật, nên không thấy rõ như thật tánh tướng
của các pháp, nên nói: “Đối các pháp chẳng hay chẳng biết”.
Chẳng biết tức là chẳng thấy rõ, chẳng thấu suốt. Hoặc
thấu đạt tất cả các tướng các pháp như huyễn, mà chỗ
thấy còn chướng ngại, nên chưa liễu giải tất cả pháp
không tánh. Bất giác tức là chẳng thấy biết. Tri là thấu
đạt tất cả pháp tướng như huyễn. Kiến là chung biết
tất cả pháp tướng không tánh. Bồ Tát tuy cũng đắc pháp
không trí, kiến pháp không, nhưng chưa viên mãn rốt ráo, nên
nói là bất tri bất giác. Kinh nói, Bồ Tát kiến pháp tánh
giống như thấy cảnh vật qua màn mỏng.
Trên
là thuyết minh về trí hữu dư, nghĩa là chẳng phải được
chân thật tri kiến, nên nói “đáng đoạn đều chưa đoạn”.
Nghĩa là đoạn hoặc chưa rốt ráo. Đây là nói đoạn chưa
xong (đoạn hữu dư). Ngoại trừ Phật ra, tam thừa Thánh giả
đoạn phiền não hoặc chưa cứu cánh, ấy bởi do vô minh trụ
địa phiền não quá sâu dày vi tế.
CHÁNH
VĂN:
Vì
chưa đoạn rốt ráo, nên gọi là hữu dư quá giải thoát,
mà thật ra chẳng phải lìa tất cả phiền não được giải
thoát. Gọi là hữu dư thanh tịnh, mà thật ra chẳng phải
hết thảy đều thanh tịnh. Gọi là thành tựu hữu dư công
đức, mà thật ra chẳng phải thành tựu hết thảy công đức.
LỜI
GIẢI:
Đây
phân tích để nói. Trước nói ba việc hữu dư. Vì chưa đoạn
vô minh trụ địa, nên gọi “hữu dư quá giải thoát”. Quá
là đã vượt qua lỗi lầm, mà chưa rốt ráo giải thoát phiền
não. Vì vậy chỉ là được hữu dư giải thoát, chớ chẳng
phải lìa hẳn tất cả lỗi lầm được vô dư giải thoát.
Quá ở đây hàm hữu ý nghĩa chỉ vượt qua phiền não chứ
chưa đoạn sạch phiền não, nghĩa là chưa rốt ráo giải thoát,
nên phải lìa hoặc để hiển chơn pháp tánh. Nhị thừa chỉ
thấy Ngã không chơn như, còn đại lực Bồ tát thấy một
phần Pháp không chơn như chứ chưa triệt để thấy, nên chưa
trọn thanh tịnh, do đó mới “gọi là hữu dư thanh tịnh
mà kỳ thật chẳng phải hết thảy thanh tịnh”.
Chỉ
có Phật chứng đắc tối thanh tịnh pháp giới mới được
gọi là vô dư thanh tịnh. Công đức giới định huệ của
A la hán, Bích chi Phật, công đức bi nguyện lực độ sanh
của Bồ Tát đều chưa cứu cánh. Vì thế, nên “gọi là
thành tựu hữu dư công đức mà thật ra chẳng phải thành
tựu tất cả công đức”. Trong đây luận về giải thoát
tức là đức giải thoát; luận về thanh tịnh là nói về
đức tánh pháp thân; luận về công đức là nói về đức
Bát nhã. Đối với thanh tịnh giải thoát, pháp thân, Bát nhã
thì hàng tam thánh chỉ có hữu dư mà chẳng phải cứu cánh
vô dư tịch diệt.
CHÁNH
VĂN:
Bởi
vì thành tựu hữu dư giải thoát, hữu dư thanh tịnh, hữu
dư công đức, tri hữu dư khổ, đoạn hữu dư tập, chứng
hữu dư diệt, tu hữu dư đạo, nên gọi là đắc thiểu phần
Niết bàn, là hướng Niết bàn giới.
LỜI
GIẢI:
Bởi
A la hán, Bích chi Phật và đại lực Bồ tát “thành tựu
hữu dư giải thoát, hữu dư thanh tịnh, hữu dư công đức”,
nên hay biết khổ nhưng chỉ có thể biết “hữu dư khổ”,
hay đoạn tập (phiền não), mà chỉ có thể “đoạn hữu
dư tập”, hay chứng Niết bàn (diệt) nhưng chỉ có thể “chứng
Hữu dư Niết bàn”. Tuy cũng tu thánh đạo, nhưng chỉ có
thể “tu hữu dư đạo”. A la hán Bích chi Phật và đại
lực Bồ tát đối với thành phần nhân tố trong Tứ đế
thì Tri, Đoạn, Chứng, Tu đều còn là trong lãnh vực chứng
cảnh hữu dư. Nghĩa là đối với căn nguyên phiền não vô
minh trụ địa chưa đoạn trừ.
Như
trên, chúng ta thấy tri đoạn hữu dư, ba việc hữu dư, bốn
đế hữu dư, đủ biết A la hán, Bích chi Phật chứng đắc
Niết bàn chỉ mới “được phần ít của Niết bàn” mà
thôi. Bởi được thiểu phần của Niết bàn, nên gọi là
“hướng Niết bàn giới”, nghĩa là còn trên đường hướng
về Niết bàn, chứ chưa phải là đã đến đích rốt ráo
của Niết bàn. Bởi lý do này mà những đoạn kinh trên nói
“còn cách xa cảnh giới Niết bàn”. Niết bàn của Nhị
thừa chẳng phải là chơn thật Niết bàn. Thế nên kinh nói:
Nhị thừa đang trên đường hướng về cảnh giới Niết bàn.
Bồ Tát chưa được Bát nhã Niết bàn. Lược nói điều này
đủ để cho hành giả nhận chân thứ bậc quả vị tu chứng.
CHÁNH
VĂN:
Nếu
liễu tri nhứt thiết khổ, đoạn tất cả tập, chứng hết
thảy diệt, tu đạo viên mãn thì đối với thế gian vô thường
hoại, vô thường bịnh, đắc thường trú Niết bàn. Như thế,
đối với thế gian không được che chở hộ trì, không nơi
nương tựa, thì nên hộ trì, làm nơi nương tựa cho thế gian.
LỜI
GIẢI:
Đây
là đối với Nhị thừa hữu dư mà nói Như Lai vô dư cứu
cánh. Trước nêu ra đức tướng của thường trú Niết bàn
mà Như Lai sở đắc. Ở trên kia nói Nhị thừa và Bồ tát
thì bất tri, bất kiến, bất đoạn, vì vậy ba đức, tứ
đế đều là hữu dư chẳng phải cứu cánh Niết bàn. Trái
lại, nếu suốt biết tất cả trong ngoài tam giới về (khổ)
phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử; đoạn tất cả
(tập) phiền não tứ trụ địa và vô minh trụ địa; chứng
(diệt) tất cả hữu lậu giải thoát hệ nghiệp trong ngoài
ba cõi; tu (đạo) tất cả thánh đạo ba thừa cộng và Đại
thừa bất cộng. Như thế thì mới có thể được rốt ráo
thường trú Niết bàn.
Thế
gian: Thế có nghĩa là lưu chuyển đổi dời, biến hoá. Hễ
phàm rơi vào trong vòng lưu chuyển biến hoá thì gọi là thế
gian. Thế gian còn mang ý nghĩa vô thường. Hoại là trạng
thái của suy tàn, hoại chết. Nói theo danh từ Phật giáo thì
hoại là phần vị đột biến của phần đoạn tử, nên nói
là “thế gian vô thường biến hoại”. Bịnh là tiệm biến
của trạng thái biến dịch tử. Tiệm biến là biến thái
chậm dần dần. Thế nên gọi là “thế gian vô thường bệnh”.
Lìa hai trạng thái hoại và bệnh tức là hai thứ sát na vô
thường thì được thường trụ cứu cánh Niết bàn. Trong
cảnh giới cứu cánh Niết bàn bất sanh bất diệt, cũng lại
không có vô thường chuyển biến. Nếu đạt đến thường
trụ Niết bàn thì có thể đối với việc “không che chở
hộ trì thế gian làm hộ trì che chở, đối với việc thế
gian không nơi nương tựa thì làm nơi nương tựa cho thế gian”.
Hữu tình thế gian sở dĩ không được che chở, hộ trì, nương
tựa là bởi tất cả ở trong trạng thái luân chuyển biến
dịch không ngừng, không có chỗ rốt ráo để nương náu,
lại cũng không có nơi an ổn rốt ráo. Nếu chứng đắc Thường
trụ Niết bàn tức là chỗ nương náu rốt ráo, thân tâm tuyệt
đối an lạc, không còn có sự lo âu sợ sệt, là nơi nuơng
tựa hộ trì thế gian. Chẳng khác nào trong gió mưa có được
chỗ ẩn trú, trong hiểm nạn có được sự hộ trì, trong
khổ sở cô đơn phiêu bạt có chỗ nương tựa. Cái ý nghĩa
thâm diệu ở đây không phải nói. Phật là chỗ chúng sanh
nương tựa, hộ trì thế gian, mà là nói thường trụ Niết
bàn là nơi nương tựa của thế gian vô thường. Nghĩa là
tu thoát kiếp vô thường thế gian để được an lạc Niết
bàn. Kinh A Hàm nói: “Niết bàn là nơi che chở, nương tựa,
hộ trì, là xứ sở, nhà cửa v.v…”đều là mang ý nghĩa
lìa xa tất cả sanh tử sợ hãi mà nói. Thế gian vô thường,
vô thường tức là khổ. Vì vậy trong kinh thường nói: “Ta
lấy tất cả hành vô thường nói ba giới là khổ”. Niết
bàn là thường trụ, lìa vô thường hoại bệnh tức là lìa
khổ được cứu cánh an ổn.
CHÁNH
VĂN:
Vì
sao? Bởi pháp không có ưu liệt, nên được Niết bàn, Giải
thoát v.v….nên được Niết bàn. Thanh tịnh v.v…nên được
Niết bàn. Thế cho nên Niết bàn thì đồng một vị, ấy là
vị giải thoát.
LỜI
GIẢI:
Kinh
đây nói đến thường trụ Niết bàn. Thế nào gọi là thường
trú Niết bàn? Nghĩa là đạt đến pháp không ưu liệt, nên
đắc Niết bàn. Đây là tổng nói. Bản tánh của tất cả
pháp đều bình đẳng không có ưu liệt. Như Kinh Kim Cang nói:
“Các pháp bình đẳng không có cao thấp”. Thường thì người
ta nói Đại thừa ưu, Tiểu thừa liệt; Nhất thừa ưu, Tam
thừa liệt, cao thấp cạn sâu đều là vì chuyển mê khai ngộ
cho chúng sanh mà thiết lập. Nếu luận về tánh của tất
cả các pháp, pháp tánh thì bình đẳng không có gì ưu liệt
cả. Khi nói đây là ưu, kia là liệt, đó là đứng về pháp
tương đối mà nói, nên thấy có hai. Kỳ thực các pháp xưa
nay đều bình đẳng. Bởi tánh các pháp xưa nay đều bình
đẳng như thế, nên nếu chứng đắc bình đẳng tánh không
ưu liệt thì thể hiện được thường trú Niết bàn. Nếu
có ưu liệt là có vô thường biến hoá không phải là Niết
bàn. Bởi tất cả pháp xưa nay bình đẳng, nên chứng đắc
trí huệ cũng bình đẳng, gọi là bình đẳng đại huệ.
Bình
đẳng có nghĩa là phổ biến. Trí huệ đạt thấu tất cả
pháp bình đẳng, khắp tất cả pháp nên đắc bình đẳng
trí. Dùng đại huệ bình đẳng đoạn tất cả phiền não
lỗi lầm thì được đại giải thoát tự tại. Vì vậy giải
thoát cũng là bình đẳng. Nếu đứng về ly cấu tri chứng
hiển bày pháp giới thanh tịnh mà nói thì, tuy chỉ mới đạt
tùy trí cảnh giới mà tợ hồ như có phần viên mãn, thật
bản tánh thanh tịnh, bình đẳng.
Trí
huệ v.v….là đức Bát nhã. Giải thoát v.v…là đức Giải
thoát. Thanh tịnh v.v..là đức Pháp thân. Từ ba đức bình
đẳng này mà hiển đắc Đại Bát Niết Bàn thường trụ
cứu cánh. Thế nên Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: Niết bàn
mật tàng ba đức. Ba đức bình đẳng này từ pháp tánh bình
đẳng không ưu liệt mà hiển bày. Vì vậy, ở trong pháp tánh
vô nhị, tất cả trí huệ, tất cả giải thoát, tất cả
thanh tịnh đều viên dung không hai (bất nhị). Chữ bất của
đoạn kinh đây mang ý nghĩa bất ly, tương nhiếp tương nhập
là Đại Bát Niết Bàn. Ba đức Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát,
mỗi mỗi tuyệt đối rốt ráo không hai. Luận Bảo Tánh khi
đề cập về ba đức tánh này xác định rằng, không một,
không khác, không lớn, không nhỏ, bất ly nhứt thiết. Kinh
nói: “Thế nên Niết bàn chỉ có một vị bình đẳng, tức
là vị giải thoát”. Một tức là không hai. Không hai, bình
đẳng tức là viên mãn cứu cánh. Chữ vị ở đây mang ý
nghĩa hiển bày đặc tánh Niết bàn an vui tự tại. Tất cả
bậc Thánh giả lấy việc chứng đắc pháp vị làm cứu cánh.
Cứu cánh tức là bình đẳng bất nhị. Như nước các nước
sông suối hồ ao một khi vào biển cả thì thành một vị
mặn. Chúng sanh khi còn sanh tử lưu chuyển thì ngàn sai muôn
khác. Đến khi đạt rốt ráo Niết bàn thì chỉ có một vị
bình đẳng giải thoát. Kinh A Hàm nói: Niết bàn là trạng
thái thanh tịnh tự tại, giải thoát. Nhưng nay đây bằng vào
ba đức bình đẳng Bát nhã, pháp thân, giải thoát để hiển
minh Niết bàn là một vị bình đẳng. Rõ ràng Vô dư Niết
bàn là cứu cánh thường trú, chẳng phải chỗ thấy của
Nhị thừa Hữu dư Niết bàn, thân tàn trí diệt mà có thể
sánh được.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Nếu vô minh trụ địa không đoạn rốt ráo
thì không thể đạt được bình đẳng. Vị, nghĩa là chưa
đến giải thoát vị. Vì cớ sao? Bởi vì vô minh trụ địa
không đoạn rốt ráo, thì lỗi lầm quá hơn hằng hà sa, là
pháp đáng đoạn mà không đoạn rốt ráo. Vì lỗi lầm quá
hơn hằng hà sa, là pháp đáng đoạn mà không đoạn, nên pháp
bình dẳng quá hơn hằng hà sa đáng được mà chẳng được,
đáng chứng mà chẳng chứng.
LỜI
GIẢI:
Văn
trên nêu ra thể tướng của Niết bàn cứu cánh. Nhưng vô
minh trụ địa chưa đoạn thì không thể chứng được loại
Niết bàn này. Cần phải Phật địa, không còn đoạn hoặc,
liễu đạo mới có thể viên thành. Vì vậy nói: “Nếu vô
minh trụ địa không đoạn rốt ráo” thì không thể “đắc
nhất đẳng vị”, “minh liễu giải thoát vị”. Chữ minh
ở đây mang ý nghĩa Bát nhã. Trên kia Luận Bảo Tánh dẫn
giải “minh” là minh giải thoát vị. Như thế minh còn có
ý nghĩa là giải thoát. Xưa nay, khi luận về ý nghĩa Niết
bàn thì không có hai, đầy đủ ba đức. Vì vậy giảng luận
về Niết bàn, khi thì nói Niết bàn là giải thoát, khi nói
là Bát nhã (minh) giải thoát, khi thì nói gồm cả ba đặc
tánh Bát nhã, Giải thoát và Pháp thân. Tất cả ba ý nghĩa
của ba đức này đều chỉ cho đặc tánh Niết bàn.
“Vô
minh trụ địa” nếu như “chẳng đoạn rốt ráo”, vì nó
là phiền não căn bổn, nên quá hơn hằng hà sa số phiền
não là “pháp phiền não đáng đoạn” mà “chẳng đoạn”.
Pháp phiền não quá hơn hằng hà sa nên đoạn mà chẳng đoạn
rốt ráo, như thế tất cả pháp công đức số quá hơn hằng
hà sa nên được mà chẳng được, nên chứng mà chẳng chứng.
Vô lượng đạo nên được mà chẳng được, vô lượng diệt
nên chứng mà chẳng chứng. Phiền não và đạo thì tương
phản. Tu đạt đạo, phiền não tự nhiên diệt. Còn khởi
phiền não thì tu không đắc. Phiền não và diệt (Niết bàn)
tương phản. Chứng diệt tức đoạn phiền não. Phiền não
chẳng đoạn thì không thể chứng diệt (Niết bàn tịch diệt).
Nói một cách tổng quát, vô minh không đoạn rốt ráo thì
không thể đoạn tất cả phiền não, và cũng không thể được
tất cả (đạo và diệt) công đức.
CHÁNH
VĂN:
Thế
nên, vô minh trụ địa tích tụ và sanh trưởng tất cả phiền
não, thượng phiền não, tu đạo phải đoạn. Vô minh trụ
địa sanh tâm thượng phiền não, ngưng thượng phiền não,
quán thượng phiền não, thiền thượng phiền não, chánh thọ
thượng phiền não, phương tiện thượng phiền não, trí thượng
phiền não, quả thượng phiền não, đắc thượng phiền não,
lực thượng phiền não, vô úy thượng phiền não. Như thế,
quá hằng hà sa số các phiền não, chỉ Trí Bồ Đề của
Như Lai mới là đã đoạn. Tất cả phiền não đều y vô minh
trụ địa kiến lập. Tất cả thượng phiền não đều nhơn
vô minh trụ địa, duyên vô minh trụ địa mà sanh khởi. Bạch
Đức Thế Tôn! Đối với việc khởi sanh phiền não này, tương
ưng với sát na tâm! Bạch Đức Thế Tôn! Tâm bất tương ưng
vô thỉ vô minh trụ địa.
LỜI
GIẢI:
Vô
minh trụ địa hàm nhiếp tất cả chủng tử của sở tri chướng
phiền não tập khí, nên gọi là “tích tụ”. Kinh luận Phật
pháp thường nói A lại da là nơi tích tụ tất cả chủng
tử phiền não từ vô thỉ đến nay. Thế nên nói A lại da
là chỗ chứa nhóm chủng tử tội lỗi đồng với nghĩa này.
Vô minh trụ địa là nơi chứa nhóm chủng tử tội lỗi, nên
kinh nói:“ Sanh tất cả phiền não của tu đạo sở đoạn”.
Câu này có thể giải thuyết rằng: Sanh tất cả phiền não
của tu đạo đoạn, ấy là thượng phiền não. Nói cách đơn
giản là sanh khởi tất cả tùy phiền não. Tất cả tùy phiền
não này là tu đạo đoạn trừ. (Bản dịch đời Đường
thiếu câu “tu đạo đoạn phiền não”).
Trong
đây nói tu đạo đoạn chẳng phải đối đãi tu đạo sở
đoạn với kiến đạo sở đoạn, mà là chỉ chung đạo đế
cần phải tu. Tu đạo và tùy phiền não đối ngược nhau.
Tùy phiền não làm chướng ngại tu đạo. Tu đạo thì hay đoạn
các tùy phiền não. Phiền não không có nghĩa nào riêng biệt
mà chỉ chung cho tất cả đặc tánh phàm phu. Nhưng nhị thừa
Thánh giả nói đắc vô lậu đạo mà vẫn còn căn chướng,
định chướng thì không thể nào được thân định đại
trí như Phật. Thanh văn học giả gọi đây là bất nhiễm
ô vô tri. Nay nói từ vô minh trụ địa mà khởi sanh tùy phiền
não, khiến trở ngại cho Nhị thừa và Bồ Tát tu đạo khó
có thể cứu cánh viên mãn. Loại phiền não chướng này đối
với tu đạo chính là Đại thừa bất cộng tu đạo đoạn,
là đoạn sở tri chướng.
Tâm
thượng phiền não là loại phiền não làm chướng ngại tâm
trí. Hay nói cách khác, bản tánh của tâm vốn tịnh, khi tu
đạo, phiền não làm chướng ngại tâm, nên không được rốt
ráo thanh tịnh. Tâm thượng phiền não là danh từ đặc biệt
để tổng nói về phiền não. Bởi vì tất cả tùy phiền
não đều là tùy trục tâm làm phiền động não loạn. Tiếp
theo đây lược giải những danh từ phiền não. Chỉ thượng
phiền não: Chỉ là ngừng, yên lặng, là tịch tĩnh, buộc
tâm một chỗ không tán loạn. Có nghĩa là chấm dứt phiền
não. Quán thượng phiền não: Quán là quán sát. Có nghĩa là
quán sát truy nguyên cội nguồn của phiền não để đoạn
tận gốc. Chỉ quán và định huệ nhân quả tương quan đồng
nhau. Nhưng cổ đức nói: “Chỉ quán là cội gốc của định
huệ”, tức nói chỉ quán là trọng yếu ở bước tu ban đầu.
Thiền
và chánh thọ đều là do tu chỉ mà thành định. Thiền nói
cho đủ là Thiền na, Trung Hoa dịch là Tĩnh lự. Có nghĩa là
tĩnh tâm suy tư, chỉ cho căn bổn định của sắc giới tứ
tĩnh lự. Chánh thọ, Phạn ngữ là Samâdhi, tức là tam muội,
là chỉ tứ vô sắc định và diệt thọ tưởng định. Phương
tiện và trí là chỉ cho trí huệ đều do tu quán mà thành.
Phương tiện, Phạn ngữ Upàya có nghĩa trí huệ thiện xảo.
Trí ở đây chỉ cho Bát nhã. Đạt chân tánh các pháp là trí.
Rõ sự tướng sai biệt là phương tiện. Bát nhã còn gọi
là căn bổn trí, như lý trí. Phương tiện còn có tên là hậu
đắc trí, như lượng trí. Quả ở đây chỉ cho Thanh văn quả,
Bích chi Phật quả, Bồ Tát phần chứng quả lấy đạo và
diệt làm thể công đức. Đắc là nói về năng chứng năng
đắc. Cũng có thể nói là Đạo quả, đắc là Diệt đắc.
Lực là mười lực. Vô úy là bốn vô sở uý. Nhưng Bồ Tát
cũng có mười lực. Như đã nói mười một món thượng phiền
não đều thuộc tu đạo chứng định huệ có sự liên hệ
nhau, nên nói là tu đạo sở đoạn thượng phiền não. Tu đạo
phải trải qua hằng hà sa đẳng thượng phiền não, không
phải quả trí Nhị thừa hay nhơn trí của Bồ Tát mà có thể
đoạn được, chỉ đại Bồ đề trí của Như Lai mới có
thể đoạn. Vô minh trụ địa là nhơn duyên hiện khởi tất
cả phiền não.
Tổng
kết, đây là căn nguyên phiền não, là hậu quả của vô biên
lỗi lầm nguồn gốc do chẳng đoạn vô minh. Kinh Đại Thọ
Khẩn Na La Vương ghi rằng: “Khẩn Na La Vương trổi nhạc,
Đại Ca Diếp nghe nhạc của Khẩn Na La liền hớn hở đứng
dậy nhảy múa, Thiên Quan Bồ Tát thấy vậy nói với Ca Diếp
rằng: “Ông là bậc tôn đức Thượng Tọa của Đức Thế
Tôn, sao lại nghe âm nhạc mà mừng rỡ giống như trẻ con
vậy?” Ca Diếp nói: “Tôi là hàng Thanh văn đối với ngũ
dục trong tam giới tuy không có nhiễm trước, nhưng đối với
Đại thừa vi diệu công đức thì còn nhiễm”. Trên đây
chứng minh cho chúng ta thấy Nhị thừa còn tập khí sở tri
chướng. Vì thế, Nhị thừa đoạn phiền não chướng trong
ba cõi, nhưng so với Đại thừa vô lậu công đức vẫn còn
có tùy phiền não vi tế ẩn tàng thoạt lúc hiện hành.
Cổ
đức gọi hiện trạng này là giới ngoại phiền não. Ở cuối
đoạn kinh trên, câu: “Bạch Đức Thế Tôn! Trong đây khởi
phiền não”. Thích hợp năm đoạn văn kinh trước, tức là
kết luận chỉ bày sự sai biệt giữa vô minh trụ địa và
khởi phiền não. Như văn kinh trên, ban đầu nói trụ địa
phiền não có bốn rồi tiếp đó nói sanh khởi phiền não.
Tứ trụ địa và tứ sanh khởi phiền não thì Nhị thừa đã
đoạn. Nhưng tiếp đó, luận về sự sai khác khởi phiền
não và vô minh trụ địa, tức nói tâm tương ưng và tâm bất
tương ưng. Trong đây nói vô minh trụ địa và tác dụng sanh
khởi hoá hằng sa thượng phiền não chỉ có trí Bồ đề
của Như Lai mới đoạn, mà chẳng phải khả năng trí Nhị
thừa có thể đoạn được. Tiếp đó, luận về sự khác
biệt giữa khởi phiền não và vô minh trụ địa. Văn nghĩa
hiển bày rõ ràng, sơ kỳ Phật pháp chỉ thuyết minh tứ trụ
phiền não và tứ khởi phiền não, sau đó, trong tứ trụ địa
lại nêu cái nghĩa sâu sắc của vô minh trụ địa. Từ đây
dẫn đến thuyết minh khởi phiền não hằng hà sa. Thời đại
A Hàm nêu lên phiền não là kiến, ái, vô minh. Ngũ trụ địa
tợ hồ thiên về thắng nghĩa đặc biệt này, cho rằng Nhị
thừa kiến đạo sở đoạn là đoạn kiến. Nhị thừa tu đạo
sở đoạn là đoạn ái, Như Lai cứu cánh đoạn tận là đoạn
sạch vô minh
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Nếu pháp lại quá hơn hằng hà sa trí Bồ
đề của Như Lai nên đoạn, thì tất cả đều là do vô minh
trụ địa duy trì kiến lập. Cũng thí như tất cả hạt giống
đều nương đất mà sanh mầm phát triển. Nếu đất hư thì
cây giống cũng theo đó mà hư. Cũng như thế, trí Bồ đề
của Như Lai quá hơn hằng hà sa pháp đáng đoạn, tất cả
pháp đều từ vô minh trụ địa mà sanh khởi phát triển.
Nếu vô minh trụ địa đoạn thì trí Bồ đề của Như Lai
quá hơn hằng hà sa pháp đáng nên đoạn cũng đều từ đó
mà đoạn.
LỜI
GIẢI:
Đây
là thuyết minh về vô minh trụ địa đoạn, thì tất cả pháp
đều đoạn. Trước nói y cứ vào vô minh mà lập thuyết.
Phiền não nhiều hơn cát sông Hằng, mà trí Bồ đề của
Như Lai quá hơn cát sông Hằng, nên tất cả phiền não không
thể còn. Tất cả phiền não đều từ vô minh trụ địa sanh
khởi. Vô minh đoạn sạch thì phiền não không chỗ ẩn trú.
Cũng như hạt giống nhờ đất mà sanh. Đất hư thì giống
mầm phải hoại diệt, đó là lẽ tất nhiên. Tam thừa chưa
thể đoạn sạch tất cả phiền não. Bởi tại chưa đoạn
sạch vô minh trụ địa. Chỉ có trí Bồ đề của Phật quá
hơn hằng sa mới đoạn trừ tận gốc rễ của vô minh phiền
não.
CHÁNH
VĂN:
Như
thế chơn thành phiền não, thượng phiền não, Như Lai đắc
tất cả pháp hoá hơn hằng hà sa, nhất thiết tri kiến thông
đạt vô ngại, lìa tất cả lỗi lầm, được tất cả công
đức, đắc pháp vương pháp chủ tự tại, chứng bậc Nhất
thiết pháp tự tại. Như Lai đúng là bậc Chánh đẳng Chánh
giác, như tiếng sư tử rống: Ta sanh tử đã hết, phạm hạnh
đã tròn, chỗ làm đã xong, không còn luân hồi tử sanh. Thế
cho nên Thế Tôn gióng lên tiếng rống sư tử, trước sau nói
tinh ròng pháp Đại thừa liễu nghĩa.
LỜI
GIẢI:
Trên
đây nói Nhị thừa và Bồ Tát bị vô minh trụ địa che lấp
mà không biết, nên chẳng đoạn sạch được phiền não. Như
thế, tất cả trụ địa phiền não và hiện khởi thượng
phiền não chỉ Như Lai chứng đắc tất cả các pháp công
đức quá hằng hà sa đẳng mới dứt sạch thanh tịnh. Nhị
thừa và tối hậu thân Bồ Tát vì vô minh trụ địa che lấp,
nên đối với tất cả pháp không thể hiểu biết như thật.
Còn Như Lai đoạn hết vô minh nghiệp lậu, nên đối với
tất cả pháp suốt thông vô ngại, đắc tất cả tri kiến,
không điều gì mà không biết, không việc gì mà không thấy,
thành tựu Nhất thiết chủng trí. Như thế, Phật đối với
ba việc không thừa và bốn việc không thiếu. Nhị thừa và
Bồ Tát thì trái lại.
Giờ
đây nói ba việc không thừa: Một là “lìa tất cả tội
ác” thì liền giải thoát tất cả; hai là “được tất
cả công đức” là tất cả công đức Bát nhã; ba là: “Đắc
pháp vương pháp chủ tự tại, chứng bậc Nhất thiết pháp
tự tại” thì đắc nhất thiết thanh tịnh, đạt đức Pháp
thân. Quốc vương đối với quốc dân thì tự do tự tại.
Phật đối với tất cả pháp thì tự tại vô ngại, nên nói
là Pháp vương. Chủ là chủ hành động tạo tác. Phật hay
chuyển tất cả pháp, tất cả pháp theo Phật chuyển, nên
gọi là Pháp chủ, tức là chủ động đối với tất cả
các pháp. Nếu đối tất cả pháp không được thanh tịnh,
bị phiền não ràng buộc thì không thể gọi là Pháp chủ
Pháp vương. Đối với tất cả pháp được tự tại vô ngại
thì gọi là Phật địa hoặc Niết bàn hay còn gọi là Bảo
sở.
Pháp
thân có hai nghĩa: Nếu đứng về pháp tánh mà nói thì gọi
là nhất thiết thanh tịnh. Đắc tối thanh tịnh pháp giới,
đủ tất cả công đức, lìa tất cả phiền não, vì vậy
Pháp thân hàm hữu ý nghĩa đối các pháp thanh tịnh, đức
tánh thanh tịnh làm thân, công đức tụ tròn đầy gọi là
Pháp thân. Do lìa triền phược mà thành tựu tất cả công
đức. Thế nên Pháp thân có nghĩa là Nhất thiết tự tại.
Tiếp
theo đây nói bốn việc không thiếu: “Như Lai ứng đẳng
chánh giác”, như trên đã nói, tròn chứng ba đức Đại Bát
Niết Bàn. Vì vậy chánh nhơn làm việc đại sự như tiếng
sư tử rống: “Ta sanh tử đã hết, phạm hạnh đã lập,
việc làm đã xong, không còn sanh tử nữa”. Câu tuyên bố
này mang ý nghĩa tất cả khổ đã hết, tất cả tập đã
đoạn, tất cả đạo đã tu, tất cả diệt đã chứng, như
thế bốn việc đã viên mãn.
Ba
đức là Phật nói chứng công đức biểu thị ra bên ngoài.
Biểu thị bằng cách tuyên nói, ta sanh tử đã hết. “Thế
cho nên Đức Như Lai nói pháp này như tiếng rống sư tử,
y nơi liễu nghĩa chuyên ròng giảng nói”, để tổng kết
ý nghĩa Như Lai trí đức cứu cánh. Đặc biệt chỉ có Phật
mới khẳng định tuyên nói liễu nghĩa triệt để. A la hán
tuy cũng nói như thế, nhưng kỳ thực phần ít, bất liễu
nghĩa, còn cần phải giải thuyết.
Trên
đây rộng nói về Nhị thừa ba việc, bốn việc chưa xong.
Còn Phật thì viên mãn, rốt ráo. Ở đây cốt tủy của vấn
đề là đoạn hay chẳng đoạn xong vô minh trụ địa. Chẳng
đoạn vô minh trụ địa thì còn biến dịch sanh tử, còn hằng
sa phiền não, chẳng đủ tất cả công đức. Đoạn vô minh
trụ địa thì không có biến dịch sanh tử, dứt trừ hằng
hà sa phiền não, được tất cả công đức. Vô minh trụ địa
là sở tri chướng, đối với hàng Thanh văn học giả xưng
là bất nhiễm ô vô tri. Y đây mà rõ Nhị thừa chưa cứu
cánh. Điều này đối với học giả Nhị thừa chơn chánh
không thể không thừa nhận.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Chẳng thọ hậu hữu trí có hai thứ.
LỜI
GIẢI:
Nhị
thừa còn sợ hãi sanh tử, nói tứ trí là phương tiện nói,
nên nay quy kết về ý nghĩa cứu cánh, tức là qui hướng Nhị
thừa về Nhất thừa.
Trước
kia nói trí có bốn thứ, ấy là: Sanh tử đã hết, phạm hạnh
đã lập, việc làm đã xong, không còn sanh tử. Không còn sanh
tử tức là chấm dứt phiền não. Hết sạch chịu nghiệp
thọ sanh. Thánh giả chứng đắc thánh quả, có tự chứng
“trí” biết được về sau không còn phải chịu sanh tử.
Nhưng bất thọ hậu hữu trí có hai thứ: 1/ Như Lai trí, 2/
Nhị thừa trí.
CHÁNH
VĂN:
Nói
Như Lai dùng vô thượng điều ngự hàng phục bốn ma, ra khỏi
tất cả thế gian, là chỗ chiêm ngưỡng cho tất cả chúng
sanh, được bất tư nghì pháp thân, đối với tất cả pháp
vô ngại tự tại, không còn sở tác, không có sở đắc, thập
lực dõng mãnh, thẳng đến bậc đệ nhất vô thượng vô
úy, đắc vô ngại trí quán, chẳng thọ hậu hữu trí, như
tiếng gầm sư tử.
LỜI
GIẢI:
Đây
là y những điều đã nêu trước kia để giải thích. Trước
nhất thuyết minh về Như Lai không thọ hậu hữu trí. “Như
Lai dùng vô thượng điều ngự hàng phục tứ ma”. Điều
ngự, như ngựa rừng voi núi tánh tình hung hãn, cần phải
trải qua sự điều phục huấn luyện mới có thể sử dụng.
Chúng sanh phiền não, tánh chất bạo ngược khó điều phục,
phải lấy sự tu trì Phật pháp mới có thể hàng phục được.
Trong các bậc Thánh giả điều ngự phiền não thì duy có Đức
Phật là bậc điều ngự vô thượng, tự mình dứt sạch phiền
não rốt ráo, ấy là tự điều phục, rồi lại hay làm Điều
ngự sư giáo hoá đệ tử, ấy là tha điều ngự.
Đức
Như Lai có khả năng vô thượng điều ngự phiền não, lìa
tất cả lỗi lầm, nên hay hàng phục bốn ma. Những gì là
bốn ma? 1/ Phiền não ma: Tức là ma trong tâm thức chúng sanh.
Do ma này tung hoành làm chướng ngại tất cả pháp lành công
đức. 2/ Ngũ uẩn ma: Tức là thân tâm hữu lậu của chúng
sanh tạp nhiễm bất tịnh. Có thân phàm nên có đói khát,
lạnh nóng bệnh đau khốn khó buộc ràng, khởi sanh các thứ
phiền não. 3/ Tử ma: Tức là phát tâm tu hành chưa được
là bao thì vô thường đến chặt đứt mạng sống, khiến
cho pháp lành không được thành tựu. Chết là điều phiền
khổ lớn cho nên gọi là ma. 4/ Thiên ma: Tức là ma ở cõi
trời Tha Hoá Tự Tại. Ba loại ma trước có từ thân tâm hữu
lậu của chúng sanh. Còn loại thiên ma này từ ngoại cảnh
vào. Phật đoạn sạch tất cả phiền não, tức là hàng phục
phiền não ma. Đắc pháp thân, tức là hàng phục uẩn ma. Thanh
tịnh pháp thân vô vi thường trú, tức là hàng phục tử ma.
Đắc bất động tam muội thần thông tự tại, tức là hàng
phục thiên ma. Do hàng phục bốn thứ ma, nên Như Lai siêu thoát
tất cả thế gian.
Tất
cả chúng sanh quy y nơi Phật, lấy Phật làm điển phạm, do
lòng sùng ngưỡng mà phát tâm để cầu thành đạo như Phật.
Như trên đã nói, Đức Phật đã đoạn sạch phiền lụy chứng
đắc giải thoát. Do dứt lìa tất cả lỗi lầm tức là đắc
bất tư nghì pháp thân. Đối tất cả phiền não thiêu đốt,
Phật đắc pháp tự tại vô ngại. Bởi do Đức Phật quảng
đại tu hành, nên được quả thành tựu vô biên trí huệ.
Như thế, tức đạt đến cứu cánh giải thoát. Tất cả công
đức đều viên mãn, tất cả cảnh giới đều thông đạt,
tất cả lỗi lầm đều tiêu trừ, nên không còn tạo tác
hữu lậu. Thế là, Phật đã trụ nơi Phật quả vô sở đắc
địa, cao tột không còn quả địa nào để chứng nữa. Đây
do lìa tất cả hý luận vọng tưởng phân biệt. Khi Đức
Phật sở chứng công đức thì đồng thời có đủ thập lực
dõng mãnh. Những gì là thập lực dõng mãnh? Ấy là:
1)
Tri giác xứ phi xứ trí lực: Tức là trí lực nhận rõ nghĩa
lý chánh xác việc đúng hay không đúng. Lực là năng lực
định lượng quả tốt xấu của sự việc.
2)
Tri tam thế nghiệp báo trí lực: Tức là trí lực suốt biết
nhơn quả nghiệp báo của chúng sanh trong suốt ba đời.
3)
Tri chư thiền giải thoát tam muội trí lực: Tức là trí lực
biết rõ năng lực trình độ thiền định của chúng sanh.
4)
Tri chư căn thắng liệt trí lực: Tức là biết rõ căn tánh
của mỗi chúng sanh.
5)
Tri chủng chủng giải trí lực: Tức là biết rõ trình độ
hỉểu biết, khả năng hiểu đạo của chúng sanh chánh tà
như thế nào.
6)
Tri chủng chủng giới trí lực: Tức là trí lực suốt biết
cảnh giới chúng sanh trong mười phương các cõi, nhân quả
như thế nào.
7)
Trí nhứt thiết chí sở đạo trí lực: Tức là trí lực rõ
biết những điều lành thiện nào sẽ đạt đến cảnh giới
nào. Như hành ngũ giới thập thiện thì sẽ được cảnh nhơn
thiên. Hành Bát chánh đạo thì sẽ đạt đến quả vô lậu
Niết bàn. Đạo lý nhơn quả mỗi mỗi đều rõ biết.
8)
Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Tức là trí lực thấy biết
sự sanh tử nghiệp duyên thiện ác của chúng sanh từ vô thỉ
đến nay không chướng ngại.
9)
Tri túc mạng vô lậu trí lực: Tức là biết rõ vô lượng
đời trước và biết rõ vô lậu Niết bàn mà chúng sanh sẽ
đạt đến.
10)
Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Đối với tất cả vọng
tưởng hoặc nghiệp tập khí dư thừa đều vĩnh viễn đoạn
sạch như thật chơn tánh, không lại sanh khởi nữa.
Phật
đầy đủ mười trí lực công đức không việc gì mà không
làm được, nên gọi là dõng mãnh công đức. Dõng mãnh công
đức còn gọi là đệ nhất vô thượng vô uý địa. Đây
là Niết bàn địa xa lìa nhất thiết sanh tử sợ hãi. Vô
úy tức Tứ vô sở úy. Nghĩa là tự sở chứng đắc, tự
thuyết pháp quyết chẳng bị người áp bức khiển trách,
hay tự tín mà không có sự sợ hãi.
Từ
Như Lai điều ngự vô thượng đến tất cả chúng sanh chiêm
ngưỡng, ấy là đức Giải thoát của Phật nói không
cùng tận. Từ nhất thiết trí giải địa đến đệ nhất
vô thượng úy địa là Bát nhã đức, ấy là tỏ rõ đức
tròn đầy. Trong hai điều này được bất tư nghì, ấy là
Pháp thân đức. Đắc Pháp thân bất tư nghì thì không còn
lầm lỗi, đức thành tựu viên mãn. Hệ lụy đã sạch, nên
được Pháp thân. Pháp thân là do kết quả tu chứng tất cả
công đức thành tựu. Như Lai tròn đủ ba đức, đối với
trí cảnh lấy vô ngại trí để quán sát không phải do tha
nhơn ngoại cảnh, mà do tự tri tự chứng. Tự chứng biết
năm trụ phiền não đoạn sạch hai thứ sanh tử là phần đoạn
sanh tử và biến dịch sanh tử, nên hay dõng dạc thuyết pháp
Sư tử hống: “Ta sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập,
việc làm (công hạnh) đã xong, không còn sanh tử”.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! A la hán Bích chi Phật qua được sợ hãi sanh
tử, thứ tự được vui giải thoát, mà nghĩ như thế này:
Ta lìa sợ hãi sanh tử, không còn chịu khổ sanh tử. Bạch
Đức Thế Tôn! Khi A la hán Bích chi Phật quán sát thấy không
còn chịu khổ hoạn hậu hữu sanh tử, được cái vui Niết
bàn.
LỜI
GIẢI:
Kinh
nói A la hán Bích chi Phật chứng đắc địa không còn chịu
sanh tử. Đây là đối với việc sợ phần đoạn sanh tử
của A la hán Bích chi Phật mà nói. Nhị thừa theo thứ lớp
tu hành được quả an vui giải thoát. Nếu y cứ kiến chứng
đế mà nói thì: Trước thấy Khổ đế, thứ đến thấy Tập
đế, kế nữa thấy Diệt đế, sau cùng thấy Đạo đế. Nếu
bằng vào đoạn phiền não mà nói thì: Trước đoạn kiến
nhứt xứ trụ địa, thứ đến đoạn dục ái trụ địa ,
thứ nữa đoạn sắc ái trụ địa, sau cùng đoạn hữu ái
trụ địa. Nếu căn cứ theo thứ lớp chứng quả mà nói thì:
Trước chứng sơ quả, kế đến chứng nhị quả, thứ nữa
chứng tam quả, sau cùng chứng tứ quả. Đây là thứ lớp
đoạn hoặc tu chứng của Nhị thừa, cũng là quá trình tu
tập lần lượt được vui giải thoát liền khởi ý nghĩ như
thế này: “Ta lìa sanh tử sợ hãi, không còn cái khổ sanh
tử”. Lìa sanh tử sợ hãi tức là tâm thể hiện pháp an
lạc. Không chịu khổ sanh tử nghĩa là tương lai sẽ không
còn chịu quả khổ. Nhị thừa đoạn tứ trụ phiền não,
chứng phần đoạn sanh tử, xác thực không còn nghiệp báo
sanh tử, nhưng vẫn chưa đạt Phật địa.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Thế Tôn! Hàng Nhị thừa trước đã chứng quả địa, chẳng
ngu muội nơi pháp, chẳng do ai khác mà cũng tự biết được
hữu dư địa, quyết sẽ được A nậu đa la tam miệu tam Bồ
đề. Vì cớ sao? Bởi Thanh văn Duyên giác thừa cũng đều
nhập Đại thừa. Đại thừa tức là Phật thừa, vì thế
cho nên nói tam thừa tức là Nhất thừa.
LỜI
GIẢI:
Như
trước đã nói Như Lai và Nhị thừa đều không còn hậu hữu
trí. Nhưng trí lực của Nhị thừa chẳng cứu cánh. Vì chưa
cứu cánh, nên hướng nhập Đại thừa kết thành cứu cánh
Nhất thừa. Nhị thừa trước khi sở đắc cảnh địa quyết
chẳng chấp nơi Tiểu thừa, cự tuyệt Đại thừa. Bởi đối
với Như Lai thuyết pháp chỉ lấy Phật thừa hoá độ chúng
sanh, Nhị thừa không cự tuyệt, rõ ràng là đối với giáo
pháp chẳng ngu. Vì vậy, A la hán, Bích chi Phật không kham nhận
Đại thừa pháp, chẳng do ai khác mà chính tự biết sở tri
chứng. Tự biết sở đắc vẫn là hữu dư địa. Tự biết
tương lai quyết phải đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nhị
thừa tự biết hữu dư và như trên nói, Nhị thừa chẳng
chịu hậu hữu trí tức là không còn phàm trí nghiệp báo.
Điều này mới nghe qua tựa hồ mâu thuẩn, kỳ thật không
phải vậy. Như Kinh Pháp Hoa nói Xá Lợi Phất v.v….đắc quả
A la hán là do từ trước đã từng theo Phật phát tâm Bồ
đề. Khi ban đầu được Phật giáo hoá phát tâm Bồ đề
cầu thành Phật đạo, điều này chứng tỏ không ngu nơi pháp.
Y kinh này nói thì đủ thấy rằng trước kia đã có chỗ sở
đắc. Nghĩa là quá khứ từng thiết lập nhơn địa phát tâm
Bồ đề theo Phật. Kinh này cũng nói: “Ba thừa sơ nghiệp
(sơ phát tâm học đạo), chẳng ngu nơi pháp, đối nghĩa (Đại
thừa) kia nên giác nên đắc”. Y Kinh Bát Nhã v.v…nói, trước
có chỗ sở đắc tức là cảnh địa ba thừa đã chứng. Kinh
nói: “Trí đức đoạn đức của A la hán và Bích chi Phật
đều là Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn”. Thế nên, khi luận đến
những ai hay tín thọ thâm sâu Bát nhã Ba la mật tức nói kiến
đế, tức là sơ quả A la hán, thì hay tin thọ. Nếu không
thể tin thọ, theo Kinh Pháp Hoa nói thì đó là kẻ tăng thượng
mạn, kẻ nghiệp chướng si mê sâu dày. Hậu thế, kẻ Tiểu
thừa học giả phủ nhận Đại thừa, điều này đủ để
chứng minh hạng người không thể thâm sâu tin thọ Bát nhã
Ba la mật và không có tự chứng giác Phật cảnh. Không luận
y Pháp Hoa Kinh thuyết minh quá khứ nhơn địa hay y Bát Nhã
Kinh nói hiện tại chứng địa, Nhị thừa đều tự biết
là chẳng cứu cánh, nếu hay tin sâu pháp môn Đại thừa thì
thành Phật. Nhưng kiến đạo chứng quả trụ nơi Nhị thừa
quả, tự biết chưa có thể tiến học Đại thừa, điều
này cũng có vậy. Như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v…ở
trước pháp hội Pháp Hoa không tự biết mình đã là Bồ Tát.
Trong Phật pháp có số kinh điển nói A la hán đối với pháp
môn Đại thừa thành Phật cảm thấy cao diệu, rồi tự thống
tiếc mình sao chỉ cầu đắc A la hán. Y Kinh Pháp Hoa nói, hễ
đã phát tâm Bồ đề mà nửa chừng thối thất thì Phật
liền dùng phương tiện giáo hoá nhiếp dẫn cho hạng người
này. Vì vậy mà hạng người này không tự biết mình đang
hành Bồ Tát đạo. Nhưng Nhị thừa chứng trí tự nghĩ rằng
mình đã làm xong, đồng thời lại từ chỗ tự chứng kiến
địa cảm thấy rằng mình đáng chứng quả nhất vị bình
đẳng. Như Xá Lợi Phất nói: “Chúng ta đồng nhập nhất
pháp tánh, tại sao Đức Như Lai lại dùng pháp Tiều thừa
mà tế độ?”. Nhị thừa tự biết đồng nhập một pháp
tánh, tuy không dám nói ra, nhưng trong lòng vẫn còn có cảm
giác như thế. Bởi có cảm giác hiểu bíết như thế nên
mới tham dự vào pháp hội Đại thừa, thậm chí còn vì Bồ
Tát mà nói Bát nhã Đại thừa. Một khi Phật nói với họ:
“Chỗ sở hành của các ông là Bồ Tát đạo”, thì gọi
giật mình tự ngộ, xoay tâm hồi tiểu hướng đại.
A la
hán quả chứng đắc pháp tánh vô tam sai biệt, tại sao không
cầu hướng về Đại thừa? Đây là bởi căn tánh nhàm chán
sanh tử trong ba cõi, xem ba cõi như lao ngục oan gia, nên chỉ
một mạch cầu giải thoát an lạc. Bởi ngoài nhàm chán sanh
tử, trong cầu định tĩnh an lạc, chú trọng tu tập thiền
định, đợi đến khi thâm nhập thiền định giải thoát an
lạc cũng là lúc cảm thấy được an nhiên to lớn không còn
ưu tư, nên không cần tiến thêm bước nữa để nhập vào
Đại thừa cảnh. Đây cũng có hai hạng:1/ Hiện sanh, tức
là nhơn Phật thuyết pháp mà hồi tiểu hướng đại. 2/ An
vui thâm sâu thiền định mà rơi vào hầm vô vi, rồi không
chuyển ra được. Trải qua thời gian từ trong lạc thú thiền
định khởi xuất như người tỉnh rượu. Lúc đó, tự mình
cảm thấy phiền não, nghiệp, khổ vẫn còn. Do thế, nhứt
định theo Phật nghe pháp, hồi tâm hướng Đại thừa. Như
Kinh Pháp Hoa nói: “Sau khi ta diệt độ, lại có hạng đệ
tử không nghe kinh này, nên chẳng hay biết chỗ sở hành của
Bồ Tát, rồi tự nghĩ rằng mình có công đức diệt độ,
nên vào Niết bàn. Ta ở vào nước khác làm Phật, lại có
tên khác. Hạng người này tuy có nảy ra ý tưởng diệt độ,
nhập Niết bàn để mà ở nước kia cầu được trí huệ
Phật, nghe được kinh này thì chỉ biết có Phật thừa khi
được diệt độ”. Vì vậy A la hán, Bích chi Phật đời
trước đã có sở đắc đều là không ngu nơi pháp. Người
tu Nhị thừa rốt cùng tự mình cũng biết là hữu dư nghiệp
quả.
Nhị
thừa tự biết chỗ sở chứng của mình chưa cứu cánh, nên
cần phải tiến thêm để cầu chứng Phật quả. Vì sao lại
có chuyện lạ như vậy? Bởi Thanh văn, Duyên giác thừa đều
sẽ nhập Đại thừa. Như chương nhiếp thọ chánh pháp nói,
Nhị thừa pháp do từ Đại thừa pháp mà sanh. Nhị thừa pháp
là phần nhỏ của Đại thừa pháp, tức là nhơn địa ban
đầu của Đại thừa. Vì vậy, Thanh văn, Duyên giác thừa
đều hồi quy Đại thừa. Đại thừa lấy sự thành Phật
làm mục đích, lấy sự chứng Phật quả mà nói, tức là
Phật thừa. Như thế, tuy nói ba thừa mà kỳ thực chỉ có
một thừa. Kinh Lăng Già ghi: Nói có Thanh văn, Duyên giác, Bồ
Tát chủng tánh ba thừa. Tuy nói có ba thừa sai biệt, đó là
do vì sơ học mà thiết lập. Chứng nhập vô sai biệt tánh
đều là vô sở đắc, tức là ba thừa, mà kỳ thực nhất
thừa.
CHÁNH
VĂN:
Hành
giả đắc Nhất thừa, tức đắc A nậu đa la tam miệu tam
Bồ đề. A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề tức là cảnh giới
Niết bàn. Niết bàn cảnh giới tức là pháp thân Như Lai.
LỜI
GIẢI:
Kinh
điển Đại thừa bộ loại không giống nhau. Mỗi bộ loại
đều có luận đề trọng tâm của nó. Kỳ thực luận đề
của những kinh Đại thừa bất đồng, nhưng nếu chơn thật
liễu giải nghĩa lý của nó, thì đều nhất trí giống nhau.
Như Kinh Pháp Hoa chuyên nói Nhất thừa. Kinh Đại Bát Niết
Bàn đặc biệt thuyết minh Niết bàn. Kinh Bát Nhã rộng nói
về trí huệ Bát nhã. Kinh Hoa Nghiêm nói về pháp giới. Kinh
Đại Tập nói về tam muội. Kinh Kim Cang nói về vô thượng
chánh đẳng Bồ đề v.v…Nếu như học giả không ngộ lý,
thể, chỉ có một mà danh xưng sai khác thì sẽ theo văn mà
thiên chấp không thể nào dung hợp. Y kinh này nói, Phật pháp
chỉ một thừa. Nhất thừa tức là thông Bồ đề Niết bàn
v.v…Nên nói: “Đắc nhất thừa tức là đắc A nậu đa la
tam miệu tam Bồ đề. Đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề
tức là đắc Niết bàn. Đắc Niết bàn tức là Như Lai pháp
thân”. Nhất thừa, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Niết
bàn, Như Lai pháp thân, nội dung của bốn danh xưng này là
một lý thể. Luận Đại Trí Độ khi nói về La Hầu La Bạt
Đà La làm kệ tán Bát nhã cũng nói: “Bát nhã thì nhất pháp,
tùy cơ lập khác tên”. Y nghĩa này, Thiên Thai Tông khi nêu
thể của ngũ trùng huyền nghĩa tất phải lấy luận đề
trọng yếu của kinh này làm thể mới hội thông với những
luận đề khác, ấy là khác tên mà đồng thể. Nhưng thể
tuy một mà diễn nghĩa có chỗ bất đồng. Vì vậy dẫn đến
văn tự bất đồng. Như Nhất thừa là ước định duy nhất
vô nhị, đó là đứng về ý nghĩa chuyển cận thành Phật
mà nói. A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề là chỉ trí đức
của Như Lai mà nói. Niết bàn chỉ đoạn đức của Như Lai.
Pháp thân là chỉ về thanh tịnh công đức sở hiển của
Như Lai. Tùy danh xưng khác nên mang ý nghĩa khác, kỳ thực
những đức tánh này thảy đều thể nhiếp viên dung.
CHÁNH
VĂN:
Đắc
cứu cánh Pháp thân tức là cứu cánh Nhất thừa, Như Lai và
pháp thân không khác. Như Lai tức pháp thân. Đắc cứu cánh
Pháp thân cũng là đắc cứu cánh Nhất thừa. Cứu cánh nghĩa
là vô biên bất đoạn.
LỜI
GIẢI:
Như
trên đã nói Nhất thừa tức là vô thượng Bồ đề. Niết
bàn tức là Như Lai pháp thân. Nay nói Pháp thân và Nhất thừa
không những là một mà còn có nghĩa cứu cánh nữa. Nếu đứng
về Pháp thân mà nói thì tất cả chúng sanh vốn có đầy
đủ, nhưng chưa hiển bày đầy đủ. Pháp thân của Như Lai
gọi là cứu cánh pháp thân, lấy vô biên công đức trang nghiêm.
Nên nói: “Đắc cứu cánh pháp thân”. Cứu cánh pháp thân
tức là đứng về quả đức mà nói, nên cũng là cứu cánh
Nhất thừa. Nhất thừa cũng là duy nhất Phật quả.
Đại
thừa trọng nơi nhân hạnh Bồ Tát. Nhất thừa trọng nơi
cứu cánh quả đức của Phật. Như Kinh Pháp Hoa nói: “Phật
tự trụ Đại thừa, định huệ lực trang nghiêm, dùng đây
độ chúng sanh”. Tức là Đại thừa và Nhất thừa đồng
nhất, là Phật đức vậy. Tiếp đây nói về Pháp thân cứu
cánh giải thoát. Pháp thân chẳng khác Như Lai. Kinh Kim Cang
nói: “Như Lai tức là nghĩa chân như chân thật của các pháp”.
Như Lai và Pháp thân không hai không khác. Tất cả chúng sanh
vốn đủ Pháp thân, tự thể chân như cứu cánh hay hiển bày
Pháp thân, nên nói Như Lai tức là pháp thân. Thế nên, cứu
cánh Pháp thân tức là cứu cánh Nhất thừa. Tại sao gọi
là cứu cánh? Cứu cánh có nghĩa là vô biên bất đoạn, rốt
ráo thanh tịnh, thường trụ vô tận. Đứng về thời gian
mà nói thì suốt cùng ba đời. Vô biên, nghĩa là khắp cùng
không biên giới, không có giới hạn. Nếu đứng về không
gian mà nói thì khắp cùng mười phương, quán triệt thuỷ
chung trong ngoài, vô thỉ vô chung không giữa, không bên này
bên kia, ấy là ý nghĩa của cứu cánh. Kinh Đại thừa nói
về Niết bàn, Pháp thân, Bát nhã v.v….đều mang ý nghĩa tận
hư không biến pháp giới, suốt cùng vị lai. Tuyệt đối không
có tương đối, đây mới là đạt đến cảnh giới của ý
nghĩa cứu cánh viên mãn.
Trên
kia nói Nhị thừa có sợ hãi sanh tử. Ở đây sẽ nói đến
Như Lai thường trú quy y. Quy y Tam Bảo mọi người đều biết.
Nhưng cứu cánh của ý nghĩa quy y, ở đây cần nên giản trạch
tích giải. Chúng sanh hữu tình sở dĩ cầu quy y là do trong
lòng có nỗi lo sợ không đạt đến chỗ cứu cánh an ổn.
Thế cho nên nơi quy y đương nhiên phải là nơi cứu cánh.
Trong Phật Pháp Tăng Tam Bảo, Tăng là đại chúng xuất
gia học Phật. Pháp là lời dạy của Phật, đại chúng
y vào đạo lý đó mà phụng hành. Những người tu học còn
có hữu lậu, nghĩa là còn có sợ sệt. Pháp cũng có hữu
lậu pháp, chưa cứu cánh pháp, như thế thì làm sao có thể
quy y? Vì vậy, không luận là Đại thừa hay Tiểu thừa, người
học Phật mỗi mỗi đều phải cẩn trọng chọn lựa. Có
những Thanh văn học giả nói: Quy y Phật là quy y công đức
vô lậu của Phật. Quy y Tăng là quy y công đức vô lậu của
các bậc Tăng già hữu học vô học. Quy y Pháp tức là Niết
bàn, Pháp giải thoát Niết bàn, là chỗ đáng quy y. Về điểm
này, kinh đây nói không hoàn toàn giống như vậy. Pháp là
chỉ cho đạo hướng đến Niết bàn. Đạo là pháp hữu vi,
pháp sanh. Tăng là chúng của ba thừa (Thanh văn, Duyên giác,
Bồ Tát) chưa cứu cánh thành Phật. Như thế thì làm sao có
thể quy y? Chỉ có Phật chứng đắc cứu cánh Niết bàn mới
là chỗ chơn chánh quy y. Nhưng sự thật không Tăng thì không
thể duy trì Phật pháp. Chỉ điều quan trọng là chánh tín
chọn chân tăng, hướng tâm Đại thừa để quy y. Nhưng kinh
này đặc biệt xiển dương công đức Phật quả, lấy diệt
làm đệ nhất nghĩa diệt, thuộc sở chứng sở hiển của
Đức Như Lai, nên nói chỉ có Như Lai mới là nơi quy y. Đây
là điểm khác biệt của Kinh Thắng Man.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Như Lai thường trụ không có giới hạn thời
gian. Như Lai ứng đẳng chánh giác trụ suốt khắp đời sau.
Như Lai đại bi vô lượng, an ủi thế gian không lường. Bởi
đại bi vô lượng an ủi thế gian không lường, nói như thế
mới là khéo nói rõ nghĩa Như Lai. Nếu lại nói rằng: Vô
tận pháp, thường trụ pháp là chỗ quy y của tất cả thế
gian, như thế cũng gọi là khéo nói rõ nghĩa Như Lai. Thế
cho nên đối với thế gian chưa độ, thế gian chưa quy y không
cùng tận, chỗ thường trụ quy y, như thế mới gọi là Như
Lai ứng đẳng chánh giác.
LỜI
GIẢI:
Như
trên đã nói, Như Lai là cứu cánh vô biên bất đoạn, nên
Như Lai không còn hạn độ quá khứ hiện tại vị lai. Nghĩa
là chỗ cứu cánh của Như Lai không còn biên giới thời gian
không gian. Như Lai không giới hạn thời gian không gian, nên
gọi là thường trụ. Như Lai ứng đẳng chánh giác lại là
hậu tế đẳng trụ, tức là trụ suốt đời vị lai. Nên
Kinh Pháp Hoa nói: “Như Lai thọ lượng như vi trần không thể
hết, thọ mạng vô lượng a tăng kỳ kiếp thường trụ bất
diệt”. Hoặc cho rằng, Phật nhập Niết bàn tức là dứt
sự hiện hành hoá độ ở thế gian. Đại thừa nói, thành
Phật chứng đại Niết bàn, như thế có nghĩa là thường
tại tận suốt đời vị lai. Thường trú có nghĩa là siêu
việt thời gian tánh. Nhưng khi khởi dụng trong thời gian thì
vô tận tức hằng thường. Đồng thời, Như Lai đại bi tâm
vô hạn không phải là cho riêng một thế giới nào, một loại
hữu tình chúng sanh nào, mà là đối với tất cả chúng sanh
khởi đại bi tâm. Bi là tâm hạnh cứu khổ. Nội tại có
vô hạn đại bi tâm, nên biểu hiện ra ngoài. Nghĩa là bi tâm
không có hạn lượng an ủi chúng sanh không phân biệt, đây
tức là bi tâm bi hạnh vô hạn. Trên đây là trực minh Như
Lai chơn tướng. Vì vậy nói vô hạn đại bi hay vô hạn an
ủi thời gian. Lại có người nói như thế này: Vô tận pháp
suốt đời vị lai, thường trụ pháp vượt ngoài thời hạn,
hay làm chỗ quy y cho tất cả thế gian, không trực tiếp nói
là Như Lai mà thực ra khéo diễn đạt về Như Lai. Thế cho
nên đối với thế gian chưa độ chưa giải thoát không chỗ
nương tựa, không được hộ trì thì Như Lai chánh chơn là
nơi nương tựa hộ trì, hay đối với hết thảy đời sau,
làm chỗ quy y không cùng, thường trú quy y. Như thế là Như
Lai ứng đẳng chánh giác. Công đức Phật quả không thuộc
Đạo đế mà Diệt đế thường trụ Niết bàn. Nghĩa là tất
cả đức dụng là sở hữu của Diệt đế, Như Lai hàm hữu
tất cả thể dụng thường trụ vô lậu vô vi. Do đó chỉ
Phật mới là chân thật quy y xứ.
CHÁNH
VĂN:
Pháp
tức là nói đạo Nhất thừa. Tăng là nói chúng của ba thừa.
Quy y hai thứ này chưa phải là cứu cánh quy y mà gọi là thiểu
phần quy y. Vì sao? Bởi vì nói đạo pháp Nhất thừa, được
Pháp thân cứu cánh. Còn nói thiểu phần trên kia thì không
nói việc Nhất thừa pháp. Chúng của ba thừa còn có tâm sợ
sệt, quy y Như Lai, cầu xuất tu học hướng đến A nậu đa
la tam miệu tam Bồ đề , tức là hướng đến vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Thế cho nên nhị quy y (Pháp, Tăng)
chưa phải là cứu cánh quy y, mà là giới hạn quy y . Chỉ
có tam quy y mới là viên mãn quy y, vô hạn độ quy y.
LỜI
GIẢI:
Pháp,
Tăng có phải là chỗ để quy y không? Vậy thực sự Pháp
và Tăng là gì? Pháp tức là đạo Nhất thừa Phật nói ra.
Pháp là phương pháp tu hành Phật giảng bày, là Đạo đế.
Mục đích Phật nói đạo pháp là để “khai thị ngộ nhập
tri kiến của Phật” để thành Phật chứng đại Niết bàn,
nên gọi là đạo Nhất thừa. Tuy có lúc Phật nói tam thừa,
nhưng đây chỉ là phương tiện mà nói, thực tế chỉ có
một đạo Nhất thừa. Nên kinh nói: “Chỗ sở hành của các
ông là Bồ Tát đạo”. Tăng là đại chúng của ba thừa.
Phật vì thích ứng thế gian sơ cơ mà nói pháp ba thừa. Y
Phật pháp xuất gia tu hành có ba thừa chúng là Thanh văn, Duyên
giác, Bồ Tát. Tăng có nghĩa là hoà hợp, tức là học chúng
của ba thừa hoà hợp sống chung, đồng lấy việc tu chứng
nhập Niết bàn làm lý tưởng và mục đích. Nếu chỉ quy
y Pháp và Tăng thì chỉ chưa phải là cứu cánh quy y, mà thiếu
đi hết một, ấy là Phật bảo. Nếu chỉ quy y Pháp, Tăng
hoặc quy y Phật, Pháp ấy là tương đối, là phiến diện
quy y, chưa phải là tuyệt đối viên mãn quy y. Vì sao? Bởi
vì Phật nói đạo pháp Nhất thừa quan trọng là thực hành
cái nhơn, nhơn trọn vẹn thì mới đạt mục đích cứu cánh
Pháp thân. Đối với việc chứng cứu cánh Pháp thân mà không
từ nơi Nhất thừa pháp, thì chẳng khác nào như qua sông mà
không cần thuyền. Nhưng thuyền chẳng phải là mục đích,
nên đến bên kia bờ thì không dùng thuyền nữa. Vì vậy nên
nói: “Qua sông dùng phà, đến bờ không dùng nữa”. Đạo
Nhất thừa là phương tiện chứ chẳng phải là mục đích
cứu cánh. Vì vậy mới nói quy y Pháp chẳng phải là chỗ
cứu cánh quy y. Thánh chúng của ba thừa tuy nói là đắc đạo
giải thoát, nhưng còn có tâm sợ, còn phải quy y Như Lai, cần
được rốt ráo ra khỏi sanh tử, còn tu học Nhất thừa đạo
hướng đến A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề. Chúng của
ba thừa xả thân y pháp tu học theo Phật. Người học Phật
cần phải có thầy hiền bạn tốt là nơi nên quy y. Kinh nói:
“Quy y Tăng, Tăng như người hộ bịnh”. Cứ theo nghĩa này
thì nếu người chỉ quy y Tăng, hoặc quy y Tăng và quy y Pháp
mà không quy y Phật, thì chẳng khác nào đỉnh hai chân sẽ
bị lật ngã, đều không hợp với thường trú vô tận, chưa
phải là nghĩa vô hạn đại bi an trú.
CHÁNH
VĂN:
Nếu
có chúng sanh được Như Lai điều phục, quy y Như Lai, được
thấm nhuần giáo pháp, sanh hoan hỷ tín tâm quy y Pháp Tăng,
thì chính là quy y Như Lai.
LỜI
GIẢI:
Đứng
về cứu cánh đệ nhất nghĩa đế thì tam quy y cũng là Nhất
quy y. Nếu có chúng sanh nhân nơi Như Lai thần thông diệu dụng,
nghe Như Lai giáo hoá, đối Phật khởi tâm cung kính không sanh
ngã mạn cố chấp, thì gọi đó là điều phục. Nhưng chúng
sanh được điều phục quy y Như Lai, nghe Phật thuyết pháp,
được tân trạch Phật pháp, cũng như bình sành nứt bể,
dầu từ lằn nứt rịn thấm ra ngoài, gọi đó là tân trạch.
Được tân trạch Phật pháp nghĩa là thấm nhuần pháp nhủ
từ Phật, được pháp vị của Phật. Do được pháp vị của
Phật, nên sanh khởi tâm vui tín ngưỡng ái mộ. Vì vậy mà
khởi tâm quy y nơi Pháp và quy y nơi Tăng. Nghĩa là căn bản
từ Như Lai. Cứ như nghĩa đây rõ ràng quy y Pháp Tăng mà kỳ
thật là quy y Phật. Nếu như có người nói chỉ quy y Phật
thôi thì rơi vào thiên chấp. Như nói chỉ quy y Phật Pháp
thôi thì rơi vào khinh Tăng, mắc tội nghi mạn Tam Bảo, chưa
phải là người chơn tâm diệt chấp ngã. Ngã chấp đã không
đoạn thì pháp chấp kiếp nào mới trừ? Đó là hạng người
ngoại đạo, muôn kiếp vẫn đứng ngoài rào của nhà chánh
pháp. Chánh pháp đã không vào thì làm sao chứng được đạo
quả? Dù họ có hành trì kinh cũng chỉ hưởng được phước
nhỏ hữu lậu. Nếu không khéo lại rơi vào thế giới của
ma nghi mạn.
CHÁNH
VĂN:
Quy
y đệ nhất nghĩa là quy y Như Lai, Nhị quy y này cũng là đệ
Nhất nghĩa, cũng tức là cứu cánh quy y Như Lai. Vì sao? Bởi
vì nhị quy y không khác với quy y Như Lai. Đã không khác nhị
quy y thì Như Lai tức là tam quy y.
LỜI
GIẢI:
Thế
thì Pháp và Tăng đều là chỗ đáng quy y. Tuy chẳng phải
tuyệt đối, nhưng là chỗ đáng quy y. Bởi vì quy y tối thắng
đệ nhất nghĩa đế tức là quy y Như Lai, quy y thường trú
đại bi Như Lai, chớ chẳng phải quy y hoá tướng hiện sanh
hiện diệt của Như Lai. Đệ nhất nghĩa đế là chỉ chơn
thể bất khả tư nghì vi diệu thường trú Như Lai.v.v…, với
ý nghĩa này thì không phải là quy y cái thân bằng da thịt
thế gian của Như Lai.
Nếu
đứng từ Như Lai, tức là đệ nhất nghĩa mà nói, thì Pháp
và Tăng là đệ nhứt nghĩa đế nhị quy, cũng tức là cứu
cánh quy y Như Lai. Nếu cứ vào tục tướng mà nói thì, chúng
ba thừa còn sợ hãi, chẳng phải cứu cánh quy y. Nhưng đứng
về đệ nhất nghĩa mà nói thì chúng tam thừa đồng có tàng
tánh Như Lai, cùng với Như Lai không khác. Nhất thừa đạo
pháp cũng giống như thế. Nghĩa là các pháp không lìa pháp
tánh, không lìa đệ nhất nghĩa Như Lai tàng tánh. Từ đây,
chúng ta có thể thấy nhị quy y Pháp và Tăng cũng là quy y
đệ nhất nghĩa, tức là quy y Như Lai. Bởi Pháp và Tăng cũng
là chơn nghĩa quy y.
Như
Lai là thể hiện cho thành tựu đệ nhất nghĩa. Đạo pháp
bất ly đệ nhất nghĩa. Hành giả hành đạo pháp là còn trong
quá trình tu hành để đạt đến chứng đệ nhất nghĩa Như
Lai tàng tánh. Như vàng khoáng có phải là vàng không? Đúng
là vàng. Nhưng hình tướng của nó chưa được đãi lọc nung
luyện đó thôi. Nếu trải qua đãi lọc nung luyện thành vàng
ròng nguyên chất. Vậy thì chánh pháp chân Tăng nào có khác?
Bởi lẽ này mà đây nói đệ nhất nghĩa, Pháp và Tăng cũng
là chỗ quy y, vì không lìa đệ nhất nghĩa. Nghĩa là đồng
tánh bình đẳng với Như Lai. Nói thế có nghĩa là quy y đệ
nhất nghĩa là quy y Pháp và Tăng. Pháp, Tăng với Như Lai bình
đẳng tánh. Nên quy y Pháp, Tăng là quy y Như Lai đệ nhất
nghĩa, là quy y Tam Bảo.
Y luận
giải mà bình tâm đây suy nghiệm đủ rõ, quy y Phật Pháp
Tăng Tam Bảo, đích thực là quy y tự tánh của mình, tức
là chúng sanh quy y tự tánh chúng sanh. Ý nghĩa thâm diệu của
Phật pháp không giống với ngoại đạo cũng chính điểm này.
Ngoại đạo thì cần phải quy y một vị thần ngoại tại.
Trong khi đó, Phật pháp nói quy y Tam Bảo hoặc quy y Như Lai
cũng tức là tự quy y với chính bản tâm sẳn có của mình
đầy đủ Như Lai tạng tánh. Đây mới đích thực là chỗ
chơn chánh quy y, là chỗ trở về nương tựa, là hồi quang
phản chiếu. Người y giáo pháp, theo như đời sống của Phật
mà tu hành là Tăng. Lời Phật dạy là Pháp. Tu hành thành tựu
viên mãn là Phật. Đây là ý nghĩa tất cả chúng sanh đầy
đủ Như Lai tạng tánh. Quy y Tam Bảo có nghĩa là quay lại
y nơi tàng tánh của mình là đủ, mà còn phải làm cho tàng
tánh hiển bày đạt đến cứu cánh. Nói cách khác, quy y Tam
Bảo là lấy đức tướng của Phật đối chiếu thân tướng
mình, lấy lời Phật dạy soi sáng tâm mình, lấy Tăng làm
mô phạm cho hành vi cử chỉ của mình. Đức tướng của Phật
trang nghiêm, đối chiếu thân tướng của mình xét thử như
thế nào? Pháp của Phật từ bi hỷ xả, bình đẳng giải
thoát phản chiếu lại tâm pháp của ta đã thể hiện chưa?
Tăng cắt ái từ thân, ly trần đoạn dục, liên tục tu hành
ngày đêm thời khắc, hiến trọn đời phụng sự cho đạo
và chúng sanh, hy sinh cho đại nghĩa, đối lại với mình đã
có hành vi tâm niệm thoát tục nào chưa? Từ đó, phát nguyện
đoạn phàm tâm tục hạnh để quy y Tam Bảo, như thế mới
là ý nghĩa quy y.
CHÁNH
VĂN:
Vì
sao? Vì nói đạo Nhất thừa, Như Lai thành tựu bốn vô úy,
nên nói pháp âm như sư tử rống. Nếu Như Lai không tùy thuận
chỗ sở thích của chúng sanh lại không phương tiện nói,
tức là Đại thừa không có tam thừa. Tam thừa cũng là để
đưa về Nhất thừa. Nhất thừa tức là đệ nhất nghĩa đế.
LỜI
GIẢI:
Như
trên đã nói, khi quy y là hướng đến Nhất thừa, phương
tiện hiển bày tam thừa để hội nhập Nhất thừa. Vì nguyên
nhân nào mà Phật nói Nhất thừa? Cứ vào giáo nghĩa Nhất
thừa mà nói thì đây là Như Lai thành tựu bốn vô úy, nên
nói pháp như sư tử rống. Tiếng rống sư tử oai phong lẫm
liệt khiến các loài thú khác kiêng nể. Đây là tiêu biểu
pháp liễu nghĩa, tức là pháp môn chơn thật khế lý. Như
Lai tùy thuận tâm tánh ước muốn của chúng sanh mà phương
tiện thiện xảo pháp môn. Phật pháp không chỉ cần khế
lý mà cần cả khế cơ nữa. Bởi lý do này, nên Nhất thừa
Phật pháp vốn là cứu cánh. Nhưng vì chúng sanh không có khả
năng tiếp thọ, nên không thể tuyên thuyết Nhất thừa ngay
trong buổi đầu. Vì vậy, Như Lai không thể không vì hiển
thực mà quyền nói tam thừa. Khi tam thừa học giả căn tánh
có thể lãnh hội hướng thượng thì Như Lai mới xứng cơ
nói Nhất thừa. Nói pháp Nhất thừa là tiêu biểu tiếng sư
tử rống. Kinh này tên là “Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại
Phương Tiện” hàm hữu ý nghĩa khế lý khế cơ Nhất thừa
giáo. Nếu đứng về nghĩa Nhất thừa mà nói thì Nhất thừa
tức là Đại thừa, không có tam thừa. Như Kinh Pháp Hoa nói
khi ông Trưởng giả muốn dẫn dụ các con ra khỏi nhà lửa,
ông bảo với chúng có ba thứ xe tùy thích lựa lấy, đợi
đến khi chúng sanh ra khỏi nhà lửa rồi thì chỉ có một
thứ xe là Đại Bạch Ngưu Xa. Tam thừa từ Đại thừa xuất
sanh, nên lại hội nhập vào Nhất thừa. Ở đây nói Nhất
thừa tức là đệ Nhất nghĩa thừa, là Pháp thân
Như Lai tàng thường đức thậm thâm vi diệu không thể nghĩ
bàn. Trên đây là thuyết minh về nghĩa Nhị thừa còn có sợ
hãi. Như Lai là chỗ chúng sanh quy y. Cứu cánh Phật pháp là
Nhất thừa đạo quả.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Thanh văn, Duyên giác khi mới quán thánh đế
dùng đệ nhất thánh trí đoạn các trụ địa, dùng đệ nhất
thánh trí đoạn tứ trụ phiền não, tri công đức tác chứng,
cũng khéo biết nghĩa bốn pháp này. Bạch Đức Thế Tôn! Không
có bậc thượng thượng trí xuất thế gian, thì bốn trí tiệm
đến và bốn duyên tiệm đến, không có pháp tiệm đến,
ấy là bậc thượng thượng trí xuất thế gian.
LỜI
GIẢI:
Cảnh
trí của Như Lai tức là quả đức của Như Lai trọng nơi
trí huệ và đế lý để luận cứu. Trí huệ Như Lai chứng
ngộ đế lý Thanh văn, Duyên giác. Để rõ điều này, trước
khi lược nói về thánh trí, thì trước nên nói về thượng
thượng trí.
“Thanh
văn Duyên giác khi mới quán thánh đế” . Thánh đế tức
là Thánh nhơn đã được thành tựu lý chân thật các pháp
còn gọi là đệ nhất nghĩa đế. Đế nghĩa là như thật,
không điên đảo sai lầm. Nói dễ hiểu, đế là chân lý muôn
đời. Thanh văn Duyên giác lúc ban sơ quán thánh đế. Sơ quán
tức là sơ khởi, lần đầu tiên dùng trí quán thánh đế
không đồng với loại quán thánh đế trí thứ hai của Như
Lai. Trí năng Thanh văn Duyên giác quán thánh đế là loại thánh
trí thứ nhất đoạn các trụ địa, mà đích thực là đoạn
tứ trụ địa. Lại dùng đệ nhất trí để làm xong bốn
việc đoạn Tập, biết Khổ, tu Đạo và chứng Niết bàn.
Đệ nhất trí Thanh văn Duyên giác cũng rõ biết pháp nghĩa
của bốn đế này. Nhưng đây chẳng qua là thánh đế trí
của Thanh văn, Duyên giác đoạn tứ trụ phiền não, đối
tứ đế có thể khéo biết, đoạn chứng, tu mà thôi, chứ
không phải là đạt đến cứu cánh cảnh giới thánh quả.
Bởi vì Nhị thừa ban sơ chưa vận dụng được đệ nhị
loại xuất thế gian thượng thượng trí. Xuất thế gian trí
là chỉ chung cho cả Thanh văn và Duyên giác. Còn xuất thế
gian thượng thượng trí là Như Lai trí. Vì vậy nói trí của
Thanh văn, Duyên giác là “bốn trí tiệm đến”. Nghĩa là
thứ lớp trước biết Khổ đế, kế đến biết Tập đế,
rồi tới biết Diệt đế, sau cùng là biết Đạo đế. Lại
“bốn duyên tiệm đến”, nghĩa là trước duyên nơi khổ
mà biết khổ, rồi tiếp theo diệt, đạo đế. Thanh văn, Duyên
giác không luận đoạn phiền não, sanh trí huệ, chứng đế
lý thế nào nhưng cũng đều là phương pháp tiệm. Nghĩa là
hành giả tu theo phương pháp dần dần tiến bước theo thứ
lớp, quán đế này đến đế khác, do đó chứng quả cũng
thứ lớp. Vì vậy, không phải là xuất thế gian thượng thượng
trí, tức là không có trí vô thượng tuyệt đỉnh xuất thế
gian. Như Lai sở đắc xuất thế gian thượng thượng trí,
không luận là đoạn phiền não, sanh trí huệ, chứng đế
lý như thế nào cũng đều là “không có pháp tiệm đến”.
Nói cách khác là đốn chứng đế lý, tức là đốn sanh Phật
trí, đốn chứng đế lý, đốn đoạn vô minh trụ địa phiền
não. Phật là đốn trí chứng chứ không phải theo thứ lớp,
nên gọi là xuất thế gian thượng thượng trí.
Tiệm
đoạn phiền não thì tiệm chứng chân lý. Đốn đoạn phiền
não thì đốn chứng Niết Bàn. Đây là vấn đề lớn và quan
trọng trong Phật pháp. Trong các học phái Tiểu thừa như thuyết
Nhất Thiết Hữu, Kinh Bộ, Độc Tử Bộ v.v…đều chủ trương
tiệm kiến tứ đế, tiệm chứng đạo quả. Còn đại chúng,
phân biệt thuyết hệ như Pháp Tạng Bộ v.v…thì chủ trương
đốn chứng diệt đế, đốn chứng chơn lý. Nếu đứng về
đốn kiến mà nói thì hành giả sơ học tuy đối với khổ
tập, diệt độ thứ lớp tu tập tiệm quán, nhưng luận đến
chơn trí kiến lý thì đây tất nhiên là đốn quán. Chẳng
kiến đế thì thôi, mà khi chứng đạt kiến đế thì liền
đốn nhập tứ đế. Đại thừa lấy bình đẳng pháp tánh
làm đệ nhất nghĩa đế, nên lý tất đốn ngộ. Kinh này
nói tiệm là thuộc pháp Thanh văn Duyên giác, đốn là thuộc
Như Lai pháp. Do sự khác biệt giữa đốn và tiệm đưa đến
quá trình tu hành chứng quả của Tiểu thừa và Đại thừa
bất đồng. Tóm lại, cốt tủy ý nghĩa Tiểu thừa và Đại
thừa là cứ vào lý chứng đốn và tiệm.
CHÁNH
VĂN:
Bạch
Đức Thế Tôn! Kim cang là dụ cho đệ nhất nghĩa trí. Bạch
Đức Thế Tôn! Nếu Thanh văn, Duyên giác đoạn vô minh trụ
địa thì sơ thánh đế trí tức là đệ nhất nghĩa trí. Bạch
Đức Thế Tôn! Dùng vô nhị thánh đế trí đoạn các trụ
địa! Bạch Đức Thế Tôn! Như Lai đúng là bậc Chánh đẳng
Chánh giác, chẳng phải là cảnh giới của tất cả Thanh văn,
Duyên giác, bất tư nghì không trí, đoạn nhất thiết phiền
não tạng. Bạch Đức Thế Tôn! Nếu tất cả phiền não tạng
hoại diệt đắc cứu cánh trí thì gọi là đệ nhất nghĩa
trí. Sơ thánh đế trí chẳng phải là cứu cánh trí mà còn
hướng lên A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề trí.
LỜI
GIẢI:
Xuất
thế gian thượng thượng trí tức là đệ nhất nghĩa trí.
Kim cang dụ cho định, còn dụ cho trí đức là đệ nhất nghĩa
trí. Kim cang dụ cho trí huệ hay phá tất cả phiền não, đoạn
sạch tất cả vô minh. Kim cang vốn là dụ chung tam thừa. Như
một niệm khởi lên trước khi chứng A la hán thì gọi đó
là Kim cang dụ định hay còn gọi là Kim cang dụ trí, tức
đoạn phiền não chứng quả vô học. Nhưng nếu căn cứ vào
ý nghĩa thâm sâu Kim cang dụ cho trí phá hết tất cả phiền
não mà nói thì, Thanh văn Duyên giác không xứng hợp với Kim
cang trí. Kim cang dụ trí với ý nghĩa tâm sau cùng (hậu tâm
đắc) của đẳng giác. Hậu tâm đắc đoạn sạch tất cả
phiền não, dẫn khởi Phật trí.
Vì
vậy nói: “Thanh văn, Duyên giác đoạn vô minh trụ địa sơ
thánh nghĩa trí là đệ nhất nghĩa trí”. Nghĩa là nói sơ
thánh đế trí của Thanh văn, Duyên giác chỉ đoạn tứ trụ
địa phiền não mà không thể đoạn sạch vô minh trụ địa.
Vì vậy không thể gọi Nhị thừa trí là Kim cang dụ trí.
Thanh văn, Duyên giác sở dĩ không thể xứng hợp với đệ
nhất nghĩa trí theo đúng nghĩa Đại thừa. Bởi vì không có
đệ nhị thánh đế trí hay còn gọi là đệ nhất nghĩa trí,
là chỉ Như Lai ứng đẳng chánh giác đã thành tựu viên mãn,
chẳng phải là cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác đạt
đến.
Như
Lai viên thành bất tư nghì không trí, tức là Phật trí bất
khả tư nghì. Trí này không phải phàm phu, nhị thừa, thập
địa cho đến tối hậu thân Bồ Tát có thể nghĩ bàn được.
Không trí tức là Bát Nhã thông đạt nhứt thiết pháp tánh
không. Chỉ có Phật mới hay cứu cánh thông đạt. Không trí
cùng với ý nghĩa Kinh Bát Nhã tương đồng, nhưng khi giải
thích thì ít nhiều có chỗ bất đồng. Nhị thừa chẳng đạt
pháp tánh không. Điều này chẳng đồng với giáo pháp của
Bát Nhã nói tam thừa cùng chứng pháp không. Các nhà Duy Thức
Học cũng nói hành giả Nhị thừa chưa đoạn sở tri chướng,
vì vậy không thể không đạt nhất thiết viên thành
thật tánh pháp không. Kinh này nói cùng với tư tưởng Duy
Tâm Luận tương đồng. Bất tư nghì không trí của Phật đoạn
tất cả phiền não tàng. Tàng có nghĩa tích lũy chứa nhóm,
cũng như kho chứa. Tàng còn có nghĩa là ẩn tàng. Vô minh trụ
địa chứa nhóm rất nhiều, sanh khởi tất cả phiền não
thô tế, nên gọi là nhất thiết phiền não tàng. Nếu cứu
cánh t