Lúc
ấy phu nhân đối trước Phật phát thêm 3 đại nguyện. Dùng
nguyện lực ấy làm lợi ích vô lượng vô biên cho loài hữu
tình :
1.
Nguyện dùng thiện căn này đời đời sanh được chánh pháp
trí.
2.
Được chánh pháp trí rồi, con nguyện sẽ vì chúng sanh giảng
nói không nhàm mỏi.
3.
Vì nhiếp thọ chánh pháp, con nguyện chẳng tiếc thân mạng
mình.
Đợi
hội chúng phát nguyện xong, bà mới khởi xướng tiếp 3 đại
nguyện. 3 đại nguyện này rất quan trọng, nhất là đại
nguyện đầu tiên. Không có đại nguyện này thì các hoằng
thệ trên khó thành tựu. Vì không có CHÁNH PHÁP TRÍ thì không
thể hàng phục 3 nghiệp đến chỗ rốt ráo. Không có CHÁNH
PHÁP TRÍ thì việc lợi ích cho tha nhân cũng bị hạn chế.
Vì sao? Vì lòng nhiệt tình không chưa đủ, cần phải có trí
tuệ thì trên SỰ mới được hanh thông. Ngược lại không
có 10 hoằng thệ làm phương tiện thì việc nguyện cầu CHÁNH
PHÁP TRÍ đây cũng khó mà thành tựu.
1.
Nguyện đời đời sanh được chánh pháp trí.
NGUYỆN
là mong ước. Bà mong ước khi nào sanh ra cũng đều có chánh
pháp trí. CHÁNH PHÁP TRÍ là cái trí thuộc về chánh pháp chứ
không phải là tà pháp. Thấy đúng được thực chất của
vạn pháp là mình đang có CHÁNH PHÁP TRÍ. [26] Tuy là nguyện
nhưng điều nguyện ấy phải thành sự thật. Vì thế, nó
được đổi bằng phước đức và trí tuệ mà bà đang có,
đang làm và sẽ làm, thông qua 10 hoằng thệ trên, nên nói
NGUYỆN DÙNG THIỆN CĂN ấy. Không phải chỉ trong hiện tại
hay một vài kiếp mà với tất cả mọi kiếp cho đến khi
thành Phật, nên nói ĐỜI ĐỜI.
DUYÊN
KHỞI là qui luật chi phối tất cả vạn pháp ở thế gian
suốt cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai, được biểu
hiện thông qua NHÂN DUYÊN và NHÂN QUẢ. [27] Nếu ta thực sự
nhìn vạn pháp ở thế gian bằng cái nhìn đó, là ta đang sở
hữu được CHÁNH PHÁP TRÍ. Tùy theo mức độ nhận biết thô
hay tế mà mình có CHÁNH PHÁP TRÍ cạn hay sâu, toàn bộ hay
từng phần. Đây là do mức độ thanh tịnh của tâm.
Như
nói về LÝ NHÂN QUẢ, gọi là nắm được nhân quả là khi
ta có niềm tin và trực nghiệm được nó trong cuộc sống
của chính mình. Như nghe dạy bố thí cúng dường thì được
đầy đủ. Thực hiện nó, mình thấy đúng như vậy. Vì thế,
mình tin và tiếp tục sống với niềm tin đó. Việc này bồi
tiếp việc kia, niềm tin được củng cố bằng hiện thực,
hiện thực làm tăng trưởng niềm tin. [28] Song đó chỉ là
ngay nơi quả mà nghiệm quả. Còn thấy ngược trở lại cội
nguồn của những thứ đó, thấy cho được cái nào là nhân
của cái nào, vì sao biết bố thí là nhân của sự giàu sang
thì chỉ có Phật và các bậc thánh mới thấu được. Nên
cũng cùng là cái nhìn Nhân Quả, nhưng mức độ cạn sâu đã
có khác nhau. Duyên Khởi cũng vậy … [29]
Có
CHÁNH PHÁP TRÍ thì mình có cái nhìn đúng đắn đối với
vạn pháp ở thế gian. Đó là yếu tố giúp mình có cuộc
sống thái bình, an lạc. Thế giới ngày nay tranh tàn, gây hấn
là do không nắm được qui luật đang chi phối sâu xa thế
giới và mọi loài chúng sanh đây. Muốn cái quả là hoa nhưng
lại gieo cái nhân cỏ. Muốn giàu sang nhưng không gieo nhân
bố thí, cúng dường, lại gieo cái nhân trộm cướp, tham nhũng,
lừa gạt v.v... Ngược lại nhờ biết ứng dụng NHÂN DUYÊN
rộng rãi mà các ngành khoa học, kỹ thuật v.v… phát triển
vượt bực.
Theo
kinh Lăng Nghiêm và luận Đại Thừa Khởi Tín, cội nguồn
tâm thể của một chúng hữu tình vốn thanh tịnh trùm khắp,
nhưng vì không tánh nên không tự giữ, bất giác mà sinh cái
thấy hư vọng cùng cảnh giới hư vọng như hiện nay. CÁI
THẤY HƯ VỌNG, chỉ cho cái thấy của mình đây, thuộc về
tâm. CẢNH GIỚI HƯ VỌNG là chỉ cho thân căn và thế giới
mà mình đang thọ nhận. Gọi là HƯ VỌNG vì nó có tướng
mà không có tánh. Như người tỉnh mà mê rồi thấy hiện
ra mọi thứ trong mộng. Hoặc như đi trong sa mạc khát qua mà
thấy nước. Tuy hư vọng nhưng vì không biết là hư vọng,
nên trên cảnh hư vọng ấy lại sinh phân biệt ta, người,
tốt, xấu … rồi tạo nghiệp luân chuyển trong 6 đường.[30]
Hành động nào được huân tập nhiều, đủ duyên sẽ có
sức mạnh biến hiện ra cảnh giới đó để mình thọ nhận.
Như huân tập những chủng nhân tham lam, đố kỵ, sân giận
thì tự tâm sẽ biến hiện ra thân tướng cùng các cảnh giới
đau khổ như địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ hay những loại
‘địa ngục trần gian’ mà mình đang thấy hiện nay.
Không
có thói quen tạo ra những chủng nhân đó thì không có các
cảnh giới đó. Đây là lý do vì sao trong Phật pháp không
lấy tứ cú[31] ấn định cho thực tánh của vạn pháp.
Bởi vạn pháp không tánh, chỉ tùy duyên mà thấy có, thấy
không v.v…
Như
vấn đề địa ngục, không thể khẳng định là có hay
không. Nếu mình từng gây nhân địa ngục thì đủ duyên,
mình sẽ có cảnh giới địa ngục để mà thọ nhận. Nếu
mình không gây chủng nhân địa ngục thì không bao giờ mình
có cảnh giới địa ngục. CÓ với người có chủng nhân đó,
KHÔNG với người không có chủng nhân đó. Gặp được nhau
là vì cùng có chủng nhân nào đó với nhau. Mọi thứ đều
từ tâm, theo thức mà có sai khác, nên nói TAM GIỚI DUY TÂM,
VẠN PHÁP DUY THỨC.
Do
cái thấy trên mà thế gian dưới mắt Phật Tổ chỉ là một
trường đại mộng. Mộng, thành đủ duyên thì thấy có TƯỚNG
nhưng TÁNH thì không. Vì thế mới có khái niệm DUYÊN KHỞI
- KHÔNG TÁNH. Pháp không tánh mới duyên khởi được. Thấy
pháp duyên khởi thì biết là pháp không tánh.
Cái
nhìn DUYÊN KHỞI - TÁNH KHÔNG thâm sâu hơn cái nhìn NHÂN DUYÊN
- NHÂN QUẢ nói trước. Đây là lý do vì sao trí tuệ của
Nhị thừa không sánh được với trí tuệ của các vị Bồ
tát đăng địa và chư Phật. Nhị thừa chỉ mới thấy được
NHÂN DUYÊN - NHÂN QUẢ nhưng chưa thấu được THỰC TƯỚNG
của NHÂN DUYÊN - NHÂN QUẢ, chưa thấy được mặt huyễn hóa
của vạn pháp. Đó là do chưa thấu được TÂM THỂ thanh tịnh
trùm khắp, là cội nguồn chân thật của mọi loài chúng sanh
cũng như cảnh giới thế gian và niết bàn mà các vị đang
thọ nhận. Phần sau của kinh này gọi CỘI NGUỒN ấy là TRÍ
TÁNH KHÔNG, chỉ cho nhân Phật tánh mà cái quả chính là niết
bàn Như Lai Tạng.
Loại
CHÁNH PHÁP TRÍ thâm sâu nhất, gọi là Nhất Thiết Chủng Trí,
chỉ cho trí tuệ Phật. Chính là TRÍ TÁNH KHÔNG đó thôi, nhưng
bây giờ TƯỚNG và DỤNG của cái THỂ ấy đã hiển bày đầy
đủ. Loại CHÁNH PHÁP TRÍ này chư vị Bồ tát ở các địa
trên đã có, nhưng không được viên mãn và đầy đủ như
ở Phật. Nó là cái trí chiếu soi thẩm thấu tất cả dù
là chỗ vi tế nhất.
Trong
tất cả SỰ từ việc tu hành, làm lợi ích cho tha nhân, cho
đến các việc trong đời sống thường nhật đây, CHÁNH PHÁP
TRÍ càng thâm sâu thì trên SỰ mình càng ít lầm lẫn, việc
lợi ích cho tha nhân dễ có kết quả. Như với việc tu hành,
nắm được NHÂN QUẢ tức biết nhân nào quả nấy thì mình
không gieo lộn nhân để trơ mắt chờ cái quả không bao giờ
có. Như giáo lý của một ngoại đạo ngày xưa nói “Muốn
hết tội lỗi đã gây trước đây thì phải vùi mình trong
cát nóng”. Nắm được nhân quả, mình hiểu vùi mình trong
cát nóng chỉ là cái nhân của phỏng da ngứa ngáy chứ tội
lỗi không thể hết. Muốn hết tội lỗi, phải sám hối ở
tự tâm, tức “Sám lỗi trước, chừa lỗi sau” thì tội
nghiệp mới tiêu trừ. Nhân quả trước sau rất rõ ràng. Dù
không biết đạo chăng nữa, mình cũng thấy được tính hợp
lý và bất hợp lý trong mỗi lời nói.
Hoặc
như việc tu Phật. Phật chính là cái KHÔNG thanh tịnh trùm
khắp của tâm. Phật với 32 tướng tốt chỉ là sở hiện
của tự tâm mà thôi. Nói cách khác, Phật chính là cái tâm
không sanh không diệt của chính mình. Nhưng vì không tỉnh,
mình đã nhận những cái sanh diệt như buồn, vui, suy nghĩ
v.v… là mình mà bỏ mất cái tâm chân thật. Vì vậy, muốn
làm Phật thì việc tiên quyết là làm sao LY cho được những
tâm niệm sanh diệt. Nghĩa là, cái sanh diệt ở tâm phải hết,
cái không sanh diệt của tâm mới hiển bày. Nhân là vô sanh
thì quả mới vô sanh. Nhân là Phật tánh thì quả mới là
niết bàn Phật. Những thứ như học hỏi, kiến thức, việc
phước thiện, dịch kinh, giải luận chỉ là phương tiện
để mình có điều kiện làm lợi ích cho tha nhân, là phương
tiện giúp mình LY dần những sanh diệt của tâm phàm phu để
đi lần về cái không sanh diệt. Chỉ là nhân duyên gián tiếp
giúp mình qua đò được dễ dàng, không phải là điều kiện
tiên quyết cho việc làm Phật. Muốn làm Phật phải quét đi
những tâm niệm sanh diệt, phải nhận cho ra TÁNH thật của
những thứ đó. Thành làm việc phúc thiện nhiều bao nhiêu
mà cái sanh diệt của tâm không chịu LY thì không thể thành
Phật. Cũng như muốn thành A La Hán mà lấy một mớ chữ nghĩa
rậm như rừng Phi châu làm nhân, còn việc thiền định lại
bỏ mặc thì quả A La Hán không bao giờ với tới.
Việc
làm lợi ích cho tha nhân cũng vậy. Nắm được NHÂN DUYÊN
- NHÂN QUẢ, việc làm của mình sẽ có hiệu quả và ít vướng
vào những chuyện không đâu. Như việc nhiếp hóa tha nhân.
Nắm được Nhân Duyên, mình sẽ hiểu có duyên mới độ được
người, không duyên thì đầy đủ lực dụng thần thông như
Phật cũng chịu. Đức Phật không độ được bà già nhưng
vị đệ tử nhỏ nhất tăng đoàn lại độ được bà già.
Huệ Minh dưới trướng Ngũ Tổ bao năm cũng chỉ là kẻ đứng
ngoài cửa. Lục Tổ Huệ Năng chỉ đến nhà trù 8 tháng, đã
là kẻ nắm được huyết mạch của Tổ Thầy, cũng chính
là người khiến Huệ Minh sáng tâm. Có cái nhìn NHÂN DUYÊN
rồi, mọi sự ở đời không có gì để thắc mắc. Đủ nhân
đủ duyên thì pháp hiện hình. Không đủ nhân đủ duyên thì
pháp liền không. Công hạnh của một vị Bồ tát chỉ là
gieo cái nhân, giúp thêm cái duyên để hy vọng sự việc được
tiến triển tốt đẹp. Chư vị không phải là yếu tố quyết
định để người này được hạnh phúc hay người kia phải
đau khổ. Hạnh phúc hay đau khổ còn lệ thuộc vào bản thân
của chúng hữu tình đó.
Hoặc
như lời nguyện của phu nhân Thắng Man “Nếu gặp những
ai không nơi nương tựa, bị các thứ tối tăm ràng buộc,
bịnh tật, ưu não, nguy ách thì con chẳng bao giờ bỏ rơi
họ, nguyện sẽ làm cho họ được an ổn, dùng nhiều điều
lợi ích khiến họ hết khổ”. Song người ta chỉ thật sự
hết khổ khi và chỉ khi suy nghĩ và hành động của họ hướng
thiện. “Có phước nắm gạch thành vàng. Không phước nắm
vàng thành gạch”. Nắm được nhân như thế mới cho ra quả
như thế thì việc làm của mình mới có đầu đuôi rõ ràng,
mình mới làm tròn những điều mà mình đã nguyện. Giúp đỡ
tiền bạc chỉ là phương tiện ban đầu. Chủ yếu là làm
sao để người hướng thiện và làm thiện. Nếu cho việc
giúp đỡ tiền bạc vật chất là việc làm rốt ráo
có thể mang lại hạnh phúc lâu dài cho người thì chưa chắc.
Vì sao? Vì pháp không có xấu tốt, nhưng lòng tham của con
người là vô hạn nên tiền bạc vật chất trở thành con
dao hai lưỡi. Không khéo, mình lại đẩy họ loanh quanh mãi
trong bể khổ trầm luân túng thiếu chứ không hẳn đã “Làm
cho họ được an ổn, dùng nhiều điều lợi ích khiến họ
hết khổ”.
Do
một tai nạn, cô gái bị chấn thương cột sống và nằm luôn
một chỗ. Phường khóm giúp đỡ bằng cách cho một mảnh
đất dựng tạm cái chòi để hai mẹ con có chỗ che nắng
che mưa. Bà con làng xóm thì chăm sóc công không và bưng cơm
đổ cứt cho cô gái thay người mẹ già. Việc đó được
lan truyền, các nhà mạnh thường quân tới lui nhộn nhịp.
Trong đó có người thân của tôi. Cái kết cuộc mà tôi nghe
được từ người thân là “Bây giờ những kẻ tốt bụng
trước kia đã thành những tay chủ thầu. Tiền của những
mạnh thường quân chính là động lực khiến sự việc trở
nên tồi tệ. Luôn có một người đàn ông lấp ló canh giữ
để thu giữ những đồng tiền ấy. Cô gái không còn như
xưa, bây giờ đã có những biểu hiện đòi hỏi, than van và
những giọt nước mắt không thành thật”. Cái đáng tội
ấy có lẽ là do áp lực của những người chung quanh. Tiền
bạc cũng bắt đầu vơi bớt vì không ai thích lòng tốt của
mình bị lợi dụng.
Kể
ra đây, không phải để mình hạn chế đi sự giúp đỡ người
khác mà để thấy, thương người bằng cách đó thôi chưa
hẳn đã làm lợi ích thiết thực cho người. Có thực mới
vực được đạo nên bố thí tài vật hay tiền bạc luôn
là bước đầu cần thiết để người người có nhân duyên
với nhau, nhưng nó chưa hẳn là thứ quyết định để mọi
việc trở thành tốt đẹp. Đây là điều đòi hỏi mình phải
có CHÁNH PHÁP TRÍ để nhìn sự việc cho đúng đắn.
Sau
là nói về vấn đề DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH.
Như
trên đã nói, mọi thứ ở thế gian đều do huân tập mà thành.
Nghĩa là mọi thứ từ sự vật cho đến con người và luôn
cả vũ trụ đây, không thứ nào có tánh. Cái mình gọi là
TÁNH chẳng qua chỉ là những thứ được huân tập nhiều
thành thói quen, rồi gọi cái thói quen ấy là tánh. Hoặc do
một duyên nào đó pháp hiện tướng rồi mình tưởng cái
tướng ấy là tánh của pháp. Nắm được cái không tánh này,
mình mới dám kiên trì chuyển hóa chính mình và giúp người
chuyển hóa. Việc tu hành mới không bị dở dang.
Như
người hay la hét, vì la hét đã thành thói nên đụng chuyện
là la hét nổi lên. Giống như người nghiện ma túy hay nghiện
rượu, tới cơn là phê. Vì nó được lặp đi lặp lại trường
kỳ, lại là thứ tưởng chừng như không thể bỏ, nên mình
cho những thứ được huân tập ấy là TÁNH của pháp. Gọi
là TÁNH vì nó mang tính không đổi.
Thật
ra thứ gì cũng bỏ được, vì tất cả đều không tánh. Không
tánh thì không có cái “không đổi”. Chỉ cần ý thức và
có biện pháp để dừng đi thói quen, thì thói quen ấy sẽ
hết. Song đã là thói quen thì cần rất nhiều thời gian để
thay đổi. Không thể ngày một ngày hai mà có kết quả liền
được. Nắm vững mặt không tánh cũng như tính huân tập
của vạn pháp như vậy, mình mới có đủ niềm tin và nhẫn
lực khi nhiếp hóa chính mình, mới bình thản với những khó
khăn khi cần chuyển hóa một lối sống hay một tư tưởng
của tha nhân.
Trường
học, tùng lâm hoặc các trại cải tạo nhân phẩm được
lập ra đều do ứng dụng cái DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH này
của vạn pháp. KHÔNG TÁNH nên không có gì không thay đổi
được. DUYÊN KHỞI thì cùng một nhân nhưng nếu duyên khác
đi thì quả cũng sẽ khác. Dù bản tánh xấu xa bao nhiêu mà
thay đổi đi các duyên chung quanh như môi trường, con người,
phương cách sống v.v… thì cái quả nhận được cũng sẽ
khác. Vấn đề là ở ý chí và thời gian.
Với
những người không biết đạo, việc ứng dụng này là kết
quả của nhiều thử nghiệm trước đó. Với người hiểu
đạo, lập định mọi thứ là do nắm được mặt NHÂN DUYÊN
và KHÔNG TÁNH này của vạn pháp. Dạy người tránh ác làm
lành, tu hành v.v… đều là căn cứ vào tính HUÂN TẬP và
KHÔNG TÁNH của vạn pháp mà lập để đời sống của người
được an lạc hạnh phúc, xã hội được yên bình, thiên tai
hoạn nạn đỡ xảy ra. Căn tánh của chúng sanh vô vàn sai
biệt nên hóa thân và phương tiện của chư vị Bồ tát cũng
đầy dẫy sai biệt.
Là
pháp DUYÊN KHỞI nên pháp nào cũng có mặt đối đãi của
nó. Có khi cùng một nội dung mà có hai hình tướng hoặc
cùng một hình tướng mà có hai nội dung. Như đều là biểu
hiện của VIỆC LỢI ÍCH CHÚNG SANH nhưng không phải chỉ có
hình thức nhẹ nhàng mới biểu hiện được điều đó, còn
la rầy thì không. Không phải chỉ có những hình thức mang
lại niềm vui cho người trong hiện tại mới là làm lợi ích
cho người, còn những hình thức gây đau khổ cho người không
phải là làm lợi ích cho người. [32] Ngược lại, hình tướng
la rầy cũng có thể biểu hiện cho tình thương mà cũng có
thể biểu hiện cho sự oán ghét. Do tính đa dạng như vậy
của pháp mà ngay nơi cách nhìn của mình đối với vạn sự
vạn vật, đã cần đến CHÁNH PHÁP TRÍ, huống là việc nhiếp
thọ chúng sanh với vô vàn hình thức và chủng duyên sai biệt.
Song sai biệt đa đạng bao nhiêu, chỉ cần có CHÁNH PHÁP TRÍ
thì mọi việc liền xong. Trí phân biệt càng giảm thì CHÁNH
PHÁP TRÍ càng thâm sâu. Ứng duyên liền cảm. Có cảm liền
ứng. Những hình thức có khi mình thấy xấu nhưng vô tâm
và sử dụng đúng duyên thì mọi thứ vẫn thành tốt đẹp.
Thiền
sư Sengai một đêm đi giám thị phòng ngủ, thấy một đệ
tử vắng mặt. Ông bắt gặp chiếc ghế đã giúp cậu ta leo
qua tường ra ngoài. Ông cất ghế và đứng vào đó. Trở về,
cậu đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống đất. Cậu
hoảng sợ khi thấy mọi việc bị bại lộ. Nhưng Sengai nhỏ
nhẹ bảo “Sáng sớm nay trời rất lạnh, con cẩn thận kẻo
bị cảm”. Từ đó, người đệ tử không bao giờ ra đường
vào ban đêm.
Ngược
lại, thiền sư Ekido lại giống như một bạo chúa. Do bận
tâm theo dõi một cô nàng ở cổng đền nên đệ tử ông đã
đánh sai chuông báo thức lúc trời sáng. Ekido xuất hiện và
phan cho cậu một gậy khiến cậu lăn quay. Cái chết của vị
đệ tử chẳng khiến Ekido bận lòng, nhưng 10 vị đệ tử
còn lại thì đều đắc đạo vì quá khiếp đảm.
Đây
chỉ dùng tạm vài luận giải và ví dụ để ta hiểu mức
quan trọng của CHÁNH PHÁP TRÍ, để hiểu vì sao phu nhân Thắng
Man nguyện đời đời sanh ra chỗ nào cũng có CHÁNH PHÁP TRÍ.
Còn CHÁNH PHÁP TRÍ không phải là những kiến thức lụn vụn
đó. Thứ gì từ cửa vào thì không phải là của báu trong
nhà. CHÁNH PHÁP TRÍ là phần trí có được do sự tu tập từ
bản thân. Tâm thanh tịnh thì bản trí xuất hiện.
Biết
rõ ràng và chính xác về những ưu cũng như khuyết điểm
của chính mình, biết cái gì là tốt cho mình, cái gì không
cần thiết với mình, biết cái gì nên làm, cái gì không nên
làm, cái gì nên nghe, cái gì cần giữ vững lập trường ...
chính là bước đầu của cái gọi là có CHÁNH PHÁP TRÍ.
2.
Giảng nói không biết mệt mỏi.
GIẢNG
NÓI đây có 2 cách : Một là bằng ngôn ngữ và chữ nghĩa.
Hai là bằng chính hành động và cách sống của mình. Tùy
duyên mà sử dụng các phương thức ấy. Với người thích
nghe thì nói. Với người thích tham khảo sách báo thì viết.
Với người chỉ có hành động cụ thể mới có thể nhiếp
hóa được họ thì dùng cách sống của mình để mà nhiếp
hóa.
Nói
KHÔNG BIẾT MỆT MỎI là nói đến khi nào hết nói được
thì thôi. Kiếp này hết duyên chưa kịp nói thì sang kiếp
sau nói tiếp. Cứ có miệng là có nói, có tay là có viết.
Nói đến khi nào thiên hạ chịu hướng thiện và làm thiện.
Hướng thiện làm thiện rồi nói tiếp cho đến khi thiên hạ
thành Phật. Nói không biết mệt mỏi, nói không có thời hạn
… nhưng đúng lúc, đúng thời, đúng duyên và vừa đủ. Người
muốn nghe mà mình nói là nhân duyên quá tốt. Nhưng người
không muốn nghe mà đúng lúc cần nói thì cũng cứ nói. Tổ
Ấn Quang, tông Tịnh Độ nói “Phàm người đáng nói thì
dù cho đối nghịch với ta cũng phải vì người mà nói, khiến
người gặp được điều lành, tránh xa điều dữ, lìa khổ
được lạc”.
GIẢNG
NÓI không phải vì nhiều chuyện, không phải vì tịnh không
được, mà nói để mong được chút lợi ích nào đó cho mọi
người, nên việc GIẢNG NÓI KHÔNG BIẾT MỆT MỎI đây chỉ
được thực hiện sau khi đã có chánh pháp trí. Vì phải có
chánh pháp trí thì lời nói của mình mới “không bạ đâu
nói đó”. Nói theo kiểu “Cúng quýt sẽ làm cho người chết
không siêu thoát được” hay “Phật tánh biết đi” là nói
mà không có chánh pháp trí. Dạy người lầm nhân lộn quả
như thế là dạy người trực chỉ về 3 đường dữ. Mình
thê thảm mà người cũng thê thảm lây. Nói chung, chưa có
chánh pháp trí thì im lặng khi nào cũng là … vàng.
3.
Chẳng tiếc thân mạng để nhiếp thọ chánh pháp.
Lời
nguyện thứ 3 là dù phải hy sinh thân mạng này để nhiếp
thọ chánh pháp thì cũng phải hy sinh. Như đã nói, CHÁNH PHÁP
là chỉ cho Đại thừa. Chính xác hơn là chỉ cho ông Phật
của chính mình. NHIẾP THỌ là nhận lãnh, giữ gìn. Sống
được với tâm Phật ấy chính là NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP.
Muốn sống được với tâm Phật rộng lớn của mình thì
phải buông đi cái tôi vị kỷ nhỏ hẹp. Không coi trọng thân
bên ngoài thì cái tinh túy bên trong mới phát ra được. Nhưng
nhớ, không coi trọng và giữ thân để có phương tiện tu
hành là 2 thứ hoàn toàn khác nhau.
Hồi
mới đến với đạo, tuy đã hành thiền nhưng cái tật hay
soi gương thì tôi không bỏ. Rất thích soi gương dù thân tướng
không có gì đẹp đẽ. Một đêm, đang mơ mơ màng màng thì
tôi nghe có người nói bên tai “Thân đó mà không để nó
lụi tàn đi thì cái tinh túy bên trong không bao giờ phát được”.
Suốt ngày cứ soi tới soi lui như thế là do mình yêu thích
cái thân. Tu mà còn thích thân thì gặp khó sẽ nản, thấy
bịnh sẽ lùi. Song không có tâm dám bỏ thân trên bồ đoàn
thì cái tinh ba của chính mình không bao giờ hiển lộ. Vì
thế, muốn nhiếp thọ chánh pháp thì đừng tiếc thân mạng.
Tâm
Phật đã hiển bày thì trí tuệ và từ bi phải xuất hiện.
“Nguyện hóa độ chúng sanh đến tận vi lai chẳng sót một
ai khiến họ đều được vô dư niết bàn” là việc mà một
vị Bồ tát phải làm để hoàn thành con đường Phật đạo
của mình, để trí tuệ được viên mãn. Chánh pháp là thứ
đi ngược lại với tánh dục của chúng sanh, nhiếp hóa họ
về vô dư niết bàn không phải là việc làm trong một sớm
một chiều, không phải là việc làm dễ dàng hay vui sướng.
Rất nhiều chướng ngại và gian nan. Tiếc thân mạng thì thấy
khó sẽ bỏ, thấy chướng đành buông v.v… Vì thế, muốn
nhiếp hóa chúng sanh thì không thể coi trọng thân này. Không
trọng thân thì mới dám nói và dám làm.
Xưa
đại sư Trí Khải nghe kinh Lăng Nghiêm là một bí truyền rất
quí ở Ấn Độ, nên sớm chiều Sư xoay mặt về hướng tây
thành lễ bái, nguyện kinh sớm được truyền bá đến nước
Sư. Hơn 100 năm sau, có Sa môn Bát Thích Mật Đế mang kinh đến.
Nhưng vì lệnh cấm ở Ấn Độ quá nghiêm ngặt, nên muốn
mang kinh đến, Bát Thích Mật Đế đã phải xẻ thịt bắp
đùi nhét kinh bằng lụa mỏng vào rồi băng lại, vượt biển
mà đến đất Huệ Thành.
Kinh
luận là phương tiện lưu truyền của chư Phật, là thứ giúp
chúng sanh nghĩ thiện và làm thiện, cũng là thứ dùng để
ấn chứng cho việc tu hành. Lưu truyền kinh rộng rãi là tạo
cơ hội để người hết khổ và có phương tiện nhập đạo.
Nếu ngài Bát Thích Mật Đế quí thân mạng thì kinh không
có điều kiện để lưu truyền rộng rãi, việc lợi ích tha
nhân bị hạn chế. Vì thế, muốn nhiếp thọ chánh pháp thì
không thể lẫn tiếc thân mạng.
Thế
Tôn nghe lời nguyện ấy xong, bèn nói với phu nhân “Như tất
cả sắc đều nằm trong không giới. Cũng vậy, các nguyện
nhiều như cát sông Hằng của chư Bồ tát đều nằm trong
nguyện này. 3 nguyện này là chân thật quảng đại”.
Đây
là lời ấn chứng của Thế Tôn, xác định chỉ cần phát
3 đại nguyện này là đủ tất cả các đại nguyện khác.
Nói CHÂN THẬT vì với 3 đại nguyện ấy, Bồ tát sẽ đạt
được chỗ cứu cánh viên mãn. Nói QUẢNG ĐẠI vì nó rộng
lớn và bao trùm tất cả.
Phu
nhân nương thần lực của Phật nói về nghĩa quảng đại
của việc nhiếp thọ chánh pháp. Qua đó nêu bày thực tướng
của người nhiếp thọ chánh pháp, nhiếp thọ chánh pháp và
chánh pháp. Hiển bày mối liên hệ mật thiết giữa nhiếp
thọ chánh pháp, Đại thừa và Ba la mật. Dùng 6 độ Ba la
mật xả bỏ thân, mạng và tài sản để hoàn thành đại
nguyện nhiếp thọ chánh pháp
Phu
nhân Thắng Man lại bạch với Phật “Nay con muốn nương vào
lực oai thần biện tài của Phật nói về đại nguyện. Mong
Thế Tôn rủ lòng chấp thuận”.
Phu
nhân xin phép Phật giảng nói về đại nguyện. Thần lực
của Phật với dụng Phật tâm của bà không khác nên nói
NƯƠNG VÀO THẦN LỰC.[33] Điều bà sắp nói thuộc về
phần giáo nghĩa thâm sâu, không có phần DỤNG Phật tâm này
thì việc nói ấy không thể thấu đáo và không tránh được
sự lầm lẫn. Nên trước mỗi phần giảng thuyết bà lại
nói “Nương vào lực oai thần của Phật”.
Phật
nói với Thắng Man “Bà cứ nói tùy ý”.
Phật
gật đầu chấp thuận. NÓI TÙY Ý là cứ nói theo ý của bà,
muốn nói gì đó nói.
Phu
nhân Thắng Man nói “Bồ tát có các nguyện nhiều như cát
sông Hằng. Tất cả đều nằm trong một đại nguyện. Đó
là nhiếp thọ chánh pháp của Như Lai. Thế đó, nhiếp thọ
chánh pháp chân thật quảng đại”.
Trước
khi giải thuyết rộng về nghĩa ĐẠI NGUYỆN, bà thâu tóm
và mở đầu “Tất cả đều nằm trong một đại nguyện.
Đó là nhiếp thọ chánh pháp của Như Lai”. Nghĩa là con chỉ
cần nói về nghĩa của NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP là xem như nói
đủ tất cả mọi đại nguyện. Nhiếp thọ chánh pháp bao
trùm hết tất cả nên bà cũng chỉ làm một việc là nhiếp
thọ chánh pháp mà thôi.
Nhiếp
thọ chánh pháp có 2 phần :
1.
Sống được với Phật tâm của chính mình.
2.
Dùng bi nguyện nhiếp thọ những người hữu duyên.
Những
phần bà nói sau sẽ loanh quanh trong 2 vấn đề ấy. Bà sẽ
phân tích lý giải để hành giả tu hành nhận hiểu chánh
pháp không sai lầm, để biết việc tu hành của hành giả
đã đến đâu, tránh tình trạng biết ít cho là nhiều, chưa
được mà tưởng được, khiến công phu bị đình trệ, việc
tu hành thành dở dang. Bởi chí nguyện dù cao cả bao nhiêu
mà đường lối không rõ ràng, những diễn biến phức tạp
của tâm không nắm được, dụng thuốc không đúng bịnh thì
việc thực hành theo đó sẽ đình trệ. Chí nguyện cao cả
ấy cũng có ngày lụi tàn. Việc này không phải ít gặp ở
người thời nay.
Phật
nói “Lành thay, Thắng Man! Bà tu tập đã lâu, trí tuệ cùng
phương tiện sâu xa vi diệu. Hiểu được những nghĩa mà bà
đã nói phải là người đã đêm dài trồng sâu các căn lành.
Nhiếp thọ chánh pháp như bà nói đó là việc mà chư Phật
ở quá khứ, hiện tại, vị lai đã nói, nay nói và sẽ nói.
Ta được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề cũng thường dùng
mọi thứ tướng mà nói đến nhiếp thọ chánh pháp. Như vậy,
xưng tán nhiếp thọ chánh pháp thì công đức có được không
có bờ mé. Trí tuệ của Như Lai cũng không có bờ mé. Vì
sao? Vì nhiếp thọ chánh pháp có đại công đức, có đại
lợi ích”.
Đây
là lời tán thán của Phật đối với phu nhân Thắng Man.
TRÍ
TUỆ là chỉ cho cái quả mà bà đã nhận được do công phu
tu tập của mình. SÂU XA VI DIỆU vì TRÍ ấy là DỤNG của
cái THỂ chân tâm mà bà đã chứng nghiệm được. Nhà thiền
gọi nó là trí vô sư, là cái trí không do học hỏi thu gom
từ ngoài vào mà từ trong chính bà. Các kiến giải tu chứng
ấy không ngoài những gì Như Lai đã nói trong kinh. Song kinh
bây giờ là thứ dùng để ấn chứng chứ không phải là thứ
để học hỏi. Đây là lý do vì sao Phật nói trí ấy sâu
xa vi diệu.
Những
thứ trợ giúp để bà có được trí vô sư như pháp môn,
công hạnh v.v... gọi là PHƯƠNG TIỆN. [34] Do biết dùng phương
tiện đúng thời, trị đúng bịnh, buông đúng lúc nên nói
SÂU XA VI DIỆU.
ĐÊM
DÀI là chỉ cho sự miệt mài, chăm chỉ, không hề ngơi nghỉ.
“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Phải cùng
trình độ với nhau thì mới cảm thông được nhau. Không thì
như anh học lớp ba mà nghe chàng lớp sáu nói chuyện về toán
học của lớp sáu. CĂN LÀNH đây không phải chỉ cho việc
lành của người làm phước thiện mà chỉ cho người tu pháp
Đại thừa. Cúng dường, bố thí nhiều bao nhiêu mà trí tuệ
không có thì đọc kinh đọc luận như đọc thần chú. Úm
lam xóa ha, Úm lam xóa ha … Đọc thì đọc rất xuông nhưng
hiểu thì để dành cho chư Phật Tổ. Đại loại là vậy.
Phật
xác nhận những điều phu nhân nói : Việc mà phu nhân sắp
nói chính là việc mà ba đời chư Phật đều nói. Đức Phật
cũng chỉ nói về điều đó mà thôi. Nói tây, nói đông, nói
kinh, nói luận, nói đủ thứ trên đời … chỉ để qui về
một mối là nhiếp thọ chánh pháp, nên nói DÙNG MỌI THỨ
TƯỚNG mà nói đến nhiếp thọ chánh pháp.
Nhiếp
thọ chánh pháp thành công thì trí tuệ Phật hiển bày với
vô vàn công đức vi diệu. Đó là lý do vì sao nói xưng tán
nhiếp thọ chánh pháp thì có vô vàn công đức. Trí tuệ Như
Lai không lệ thuộc trong không gian và thời gian nên nói KHÔNG
CÓ BỜ MÉ.
Phu
nhân Thắng Man lại bạch Phật rằng “Thế Tôn! Con sẽ nương
vào lực oai thần của Phật mà thuyết về nghĩa QUẢNG ĐẠI
của nhiếp thọ chánh pháp”.
Phật
bảo “Bà cứ nói”.
Phật
cho phép.
Thắng
Man thưa “Nghĩa QUẢNG ĐẠI của nhiếp thọ chánh pháp là,
vì được vô lượng tất cả Phật pháp, có thể nhiếp thâu
8 vạn hành uẩn. Thí như vào thuở kiếp sơ nổi lên các loại
mây màu mưa các mưa báu. Mây thiện căn nhiếp thọ chánh pháp
cũng như thế, có thể mưa vô lượng mưa phước báu.
Đây
là ví dụ thứ nhất dùng để dụ cho nghĩa QUẢNG ĐẠI đầu
tiên của việc nhiếp thọ chánh pháp. QUẢNG là rộng, ĐẠI
là lớn. Nói về nghĩa QUẢNG ĐẠI của nhiếp thọ chánh pháp
là làm rõ cái nghĩa “Vì sao nói nhiếp thọ chánh pháp là
quảng đại, là chân thật”.
HÀNH,
chỉ cho sự dịch chuyển. UẨN, chỉ cho sự nhóm họp. HÀNH
UẨN là chỉ cho tất cả mọi hiện tướng có tính dịch chuyển
dời đổi, là chỉ cho pháp hữu vi.
Nói
QUẢNG ĐẠI, vì nhiếp thọ được chánh pháp thì có thể
sở hữu được tất cả pháp hữu vi, được vô lượng tất
cả Phật pháp. Vì sao? Vì nhiếp thọ chánh pháp là trở về
được với tâm chân thật của chính mình, mà tâm chân thật
ấy lại chính là tánh của tất cả pháp, nên nói “Được
vô lượng tất cả Phật pháp …”
Trong
kinh Lăng Nghiêm, Phật dùng hình ảnh biển lớn và hòn bọt
nhỏ để ví cho sự mê muội của chúng sanh. Chúng sanh mê
muội nên chỉ nhận hòn bọt nhỏ làm mình mà bỏ mất biển
lớn. Nhiếp thọ chánh pháp là trở lại với hình tướng
biển lớn ấy. Cái rộng lớn mênh mông ấy chứa không sót
thứ gì. Các thiện căn công đức của trời, người, Bồ
tát v.v… đều không ngoài cái biển lớn ấy. Phước báu
vô lượng nên nói MƯA VÔ LƯỢNG MƯA PHƯỚC BÁU.
Thế
Tôn! Cũng như đại thủy thuở kiếp sơ có thể sanh ra ba ngàn
đại thiên giới tạng cùng bốn trăm vạn các châu lục. Nhiếp
thọ chánh pháp cũng như thế, xuất sanh vô lượng Đại thừa
giới tạng cùng với lực thần thông của chư Bồ tát, các
loại pháp môn, đầy đủ các an lạc của tất cả thế gian
và xuất thế gian, tất cả những gì mà trời và người chưa
từng có.
Đây
là ví dụ thứ hai dùng để dụ cho nghĩa QUẢNG ĐẠI thứ
hai của nhiếp thọ chánh pháp.
Thứ
gì có phần hạn không xen tạp lẫn nhau gọi là GIỚI. GIỚI
cũng có nghĩa là nhân, là nhân sinh ra các pháp. TẠNG có nghĩa
là ẩn tàng cũng có nghĩa là tích chứa. Ngài Tuệ Sĩ ghi chú
phần BA NGÀN ĐẠI THIÊN GIỚI TẠNG như sau “Vũ trụ luận
trong thuyết Như Lai Tạng gọi thế giới là giới tạng. Vì
mọi chủng loại đều được sản sinh từ thai tạng của
Như Lai”. Theo cách giải thích đó thì TẠNG là chỉ cho Như
Lai Tạng, là chỗ từ đó có GIỚI. Vậy nghĩa chính của GIỚI
TẠNG nằm ở chữ GIỚI, còn TẠNG là nói về xuất xứ của
cái GIỚI ấy.
Dựa
vào sự giải thích trên thì có thể tạm hiểu về ĐẠI THỪA
GIỚI TẠNG như sau : Những phần hạn hoặc chủng nhân nào
có liên quan đến Đại thừa, gọi là ĐẠI THỪA GIỚI TẠNG.
Giới, định, tuệ, kinh, luật, luận, 18 pháp bất cộng của
Đại thừa, 4 vô sở úy v.v… đều được xem là GIỚI
TẠNG ĐẠI THỪA. Các thứ này nhiều vô số nên nói VÔ LƯỢNG.
Những loại Đại thừa giới tạng đó đều từ Phật tâm
lưu xuất. Nhiếp thọ chánh pháp chính là sống lại được
với Phật tâm ấy, nên nói “Nhiếp thọ chánh pháp cũng như
thế, xuất sanh vô lượng giới tạng Đại thừa, cùng lực
thần thông của chư Bồ tát …”
Cũng
như đại địa gánh vác 4 trọng trách. Thế nào là 4? Một
là đại hải, hai là đồi núi, ba là thảo mộc, bốn là chúng
sanh. Nhiếp thọ chánh pháp cũng như thế. Thiện nam tử và
thiện nữ nhân có thể gánh vác 4 thứ trọng trách dụ như
đại địa kia. Thế nào là 4? Với những kẻ không có bạn
lành, không hiểu biết thường làm việc phi pháp thì dùng
thiện căn của cõi trời người mà thành thục họ. Ai cầu
Thanh văn thì trao cho Thanh văn thừa. Ai cầu Độc giác thì
trao cho Độc giác thừa. Ai cầu Đại thừa thì trao cho Đại
thừa. Đó gọi là nhiếp thọ chánh pháp.
Đây
là ví dụ thứ ba dùng để dụ cho nghĩa QUẢNG ĐẠI thứ
ba của nhiếp thọ chánh pháp.
4 thứ
đại hải, cây cỏ, đồi núi và chúng sanh đều nương đất
mà có, nên nói ĐẠI ĐỊA GÁNH VÁC 4 TRỌNG TRÁCH. Nhiếp thọ
chánh pháp cũng giống như đại địa kia, là chỗ để 4 thứ
nương tựa phát sinh. 4 thứ đó là thiện căn cõi trời người,
Thanh văn, Duyên giác và Đại thừa.
1.
THIỆN CĂN CÕI TRỜI NGƯỜI, là chỉ cho phước báu của thế
gian và chư thiên. Giữ 5 giới, tu 10 thiện, bố thí cúng dường
để cầu sự sung sướng đầy đủ ở thế gian … đều là
pháp giúp ta có được loại thiện căn này.
Giữ
5 giới, 10 giới là dùng để đối trị với các việc không
hiểu biết và phi pháp. KHÔNG HIỂU BIẾT là không biết Lý
Nhân Quả đang chi phối thế gian này, không biết đạo đức
tối thiểu của một con người là trách nhiệm và bổn phận
của mình đối với gia đình và xã hội. LÀM VIỆC PHI PHÁP
là làm những việc trái với đạo đức của con người như
ăn trộm, ăn cướp, giết người, buôn xì ke, bán dâm v.v…
2.
THANH VĂN là chỉ cho người tu lấy quả A La Hán làm chỗ đến
cuối cùng. Nương theo Lý Nhân Quả (TỨ ĐẾ) mà tu.
3.
DUYÊN GIÁC là chỉ cho người tu lấy quả Bích Chi Phật làm
chỗ đến cuối cùng. Nương theo Lý Nhân Duyên (THẬP NHỊ
NHÂN DUYÊN) mà tu.
4.
ĐẠI THỪA là tu để thành Phật. Việc hàng phục tâm được
thực hành cùng với việc làm lợi ích cho tha nhân. Bi trí
đầy đủ mới đạt được quả vị tối cùng.
Đáp
ứng đúng nhu cầu của người thì người mới có tâm thực
hành đến chỗ rốt ráo, vì thế nói “Người cầu Thanh văn
thì trao cho Thanh văn thừa, người cầu … ”. Nghĩa là, tùy
tánh dục và căn cơ của đối tượng mà trao pháp. Thiện
nam tử, thiện nữ nhân nào nhiếp thọ chánh pháp đều phải
gánh 4 trọng trách này. Điều này cho thấy, dù mình tu Đại
thừa chăng nữa, cũng không có nghĩa chỉ có Đại thừa mới
là pháp của Phật. Tùy duyên của từng vị xuất hiện ở
đời mà có vị thì chuyên dạy về thiện pháp của cõi trời
người, vị thì dạy Tiểu thừa, Trung thừa, vị thì dạy
Đại thừa … Nhiều hình thức sai khác như thế nhưng tất
cả đều là pháp của chư Phật, không có thứ nào không phải
là Phật pháp.
Nói
sai biệt là vì ứng với căn cơ của chúng sanh. Như người
học lớp 12 thì phải có chương trình của lớp 12. Nhóc học
lớp 2 thì phải dạy chương trình lớp 2. Có nhiều lớp sai
khác như thế nhưng cuối cùng cũng là tốt nghiệp v.v…
Quan
trọng là phải biết ứng dụng đúng duyên. Đúng duyên là
trình độ nào thì phải học pháp tương ưng với trình độ
ấy. Lớp 12 mà lấy chương trình lớp 2 ra dạy, rồi cho đó
là lớp 12 thì không được. Chư vị thiện tri thức lên tiếng
bài bác cũng vì lý do này không phải do chương trình lớp
2 hay lớp 12 không đúng.
Tương
tự, dù là tu giải thoát hay tu tà tà để làm tiên ở cõi
trần thì đều là pháp của Phật. Song tu phước thì phải
rõ là tu phước mà tu Phật thì phải rõ là tu Phật. Nói tu
Phật mà chỉ lấy mỗi việc phước thiện làm chính còn việc
buông bỏ vọng tâm lại bỏ mặc thì trật. Cũng như Niệm
Phật. Niệm tà tà hay niệm miên mật đều được. Bởi ít
nhiều là tùy mình, hưởng phước lộc thế nào cũng chỉ
là mình, không ai cấm cản hay tranh cạnh gì với mình được.
Nhưng Niệm Phật vài ba chữ một ngày mà nghĩ chết sẽ vãng
sanh cực lạc thì đó là tưởng chứ không phải thật. Tưởng
mà cho là thật, đến khi chết, không thấy mình lên cực lạc
mà chui vào đâu đó rồi nghĩ mình bị gạt, nổi khùng lên
thì sẽ đọa vào đường dữ như ngài Thiện Tinh lầm quả
vị Tứ thiền cho là chứng A La Hán mà đọa địa ngục vậy.
Dụng pháp trật nguy hiểm như thế, nên tuy đồng một đích
đến mà khi còn trong duyên thì phải phân làm 4 thứ rõ ràng.
Thiện
tri thức xuất hiện chính là để điều chỉnh những sai trật
ấy, là đang thực hiện hạnh nguyện như phu nhân Thắng Man
đã nguyện ở phần hai. Đó là tấm lòng của chư vị đối
với chúng sanh trong quá trình thực hiện nhiếp thọ chánh
pháp của các ngài.
Cái
tội của mình là hay lầm giữa cái sai của việc ứng dụng
pháp và pháp. Chư vị phê bình là phê bình việc mình ỨNG
DỤNG pháp sai, nhưng mình lại cho rằng chư vị chê PHÁP mình
đang ứng dụng là sai. Pháp vốn không có tốt xấu. Theo duyên
mà thành tốt xấu. Đúng duyên thì tốt, không đúng duyên
thành xấu. Như việc cầu an, cầu siêu … nếu dùng nó để
nhiếp hóa người, vì tâm người muốn vậy nên tạm dùng
nó để nhiếp hóa rồi từ từ hướng họ về đạo vô thượng
hay dạy họ Lý Nhân Quả … thì không lỗi. Song lấy việc
đó làm sự nghiệp, lâu ngày sự nghiệp ấy trở thành đích
đến, trở thành trụ cột của cả một hệ thống Phật pháp
thì trật. Không hiểu được điều này nên trong môi trường
Phật pháp hay sinh tranh cải thị phi cũng như có cái nhìn thị
phi đối với chư vị thiện tri thức.
Phước
báu trời người, Tiểu thừa, Trung Thừa hay Đại thừa đều
là pháp của Phật. Cũng đều qui về Nhất thừa. Cũng chỉ
để giúp mình nhận ra tâm Phật của chính mình. Song tùy duyên
mà có sai khác. Trong cái duyên là pháp Tiểu thừa thì nó chỉ
là Tiểu thừa. Trong cái duyên là Đại thừa thì nó là Đại
thừa. Đại thừa không thể là Tiểu thừa. Song Tiểu hay Đại
thì rốt cuộc cũng chỉ là phương tiện, cũng đều phải
quăng tất cả để nhập Nhất thừa. Mà nhập Nhất thừa
thì không có thừa để nhập, không có thừa để nương.
Vì thế Tiểu hay Đại không quan trọng. Quan trọng là nó có
trị được bịnh của mình vào lúc mình đang bịnh hay không.
Hết bịnh mới là quan trọng.
Tất
cả pháp đều là Phật pháp nếu mình thấy đúng bản chất
của nó trong cái duyên nó đang an trụ. Không nhìn đúng bản
chất của sự vật thì Phật cũng thành ma.
Nắm
vững được pháp của Phật và biết trao pháp đúng đắn
cho người để người được lợi ích chính là mình đang
thực hành nhiếp thọ chánh pháp.
Các
thiện nam tử và thiện nữ nhân có thể gánh vác 4 thứ trọng
trách dụ như đại địa kia. Thế Tôn! Nhiếp thọ chánh pháp
cũng như thế. Các thiện nam tử, thiện nữ nhân kiến lập
đại địa có thể gánh vác 4 thứ trọng trách. Vì tất cả
chúng sanh mà làm người bạn không mời thỉnh, làm mẹ pháp
ở thế gian, dùng đại bi để lợi ích và thương xót loài
hữu tình. Cũng như đại địa là chỗ sanh ra 4 thứ báu.
Trên
là nêu ra 4 loại Phật pháp từ cạn đến sâu. Đây là vô
đề để qui kết trách nhiệm. Tu Phật thì phải đảm đương
4 loại Phật pháp đó, như đất đảm đương 4 thứ đại
hải, cây cỏ v.v…
KIẾN
LẬP ĐẠI ĐỊA là chỉ cho việc nhiếp thọ chánh pháp của
người tu. Chính là xây dựng lại nền móng cũng như mở rộng
mảnh đất tâm vốn sẵn đủ của mình.
Thói
thường ở đời thì có thích mới có mời thỉnh. Không ai
đi thỉnh thứ mình không thích. Song lợi ích cho chúng sanh
thì không phải chỉ có thuận hạnh mà còn cả nghịch hạnh
nữa. Nghịch hạnh thì chắc chắn không ai ưa, nên nói KHÔNG
MỜI THỈNH. Song dù là thuận hay nghịch thì thiện nam tử
hay thiện nữ nhân ấy đều mang lại lợi ích cho chủ nhân,
nên nói là BẠN. Tóm lại, KHÔNG THỈNH MỜI mang ý nghĩa :
Tùy duyên mà đến để làm lợi ích cho người.
Thói
thường của người đời là người thân thì thứ gì cũng
cho được, còn không thân thì tính toán ngược xuôi, thấy
người khổ thì thương mà thấy người vui vẻ sung sướng
lại cành nanh, ghét bỏ v.v… Đã tính toán và ghét bỏ thì
khó mà nhiếp hóa được người. Vì thế, muốn nhiếp hóa
chúng sanh bằng xương bằng thịt thì phải có ĐẠI BI. Đại
bi là lòng thương xót rộng lớn. Không phải người thân của
tôi tôi mới thương, không phải nghèo đói tôi mới cho, không
phải người cùng khổ tôi mới đoái hoài. Chỉ cần có duyên
chớ không cần thân hay sơ, nghèo hay giàu, cùng khổ hay vui
sướng … Có duyên thì tùy duyên mà làm lợi ích cho người
để dẫn người về đạo vô thượng. Như người mẹ với
tấm lòng rộng mở bình đẳng đối với con cái. Dạy người
những điều hay lẽ phải để người có cuộc sống an vui
nên gọi là mẹ pháp.
Gánh
vác 4 trọng trách thì sẽ cho ra 4 thứ đại báu. Sau sẽ nói
về 4 thứ đại báu đó.
Thế
nào là 4? Một là vô giá, hai là giá cao, ba là giá vừa, bốn
là giá thấp. Nhiếp thọ chánh pháp cũng như thế. Thiện nam
tử, thiện nữ nhân kiến lập đại địa, chúng hữu tình
gặp rồi sẽ thu được 4 thứ báu rất là thù thắng trong
tất cả báu. Thế nào là 4? Các chúng sanh một khi đã gặp
bạn lành thì hoặc thu được thiện căn của cõi trời người,
hoặc chứng Thanh văn, hoặc chứng Bích Chi Phật, hoặc được
thiện căn công đức của Vô thượng thừa. Đó gọi là nhiếp
thọ chánh pháp. Thiện nam tử và thiện nữ nhân kiến lập
đại địa, chúng hữu tình gặp rồi, liền có thể thu được
4 thứ đại báu. Thế Tôn! Xuất sanh đại báu đó gọi là
chân thật nhiếp thọ chánh pháp.
4 thứ
báu từ giá thấp đến giá cao là chỉ cho 4 pháp đã nêu trên.
Thấp nhất là phước báu cõi trời người. Cao nhất là thiện
căn công đức của Vô thượng thừa. Tức chỗ tột cùng của
Đại thừa, là Nhất thừa.
BẠN
LÀNH là chỉ cho thiện nam tử, thiện nữ nhân kiến lập đại
địa, là chỉ chung cho các vị thiện tri thức. Dù là một
bậc tôn trưởng cao cả, một người đầu đường xó chợ
hay một đứa con nít … Người nào giúp mình thấy được
lẽ phải của cuộc sống, người đó gọi là BẠN LÀNH.
Theo
đây thì thấy, gặp được người dạy cho mình làm việc
phước thiện hay tu hành là mình đang có được phước báu
rất lớn. Thiền sư Thánh Nhất nói “Khi pháp bảo đến tai
chính là nhờ kết quả của thiện nghiệp trong quá khứ mà
ta có thể được nghe, rồi hiểu phước đức của mình và
tôn kính pháp. Hạnh phúc thì vô biên và công đức thì vô
lượng!”. Nhờ phước báu đã gieo trong quá khứ, mình mới
nghe được những lời chỉ dạy chân tình. Nghe pháp mà đúng
căn cơ trình độ của mình thì chắc ai cũng nếm qua cái mùi
hạnh phúc vô biên rồi. Nhưng đó là mấy bài pháp không đụng
đến ngã tướng của mình. Còn lời dạy nào đụng đến
ngã tướng hay tật xấu của mình thì cái hạnh phúc kia sẽ
bị bóp méo. Vì thế mình hay có khuynh hướng né xa những
gì làm tổn thương đến mình. Tạo thiện nghiệp để được
phước báu, nhưng khi phước báu đến tai mình lại chối bỏ.
Rất là phí phạm!
Nghe
được những lời dạy làm tổn thương mình mà bình thản
được với những tổn thương ấy, rồi bỏ đi các thói xấu
đang vướng phải mới thật là “Hạnh phúc thì vô biên và
công đức thì vô lượng!”.
Như
vậy người ban ra 4 thứ báu hay người nhận được 4 thứ
báu đều là đang thực hành nhiếp thọ chánh pháp. Chỉ tùy
thô tế mà có cạn sâu. Chỗ xuất sanh đại báu đó gọi
là CHÂN THẬT NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP.
Thế
Tôn! Nói nhiếp thọ chánh pháp đó, không khác chánh pháp,
không khác nhiếp thọ chánh pháp. Chánh pháp tức là nhiếp
thọ chánh pháp. Thế Tôn! Không khác Ba la mật, không khác
nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp tức là Ba la
mật. Vì sao?
NÓI
NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP ĐÓ là nói đến “Chân thật nhiếp
thọ chánh pháp” vừa nói trên. Nếu là chân thật nhiếp
thọ chánh pháp thì nó không khác chánh pháp, không khác nhiếp
thọ chánh pháp. Đây là muốn nói đến thực chất của 3
thứ đó, là chỉ cho cội nguồn chân thật nhất tâm, là TÁNH
THỂ của vạn pháp. Cùng một cội nguồn nên chúng không khác.
Do mê mà có mọi hình tướng khác nhau nên chúng không một.
KHÔNG MỘT CŨNG KHÔNG KHÁC là khái niệm dùng để chỉ cho
thực tánh hay thực tướng của vạn pháp như luận Trung Quán
đã nêu bày.
NHIẾP
THỌ CHÁNH PHÁP là chỉ cho hành động năng nhiếp thuộc về
chủ thể. CHÁNH PHÁP là chỉ cho sở nhiếp, chính là pháp
được nhiếp. Như người tu Thanh văn thừa thì nhiếp thọ
chánh pháp thuộc về hành giả tu pháp Thanh văn đó. Còn pháp
Thanh văn là chánh pháp. Chính xác hơn, tâm năng chứng thì
NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP. Cảnh giới sở chứng là CHÁNH PHÁP.
Trong 3 loại đại báu đầu, ngay cả cảnh giới sở chứng
của các vị Duyên giác vẫn còn trong vòng năng giác sở giác.
Chỉ có hàng Bồ tát thực chứng được cội nguồn chân thật
của vạn pháp thì cái chứng ấy mới không còn năng sở.
Phu nhân muốn nhấn mạnh đến chỗ thực chứng đó, là phần
“NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP không khác chánh pháp, không khác nhiếp
thọ chánh pháp. Chánh pháp tức là nhiếp thọ chánh pháp”.
Đây là mức phải đến của người tu Đại thừa, cũng là
cái nhân vô sanh để có quả là niết bàn Phật. Tuy chánh
pháp có đến 4 nhưng rồi cũng qui về Nhất thừa, nên gọi
là chân thật nhiếp thọ chánh pháp.
Vì
sao đây lập lại 2 lần NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP? Là do chủ
thể năng nhiếp có 2. Tuy đều là năng nhiếp chánh pháp nhưng
trong 2 thứ năng nhiếp này, một là xuất sanh 4 loại báu,
một là nhận được 4 loại đại báu đó. Là năng sở của
nhau, nhưng cả hai đều là năng nhiếp của một cái sở là
chánh pháp. Nghĩa là, loại năng nhiếp thứ hai vừa làm nhiệm
vụ năng nhiếp chánh pháp vừa làm nhiệm vụ sở nhiếp của
cái năng nhiếp thứ nhất. Vì thế nói “Nhiếp thọ chánh
pháp đó, không khác chánh pháp, không khác nhiếp thọ chánh
pháp”.
KHÔNG
KHÁC vì cùng một THỂ mà ra. Nói TỨC là như vậy. Ngay đó
nhưng có thể chính đó mà cũng có thể chưa phải là đó.
Khi chưa về được cội nguồn chân thật thì vẫn còn hai
còn ba. Về được rồi thì thấy không hai không ba.
Như
căn - trần - thức có chung một cội nguồn thanh tịnh là nhất
tâm, song do bất giác mà biến hiện ra 3 thứ căn - trần -
thức. Vì 3 thứ đó có hình thức không giống nhau nên nói
KHÔNG MỘT, nhưng cả ba đều không ngoài cái THỂ chân thường,
nên nói KHÔNG KHÁC.
Như
nước bình thường và sóng. Hình thức của sóng khác nước
nên có hai tên, nhưng cả hai đều là nước biển. Khi không
có gió thì sóng chính là nước. Cái này không phải cái kia
nhưng không lìa khỏi cái kia, nên nói là TỨC. Cái CÙNG chỉ
cho cho cái KHÔNG KHÁC. Cái KHÁC chỉ cho cái KHÔNG MỘT. TỨC
là như vậy.
Đây
chỉ tạm dùng thí dụ và lý luận để hiểu sơ về điều
phu nhân Thắng Man muốn nói, còn chỗ năng sở dứt bặt đó
- đây nói KHÔNG KHÁC hoặc TỨC - là chỗ phải tự trực chứng
lấy. Cái TÁNH THỂ ấy không thể dùng tri thức đây mà diễn
tả được.
“Không
khác Ba la mật, không khác nhiếp thọ chánh pháp” là muốn
nói “Nhiếp thọ chánh pháp đó, không khác Ba la mật, không
khác nhiếp thọ chánh pháp”. Ý nghĩa tương tự như đã giải
thích trên.
VÌ
SAO? là để giải thích phần “Nhiếp thọ chánh pháp tức
là Ba la mật”. Vì sao nói nhiếp thọ chánh pháp chính là
Ba la mật? Vì Ba la mật là đến bờ kia. Chân thật nhiếp
thọ chánh pháp chính là cái bờ đó. Nên nói nhiếp thọ chánh
pháp tức là Ba la mật.
Sau
là nói về 6 Ba la mật, qua đó hiển thị mặt nhiếp thọ
chánh pháp liên quan thế nào đến Ba la mật.
Thiện
nam tử, thiện nữ nhân khi nhiếp thọ chánh pháp, nếu cần
dùng BỐ THÍ để thành thục chúng sanh thì lấy bố thí để
mà thành thục … Cho đến xả thân thuận theo ý họ mà thành
thục họ, khiến họ được an trụ trong chánh pháp, gọi là
THÍ BA LA MẬT.
Hành
giả khi tu hành hoặc làm lợi ích cho tha nhân đều trải qua
phần bố thí này. Bố thí là phương tiện để đưa ta đến
bờ kia. Phương tiện thì không có tính bất di bất dịch nên
nói NẾU CẦN. Cần mới dùng, không cần thì thôi. Mục đích
của việc bố thí này là để THÀNH THỤC CHÚNG SANH. Tùy duyên
mà việc thành thục chúng sanh có hai :
1.
Thành thục chúng sanh trong tâm : Chỉ khi đến được hạng
BẤT ĐỘNG ĐỊA, là hạng không còn bị trí phân biệt chi
phối, ta mới chắc là mình đã hết tham và hết sân. Còn
trước đó, vẫn phải coi chừng. Nếu cần thành thục những
niệm tham trong tâm thì khi bố thí không cần quan tâm đến
đối tượng (Như Phật bố thí vợ con chẳng hạn). Cứ thấy
còn tâm hẹp hòi, bỏn xẻn, còn sự tính toán thì phải bố
thí ngay để phá đi tâm chấp thủ. Đối tượng được bố
thí sẽ có nhân duyên với mình sau này.
2.
Thành thục chúng sanh ngoài tâm thì việc bố thí nào thành
thục được chúng sanh thì bố thí, không thành thục được
thì không bố thí. Chẳng hạn cho nó tiền đi nhậu mà nhắm
bảo nó bỏ rượu được thì hãy bố thí. Còn bố thí để
nó thoả mãn thêm cơn nghiện, rồi đâm đầu vào xe tải thì
thôi, để tiền cúng dường cho chư vị đại đức cao tăng,
cầu chư Phật gia hộ khiến nó gặp được chư vị Bồ tát
đủ năng lực cứu nó còn hơn.
THÂN
là chỉ cho thân thể của mình đây. Gồm có đầu, não, chân,
tay v.v… XẢ THÂN là cho đi những thứ đó. Như bây giờ người
ta hay đi hiến máu, cũng là một loại xả thân. Người nào
xin mình một cánh tay rồi nói “Tôi nguyện sẽ tu cho đến
khi thành Phật nếu được bà cho cánh tay của bà”. Nghe vậy
mà mình tặng họ cánh tay liền, gọi là “Xả thân thuận
theo ý họ mà thành thục họ, khiến họ được an trụ trong
chánh pháp”.
XẢ
THÂN còn mang ý nghĩa là làm việc hết mình cho mọi người.
Như mẹ xả thân cho con hoặc người ta yêu nhau rồi xả thân
vì nhau. Xả thân nói đây cũng như vậy, nhưng không phải
vì yêu thương nhau mà xả thân. Hình thức thì giống mà tinh
thần thì khác. Xả thân là vì con đường tối thượng của
mình đòi hỏi mình phải xả thân để tiêu trừ ngã chấp.
Cái xả thân đó vô tình trở thành cái duyên khiến người
động lòng cùng hướng về đạo vô thượng với mình.
Việc
bố thí thành thục chúng sanh này không phải chỉ có trong
một đời. Có bố thí là có gieo duyên. Có DUYÊN và có CHÁNH
PHÁP TRÍ thì có ngày sẽ thành thục được người hữu duyên.
Song do sự hạn hẹp vì điều kiện của người tu trong hiện
tại mà có khi cần phải chọn cái trước mắt làm trước,
cái chưa đủ điều kiện làm sau. Như trong kinh Niết Bàn Phật
dạy, người có thể độ được trong đời này thì phải
độ trước, kẻ chưa có điều kiện để đó từ từ độ
sau …
Cái
khó là phải biết rõ mình trong vấn đề ấy thế nào. Việc
này đòi hỏi cần có chánh pháp trí. Muốn có chánh pháp trí
thì phải có công phu. Thành loại bố thí để thành thục
chúng sanh trong tâm rất cần thiết với mình. Tâm tịnh thì
cõi Phật tịnh.
Phần
Ba la mật dùng để thành thục chúng sanh này đặt nặng ở
việc thành thục chúng sanh ngoài tâm. Thành thục chúng sanh
ngoài tâm nhưng chính là để thành thục chúng sanh trong tâm.
Đây là giai đoạn lấy đại bi để viên mãn đại trí.
Như
nói thế giới này như huyễn. Nhưng đối duyên cần cho thân
này để thành thục chúng sanh, mình chưa dám cho, thì cái như
huyễn mình biết được đó chỉ mới trên mồm mép lý thuyết
chứ thực tế thì chưa có gì như huyễn đối với mình. Nghĩa
là, LÝ và SỰ của mình chưa hòa hợp viên dung. LÝ SỰ chưa
viên dung thì cảnh giới SỰ SỰ VÔ NGẠI của chư Phật còn
cách rất xa. Cho nên, giai đoạn dùng bi nguyện để thành thục
chúng sanh đây chính là giai đoạn để người tu thực hiện
phần LÝ SỰ VIÊN DUNG của mình. Vì thế phần bố thí đây
gọi là BỐ THÍ BA LA MẬT. Bố thí mà đến được bờ kia.
CHÁNH
PHÁP nói đây bao gồm 4 loại pháp người, trời, Thanh văn
… Vì thế đi trên những con đường đó gọi là AN TRỤ CHÁNH
PHÁP. Thiền sư Ryokan nghe tin người cháu trai của ông phá
tán tiền bạc sự nghiệp vào những chỗ ăn chơi trác tán.
Ông trở về, người cháu vui mừng mời chú ở lại một đêm.
Ryokan thiền định suốt đêm. Sáng hôm sau ông cột lại dây
giày trước khi đi, nhưng vì run tay ông không làm được việc
đó. Người cháu cúi xuống giúp chú làm tiếp công việc còn
lại. Ông nói “Cám ơn con. Con người ai rồi cũng già và
yếu dần. Con hãy bảo trọng lấy mình!”. Rồi ông từ giã
cháu ra đi mà không hề có một lời nào về sự chơi bời
phá tán của cháu. Nhưng kể từ sáng hôm đó, người cháu
không còn đốt tiền vào những trò vô bổ nữa. Giúp người
trở lại con đường chánh như vậy là một dạng của việc
“Khiến người AN TRỤ TRONG CHÁNH PHÁP”.
Nếu
cần dùng GIỚI để thành thục chúng sanh thì thủ hộ 6 căn,
tịnh thân, khẩu, ý cho đến tất cả mọi oai nghi. Tùy thuận
ý họ mà thành thục họ, khiến họ có thể an trụ trong chánh
pháp, gọi là GIỚI BA LA MẬT.
GIỚI
là phần quan trọng không chỉ cho Tăng Ni mà còn cả cư sĩ
nữa. Hiện nay nó chính là thứ đánh giá đạo hạnh của
ngươi tu. Như bây giờ Phật tử mình đi cúng dường thì đương
nhiên phải cúng dường cho chư Tăng Ni thanh tịnh. Thanh tịnh
ở tâm thì mình khó biết, nhưng tối thiểu phải có cái thanh
tịnh ở thân. Mình không thể cúng dường cho một vị Tăng
đang có vợ, uống rượu bia, hút thuốc lá hay suốt ngày cắm
đầu vào phim sex. Vì sao? Vì đạo Phật là đạo bỏ đi những
tham dục của người đời. Mình cúng dường và tôn trọng
chư vị cũng vì chư vị làm những cái mà mình không làm được.
Do ý muốn của chúng sanh như vậy nên chí ít chư vị phải
trang bị đầy đủ những thứ đó, để chúng sanh có chỗ
nương tựa tôn kính, thích đến chùa cúng dường, lễ bái
Tam Bảo, nghe pháp và đủ lòng tin mà thực hành pháp đã nghe.
Đó là “Tùy thuận ý họ để thành thục họ”.
Không
vợ con, rượu bia, thuốc lá, không xem phim v.v… là THỦ HỘ
CÁC CĂN mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thủ hộ được những
thứ đó không chỉ ở mức độ thô mà còn tế hơn nữa,
gọi là TỊNH THÂN, KHẨU, Ý.
Song
phải nhớ, hình thức GIỚI cũng chỉ là phương tiện. Nó
không mang tính bất di bất dịch. Vì có phá giới mà cần
có giới để ngăn ngừa. Vì tâm còn nhiễu loạn nên phải
dùng giới để nhiếp. Vì thành thục chúng sanh mà giới được
lập bày. Nó chỉ là pháp Nhân Duyên. Trong cái duyên như thế
thì nó như thế chứ nó không phải là chân lý để làm chuẩn
cho tất cả mọi pháp ở thế gian mà khi nào hình tướng ấy
cũng phải như vậy.
Nếu
cần dùng NHẪN để thành thục chúng sanh thì với người
hay chữi mắng, hủy nhục, phỉ báng, nhiễu loạn thì dùng
tâm không tức giận và nhẫn lực tối thượng của tâm lợi
ích, cho đến sắc mặt cũng không đổi khác, tùy thuận ý
họ mà thành thục họ, khiến họ an trụ trong chánh pháp,
gọi là NHẪN BA LA MẬT.
Tật
chúng sanh của mình là hễ người đụng đến mình là mình
trả đũa lại liền cho ngang cơ với người. Đây phu nhân
Thắng Man khuyên, thiện nam tử thiện nữ nhân nào đang thực
hiện nhiếp thọ chánh pháp thì phải bỏ đi cái tật hay trả
đũa. Phải dùng tâm không tức giận và lực tối thượng
của tâm lợi ích mà nhiếp hóa người hữu duyên. Trả đũa
thì cứ đũa trả hoài. Hiềm khích thêm nhiều chứ chẳng
thể nhiếp hóa được ai.
Sắc
mặt không đổi khác nói đây là nói lên tình trạng bất
động của người tu. Bất động nghĩa là không tức giận
không buồn phiền với sự phỉ báng, chửi mắng đó. Bất
động vì có sự thông cảm, hiểu biết, vì lòng bi rộng lớn,
không phải bất động theo kiểu “làm cho lại gan” khiến
người thêm tức tối, sân giận.
Việc
tu hành cũng như việc ngoài đời, một khi mình đã có một
mục đích hay một lý tưởng để đeo đuổi, thì với giá
nào mình cũng làm để đạt được mục đích đó. Nếu lý
tưởng của mình là làm tất cả vì lợi ích của người
thì cái lý tưởng ấy chính là NHẪN LỰC TỐI THƯỢNG của
tâm lợi ích. Gọi là NHẪN LỰC vì cái lực ấy do tùy thuận
theo ý người mà có. Nó chính là động lực để mình dẹp
mọi tức giận, bất động trước mọi khó khăn mà chỉ biết
đến mục đích duy nhất của mình : Vì lợi ích của người,
vì con đường tối thượng của mình. Mình sẽ làm tất cả
những gì khiến mục đích của mình thành công. Dù phải thí
xả cả thân mạng để thành công mình còn phải làm, huống
chỉ vài lời phỉ báng, hủy nhục? Thuận người mà cũng
chính là thuận mình nên tuy NHẪN mà không có gì để nhẫn.
Gọi là NHẪN BA LA MẬT.
Nếu
cần dùng TINH TẤN để thành thục chúng sanh thì với chúng
sanh đó, chẳng khởi tâm giải đãi hèn kém mà phải khởi
cái tinh tấn bậc nhất của đại lạc dục, với 4 oai nghi
thì thuận theo ý họ mà thành thục họ, khiến họ an trụ
được trong chánh pháp, gọi là TINH TẤN BA LA MẬT.
CẦN
DÙNG TINH TẤN là chỉ cho những chúng sanh lấy sự tinh tấn
của người làm mẫu lý tưởng của mình. Như người thích
thiện tri thức của mình phải ngồi thiền 3 cử một ngày
thì hình tướng siêng năng ấy được lập bày, không thể
lấy hình tướng nằm dài ngủ ngày ngủ đêm như tích của
một vị thiền sư mà khuyến dụ được họ. Còn với người
mà hình tướng không quan trọng, chỉ cần sự tinh tấn ở
tâm mình thì dùng cái tinh tấn ở tâm mà nhiếp hóa họ. Người
thích tụng kinh sám hối ba thời phải đủ, thì hình thức
sám hối ba thời được lập bày v.v… Nói chung, mọi hình
tướng tinh tấn được lập bày là vì thuận ý chúng sanh
để nhiếp hóa họ, nên nói VỚI 4 OAI NGHI ... Còn bản thân
những tướng đó không có thứ gì là chuẩn mực nhất định
để mọi người phải giữ chặt. Duyên khởi là như vậy.
ĐẠI
LẠC DỤC là chỉ cho cái dục hướng thượng, là chỉ cho
ý muốn cầu Phật đạo và làm lợi ích cho tha nhân … Cái
DỤC ấy không mang đến sự đau khổ mà mang đến sự an vui
to lớn, bởi nó mang tính vị tha, không mang tính vị kỷ. Vị
tha thì tùy thuận được với cội nguồn chân thật nhất
tâm. Cội nguồn ấy vốn thường, lạc, ngã, tịnh nên cái
DỤC ấy mang tính ĐẠI LẠC.
Nếu
cần dùng TỊNH LỰ để thành thục chúng sanh thì với chúng
sanh đó, dùng tâm không tán loạn để thành tựu chánh niệm,
những việc từng làm không bao giờ quên mất, thuận theo ý
họ mà thành thục họ, khiến họ an trụ trong chánh pháp,
gọi là TỊNH LỰ BA LA MẬT.
TỊNH
LỰ là chỉ cho thiền định. Đối cảnh mà không để cho
ngoại vật làm lay động thì tâm không thể tán loạn. Đó
là thành tựu chánh niệm. Có chánh niệm thì việc nào ra việc
đó rõ ràng không hề lầm lẫn. KHÔNG QUÊN MẤT không phải
là cái nhớ của ý thức, không muốn nhớ cũng cứ nhớ, mà
là cái nhớ của chánh niệm. Như người thầy thuốc dùng
thuốc trong hộc. Cần thì có thuốc, không cần thì thuốc
được cất kỹ trong hộc. Kinh Hoa Nghiêm nói “Tổng Trì Đại
Quang Minh ThânVương được môn Đà La Ni Quang Minh Giải Thoát
ghi nhớ tất cả pháp không quên mất”.
Nếu
cần dùng TRÍ TUỆ để thành thục, thì đối với chúng sanh
nào vì lợi ích mà hỏi các pháp nghĩa thì dùng tâm không
nhàm mỏi, vì họ diễn nói tất cả các luận, tất cả minh
xứ cho đến mọi thứ công xảo, khiến họ được chỗ tận
cùng, tùy thuận ý họ mà thành thục họ khiến họ an trụ
trong chánh pháp, gọi là TRÍ TUỆ BA LA MẬT.
TRÍ
TUỆ là chỉ cho trí Bát Nhã. Nó là dụng của Phật tâm sẵn
có trong mỗi chúng sanh, do vô minh mà mình không thể sử dụng
được nó. Những lời phu nhân đang nói đây cũng xuất phát
từ loại trí ấy. PHÁP NGHĨA là nghĩa lý của kinh luận hoặc
những hiểu biết trong cuộc sống có liên quan đến chánh
pháp.
MINH
XỨ là chỉ cho 5 minh. CÔNG XẢO MINH là một trong 5 minh đó.
Nó chuyên về những thứ như kỹ thuật, công nghệ thế gian,
văn tự toán số, thơ ca, ấn loát, các sách luận về địa,
thủy, hỏa, phong v.v… Dùng các thứ này là để diễn nói
cho người chứ không phải học những thứ đó mà thành Phật
được. Vì sao diễn nói cho người? Vì người muốn như thế
nên mình phải mượn những thứ đó để thu phục lòng người.
Những thứ như công nghệ kỹ thuật thế gian là những thứ
giúp người có phương tiện sống ở đời, nó thuộc mặt
vật chất. Những thứ còn lại là vì theo tánh dục của người,
thuộc về mặt tâm linh. Như người mê bói toán tử vi thì
chỉ có tử vi bói toán mới khiến họ quan tâm. Mình phải
giỏi mấy thứ đó mới có thể làm người tin tưởng và
gần gũi mình. Có tin tưởng gần gũi, mới nhiếp hóa người
về chánh pháp được.
Tử
vi, bói toán hay sách luận địa, thủy v.v… bản thân nó không
có lỗi, cũng không phải là tà pháp hay chánh pháp. Nó trở
thành tà hay chánh, lỗi hay không lỗi là tùy duyên. Duyên ở
đây là người sử dụng nó. Nếu mình sử dụng nó mà không
nhìn đúng bản chất của nó thì nó thành lỗi. Còn sử dụng
nó mà biết rõ bản chất của nó, dùng nó như một loại
phương tiện tạm thời thì nó không lỗi. Vì thế, khi chưa
có trí tuệ Phật thì rất cần phân rõ chánh tà, khi đã có
trí tuệ thì tất cả pháp đều là Phật pháp.
Như
số tử vi. Cái quyết định tốt hay xấu của một con người
là những vì sao được ghi trong đó. Khi ta thấy những vì
sao đó là thứ quyết định vận mạng của mình rồi cúng
sao giải hạn để thoát khỏi tai ương, mà bỏ qua mặt đạo
đức phước thiện trong hiện tại thì lúc đó tử vi trở
thành tà pháp. Kiểu đó chính là mê tín dị đoan. Vì sao là
tà pháp? Vì mình nhìn không đúng bản chất của nó. Nó khiến
mình lầm nhân lộn quả. Lầm nhân lộn quả thì sẽ đọa
vào 3 đường dữ, nên gọi là tà pháp.
Nếu
biết những vì sao trong tử vi chỉ là những thứ đại diện
cho một thói quen. Phật gọi là nghiệp tập. Những nghiệp
tập trong quá khứ đã khiến mình có cuộc sống hạnh phúc
hay đau khổ trong hiện tại, được thể hiện qua sự kết
hợp giữa những vì sao, mà cung phúc đức là thứ quyết định
rất lớn, thì lúc ấy tử vi không phải là tà pháp. Vì sao
nó không phải là tà pháp? Vì mình nhìn đúng bản chất
của nó. Cái quyết định hạnh phúc và đau khổ của con người
không phải là những vì sao mà chính là những nghiệp tập
của chính mình. Vì thế tử vi không phải là thứ quyết định
vận mệnh của mình. Nó chỉ là thứ giúp mình nhận rõ những
thói quen tốt và xấu trong mình. Loại bỏ chúng đi hay khuếch
trương chúng lên để cuộc sống của mình được hạnh phúc
vui vẻ. Ngoại trừ loại định nghiệp thì mình phải chịu,
còn lại đều có thể thay đổi bằng hành vi và ý nghĩ thiện
của chính mình. Thấy đúng bản chất của nó như vậy thì
nó không còn là tà pháp.
Như
sao Địa kiếp ấn định cho tánh ích kỷ, nóng nảy. Gọi
là tánh vì cái nóng nảy ấy đã thành thói quen. Phật gọi
là tập nghiệp. Ai có loại sao đó trong bản mệnh thì tánh
tình hay nóng nảy ích kỷ và thường gặp nhiều chuyện không
hay. Dù nó kết hợp đúng bộ với các sao Thiên tướng v.v…
thì nó vẫn tiềm ẩn mối nguy hại. Điều này không có gì
thắc mắc. Ích kỷ và nóng nảy thì đưa đến kết quả gì
ở cuộc sống này? Không được gì hết ngoài bịnh hoạn,
đau khổ và tiềm ẩn tai ương. Muốn không bị ảnh hưởng
bởi cái xấu của nó thì mình phải quăng nó ra khỏi bản
mệnh của mình. Nghĩa là, mình phải làm chủ được tánh
nóng giận và mở lòng với mọi người. Nói chung là xem xét
vào chính bản thân mình để bỏ đi các tập nghiệp xấu,
khuyếch trương những tập nghiệp tốt.
Sinh
cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm nhưng không phải
cuộc đời nào cũng giống nhau. Là bởi còn tùy cái duyên
phúc đức trong hiện đời. Lại còn tùy vào sự cảm ứng
của ông Thầy với chủ nhân. Phải thầy dõm thì coi như xong.
Cho nên, đặt niềm tin vào những thứ tương đối thì chỉ
bấp bênh và khổ não. Không bằng cứ sống thiện và làm
thiện, để ý gì đến những thứ ấy cho phiền phức.
Khiến
họ được CHỖ TẬN CÙNG là giúp họ đạt được chỗ thâm
diệu của môn công xảo cũng như nhận ra đúng bản chất
của môn công xảo đó. Có gì không ngoài tâm mà phải bận
tâm theo những hình thức đó? Theo tánh dục của tha nhân mà
giúp tha nhân không lầm lẫn nhân quả ở thế gian, là giúp
họ thành tựu an trụ trong chánh pháp.
Phần
học pháp thế gian này, đến phần trí tuệ Ba la mật mới
đề cập đến, vì nó đòi hỏi người tu phải có trí tuệ.
Có trí tuệ thì dùng pháp mới không lầm lẫn. Không thì dụng
pháp nhiếp hóa tha nhân một thời gian mình thành thầy bói
lúc nào không hay, còn không thì lang thang đâu đó rồi quên
mất đường về. Đó là dụng pháp nhiếp hóa người mà bị
pháp nhiếp hóa mình.
Phải
có cái trí nhận rõ được bản chất của sự vật thì mới
không bị chúng kéo lôi. Thứ gì cũng chỉ là phương tiện,
như huyễn như hóa, không có gì ngoài tâm. Chưa có trí tuệ
mà dính vào mấy thứ này sớm thì sẽ bị ma Ba Tuần dẫn
đường. Việc này hiện nay không phải là không có. Đây là
do dụng pháp mà không biết đến căn cơ trình độ của mình.
Nghe Phật dạy học tập ngũ minh là cắm đầu vào học mà
không xem lại căn cơ của mình thế nào, không xem kỹ Phật
dạy khi nào mới học mấy thứ đó. Vào thế giới nhân duyên
mà khi hành xử, lại bỏ mất mặt nhân duyên của pháp nên
đường tu có khi thành lỡ dở.
Cho
nên, bạch Thế Tôn! Không khác Ba la mật, không khác nhiếp
thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp tức là Ba la mật”.
Đây
là lời tổng kết của phu nhân Thắng Man sau khi nói về 6
Ba la mật. Trên nói về nhiếp thọ chánh pháp không khác Ba
la mật. Rồi hỏi “Vì sao?” để giải thích. Giải thích
xong, đây kết luận lại một lần nữa.
Phu
nhân lại bạch Phật rằng “Con nay lại nương vào lực oai
thần biện tài của Phật nói về nghĩa ĐẠI”.
Phật
hỏi “Thế nào là nghĩa ĐẠI?”.
Trên
đã giải thích về cái quảng đại của nhiếp thọ chánh
pháp. Đây sẽ giải thích vì sao nói nhiếp thọ chánh pháp
là ĐẠI.
Phu
nhân thưa “Người nhiếp thọ chánh pháp không khác nhiếp
thọ chánh pháp, không khác người nhiếp thọ chánh pháp. Thiện
nam tử và thiện nữ nhân nhiếp thọ chánh pháp chính là nhiếp
thọ chánh pháp ...
Trên
nói về việc NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁPø và CHÁNH PHÁP. Đây nói
về NGƯỜI NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP và việc NHIẾP THỌ CHÁNH
PHÁP. Chúng không một cũng không khác. KHÔNG MỘT vì người
nhiếp thọ chánh pháp không phải là hành động nhiếp thọ
chánh pháp. Nhưng không có hành động nhiếp thọ chánh pháp
đó thì không có người nhiếp thọ chánh pháp nên chúng KHÔNG
KHÁC. Kiểu lập luận này y hệt kiểu lập luận về NGƯỜI
ĐI và SỰ KIỆN ĐI trong luận Trung Quán. KHÔNG MỘT CŨNG KHÔNG
KHÁC là muốn nói đến thực tánh hay thực tướng của vạn
pháp, là chỉ cho cội nguồn chân thật nhất tâm. Ngay cội
nguồn đó chủ thể và hành động chỉ đồng là biển tánh
chân như, nên nói “Thiện nam tử hay thiện nữ nhân nhiếp
thọ chánh pháp cũng chính là nhiếp thọ chánh pháp”. Đây
là lúc bỏ được hòn bọt nhỏ trở về với biển cả mêng
mông. ĐẠI là như vậy. Điều này sẽ được nói rõ ở phần
sau.
Vì
sao? Là để giải thích.
…
Thiện nam tử và thiện nữ nhân nhiếp thọ chánh pháp, vì
chánh pháp mà xả bỏ thân, mạng, tài sản. Vì XẢ BỎ THÂN
nên chứng được hậu tế của sanh tử, không còn bệnh lão,
được pháp thân Như Lai bất tư nghì thường trụ, bất hoại,
không có đổi khác, rốt ráo tịch diệt. Vì XẢ BỎ MẠNG
nên chứng được hậu tế của sanh tử, không còn tử, được
cái vô biên thường trụ, thành tựu các thiện công đức
chẳng thể nghĩ bàn, an trụ trong tất cả Phật pháp thần
biến. Vì XẢ BỎ TÀI SẢN nên chứng được hậu tế của
sanh tử, siêu vượt loài hữu tình, được quả báo viên mãn
không giảm cũng không cùng, đầy đủ công đức trang nghiêm
chẳng thể nghĩ bàn, khiến cho chúng sanh tôn trọng cúng dường.
Thế Tôn! Thiện nam tử và thiện nữ nhân nào chịu xả bỏ
thân mạng và tài sản để nhiếp thọ chánh pháp, sẽ được
chư Như Lai thọ ký.
Hậu
tế và tiền tế là nói đến chỗ sanh khởi và chấm dứt
của sanh tử. Thấy được hậu tế của sanh tử là thấy
được bản chất thật của sanh tử, tức thấy được cội
nguồn chân thật của sanh tử. Nhận ra được cội nguồn
của sanh tử là được pháp thân Như Lai. Được pháp thân
Như Lai thì nhận ra được tính huyễn mộng của sanh tử.
“Sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ” nên nói
không còn lão, bệnh, tử. Lão, bệnh, tử chỉ là thứ huyễn
hóa không thật, chỉ vì lợi ích của chúng sanh mà hóa hiện
lão, bệnh, tử như ngài Duy Ma Cật nói “Vì chúng sanh bệnh
nên ta bệnh”.
Câu
cuối là điều kiện để được Như Lai thọ ký. Tu là để
hết khổ, để được đầy đủ mọi thứ như ý nguyện,
nhưng đây nói “Xả bỏ thân, mạng và tài sản”. Cho nên,
chỉ có chí nguyện của chư vị Bồ tát mới có phần.
MẠNG
không khác THÂN, nhưng thường mình chỉ nghe nói mạng sống
chứ không nghe nói thân sống. Thành XẢ THÂN thì còn thở
được chứ XẢ MẠNG thì coi như hết đời. Đó là luận
về hình thức cho vui. Thật ra 3 hình thức xả thân, mạng,
tài sản này không chỉ nằm trên hình thức bên ngoài. Nó
mang ý nghĩa thâm sâu hơn nhiều. Bởi nếu chỉ có những hình
thức đó mà thoát được sanh tử và thấy được pháp thân
thì mấy chàng cảm tử Irad đều thành Phật hết. Song muốn
thành Phật thì dòng vọng tưởng phải hết. Nói cách khác,
ngũ ấm phải GIAI KHÔNG mới thành Phật được chứ không
chỉ có tan thân nát mạng thôi mà được thành Phật.
Nói
xả tài sản, xả thân, xả mạng là muốn nói đến phần
buông xả bên trong của mình. Làm như vậy là để PHÁ ĐI
TÂM CHẤP ĐẮM, đưa tâm về lại chỗ vô trụ của nó.
Thiền
định thật giỏi mà không có phần bố thí tài sản làm lợi
ích chúng sanh thì sẽ như vị La Hán đệ tử của ngài Mục
Kiền Liên, chứng quả rồi nhưng chết đói. Nhờ việc bố
thí này mà được “Đầy đủ công đức trang nghiêm chẳng
thể nghĩ bàn, khiến cho chúng sanh tôn trọng cúng dường”.
Ngoài ra, trừ một số người coi thân mạng không bằng tài
sản, thà chết chứ không chịu mất của, thì phần lớn,
muốn xả đến thân mạng phải xả tài sản trước. Tài sản
là thứ ngoài thân, ngoài thân mà không dám xả, làm sao xả
được những thứ thuộc thân. Trong cả 2 trường hợp, việc
thí xả tài sản không kém quan trọng so với việc thí xả
2 thứ kia. Vì lẽ đó, ngoài xả thân mạng đây còn nêu cả
việc bố thí tài sản.
XẢ
THÂN, như đã nói, là hết lòng làm lợi ích cho mọi người
để cùng họ hướng về Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
MẠNG
nói đây là muốn nói đến tướng thọ mạng trong kinh Viên
Giác. XẢ MẠNG là vượt qua trạng thái thanh lương sáng chiếu
mà nhiều người đã lầm tưởng là chỗ giác ngộ rốt ráo
và dừng trụ luôn ở đó. Thật ra, nó chỉ mới là bờ mé
của thức ấm, là cội nguồn của 2 thứ sanh tử. Phần này
sẽ được giải thích rõ trong phần 4 tướng ngã, nhân, chúng
sanh, thọ mạng dưới.
Thế
Tôn! Các vị thiện nam tử và thiện nữ nhân, khi chánh pháp
muốn diệt, có các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà
di cùng nhau kết bè kết đảng khởi nhiều tranh tụng thì
vì tâm không dua nịnh, không lừa dối, ưa thích chánh pháp,
nhiếp thọ chánh pháp nên các vị nhập vào nhóm bạn lành.
Người thuộc nhóm bạn lành thì nhất định được chư Phật
thọ ký. Thế Tôn! Con thấy nhiếp thọ chánh pháp có đại
lực ấy. Như Lai lấy đó làm con mắt, làm pháp căn bản,
làm pháp dẫn đạo, làm pháp thông đạt.
Chánh
pháp muốn diệt là nói đến thời chánh pháp không còn hưng
thịnh. Trong giáo đoàn Tăng Ni và Phật tử đã xuất hiện
những thành phần bê bối, giới luật không nghiêm, dùng chùa
chiền Phật pháp làm chỗ kiếm ăn thay vì xả bỏ thân mạng
tài sản như Phật đã dạy. Đã có tư lợi riêng tư thì phải
có thị phi, bè phái, mất đoàn kết.
Tỷ
kheo, Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di là hai phái nam nữ thuộc
xuất gia và tại gia, gọp chung thành 4 hạng. Chư vị là những
người nắm giữ mạng mạch của Phật pháp. Nếu chư vị
lấy lý tưởng cao cả làm ngọn đuốc dẫn đường cho mình
thì chánh pháp vững mạnh. Nếu chư vị lấy ý riêng và danh
lợi làm chỗ đến thì Phật pháp lụi tàn.
BẠN
LÀNH là muốn nói đến những vị không vì danh lợi mà tham
gia, tranh tụng, đấu tranh, kiện cáo làm Phật pháp rối nùi,
khiến Phật tử mất lòng tin đối với Phật pháp. Những
người ưa thích chánh pháp, nhiếp thọ chánh pháp là những
người đặt lợi ích của mọi người trên lợi ích của
mình. Đã đặt lợi ích của người trên lợi ích của mình
thì không bao giờ để những cái vừa lòng hay không vừa lòng
của mình làm ảnh hưởng đến Phật pháp. Vì Phật pháp mà
xả bỏ thân mạng và tài sản, huống chỉ vài ý tưởng riêng
tư? Đây là những người được chư Phật thọ ký, được
chư Phật hộ trì, là những người nắm giữ mạng mạch của
Phật pháp.
Nhiếp
thọ chánh pháp có ĐẠI LỰC ẤY là nói đến cái lực khiến
hành giả không dính đến việc tranh cải, thị phi, bè phái.
Không tranh cải, đấu tranh không có nghĩa là im lặng để
tà pháp ngự trị thế gian. Cũng như không khuất phục cái
xấu, không để cái tà làm lủng đoạn chánh pháp không có
nghĩa là phải dành giựt, đấu tranh làm Phật pháp rối bời.
Nếu là bậc Tôn trưởng có chánh pháp trí thì tà pháp sẽ
biến thành lực trợ duyên cho chánh pháp hiển lộ. Cho nên,
quan trọng vẫn là nhiếp thọ chánh pháp. Vì thế nói “Như
Lai lấy đó làm con mắt, làm pháp căn bản, làm pháp dẫn
đạo, làm pháp thông đạt”. Nhiếp thọ chánh pháp thì có
chánh pháp trí. Có chánh pháp trí thì không lầm lẫn nên nói
LÀM CON MẮT. Đó là nền tảng cho việc tu hành cũng như việc
lợi ích cho tha nhân nên nói làm PHÁP CĂN BẢN, làm PHÁP DẪN
ĐẠO. Có chánh pháp trí thì mọi việc thông suốt vô ngại
nên nói làm PHÁP THÔNG ĐẠT.
Thế
Tôn nghe phu nhân Thắng Man nói nhiếp thọ chánh pháp có đại
oai lực thì khen rằng “Đúng vậy! Đúng vậy! Lành thay, Thắng
man! Đúng như bà đã nói, nhiếp thọ chánh pháp có lực oai
đức lớn. Như đại lực sĩ chạm nhẹ vào tử huyệt thì
rất đau đớn và càng tăng trọng bịnh. Cũng vậy, này Thắng
Man! Nếu chỉ nhiếp thọ chánh pháp ít phần thôi sẽ làm
cho ma Ba Tuần thống thiết, sầu não, buồn khóc, than thở.
Cũng vậy, này Thắng Man! Ta thường thấy không có một pháp
thiện nào khiến ma Ba Tuần sầu não giống như nhiếp thọ
chánh pháp dù chỉ ít phần.
Đây
là nói về tác dụng của việc xả bỏ thân mạng và tài
sản để nhiếp thọ chánh pháp. ĐẠI LỰC SĨ là chỉ cho
người có sức mạnh. “Như đại lực sĩ chỉ chạm nhẹ
vào tử huyệt là đã sanh đau đớn và tăng trọng bịnh”.
Tử huyệt đây không biết là tử huyệt của lực sĩ hay tử
huyệt của người khác. Nhưng dù là tử huyệt của ai thì
cũng đều nói lên năng lực công đức của nhiếp thọ chánh
pháp. Nếu mình chịu xả bỏ thân mạng và tài sản để nhiếp
thọ chánh pháp, dù chỉ ít phần thôi, cũng làm cho ma Ba Tuần
đau đớn khổ sở. Ma Ba Tuần là chỉ cho những vô minh hoặc
nghiệp chướng ngại trong chính bản thân mình. Chỉ có chân
thật nhiếp thọ chánh pháp mới làm ma Ba Tuần sợ hãi, mới
hàng phục tối cùng những vô minh vi tế của bản thân.
Này
Thắng Man! Thí như trâu chúa hình sắc đoan chánh, thân lượng
đặc thù, hơn hẳn các trâu khác. Cũng vậy, này Thắng Man!
Người tu Đại thừa, nếu nhiếp thọ chánh pháp ít phần
thôi cũng có thể hơn hẳn tất cả thiện pháp của Thanh văn
và Độc giác. Này Thắng Man! Như vua của mọi núi là Tu Di,
cao lớn hùng vĩ hơn hẳn các núi khác. Cũng vậy, này Thắng
Man! Người mới thú hướng Đại thừa, dùng tâm nhiêu ích
chẳng tiếc thân mạng nhiếp thọ chánh pháp thì có thể vượt
hẳn người trụ lâu trong thiện căn Đại thừa mà tiếc thân
mạng. Cho nên, này Thắng Man! Bà phải dùng nhiếp thọ chánh
pháp mà khai thị giáo hóa cho tất cả chúng sanh. Như thế,
nhiếp thọ chánh pháp được đại phước lợi và đại quả
báo.
Đây
là dùng ví dụ để hiển bày oai đức của việc xả bỏ
thân mạng mà nhiếp thọ chánh pháp. Việc này cũng giống
như đi cứu người bị nạn sông nước. Người tiếc thân
mạng thì không thể nào bương chải cứu người như người
chẳng tiếc thân mạng, chỉ nghĩ đến việc cứu người.
Tiếc
thân mạng tài sản vì còn thấy những thứ đó là thật.
Thấy thật vì chưa có được loại chánh pháp trí thâm sâu,
chưa thấy được “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.
Còn người dám xả bỏ thân mạng tài sản để nhiếp thọ
chánh pháp là người đã nắm vững lý duy tâm, chánh pháp
trí đã vững vàng. Đây là lý do vì sao nói người tuy mới
bước vào Đại thừa mà dám xả bỏ thân mạng tài sản để
nhiếp thọ chánh pháp thì hơn hẳn người tuy trụ lâu trong
thiện căn Đại thừa mà lẫn tiếc thân mạng. Đó là nói
về người cùng tu Đại thừa. Với Thanh văn và Duyên giác
thì công đức còn hơn hẳn.
Đại
thừa có oai lực lớn như vậy nên Phật bảo phu nhân Thắng
Man nên dùng Đại thừa để khai thị giáo hóa mọi người.
Này
Thắng Man! Ta trong vô số a tăng kỳ kiếp, xưng tán nhiếp
thọ chánh pháp có các công đức như thế không hề thôi nghỉ.[35]
Cho nên, nhiếp thọ chánh pháp thành tựu như vậy vô lượng
công đức. Nay bà nên nói lại việc nhiếp thọ chánh pháp
mà ta đã nói, đều là chỗ ưa thích của tất cả chư Phật”.
Đây,
đức Phật kết luận về công đức nhiếp thọ chánh pháp,
đồng thời khuyên phu nhân Thắng Man lặp lại những gì mà
chư Phật đã nói về nhiếp thọ chánh pháp.
Thắng
Man bạch Phật “Lành thay, bạch Thế Tôn! Nhiếp thọ chánh
pháp gọi là Đại thừa. Vì sao? Vì Đại thừa xuất sanh tất
cả Thanh văn, Độc giác, cùng các thiện pháp của thế và
xuất thế gian. Như ao A Nậu Đạt chia làm 8 sông lớn. Cũng
vậy, Đại thừa xuất sanh tất cả Thanh văn, Độc giác, cùng
các thiện pháp của thế gian và xuất thế gian. Cũng như tất
cả hạt giống, thảo mộc, rừng cây đều nương nơi đại
địa mà được sanh trưởng. Cũng vậy, tất cả Thanh văn,
Độc giác, cùng các thiện pháp của thế gian và xuất thế
gian đều nương nơi Đại thừa mà sanh trưởng. Cho nên, bạch
Thế Tôn! Trụ nơi Đại thừa, nhiếp thọ Đại thừa là trụ
nơi nhiếp thọ Thanh văn, Độc giác cùng các thiện pháp của
thế gian và xuất thế gian.
Trên,
phân bày chánh pháp có đến 4 thứ là thiện căn cõi trời,
người, Thanh văn, Duyên giác và Vô thượng thừa. Đây phu
nhân nói thẳng “Nhiếp thọ chánh pháp gọi là Đại thừa”.
Vì sao? Vì nhiếp thọ Đại thừa thì đầy đủ luôn 3 thừa
dưới mà chỗ thâm sâu tối cùng của Đại thừa chính là
Vô thượng thừa. Vì thế, thay vì nói 4 thứ, đây chỉ thẳng
Đại thừa. Nghĩa là, tu thẳng vào Đại thừa thì đủ cả
3 thừa kia mà tương lai sẽ đủ luôn 4 thừa. Đây là nghĩa
ĐẠI của việc nhiếp thọ Đại thừa.
Ngoài
ra, tu hành là cả một quá trình dài đăng đẳng từ tiền
kiếp đến vị lai, tu thẳng được vào Đại thừa vì quá
khứ đã từng tu tập phước đức của cõi trời, người,
Thanh văn, Độc giác và Đại thừa. Vì thế nói “Trụ nơi
Đại thừa, nhiếp thọ Đại thừa là trụ nơi nhiếp thọ
Thanh văn, Độc giác cùng các thiện pháp của thế gian và
xuất thế gian”. Như người học thẳng vào lớp 12 thì chương
trình từ lớp 11 trở xuống đều đã thông suốt mới học
lớp 12 được. [36]