Chỉ
rõ 3 thứ vô minh : Vô minh trụ địa, tứ trụ địa phiền
não và hiện khởi phiền não. Hiển bày 2 loại sanh tử là
Biến dịch sanh tử và Phần đoạn sanh tử. Cho thấy niết
bàn của La Hán và Bích Chi Phật chưa phải là niết bàn rốt
ráo. Chưa chứng được chỗ rốt ráo nên tâm La Hán và Bích
Chi Phật còn nhiều hạn chế, trí tuệ và công đức của
chư vị không thể như Phật.
Như
Phật Thế Tôn nói LỤC XỨ là chánh pháp trụ, chánh pháp
diệt, biệt giải thoát, tỳ nại da, chánh xuất gia và thọ
cụ túc. Vì Đại thừa mà nói 6 thứ này. Vì sao? Chánh pháp
trụ là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa trụ thì chánh pháp
trụ. Chánh pháp diệt là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa
diệt thì chánh pháp diệt. Biệt giải thoát và tỳ nại da,
2 pháp này danh thì khác mà nghĩa lại đồng. Tỳ nại da là
pháp học của Đại thừa. Vì sao? Vì cầu Phật rồi xuất
gia mà thọ cụ túc. Cho nên, giới uẩn Đại thừa là tỳ
nại da, là chánh xuất gia, là thọ cụ túc.
“Chánh
pháp trụ là vì Đại thừa trụ, chánh pháp diệt là vì Đại
thừa diệt” nói lên tầm mức quan trọng và tính quyết định
của Đại thừa đối với chánh pháp.
BIỆT
GIẢI THOÁT là chỉ cho phần GIỚI, như 5 giới của Phật tử
tại gia, 250 giới của Tỷ kheo v.v… TỲ NẠI GIA là một trong
3 pho tam tạng nói về LUẬT, cũng bao gồm những điều răn
dạy như giới, nên đây nói “Biệt giải thoát và tỳ nại
da, 2 pháp này danh thì khác mà nghĩa lại đồng”. Chúng là
pháp học của Đại thừa. Nói chúng là pháp học của Đại
thừa vì có cầu làm Phật mới xuất gia và thọ cụ túc.
CỤ TÚC là giới của Tỷ kheo và Tỷ kheo ni, là giới cao nhất
trong BIỆT GIẢI THOÁT.
GIỚI
UẨN là chỉ cho sự nhóm họp của tất cả giới. CHO
NÊN … là câu tóm kết về giới Đại thừa.
Bạch
Thế Tôn! A La Hán thì không có xuất gia và thọ cụ túc. Vì
sao? Vì A La Hán chẳng cầu Như Lai rồi xuất gia mà thọ cụ
túc.
Chư
vị La Hán ngày xưa, thấy vị nào cũng đầu tròn áo vuông
không có vị nào mang tướng cư sĩ. Đây vì sao nói A La Hán
không có xuất gia và thọ cụ túc? Chỉ vì các vị cầu quả
A La Hán mà không cầu quả vị Phật. Vì cái cớ ấy mà nói
các vị không xuất gia, không thọ cụ túc dù mấy thứ đó
các vị làm đầy đủ.
A
La Hán có cái tưởng sợ sệt mà qui y Như Lai. Vì sao? Vì đối
với mọi việc làm, A La Hán có cái tưởng sợ sệt như có
người cầm kiếm muốn đến hại mình. Cho nên, A La Hán chẳng
chứng được sự an lạc do xa lìa rốt ráo. Thế Tôn! Qui y
mà chẳng nhờ qui y, như các chúng sanh không có qui y, cái gì
cũng sợ sệt. Vì để an ổn mà cầu qui y. Thế Tôn! A La Hán
cũng vậy, có tâm sợ sệt nên qui y Như Lai. Cho nên A La Hán
và Bích Chi Phật sanh pháp vẫn còn, phạm hạnh chưa thành,
chỗ làm chưa xong, còn có chỗ đoạn, vì chưa được cứu
cánh, còn cách xa niết bàn. Vì sao? Vì chỉ có Như Lai Ứng
Chánh Đẳng Giác mới chứng được niết bàn, thành tựu vô
lượng tất cả công đức chẳng thể nghĩ bàn. Chỗ cần
đoạn đều đã đoạn, rốt ráo thanh tịnh, làm chỗ chiêm
ngưỡng cho loài hữu tình, siêu vượt cảnh giới Nhị thừa
và Bồ tát. A La Hán thì chẳng như thế. Nói ‘được niết
bàn’ chỉ là phương tiện của Phật. Cho nên, A La Hán còn
cách xa niết bàn.
Mấy
vị không cầu Phật đạo chỉ cầu A La Hán vì các vị có
tâm sợ sệt đối với thế gian, chỉ muốn cầu sự an ổn
cho mình. Vì thế, qua được phần thọ ấm và tưởng ấm,
các vị trụ luôn trong trạng thái yên lắng của hành ấm
không chịu ra nữa. Trong khi muốn thành Phật thì phải trải
dài sanh tử nhiếp hóa chúng sanh hữu duyên. Đó chính là quá
trình tiếp duyên để thanh lọc phần tập khí ẩn sâu trong
thức tạng của mỗi người. Vào ma đạo để thành Phật
đạo. Kinh Duy Ma nói “Bồ tát thực hành phi đạo là thông
đạt Phật đạo”. Vào phi đạo mà không để ma đạo làm
nhiễm là thông đạt Phật đạo. Vì có tâm sợ sệt, không
dám vào ma đạo để hoàn thành Phật đạo nên nói “A La
Hán chẳng chứng được sự an lạc do xa lìa rốt ráo”. XA
LÌA RỐT RÁO là xa lìa phần tập khí từ vô thủy vô minh,
đây gọi vô minh trụ địa. Bởi phần vô minh trụ địa này
chưa hết nên các phiền não sẽ sanh khởi khi tiếp duyên.
Tâm đã hưởng được cái lạc của sự không sanh khởi mà
giờ khởi lại thì thấy bất an. Quả là phiền não!
Như
người nghiện rượu rồi cai rượu. Gọi là người hết nghiện
khi đối duyên có rượu mà mình vẫn bình thản y nhiên. Cái
bình thản đó là do thói quen uống rượu đã hết mà chủng
tử mê rượu cũng bị dẹp bỏ hoàn toàn. Còn cai rượu, không
tiếp duyên với rượu thì yên mà có rượu, lòng vẫn thấy
lợn cợn thì chưa gọi là hết con ma rượu. Đó là vì thói
quen uống rượu thì hết mà hơi hướm (tập khí) uống rượu
bên trong vẫn còn. Tu Đại thừa chính là để thanh lọc luôn
phần tập khí này.
Chúng
sanh, như người nghiện rượu, tìm rượu uống để thoả
mãn cơn nghiện, thành cứ theo cái lực của thói quen ấy mà
sanh tử vô hạn định. A La Hán thì như các vị đã cai rượu
mà chưa hết tập khí uống rượu. Nên không có rượu thì
các vị yên ả (vì không còn bị thói quen chi phối) mà thấy
rượu thì sự sanh khởi của tâm lại thành hình. Đụng duyên
thì không yên ổn, mà tới luôn như chúng sanh thì không được,
nên các vị tính đường tránh duyên cho khỏe, nhập niết
bàn cho ăn chắc. Quá trình tu Đại thừa chính là đối duyên
để trừ bỏ hẳn cái gốc tập khí bên trong này. Nói chính
xác là để phá đi tâm phân biệt của mình. Hết tâm phân
biệt thì nước hay rượu không khác nhau. Độ người hữu
duyên cũng chính là độ ngay mình.
Võ
Tắc Thiên đời Đường thỉnh 2 lão thiền sư vào cung rồi
sai thị nữ hầu hạ tắm rửa cho 2 vị. Bà quan sát thấy
thiền sư Lão An ở Tung Sơn thuộc phái thiền Nam Tông thì
vui vẻ tự nhiên, còn Thần Tư thuộc phái thiền Bắc Tông
thì không được tự nhiên. Bà khen “Nhờ tắm mới biết
được bậc đại nhân”. Bậc đại nhân nói đây là chỉ
cho thiền sư Lão An. Bởi lòng ông rỗng rang, không vướng
vào ái dục cũng không vướng vào giới luật nên mọi thứ
thành tự nhiên. Còn Thần Tư, vì tâm phân biệt chưa hết
nên còn e ngại.
Qui
y với Phật tâm của chính mình thì sẽ được 4 thứ không
sợ. Song chư vị Nhị thừa chưa qui y được với Phật tự
tâm mà chỉ mới qui y với Phật ngoài tâm, vẫn còn bị sự
sợ hãi chi phối. Vì thế, tuy qui y rồi mà vẫn “Như các
chúng sanh không có qui y” nên nói “Qui y mà chẳng nhờ qui
y”.
Bạch
Thế Tôn! Nói “A La Hán và Bích Chi Phật quán sát được
4 trí giải thoát rốt ráo, đắc tô tức xứ” là do Như Lai
nói theo ý họ, chẳng phải là cái nói liễu nghĩa.
Phần
LÝ Phật dạy Thanh văn và Duyên giác chưa phải là phần LÝ
rốt ráo. LIỄU NGHĨA là chỉ cho phần LÝ rốt ráo, là nói
về cội nguồn tột cùng.
4 TRÍ
GIẢI THOÁT là chỉ cho 4 trí sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, việc làm đã xong, chẳng còn thọ thân sau. Kinh sẽ
giải thích rõ ở phần sau. TÔ TỨC XỨ là chỉ cho chỗ ngưng
dứt ngơi nghỉ, chỉ cho trạng thái niết bàn của hàng La
Hán.
NÓI
THEO Ý HOï là tùy theo căn cơ của họ mà nói. Căn cơ của
người chỉ mới tới đó thì chỉ nói tới đó thôi. Nói
nữa, chúng ngán chúng đi hết thì mất cả chì lẫn chài.
Đây là do tâm chúng sanh nhiều tầng nhiều lớp, nói thật
không chịu nghe mà phải nói lòng vòng.
Vì
sao? Là để giải thích vì sao nói phần lý Phật dạy Thanh
văn Duyên giác đó chưa phải là chỗ rốt ráo.
Vì
có 2 thứ tử. Một là phần đoạn tử. Hai là biến dịch
tử. PHẦN ĐOẠN TỬ là sự tương tục của loài hữu tình.
BIẾN DỊCH TỬ là, A La Hán, Bích Chi Phật, tự tại Bồ tát
tùy ý sanh thân cho đến quả vị bồ đề.
A LA
HÁN là quả vị tối cùng của Thanh văn.
BÍCH
CHI PHẬT là quả vị tối cùng của Duyên giác.
TỰ
TẠI BỒ TÁT TÙY Ý SANH THÂN là chỉ cho các vị Bồ tát thuộc
hàng Thập Địa. Các vị đã trực chứng được nhân Phật
tánh nên có thể theo ý nguyện mà hiện thân tướng làm lợi
ích chúng sanh, nên nói TỰ TẠI.
QUẢ
VỊ BỒ ĐỀ là chỉ cho quả vị Phật. CHO ĐẾN QUẢ VỊ
BỒ ĐỀ là chỉ cho hàng Bồ tát sát quả vị Phật.
Các
vị đó chỉ mới qua được PHẦN ĐOẠN TỬ mà còn vướng
phần BIẾN DỊCH TỬ.
PHẦN
ĐOẠN TỬ là chỉ cho sự tương tục của loài hữu tình.
Theo luận Thành Duy Thức, khi nghiệp hữu lậu làm nhân, phiền
não chướng làm duyên thì sinh ra cái quả dị thục thô phù
trong tam giới với thân mạng sống lâu hay chết yểu. Do sức
nhân duyên mà có sự hạn định đó nên gọi là PHẦN ĐOẠN
SANH TỬ. Tức nhân duyên tụ thì có thân, nhân duyên tan thì
thân mất như thân ta hiện nay với sự sống chết rõ ràng
liên tục.
Khi
nghiệp vô lậu làm nhân, sở tri chướng làm duyên thì sinh
ra cái quả là thân mạng thù thắng vi tế. Do bi nguyện mà
thân mạng này chuyển dịch không hạn định nên gọi là BIẾN
DỊCH. Đây là do định lực vô lậu làm duyên trợ giúp chiêu
cảm ra, nên diệu dụng khó lường. Thân biến dịch này chính
là ý sanh thân của chư vị Bồ tát Thập địa cùng với thân
của A La Hán và Bích Chi Phật.
Trong
2 thứ tử, do PHẦN ĐOẠN TỬ mà nói A La Hán và Bích Chi Phật
sanh được cái trí TA SANH ĐÃ TẬN. Do chứng được quả hữu
dư nên sanh được cái trí PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH, là chỗ mà
tất cả ngu phu đều chẳng thể làm, 7 loại học nhân chưa
thể thành tựu. Phiền não tương tục đã đoạn rốt ráo,
nên được cái trí VIỆC LÀM ĐÃ XONG. Thế Tôn! Nói được
cái trí CHẲNG THỌ HẬU HỮU là, A La Hán và Bích Chi Phật
chưa thể đoạn tất cả phiền não, chẳng rõ tất cả trí
thọ sanh. Vì sao? Vì A La Hán và Bích Chi Phật chưa đoạn hết
hữu dư phiền não nên chẳng thể rõ tất cả thọ sanh.
Đây
là giải thích về 4 danh xưng mà Phật đã gắn cho A La Hán.
Nói TA SANH ĐÃ TẬN là tận được phần đoạn tử của chúng
sanh, không phải tận được phần biến dịch tử. TA SANH ĐÃ
TẬN mà gọi là TRÍ vì không có thứ gì ngoài tâm. Khi đạt
được cái trí đó, tức an trụ được trong trạng thái thanh
tịnh của tâm thì các chủng tử hữu lậu không còn sanh khởi
biến hiện thành thế giới, thân và tâm như chúng ta đang
thọ nhận hiện nay, nên nói SANH ĐÃ TẬN.
Nói
PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH vì chứng được quả hữu dư. Quả hữu
dư là chứng quả rồi mà còn dư lại một chút gì đó. Cái
chút đó chỉ cho phần vô minh nghiệp tướng. PHẠM HẠNH là
thứ có được sau khi hàng phục hết những hoặc nghiệp của
chúng sanh. Thân, khẩu, ý không còn điều kiện tạo nghiệp
nên nói PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH. Hữu dư phiền não là chỉ cho
phần vô minh trụ địa.
Thanh
văn có 4 bực là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán.
Tuy là 4 nhưng thành 8 vì có phần ngay đó mà có phần hướng
đến đó. Như quả Tu Đà Hoàn thì còn có phần hướng đến
Tu Đà Hoàn. Trừ quả A La Hán là phạm hạnh đã thành. 7 quả
còn lại đều trong giai vị hướng đến, tức phạm hạnh
chưa thành tựu. Đó là 7 HẠNG HỌC NHÂN chưa thể thành tựu.
Không
phải Phật, không phải 7 loại học nhân, không phải là Bồ
tát, gọi là NGU PHU.
PHIỀN
NÃO TƯƠNG TỤC là chỉ cho những thứ như vui, buồn, suy nghĩ
v.v… là những sanh khởi của tâm khi đối duyên tiếp cảnh.
[37] Ngoài không tiếp duyên, trong thì phá bỏ sự sanh khởi
của pháp trần nên phần phiền não tương tục này không còn.
Loại phiền não tương tục này hết thì chứng được cảnh
giới rỗng không an lạc của tâm. Ba nghiệp đã hàng phục
nên không còn nhân duyên để có thân kế tiếp. Thân kế tiếp
đó gọi là HẬU HỮU. Nên nói VIỆC LÀM ĐÃ XONG.
Song
cái gọi là không còn thọ đời sau đó chỉ mới là chấm
dứt thân phần đoạn của chúng sanh chứ chưa phải là chỗ
rốt ráo không còn thọ đời sau. Vì không biết nên tưởng
là không còn thọ thân sau, nhưng thật ra vẫn còn thọ thân
sau. Đó là thân biến dịch. Thân biến dịch này là cái quả
của vô minh nghiệp tướng kết hợp với nhân vô lậu mà
thành.
Sau
là nói rõ về PHIỀN NÃO để biết loại phiền não mà A La
Hán và Bích Chi Phật đoạn được chưa thực rốt ráo.
Phiền
não có 2 : Trụ địa phiền não và khởi phiền não. TRỤ ĐỊA
có 4. Thế nào là 4? Kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ
địa, sắc ái trụ địa và hữu ái trụ địa. Bạch thế
Tôn! 4 thứ trụ địa này có thể sanh tất cả biến khởi
phiền não. KHỞI PHIỀN NÃO là, sát na sát na cùng với tâm
tương ưng.
Thấy
thì đủ thứ tên, nhưng phân thành 2 loại chính là trụ địa
và biến khởi. TRỤ ĐỊA là phần ẩn sâu bên trong. Còn BIẾN
KHỞI là phần mà trí tuệ phàm phu chúng ta có thể cảm nhận
được. Phần ẩn sâu bên trong chia làm 4 thứ. Sẽ liệt kê
và giải thích sau đây.
I.
TRỤ ĐỊA PHIỀN NÃO : Loại trụ địa
phiền não này là nền tảng để ta có loại BIẾN KHỞI PHIỀN
NÃO thứ hai. Vì có 4 loại trụ địa này làm nền tảng mà
khi đối duyên, mình mới sanh khởi phiền não như buồn, thương,
giận, ghét v.v…
1.
KIẾN NHẤT XỨ TRỤ ĐỊA là chỉ cho mọi KIẾN HOAËC trong
tam giới. Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
Dục giới là cõi giới mình đang sống đây. Với Dục giới,
KIẾN HOAËC là chỉ cho quan niệm sống của mình. Nó thuộc
về LÝ. Như thấy “Tiền là tất cả ở thế giới này.
Có nó mình có tất cả”. Cái thấy đó là một thứ thuộc
Kiến nhất xứ trụ địa. Kiến nhất xứ trụ địa là thứ
dẫn đường cho những hành tác của mình trong đời sống.
Kiến thay đổi thì hành tác của mình sẽ thay đổi.
2.
DỤC ÁI TRỤ ĐỊA là chỉ cho mọi thứ TƯ HOAËC ở Dục giới
này. TƯ HOAËC là chỉ cho những thứ thuộc về hành động
thói quen. Ở cõi Dục này thì mọi hành động thường liên
quan đến ái và dục nên lấy tên đó mà đặt. Nếu gặp
được chánh pháp, kiến hoặc một khi đã dứt thì không còn
trở lại, nhưng tư hoặc thì có thứ dứt liền được mà
có thứ chưa thể dứt liền, cần phải có thời gian và ý
chí trường viễn để hàng phục nó.
Như
người ngoài đời, thường ai cũng có quan niệm “Tình yêu
và tiền bạc là hạnh phúc của con người”. Nhưng sau những
thăng trầm của cuộc đời, có người lại nhận ra rằng
“Tu là cội phúc, tình là dây oan”. Nhận rõ được vậy,
nhưng đụng duyên vẫn cứ vướng vào cái dây oan nghiệt đó,
còn cội phúc thì mãi lần khần. Đó là do kiến hoặc đã
thay đổi mà tư hoặc thì một lần chưa thể xong. Bởi chủng
tử ái dục còn tiềm ẩn bên trong chưa tróc gốc thành gặp
duyên liền phát khởi. Tu chính là thay đổi kiến hoặc và
bào mòn tư hoặc. 6 Ba la mật là phương tiện để dứt bỏ
phần tập khí ẩn sâu trong thức tạng này.
3.
SẮC ÁI TRỤ ĐỊA
4.
HỮU ÁI TRỤ ĐỊA
2 trụ
địa này thuộc về tư hoặc của 2 cõi Sắc và Vô sắc, là
cõi giới phải có thiền định mới nhập được.
4 trụ
địa này tuy không phải một nhưng cũng không phải khác. KHÔNG
PHẢI MỘT, vì năng lực thô tế của chúng không giống nhau.
Như dục ái trụ địa là tư hoặc của cõi Dục, còn hữu
ái trụ địa là tư hoặc của cõi Vô sắc. Nếu vào được
cõi Vô sắc thì phần dục ái ở cõi Dục không còn. Không
phải một là như vậy. KHÔNG KHÁC vì hữu ái trụ địa là
nền tảng để dục ái trụ địa sanh khởi, như 4 trụ địa
là nền tảng để khởi phiền não sau sanh khởi.
II.
KHỞI PHIỀN NÃO là sát na sát na cùng
với tâm tương ưng. SÁT NA, sát na là chỉ cho thời gian rất
ngắn, niệm này nối tiếp niệm kia. TÂM TƯƠNG ƯNG và TÂM
BẤT TƯƠNG ƯNG là 2 khái niệm đã được giải thích rõ trong
luận Đại Thừa Khởi Tín.
Nói
TÂM TƯƠNG ƯNG là khi tâm có sự tương ưng hòa hợp với cảnh.
Như nghe tiếng mèo kêu ban đêm. Nghe mà bình thản không có
ý niệm gì khởi lên trong lòng thì không rơi vào tình trạng
tâm tương ưng nói đây. Còn nghe mà thấy hãi hùng rồi trong
đầu hiện lên bao cảnh ma quái là tâm mình đang có sự tương
ưng với cảnh. Sự sợ hãi rồi bao thứ khác khởi lên đó
là một dạng thuộc KHỞI PHIỀN NÃO. Gọi là BIẾN KHỞI vì
một khi cái này khởi lên thì kéo theo vô vàn những thứ khác
khởi lên. BIẾN là chỉ sự lan rộng tỏa khắp.
Hoặc
là những tư tưởng hay hình bóng hiện lên trong tâm – gọi
là pháp trần – nếu những ý tưởng đó hiện lên rồi qua
đi như một chiếc bóng không để lại dấu vết thì không
xuất hiện khởi phiền não. Nhưng một ý tưởng nào đó vừa
xuất hiện mà mình thấy vui hay buồn vì ý niệm đó, tức
là tâm mình đã rơi vào tình trạng tương ưng với cảnh.
Cảnh đây là pháp trần. Những thứ vui hay buồn đó đều
thuộc BIẾN KHỞI PHIỀN NÃO. Đó là ý nghĩa của câu “Sát
na,
sát na cùng với tâm tương ưng”.
Theo
sự phân tích trên thì rõ ràng 4 thứ trụ địa là chỗ sanh
tất cả biến khởi phiền não. Do có sẵn những quan niệm
trong đầu nên khi gặp duyên, thứ gì hợp với quan niệm của
mình thì sinh vui thích vừa lòng, không hợp với quan niệm
suy nghĩ của mình thì sinh buồn bã khổ sở. Hoặc do yêu thương
mà sinh tâm hoan hỉ hoặc do lòng mong muốn không được thỏa
mãn mà sinh đau khổ v.v... Quan niệm thì thuộc KIẾN TRỤ ĐỊA.
Yêu thương và mong muốn thuộc DỤC ÁI TRỤ ĐỊA. Những cảm
giác buồn, vui, hạnh phúc, đau khổ thuộc KHỞI PHIỀN NÃO.
4 trụ
địa dẹp rồi thì khởi phiền não cũng không còn. Đó là
vì nhân diệt thì quả diệt.
Chư
vị La Hán và Bích Chi Phật vừa bỏ được kiến hoặc vừa
bỏ được cả tư hoặc ở cả 3 cõi. Tức LÝ và SỰ của
chư vị đã viên dung, nhưng do phần LÝ chư vị nhận được
không phải là phần LÝ rốt ráo nên phần LÝ SỰ VIÊN DUNG
của chư vị cũng không được rốt ráo, nên chư vị không
có được phần SỰ SỰ VIÊN DUNG như của chư Phật.
Sau
sẽ đưa ra lý do vì sao niết bàn của chư vị không được
như niết bàn của chư Phật.
Thế
Tôn! Còn VÔ MINH TRỤ ĐỊA là tâm bất tương ưng từ vô thủy
đến nay.
Niết
bàn của La Hán và Bích Chi không được như Phật chính vì
phần VÔ MINH TRỤ ĐỊA này. Nó chính là phần VÔ MINH NGHIỆP
TƯỚNG trong luận Đại Thừa Khởi Tín.
Tâm
không đến với cảnh gọi là BẤT TƯƠNG ƯNG. Muốn hiểu
đầy đủ câu “Tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay”
thì phải nghiên cứu phần Bất Giác trong cuốn luận Đại
Thừa Khởi Tín[38]. Đây chỉ nói vừa đủ để có thể
hiểu.
VÔ
THỦY là không có khởi đầu. Nói không khởi đầu nhưng là
để chỉ cho lúc khởi đầu cảnh giới của một chúng hữu
tình. Không có khởi đầu vì sao nói khởi đầu? Vì cái khởi
đầu ấy không thực sự có chỗ khởi đầu. Chỉ do sự bất
giác của nhất tâm thanh tịnh mà thành có thế giới, thân
và tâm của một chúng hữu tình. Do cái bất giác ấy mà nói
VÔ MINH TRỤ ĐỊA chứ không phải thứ vô minh do tâm và cảnh
hòa hợp với nhau mà có. Không có tâm cảnh thì không có sự
tương ưng nên nói TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG.[39] Cái bất tương
ưng ấy đã có từ vô thủy, cũng là nền tảng sanh khởi
của tất cả phiền não từ vô thủy đến nay nên nói “Tâm
bất tương ưng từ vô thủy đến nay”.
Bạch
Thế Tôn! Lực của 4 trụ địa có thể làm sở y cho biến
khởi phiền não, song so với vô minh trụ địa thì tính đếm
thí dụ chẳng thể bì được. Cũng vậy, vô minh trụ địa
đối với hữu ái trụ địa, lực của nó rất lớn. Thí
như sắc, lực, oai đức và quyến thuộc của ma vương thì
hơn hẳn chư Thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, vô minh
trụ địa hơn cả 4 trụ địa, làm chỗ nương cho hằng hà
sa số phiền não, cũng làm cho 4 trụ địa phiền não tồn
tại lâu dài. Vô minh này, trí của Thanh văn và Độc giác
chẳng thể đoạn, chỉ có trí của Như Lai mới có thể đoạn.
SỞ
Y là chỗ nương. Tâm chúng sanh[40] bị 3 thứ chi phối
: Vô minh trụ địa, 4 trụ địa và khởi phiền não. Tâm chúng
ta vốn thanh tịnh trùm khắp song do bất giác mà sinh cái thấy
hư vọng và hiện cảnh giới hư vọng như nay. Phần bất giác
đó liên quan đến VÔ MINH TRỤ ĐỊA. Nó là nền tảng để
sanh khởi 4 TRỤ ĐỊA. Từ 4 TRỤ ĐỊA lại có KHỞI PHIỀN
NÃO.
Nếu
dẹp được 4 trụ địa thì khởi phiền não không còn. Nếu
dẹp được vô minh trụ địa thì 4 trụ địa mới thật sự
hết. Vô minh còn thì 4 trụ địa chưa hẳn hết. Đủ duyên,[41]
khởi phiền não sẽ sanh khởi. Đây là lý do vì sao chư vị
La Hán khi đối duyên, nếu trúng phải loại tập khí của
mình thì tâm vẫn sanh khởi.[42] Như ngài Ca Diếp nghe
nhạc ở cõi trời vẫn đứng lên nhảy nhót. Ấy là do phần
vô minh trụ địa chưa hết.
HỮU
ÁI TRỤ ĐỊA là chỉ cho phần tư hoặc thuộc cõi Vô sắc,
là cõi giới cao nhất trong tam giới. Bởi nó cao nhất, nên
phần tư hoặc của nó cũng thâm sâu nhất. Nhưng so với VÔ
MINH TRỤ ĐỊA thì không thấm vào đâu. So sánh vậy để thấy
lực của vô minh trụ địa to lớn thế nào. Thứ này chỉ
có trí kim cang của Phật mới đoạn được.
Bạch
Thế Tôn! Đúng vậy! Đúng vậy! Vô minh trụ địa, lực của
nó rất lớn. Thế Tôn! Như THỦ làm duyên, NGHIỆP HỮU LẬU
làm nhân mà sanh 3 hữu.
DUY
TÂM nên mọi thứ từ thân, tâm cho đến thế giới mình đang
thọ nhận đây không có gì ngoài tâm. Chỉ do sự biến hiện
của các chủng tử trong thức tạng mà thành có cảnh giới[43].
Thân phần đoạn của mình đây là do sự kết hợp giữa THỦ
và NGHIỆP HỮU LẬU mà biến thành. Nói chính xác là do CHỦNG
TỬ của THỦ và CHỦNG TỬ của NGHIỆP HỮU LẬU kết hợp
biến thành.
NGHIỆP
HỮU LẬU là chỉ cho thói quen của thân, khẩu và ý. Có nghiệp
thiện, có nghiệp bất thiện. Nghiệp thiện thì chiêu cảm
ra cảnh giới tốt, nghiệp bất thiện chiêu cảm ra cảnh giới
xấu. THỦ là chỉ cho sự chấp thủ. [44] Như vậy, những
thói quen trong việc làm thường ngày của mình đây sẽ để
lại những dấu ấn trong thức tạng. Dấu ấn ấy đủ duyên
kết hợp với tâm chấp thủ mà biến hiện ra thế giới,
thân và tâm mà một chúng hữu tình đang thọ nhận. Vì thế,
muốn không có thân luân chuyển trong sanh tử thì phải buông
bỏ sự chấp thủ và đưa 3 nghiệp thân, khẩu, ý đến chỗ
tịch tịnh. Đây là chỗ hành của chư vị Nhị thừa. 3 HỮU
là tên khác của tam giới.
Nói
cảnh giới này chỉ từ tâm biến hiện mình thấy khó tin.
Nhưng việc này không khác gì ngủ rồi mộng. Khi đang mộng
cũng thấy đi đây đi kia, gặp gỡ người này người người
khác, vui, buồn, đau khổ v.v... Những thứ đó từ đâu mà
có? Cũng chỉ từ tâm mà ra. Bởi ngủ rồi tỉnh nên biết
những thứ ấy là mộng. Nếu không tỉnh thì những gì thấy
trong mộng đó chẳng khác gì những thứ mình đang sống đây.
Cũng
vậy, VÔ MINH TRỤ ĐỊA làm duyên, NGHIỆP VÔ LẬU làm nhân
sanh ra A La Hán, Bích Chi Phật cùng chư đại lực Bồ tát tùy
ý sanh thân. Ba địa vị tùy ý sanh thân và vô lậu nghiệp
này đều lấy vô minh trụ địa làm sở y. Kia tuy có duyên
mà cũng hay làm duyên. Cho nên, bạch Thế Tôn! Ba thứ tùy ý
sanh thân và nghiệp vô lậu đó đều lấy vô minh trụ địa
làm duyên đồng với hữu ái trụ địa.
CŨNG
VẬY là tương tự như thân phần đoạn nói trên. Thân biến
dịch cũng từ nhân duyên mà thành. Song NHÂN bây giờ không
còn là nghiệp hữu lậu nữa mà là nghiệp vô lậu. DUYÊN
là vô minh trụ địa. Đó là vì La Hán hoặc Bồ tát ở các
địa, hoặc là nghiệp hữu lậu đã hết, hoặc là sự chấp
thủ pháp hữu lậu không còn. Nhân duyên không đủ thì không
sinh quả. Tức nghiệp hữu lậu và thủ không còn làm nhân
duyên cho nhau nên phần đoạn sanh tử chấm dứt, chỉ còn
phần nhân duyên vi tế kết hợp, hiện khởi thân biến dịch.
Tùy
ý sanh thân là chỉ cho 10 địa vị Bồ tát thuộc hàng Thập
địa.[45] Nghiệp vô lậu là chỉ cho La Hán và Bích Chi
Phật. Gọi là NGHIỆP vô lậu vì La Hán và Bích Chi Phật do
đoạn nghiệp hữu lậu mà có vô lậu. Nó thuộc loại chủng
tử vô lậu mới huân không phải loại chủng tử có sẵn.
[46]
Luận
Thành Duy Thức, khi nói về thức thứ 8 có đoạn viết “Chữ
nương (Y) nghĩa là duyên. Thức chấp trì này từ vô thủy
đến nay làm chỗ nương một cách bình đẳng cho tất cả
pháp cho nên gọi là duyên”. [47] Vô minh trụ địa là chỗ
nương (sở y) của 3 địa vị ý sanh thân và nghiệp vô lậu,
cũng là thứ để 3 địa vị ấy lấy đó làm duyên phát khởi
duyên hạnh, nên nói “Nó có duyên mà cũng làm duyên”.
Hữu
ái trụ địa cũng lấy vô minh trụ địa làm chỗ y chỉ,
nên nói “Tùy ý sanh thân và nghiệp vô lậu đều lấy vô
minh trụ địa làm duyên đồng với hữu ái trụ địa”.
Bạch
Thế Tôn! Hữu ái trụ địa chẳng đồng với vô minh trụ
địa nghiệp. Vô minh trụ địa khác với 4 trụ địa. Khác
với 4 trụ địa chỉ Phật mới đoạn được. Vì sao? Vì
A La Hán và Bích Chi Phật đoạn được 4 trụ địa mà đối
với lực lậu tận chẳng được tự tại, chẳng thể hiện
chứng.
LỰC
LẬU TẬN là một trong 10 lực của Phật, chỉ cho lực có
được khi dứt bỏ hết mọi phiền não. A La Hán nói hết
phiền não nhưng thật ra chưa hết. Vì A La Hán tuy đoạn được
phiền não nhưng chưa liễu tri được phần chủng tử của
phiền não, chưa liễu tri được cội nguồn của những chủng
tử ấy. Nên nói “Đối với lực lậu tận chưa được tự
tại, chẳng thể hiện chứng”.
Vì
sao? Bạch Thế Tôn, nói lậu tận là lời nói thừa. Cho nên,
A La Hán, Bích Chi Phật và chư Bồ tát tối hậu hữu vì bị
vô minh trụ địa che mờ nên với mọi pháp chẳng biết, chẳng
thấy. Vì chẳng biết chẳng thấy đối với mọi pháp nên
thứ cần đoạn thì chẳng đoạn, thứ cần tận thì chẳng
tận. Đối với mọi pháp chẳng đoạn chẳng tận nên được
hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát,
được hữu dư thanh tịnh mà chẳng phải là tất cả thanh
tịnh, được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả
công đức. Bạch Thế Tôn! Vì được hữu dư giải thoát mà
chẳng phải là tất cả giải thoát … Cho đến được hữu
dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức, nên chỉ
biết hữu dư KHỔ, đoạn hữu dư TẬP, chứng hữu dư DIỆT,
tu hữu dư ĐẠO.
LẬU
HOC trong 3 cõi tuy đã hết nhưng chưa được lực lậu tận
như Phật, nên nói A La Hán được lậu tận là LỜI NÓI THỪA.
Vì còn phần vô minh trụ địa nên sự giải thoát, thanh tịnh
cũng như công đức của 3 địa vị ấy chưa được hoàn toàn.
Chưa được hoàn toàn thì biết phần đoạn khổ, biết tập,
tu đạo, chứng diệt của các vị cũng không hoàn toàn.
Thắng
Man lại bạch Phật rằng “Thế Tôn! Nếu chỉ biết hữu
dư KHỔ, đoạn hữu dư TẬP, chứng hữu dư DIỆT, tu hữu
dư ĐẠO, gọi là diệt độ được ít phần, chứng được
ít phần niết bàn, hướng về niết bàn giới. Nếu biết
tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt,
tu tất cả đạo thì người đó ở nơi thế gian vô thường
bại hoại này chứng được niết bàn thường tịch thanh lương.
Bạch Thế Tôn! Ở nơi thế gian không chỗ che chở, không chỗ
y tựa, người đó sẽ làm chỗ che chở, làm chỗ y tựa.
Đây
là nói riêng về các vị A La Hán. Thấy khổ, tập, diệt,
đạo nhưng chưa thấy được cội nguồn của khổ, tập, diệt,
đạo nên chư vị nhập niết bàn mà bỏ công hạnh. Nếu thấy
được cội nguồn của khổ, tập, diệt, đạo thì các vị
biết sanh tử không khác niết bàn. Tất cả đều là huyễn
mộng chỉ từ tâm biến hiện. Thấy được tính huyễn mộng
ấy của vạn pháp tức chư vị đang ở trong niết bàn. Sanh
tử tức niết bàn thì chư vị không bỏ công hạnh của mình
ở thế gian này. Công hạnh là chỉ cho việc “Làm chỗ che
chở, làm chỗ y tựa” nơi thế gian không chỗ che chở, không
chỗ y tựa.
Vì
sao? Là để giải thích vì sao nói ngay thế gian đây mà chứng
được niết bàn thường tịch thanh lương, không đợi phải
nhập niết bàn mới có sự thường tịch thanh lương.
Vì
với các pháp mà thấy có cao thấp thì chẳng chứng được
niết bàn. Kẻ mà trí tuệ bình đẳng, giải thoát bình đẳng,
thanh tịnh bình đẳng mới chứng được niết bàn. Cho nên,
niết bàn gọi là ĐỒNG MỘT VỊ.
Vì
pháp vốn bình đẳng. Thấy hạnh phúc hay đau khổ, sanh tử
hay niết bàn là do TRÍ PHÂN BIỆT của mình mà ra. Phá được
trí phân biệt thì sẽ thấy được tánh bình đẳng của vạn
pháp, sẽ nhận được TƯỚNG huyễn mộng của chúng, mà TÁNH
của tất cả pháp chính là tâm chân thật của chính mình.
Nhận
được tính bình đẳng của vạn pháp thì mới thật là chứng
niết bàn. Điều này cũng dễ hiểu. Còn có chỗ để tâm
e ngại thì còn có chỗ để mình phiền não. Nếu ở địa
ngục cũng như ở cực lạc, thấy nước cũng như thấy rượu,
thấy đàn ông cũng như đàn bà, ngủ đường cũng như ngủ
trong giường êm nệm ấm, đi bộ cũng như đi máy bay thì khổ
não còn chỗ nào để xuất hiện? Song muốn đạt được điều
đó thì phải nhận ra được cội nguồn nhất tâm. A La Hán
chỉ thấy được khổ, tập, diệt, đạo như những pháp thực
hữu, mà chưa nhận ra được cội nguồn của những thực
hữu đó, nên niết bàn của chư vị chưa phải là niết bàn
chân thật rốt ráo.
Sao
nói “Một vị là vị giải thoát”? Bạch Thế Tôn! Nếu
vô minh trụ địa chẳng đoạn, chẳng hết thì chẳng được
niết bàn đồng một vị đó.
Muốn
được niết bàn chân thật thì phải phá đi trí phân biệt.
Muốn phá trí phân biệt thì phải biết chắc rằng trí phân
biệt mình đang có đây không có thực thể, chỉ do tự tâm
thanh tịnh bất giác mà sinh phân biệt. Muốn thông được
những điều đó thì phải nhận cho được cội nguồn nhất
tâm. Nhận được cội nguồn này, nhà Thiền gọi là kiến
tánh, là chứng nhập được mặt THỂ TÁNH của vạn pháp.
Kinh đây gọi là TRÍ TÁNH KHÔNG. Trí tánh không này chính là
nhân vô lậu sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Chứng nhập được
cái nhân đó là phá vỡ được một phần vô minh trụ địa,
nhập vào địa vị Bồ tát của hàng Thập địa. Tiếp tục
nương cái nhân đó phá dần trí phân biệt để viên mãn Phật
quả.[48] Đó là lý do nói “Vô minh trụ địa chẳng
đoạn chẳng hết thì chẳng được niết bàn đồng một vị”.
ĐOẠN là chỉ cho chỗ hành của các vị Bồ tát từ quả
vị Sơ Địa trở lên. HẾT là chỉ cho quả Phật viên mãn.
Vì
sao? Vì vô minh trụ địa chẳng đoạn chẳng hết nên có hằng
hà sa số tất cả pháp lỗi lầm đáng đoạn mà chẳng đoạn,
đáng hết mà chẳng hết. Vì có hằng hà sa số tất cả pháp
lầm lỗi chẳng đoạn chẳng hết nên có hằng hà sa số các
pháp công đức chẳng biết chẳng chứng. Cho nên, vô minh trụ
địa làm chỗ sanh cho tất cả các pháp đáng đoạn và các
tùy phiền não.
Đây
là nêu ra sự tai hại khi không phá trừ phần vô minh trụ
địa. TÙY PHIỀN NÃO là chỉ cho phần chủng tử (tập khí)
phiền não.
HẰNG
SA là cát sông Hằng. HẰNG SA SA SỐ là chỉ cho số lượng
quá nhiều, không tính đếm được như cát sông Hằng, tương
đương với từ vô lượng.
Từ
đó mà sanh chướng tâm phiền não, chướng chỉ phiền não,
chướng quán phiền não, chướng tịnh lự phiền não … Cho
đến chướng tam ma bát để phiền não, gia hạnh, trí, quả
chứng, lực, vô úy … Có hằng hà sa số tất cả phiền não,
chỉ bồ đề của Như Lai và trí kim cang của Phật mới có
thể đoạn.
TỪ
ĐÓ là từ cái vô minh trụ địa đó mà sinh ra mọi thứ khác.
Vì sao những thứ như chỉ, quán v.v… là thứ giúp mình phá
bỏ vô minh, quay về bản tâm thanh tịnh mà đây nói từ đó
sanh … ? Vì chính từ vô minh trụ địa mới nảy sinh sở
tri, phiền não. Có sở tri và phiền não mới phải xuất hiện
các pháp đối trị như chỉ, quán v.v… mới có cái quả là
quả chứng, lực ... Nếu không có vô minh thì không có phiền
não, không phiền não thì không lập chỉ, quán v.v... nên nói
TỪ ĐÓ MÀ SANH.
Do
cái này mới sanh cái kia, còn bản tâm thanh tịnh vốn không
có mấy thứ đó. Nên dù là thuốc trị bệnh chăng nữa, một
khi mình còn phải dụng đến chúng thì những thứ đó vẫn
còn là những vụn vàng làm xốn con mắt thanh tịnh. Nên gọi
chúng là CHƯỚNG.
Những
thứ như QUẢ CHỨNG, LỰC, VÔ ÚY không phải là pháp trị
bệnh mà chúng là cái quả tất nhiên phải có khi tâm đã
hết sở tri và phiền não. Song khi chưa thành Phật thì những
thứ này chưa đầy đủ viên mãn như ở Phật. Cái chưa viên
mãn đó tương ưng với tâm chưa sạch vô minh. Chưa hết vô
minh hoàn toàn thì sự chấp thủ vi tế vẫn còn. Nếu thấy
những thứ đó là cái quả đương nhiên rồi sinh tâm chấp
thủ. Chấp thì mọi thứ sẽ thành ma. Nên đây cũng phải
liệt kê ra để người tu biết mà cẩn trọng. Phải xả đến
tận cùng mọi thứ : Không chỉ bệnh mà cả thuốc trị bệnh
nữa mới thật là người hết bệnh. Đây là lý do vì sao
ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ nói “Giữ giới cùng nhẫn nhục.
Chuốc tội chẳng chuốc phước”.
BỒ
ĐỀ không khác TRÍ KIM CANG. Song nói đến trí là muốn đến
cái dụng của nó. Kim cang là thứ vững chắc cắt được
mọi thứ, nên mượn hình ảnh đó để nói về trí lực đoạn
phiền não vi tế của Phật, gọi là trí kim cang. ĐOẠN ĐƯỢC
nghĩa là đưa tất cả những thứ đó về chỗ vô trụ.
Sở
đắc được thứ gì thì tâm chấp thủ thứ đó rất mạnh.
Sở đoản còn dễ bỏ, sở trường không phải dễ. Song tin
được những điều đây, rồi thực hành theo niềm tin đó
để buông xả dần mọi thứ, không phải là trí tuệ Phật
thì không làm được. Vì thế đây nói “Chỉ bồ đề của
Như Lai và trí kim cang của Phật mới có thể đoạn”. Trí
kim cang nói đây là nói đến trí kim cang của địa vị Bồ
tát kế Phật, phá hoàn toàn phần vô minh trụ địa. Vô minh
trụ địa hết thì những cành lá của nó là 4 trụ địa
và khởi phiền não mới thật sự hết.
Các
khởi phiền não, tất cả đều nương nơi vô minh trụ địa.
Vô minh trụ địa làm nhân duyên. Bạch Thế Tôn! Khởi phiền
não này sát na sát na cùng với tâm tương ưng, còn vô minh
trụ địa là tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay.
Phần
này đã giải thích trên. Khởi phiền não là loại phiền não
do tiếp duyên đối cảnh trong hiện tại mà có. Còn vô minh
trụ địa là nền tảng để khởi phiền não xuất hiện.
Nó có từ vô thủy đến nay.
Bạch
Thế Tôn! Hằng hà sa số pháp mà bồ đề Như Lai và trí kim
cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y trì nơi vô minh
trụ địa mà kiến lập. Thí như tất cả hạt giống và rừng
cây đều y nơi đại địa mà được sanh trưởng. Nếu đại
địa hoại thì những thứ kia cũng hoại theo. Cũng vậy, hằng
hà sa số tất cả pháp mà bồ đề và trí kim cang của Phật
nên đoạn, tất cả đều y nơi vô minh trụ địa mà sanh trưởng.
Nếu vô minh trụ địa ấy đoạn thì hằng hà sa số tất
cả pháp mà bồ đề và trí kim cang của Phật nên đoạn cũng
đoạn theo.
Đây
là nêu bày, muốn quả diệt thì phải diệt nhân. Nhân diệt
thì quả mới thật sự diệt.
Hằng
hà sa số các pháp nên đoạn cùng tất cả phiền não và khởi
phiền não đều đã đoạn, nên có thể chứng được hằng
hà sa số các Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn. Với tất cả
pháp, chứng được thần thông vô ngại, được các tri kiến
lìa tất cả lỗi, được các công đức, làm đại pháp vương.
Đối với pháp tự tại thì chứng được cảnh giới của
pháp tự tại. Chính là tiếng rống của sư tử : Ta sanh đã
tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, chẳng còn thọ
hậu hữu. Cho nên, bạch Thế Tôn! Vì là tiếng rống sư tử
nên chỉ y nơi liễu nghĩa một bề ký thuyết.
Vô
minh trụ địa diệt thì 4 trụ địa và phiền não đều diệt,
pháp thân hiển lộ hoàn toàn, nêu bày tướng và dụng không
thể nghĩ bàn. Tri kiến của Phật là tri kiến như thật, thấy
đúng bản chất của vạn pháp, vì thế nói “Được tri kiến
lìa tất cả lỗi”. PHÁP TỰ TẠI là chỉ cho pháp thân. Phải
chứng nhập được hoàn toàn cội nguồn chân thật đó thì
mới có thể rống lên tiếng rống của sư tử là sanh đã
tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, không còn thọ
thân sau.
Gọi
là TIẾNG RỐNG SƯ TỬ vì Phật từ trong trú xứ tam muội
vương của chư Phật ra, miệng được vô ngại giải thoát,
nương nơi 10 lực quảng đại, độ chúng sanh không sai thời,
bày oai đức với các nghị luận sư của ngoại đạo tà giáo,
giác tỉnh chúng hữu tình mê muội, mở đường cho kẻ tà
kiến … Những thứ ấy giống như những đức tính mà một
sư tử chúa đối với bầy thú quanh mình, nên mượn hình
ảnh sử tử để ví dụ. [49]
Thế
Tôn! Chẳng thọ hậu hữu có 2 thứ. Thế nào là 2? Hỏi là
để giải thích về 2 thứ “Chẳng thọ hậu hữu”.
1.
Chư Như Lai dùng lực điều ngự hàng phục 4 ma ra khỏi các
thế gian, được sự chiêm ngưỡng của mọi hữu tình, chứng
pháp thân thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn. Với cảnh sở tri,
được pháp tự tại tối thắng vô thượng hoàn toàn không
có sở tác, không thấy có cảnh giới sở chứng, đầy đủ
10 lực, vào được cảnh giới tối thắng không có sợ hãi.
Với tất cả pháp quán sát không ngăn ngại, chính là tiếng
rống của sư tử, chẳng còn thọ hậu hữu.
Cái
KHÔNG THỌ HẬU HỮU thứ nhất là của chư Phật. Chư Phật
dùng lực điều ngự của mình để hàng phục 4 ma. ĐIỀU
NGỰ là điều phục và chế ngự. 4 ma là chỉ cho những thứ
cướp đi thân mạng cũng như tuệ mạng của người tu. Đó
là phiền não ma, ngũ ấm ma, tử ma và thiên ma. Hàng phục
được 4 loại ma này thì ra khỏi các thế gian. THẾ là chỉ
cho sự dời đổi (như thời gian). GIAN là chỉ cho phương hướng
(như không gian). Những gì có tính cách như thế đều gọi
là thế gian. Theo nghĩa ấy thì thế gian không phải chỉ dùng
cho cõi mình đang ở đây mà còn chỉ cho cõi Sắc, Vô sắc,
thậm chí niết bàn của hàng Nhị thừa cũng chưa thoát khỏi
2 chữ thế gian này, nên nói là CÁC.
Cảnh
giới sở chứng của Phật không giống như của hàng Nhị
thừa. Cái khác nhau ấy nằm ở chỗ : Niết bàn của A La Hán
và Bích Chi Phật vẫn còn là đối tượng của một cái năng
chứng. Nói rõ hơn, dù là trạng thái thanh lương bặt mọi
suy lường chăng nữa, trạng thái ấy vẫn là đối tượng
của một cái năng biết. Vẫn là cảnh giới thuộc thức ấm.
Thức ấm chưa không thì chưa phải là cảnh giới của chư
Như Lai. Phần này đặt nặng cho người có công phu.
Những
gì là đối tượng của cái biết đều gọi là CẢNH SỞ
TRI. Từ những hình tượng thô mình thấy đây cho đến cảnh
giới chứng nhập rỗng không của tự tâm, đều gọi là cảnh
sở tri. Nếu đúng là cảnh giới chứng nhập của Phật thì
cảnh giới ấy không phải là đối tượng của cái biết.
Bởi biết hay bị biết đều hòa tan vào biển pháp thân. “Không
sở tác, không thấy có cảnh giới sở chứng” là diễn tả
cảnh giới đồng chư Phật nói đó.
THẬP
LỰC là 10 lực của Phật. Đó là 10 loại trí lực biết như
thật các pháp từ nghiệp báo và sự thọ báo của chúng sanh
cho đến những sai khác vi tế của mọi cảnh giới thiền
định. [50]
CẢNH
GIỚI TỐI THẮNG là chỉ cho pháp thân Phật. KHÔNG CÓ SỢ
HÃI là để nói về sự khác biệt giữa Phật và A La Hán.
Một khi pháp thân được hiển lộ hoàn toàn thì có được
4 cái không sợ này. Bởi lúc đó đã sạch tất cả lậu hoặc,
thành tựu được tất cả mọi loại trí thông suốt cả thế
gian và xuất thế gian.
2.
A La Hán và Bích Chi Phật đã qua được vô lượng sanh tử
sợ hãi, hưởng được cái lạc của sự giải thoát, rồi
khởi nghĩ ‘Ta nay đã lìa được sanh tử sợ hãi, chẳng
còn chịu sự khổ não’. Bạch Thế Tôn! A La Hán và Bích
Chi Phật quán sát như vậy và cho là không còn thọ hậu hữu.
Song chẳng chứng được đệ nhất tô tức xứ.
Loại
KHÔNG THỌ HẬU HỮU thứ hai là chỉ cho chỗ chứng của các
vị Nhị thừa. Các vị không còn bị sanh tử phần đoạn
chi phối nên nói qua được vô lượng sanh tử. Từ vô thủy
đến nay trải qua không biết bao lần sanh tử nên nói VÔ LƯỢNG
SANH TỬ. Sanh và tử là hai đầu mút của một cuộc đời.
Ai cũng sợ sự khổ não và đau đớn của đói nghèo, bịnh
hoạn, tai nạn và những bất trắc trong cuộc đời này mà
cái đáng sợ nhất là chết, nên nói SANH TỬ SỢ HÃI. Không
còn bị trói buộc trong những thứ đó gọi là GIẢI THOÁT.
Giải thoát được sanh tử thì hết các sợ hãi, nên nói HƯỞNG
ĐƯỢC CÁI LẠC của sự giải thoát. Tuy nhiên, thoát được
những thứ đó cũng chưa phải là chỗ dừng dứt cuối cùng,
nên nói “Chẳng được đệ nhất tô tức xứ”. ĐỆ NHẤT
TÔ TỨC XỨ là chỉ cho niết bàn Phật.
QUÁN
SÁT như vậy, chỉ cho thứ chư vị vừa khởi nghĩ “Ta nay
đã lìa được sanh tử sợ hãi, chẳng còn chịu sự khổ
não”.
Với
cảnh giới chưa chứng, các vị ấy chưa gặp được pháp
nên tự hiểu rõ ‘Ta nay mới chứng được cảnh giới hữu
dư y, nhất định phải chứng cho được A Niệu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề’.
Đây
là nói về sự hiểu biết của các vị thắng căn A La Hán.
Biết mình được chỗ nào, chưa được chỗ nào.
Vì
sao? Là để giải thích.
Vì
Thanh văn và Độc giác đều nhập Đại thừa, mà Đại thừa
chính là Phật thừa. Cho nên Tam thừa chính là Nhất thừa.
Chứng Nhất thừa thì được A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề. A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chính là niết bàn.
Nói niết bàn tức là pháp thân Như Lai thanh tịnh. Chứng pháp
thân chính là chứng Nhất thừa, không khác Như Lai, không khác
pháp thân. Nói Như Lai chính là pháp thân. Chứng cứu cánh
pháp thân là chứng cứu cánh Nhất thừa. Chứng cứu cánh
Nhất thừa thì lìa tương tục.
Đây
là nói về Nhất thừa. Nhất thừa thì “Tức tâm tức Phật”.
Ngay tâm này là Phật, không có Phật ngoài tâm. Nói Tam thừa
thật ra là để qui về Nhất thừa, nên nói TAM THỪA CHÍNH
LÀ NHẤT THỪA. Nói niết bàn, nói Như Lai, nói Phật, nói pháp
thân v.v… đều chỉ cho cội nguồn nhất tâm chân thật của
chính mình, nên nêu ra một loạt CHÍNH và TỨC trên. Nói KHÔNG
KHÁC là vì tên khác mà nghĩa đồng.
TƯƠNG
TỤC là chỉ cho sự lưu chuyển biến dịch tương tục của
dòng tâm thức, được biểu hiện thành 2 thứ sanh tử. Chứng
được pháp thân thì sự tương tục của tâm hết, 2 thứ
sanh tử cũng hết.
Vì
sao? Bạch Thế Tôn! Vì Như Lai tồn tại không có hạn lượng,
đẳng đồng hậu tế. Như Lai dùng vô hạn đại bi, vô hạn
thệ nguyện để làm lợi ích thế gian. Nói vậy gọi là khéo
nói. Hoặc nói Như Lai là thường trụ, là pháp vô tận, là
chỗ y chỉ rốt ráo của tất cả thế gian, cũng gọi là khéo
nói. Cho nên, hay đối với thế gian không chỗ che chở, không
chỗ nương tựa đẳng đồng hậu tế, mà làm chỗ qui y vô
tận, qui y thường trụ, qui y rốt ráo, gọi là Như Lai Ứng
Chánh Đẳng Giác.
Sự
lưu chuyển tương tục của dòng tâm thức chính là thứ tạo
ra những phần đoạn bị ràng buộc trong không gian và thời
gian. Hết tương tục thì pháp thân không có bờ mé hiển bày,
bao trùm tất cả, nên nói “Thời gian tồn tại của Như Lai
không có hạn lượng, đẳng đồng hậu tế”. Hậu tế là
bờ mé sau cùng. Bờ mé sau cùng đó không có sau cùng, nên
nói KHÔNG CÓ HẠN LƯỢNG. Vì Như Lai tồn tại không hạn lượng
nên đại bi của Như Lai cũng không có hạn lượng, thệ nguyện
cứu độ chúng sanh của Như Lai cũng không có hạn lượng.
Bởi
Như Lai là tánh của tất cả pháp nên nói “Là chỗ y chỉ
rốt ráo của tất cả thế gian”.
Pháp
là đạo Nhất thừa. Tăng là chúng Tam thừa. 2 thứ qui y này
chẳng phải là qui y rốt ráo, gọi là qui y ít phần.
Bản
dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch là “Pháp tức là
nói đạo Nhất thừa”. Vậy PHÁP nói đây không phải chỉ
cho pháp tánh chân như mà chỉ cho đạo Nhất thừa đã được
phương tiện thành ngôn từ để giảng dạy cho chúng sanh.
Qui y Pháp và qui y Tăng như vậy là còn nương vào những thứ
sanh diệt, còn hướng ngoại chứ chưa hướng nội, nên không
phải là chỗ chân thật rốt ráo. Vì thế, gắng cho chúng
cái tên là QUI Y ÍT PHẦN. Tức mới qui y chút chút, chưa phải
là sự qui y toàn diện, tối cùng.
Vì
sao? Là để giải thích vì sao gọi 2 thứ qui y đó là qui y
ít phần.
Nói
đạo Nhất thừa là chứng pháp thân tối cùng. Sau đó hoàn
toàn không nói đạo Nhất thừa. Chúng Tam thừa vì sự sợ
hãi mà qui y Như Lai cầu mong xuất ly, tu học. Vì có chỗ tạo
tác, vì hướng về A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nên
2 thứ qui y đó chẳng phải là qui y tối cùng mà là qui y hữu
hạn.
Nói
đạo Nhất thừa là muốn chúng sanh trực nhập lại phần
pháp thân rốt ráo của chính mình, là qui y Phật, chứ phần
giảng thuyết đó không phải là Nhất thừa. Nhất thừa không
phải là chỗ mà ngôn từ suy nghĩ có thể đến. Chứng được
pháp thân tối cùng thì hiểu cái nói kia chỉ là phương tiện,
nên nói “Sau đó hoàn toàn không nói đạo Nhất thừa”.
Qui
y Pháp hay qui y Tăng chỉ là phương tiện để đạt được
Phật tâm. Phật tâm mới là đạo Nhất thừa. Đang trên đường
hướng về nên nó không phải là chỗ qui y tối cùng. Đây
là biện để rõ phương tiện không phải là cứu cánh.
Nếu
chúng hữu tình nào được Như Lai điều phục mà qui y Như
Lai thì được pháp thấm nhuần. Vì tâm tin thích mà qui y Pháp
và qui y Tỷ kheo Tăng. 2 thứ qui y này là do pháp thấm nhuần
tín nhập mà qui y. Như Lai thì không phải là pháp thấm nhuần
và tín nhập mà qui y.
Bản
dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi “Nếu chúng sanh nào
được Như Lai điều phục, qui y Như Lai được pháp thấm
nhuần, sanh tâm tin thích qui y Pháp và qui y Tăng thì 2 pháp
qui y này không phải là 2 pháp qui y đó mà là qui y Như Lai.
Qui y đệ nhất nghĩa là qui y Như Lai”.
So
sánh 2 bản dịch thì thấy nghĩa của 2 bản dịch trái ngược
nhau : Đều là qui y Pháp và Tăng nhưng có thứ qui y không phải
là qui y Như Lai mà có thứ lại qui y Như Lai. Có cái khác nhau
ấy là do cách nhận định pháp của mình mà ra, không phải
do pháp có sự khác biệt. Hiểu được chỗ này sẽ thấy
ý nghĩa của hai bản dịch không khác nhau.
Như
Lai là pháp tánh sẵn đủ trong mỗi chúng sanh, là tự tánh
chân như của mỗi người. Chính nhờ tự tánh này mà chúng
sanh mới có lúc chán sanh tử khổ cầu cái vui niết bàn, nên
nói “Chúng hữu tình nào được Như Lai điều phục”. Do
cái hồi đầu đó mà tâm sinh tin thích đối với Pháp bảo
và Tăng bảo, rồi hướng về nương tựa 2 thứ đó nên nói
“Qui y Pháp và qui y Tăng”.
Nếu
nương tựa Pháp và Tăng mà hiểu Pháp và Tăng đó chỉ là
phương tiện để mình thể nhập Như Lai của chính mình, ngoài
tâm không có pháp, thì 3 thứ qui y đều là qui y chân thật.
Đây là ý nghĩa bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La. Nếu
thấy ngoài tâm thật có Phật, Pháp, Tăng để nương tựa
thì cả 3 thứ qui y ấy chưa có thứ nào gọi là đúng nghĩa
của qui y Như Lai. Đó là ý nghĩa của bản dịch đây. Nên
phần sau nói :
Nói
Như Lai, là chân thật qui y. 2 thứ qui y kia với nghĩa chân
thật, gọi là qui y rốt ráo Như Lai. Vì sao? Vì Như Lai chẳng
khác 2 thứ qui y đó. Cho nên, Như Lai tức là 3 thứ qui y.
Như
Lai không phải là pháp sanh diệt giả hợp mà là tự tánh
chân thật của chính mình, là thể tánh thường trụ của
vạn pháp, nên qui y Như Lai là qui y chân thật, là chỗ nương
tựa tối cùng. Một khi nhận ra được thể tánh chân thật
đó thì tất cả pháp đều là Phật pháp, nên nói “2 thứ
qui y đó, bằng nghĩa chân thật, gọi là qui y tối cùng Như
Lai”. Đi đông đi tây gì rồi cũng qui về cội nguồn nhất
tâm. Đó là sự qui y tối cùng.
VÌ
SAO? là để giải thích.
Vì
Như Lai là thể tánh của 2 thứ qui y đó, nên nói “Như Lai
không khác 2 thứ qui y đó”. Nói KHÔNG KHÁC nghĩa là 2 thứ
qui y đó không thể xuất hiện nếu không có tánh Như Lai.
2 thứ đó không lìa Như Lai mà có. Nhưng chúng không phải
là Như Lai. Như nói bàn gỗ không khác gỗ, vì gỗ là bản
chất của bàn nhưng gỗ không phải là bàn. Nếu bàn là gỗ
thì gỗ không thể mang ra làm ghế hay làm giường. Đó là
ý nghĩa của từ KHÔNG KHÁC. Không khác nhưng không nói là
MỘT. Vì quả tình chúng không phải là một. Đây là nêu bày
thực tánh hay thực tướng của 3 thứ qui y : Không khác cũng
không một. Tức TƯỚNG tức THỂ, là một dạng của BÁT BẤT
trong Trung Luận.
Vì
sao? Vì nói đạo Nhất thừa là nói Như Lai tối thắng đầy
đủ 4 vô úy. Chính là sử tử hống. Chư Như Lai theo tánh
dục của người đời mà lập bày phương tiện. Nói đến
Nhị thừa tức là nói Đại thừa. Vì Đệ nhất nghĩa không
có 2 thừa. Nhị thừa đồng nhập Nhất thừa. Nhất thừa
là thắng nghĩa thừa.
ĐẦY
ĐỦ 4 VÔ ÚY là chỉ cho quả vị Phật. Khi viên mãn quả Phật
thì được đầy đủ 4 thứ vô úy này. Nói Tam thừa là tùy
theo căn dục của chúng sanh mà lập. Như người chỉ thích
cúng dường gieo duyên để hưởng phước báu thế gian mà
mình giảng nói về việc cạo đầu vào chùa thì dù việc
vào chùa ấy có mang lại công đức bao nhiêu, họ cũng cuốn
gói tránh xa mình. Đó là do cái trí của họ chưa thấy được
cái lợi của việc xuất gia mà chỉ thấy được sự hỉ
lạc của việc cúng dường và hưởng thụ phước báu của
sự cúng dường đó. Vì căn và dục của họ chỉ tới ngang
đó thì chỉ lập bày ngang đó. Lập cao nữa chúng chạy mất.
Cũng
có người hưởng lạc thế gian rồi mới nghiệm ra rằng :
Cái lạc của thế gian tiềm ẩn nhiều cái khổ, trong cái
họa có cái phước, trong cái phước có cái họa, chẳng biết
đâu mà lường. Với sự chứng nghiệm đó, họ lơ là với
những thứ hiện tại và muốn tìm một chỗ nương tựa mới.
Lúc đó lập bày việc tu hành mới có hiệu quả. Ứng vào
tâm dục của chúng sanh như vậy thì việc lập pháp mới thành
công …
Phật
lập Tam thừa chính vì vậy, là để mở bày trí tuệ cho chúng
sanh từ từ. Trí tuệ phát triển rồi mới dễ thâm nhập
pháp tối thượng. Cho nên, lập gì đó lập, nói gì đó nói,
cũng cốt nói đến mục tiêu cuối cùng là Đại thừa và
Nhất thừa. Một khi anh đã bước được vào Tiểu thừa,
thì dù cứng đầu bao nhiêu cũng có ngày anh bước sang Trung
thừa, rồi bước vào Đại thừa, tối cùng là Nhất thừa.
Vì sao? Vì cái LÝ nó như vậy. Vì Nhất thừa là nền tảng
của mọi thừa, là tánh thể của tất cả thừa. Một bậc
Tôn túc đã nói “Kiến trong miệng chén có bò đi đâu”.
Nếu anh đúng là bậc lão gia của Nhị thừa thì anh phải
có trí tuệ để nhận ra được tính logic của Tam thừa, phải
thấy được cái LÝ siêu xuất bao trùm của Đại thừa. Không
nhận ra được thì cái trí của anh chưa phải là trí tuệ
của bậc lão gia. Đây là lý do vì sao trong kinh Pháp Hoa, Phật
nói chỉ cần vẽ hình tượng Phật là sẽ thành Phật, các
bậc lão gia thuộc phái Tiểu thừa xưa như Mã Minh, Vô Trước
v.v… đều qui hướng Đại thừa và trở thành chư Tổ của
Đại thừa.
Bạch
Thế Tôn! Thanh văn và Độc giác lúc đầu chứng thánh đế,
chẳng phải là dùng nhất trí mà đoạn các trụ địa, cũng
chẳng phải là dùng nhất trí mà chứng 4 biến tri cùng các
công đức v.v... cũng chẳng phải nhờ pháp mà khéo liễu tri
nghĩa của 4 pháp này.
NHẤT
TRÍ là chỉ cho TRÍ TÁNH KHÔNG nói sau. Nó là dụng của tự
tánh chân như (tức dụng của tánh không). Phải có trí này
thì mới đoạn được từng phần vô minh trụ địa. Nó là
chủng vô lậu sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Hàng Nhị thừa
chưa có trí này nên nói “Chẳng phải là dùng nhất trí mà
đoạn các trụ địa …”
Bạch
Thế Tôn! Đối với trí xuất thế thì không có 4 trí dần
đến hay dần duyên.
TRÍ
XUẤT THẾ là chỉ cho NHẤT TRÍ vừa nói trên hay TRÍ TÁNH
KHÔNG sắp nói sau. Loại trí này không phải do tu hành mà được,
cũng không phải không do tu hành mà được. Vì sao? Vì trí
ấy vốn sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Chỉ vì bị vô minh
che lấp mà trí ấy không hiển lộ được. Tu hành chính là
vẹt đi đám vô minh mờ mịt để trí ấy hiển bày, không
phải tu hành là tác nhân tạo ra trí ấy. Trí do tu hành mà
có, đây gọi là TRÍ DẦN ĐẾN hay DẦN DUYÊN.
Nhà
Thiền phân trí thành 2 loại là trí vô sư và trí hữu sư.
TRÍ TÁNH KHÔNG nói đây chính là trí vô sư. TRÍ DẦN ĐẾN
hay DẦN DUYÊN không hẳn là trí hữu sư, nhưng nó không phải
là loại trí vô sư mà nhà Thiền nói. Vì TRÍ TÁNH KHÔNG không
dần đến hay dần duyên nên gọi là NHẤT TRÍ.
Bạch
Thế Tôn! Trí xuất thế gian là pháp không có dần đến, như
kim cang dụ định. Bạch Thế Tôn! Thanh văn và Độc giác dùng
các loại trí thánh đế mà đoạn các trụ địa, không có
trí xuất thế đệ nhất nghĩa. Chỉ có Như Lai Ứng Chánh
Biến Tri (chẳng phải là cảnh giới của Thanh văn và Độc
giác) dùng trí tánh không chẳng thể nghĩ bàn phá tất cả
mọi phiền não.
Xác
định để rõ về 2 loại trí của hàng Nhị thừa và Bồ
tát chứng tánh không. Đây là lý do vì sao kinh luận gọi hàng
Bồ tát Thập địa là chân thật tu hành. Nhà Thiền nói “Đốn
ngộ đồng chư Phật”. Một niệm đồng chư Phật đó là
chỉ cho TÁNH KHÔNG. Nương cái dụng của nó là trí tánh không
phá dần TRÍ PHÂN BIỆT. Đến địa vị Bát Địa, thấy được
chỗ sanh của vọng tưởng, việc tu hành không còn sự tạo
tác đối trị, chỉ nhậm vận theo dòng pháp chấp mà phá
vào phần căn bản vô minh, chính là vô minh trụ địa. Trong
3 a tăng kỳ kiếp tu hành, giai đoạn này mất một a tăng kỳ
kiếp.
KIM
CANG DỤ ĐỊNH là chỉ cho tâm của hàng Bồ tát kế vị Phật.
Dùng trí này phá đi phần tập khí cuối cùng mà nhập Phật
quả. Trí đó chính là nhất trí của Như Lai như phần sau
nói.
Bạch
Thế Tôn! Trí phá được phiền não rốt ráo gọi là trí xuất
thế đệ nhất nghĩa. Trí thánh đế đầu chẳng phải là
trí tối cùng, vẫn còn thú hướng A Niệu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề. Bạch Thế Tôn! Thánh nghĩa chân thật chẳng phải
là Nhị thừa. Vì sao? Vì Thanh văn và Độc giác chỉ có thể
thành tựu thiểu phần công đức, có tên là THÁNH.
TRÍ
THÁNH ĐẾ ĐẦU là chỉ cho trí của chư vị La Hán và Bích
Chi Phật. Chưa phá được hết tất cả phiền não nên không
phải là trí tối cùng như trí của Như Lai. Song vẫn gọi
là thánh, vì chư vị không còn là phàm ngu nữa.
Bạch
Thế Tôn! Nói thánh đế, chẳng phải là thánh đế và công
đức của Thanh văn và Độc giác. Thánh đế này chỉ có Như
Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới liễu tri. Rồi sau, vì vô minh
tạng của chúng sanh ở thế gian mà khai thị diễn thuyết
nên gọi là thánh đế. Bạch Thế Tôn! Đế này thậm thâm
vi diệu khó thấy khó biết, chẳng thể phân biệt, chẳng
phải là cảnh giới có thể suy lường, là chỗ mà hết thảy
thế gian chẳng thể tin. Chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng giác
mới biết rõ. Vì sao? Vì nói về Như Lai Tạng thậm thâm.
Tứ
đế của Thanh văn gọi là 4 thánh đế. Đệ nhất nghĩa đế
mà Phật có được cũng gọi là thánh đế. Nhưng thánh đế
của Phật không phải là thánh đế của Thanh văn. Thánh đế
của Phật không phải là chỗ ngôn từ đến được, là cảnh
giới chẳng thể nghĩ bàn. Chỉ vì kho vô minh của chúng sanh
mà phương tiện khai thị giảng nói nên gọi là thánh, chứ
nó không phải là loại thánh đế của Thanh văn. Sau là nói
về Như Lai Tạng, chính là cảnh giới thậm thâm khó nghĩ
bàn của Như Lai, là Đệ nhất nghĩa đế nói đây.
Phu
nhân trình bày về Như Lai Tạng, là cảnh giới thậm thâm
của chư Phật. Hiển bày 2 loại thánh đế là Hữu tác thánh
đế và Vô tác thánh đế, 2 loại trí là TỊNH TRÍ của Thanh
văn và TRÍ TÁNH KHÔNG của chư Phật. Nêu bày thực tướng
của sanh tử.
NHƯ
LAI TẠNG là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải là chỗ
hành của Thanh văn và Độc giác. Đối với Như Lai Tạng mà
nói về nghĩa của thánh đế.
Như
Lai Tạng chính là pháp thân của chư Phật nên nói “Như Lai
Tạng là cảnh giới của chư Phật”. Chữ TẠNG này có 2
nghĩa. Một là nghĩa tích chứa. Hai là nghĩa ẩn tàng. Nghĩa
TẠNG mà kinh này muốn nói là nghĩa ẨN TÀNG. Như Lai luôn
sẵn đủ trong mỗi chúng sanh, nhưng vì bị vô minh che phủ
nên nó chưa hiển lộ được mà gọi là Như Lai Tạng. Thánh
đế được nói trong kinh này y chỉ nơi Như Lai Tạng mà nói
nên tuy cũng là thánh đế nhưng không phải là loại thánh
đế Phật đã nói cho hàng Nhị thừa.
Như
Lai Tạng này thậm thâm vi diệu. Thánh đế được nói cũng
thậm thâm vi diệu, khó thấy, khó biết, chẳng thể phân biệt,
chẳng phải cảnh giới có thể suy lường, là chỗ mà hết
thảy thế gian chẳng thể tin. Chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng
Giác mới hay biết.
Vì
là cảnh giới của chư Phật nên khi chưa phải là Phật thì
chưa thể thấu suốt được nó. Có thấu suốt thì chỉ nhờ
niềm tin hoặc thấy được ít phần.
Nếu
đối với Như Lai Tạng đang bị ràng bọc trong vô lượng
phiền não mà chẳng nghi hoặc, thì với Như Lai Tạng đã xuất
khỏi mọi phiền não - là pháp thân Như Lai - cũng không có
nghi hoặc.
Song,
dù chưa thấu suốt được Như Lai Tạng mà vẫn có niềm tin
đối với Như Lai Tạng thì sẽ có niềm tin đối với pháp
thân. Như Lai Tạng khác pháp thân chỗ nào? Như Lai Tạng là
pháp thân còn đang bị phiền não che đậy. Vô minh phiền não
hết thì thể, tướng và dụng của Như Lai hiển bày, gọi
là pháp thân.
Bạch
Thế Tôn! Nếu có người đối với Như Lai Tạng và pháp thân
Phật - là cảnh giới bí mật chẳng thể nghĩ bàn của chư
Phật - mà được tâm tối cùng, thì đối với nghĩa của
2 THÁNH ĐẾ được nói đây có thể tin, có thể hiểu, có
thể sanh thắng giải. Thế nào là nghĩa của 2 thánh đế.
Đó là Hữu tác thánh đế và Vô tác thánh đế.
NHƯ
LAI TẠNG một khi không còn TẠNG (ẩn tàng) nữa, gọi là pháp
thân. Vì có chỗ khác đó nên tuy cùng một thứ mà có 2 tên
là Như Lai Tạng và pháp thân. Với cảnh giới bí mật chẳng
thể nghĩ bàn của chư Phật mà ĐƯỢC TÂM TỐI CÙNG là chỉ
cho chỗ chứng của hàng Thập địa mà địa đầu là Sơ Địa.
Chứng được tánh thể này thì đối với 2 thánh đế nói
đây có thể tin nhận và hiểu rõ. THẮNG GIẢI là chỉ cho
sự hiểu biết thâm sâu. Tùy địa vị sâu cạn trong hàng
Thập địa mà hoặc là tin, hoặc là hiểu, hoặc có sự hiểu
biết thâm sâu về Như Lai Tạng. TIN là chưa thấy mà biết
là có. HIỂU là hiểu được những gì Như Lai nói về Như
Lai Tạng. SANH THẮNG GIẢI vì đã trực nghiệm được Như
Lai Tạng ít nhiều.
Sau
là nói về nghĩa của 2 thánh đế.
TÁC
THÁNH ĐẾ là nghĩa của 4 thánh đế chưa viên mãn. Vì sao?
Vì THA HỘ TRÌ nên chẳng thể biết được tất cả khổ,
đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo.
Cho nên chẳng biết hữu vi, vô vi cho đến niết bàn.
TÁC
THÁNH ĐẾ là loại thánh đế có liên quan đến sự tạo tác,
là chỉ cho 4 thánh đế của Thanh văn. Sự tác ý này chỉ
có tác dụng với những phiền não thô chứ không có tác dụng
đối với những phiền não vi tế.
THA
HỘ TRÌ là sự hộ trì bên ngoài. THA HỘ TRÌ vì còn thấy
ngoài tâm có pháp, chưa thấu được Lý Duy Tâm. Còn thấy
có Phật 32 tướng, 80 vẽ đẹp để nương tựa, có niết
bàn khác sanh tử để bước vào. Thấy như vậy là chưa thấy
được cội nguồn của KHỔ và TẬP. Vì chưa thấy được
cội nguồn nhất tâm nên phần DIỆT chứng được chưa phải
là chỗ rốt ráo. Đó là do phần tu ĐẠO chưa rốt ráo.
“Chẳng
biết hữu vi, vô vi cho đến niết bàn” là chẳng biết cội
nguồn thật của những thứ đó. Chẳng biết tất cả đều
lấy tâm chân thật làm tánh.
Bạch
Thế Tôn! VÔ TÁC THÁNH ĐẾ là nói về nghĩa thánh đế viên
mãn. Vì sao? Vì có thể TỰ HỘ TRÌ nên biết tất cả khổ,
đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo.
VÔ
TÁC THÁNH ĐẾ là loại thánh đế không do tạo tác. Vì sao?
Vì không có sự tác ý đoạn trừ các TẬP như của Nhị thừa.
Phần này sẽ được phu nhân Thắng Man giải thích rõ ở các
phần sau.
TỰ
HỘ TRÌ vì biết không có gì ngoài tâm dù đó là Phật. Là
biết “Tâm sanh thì tất cả pháp sanh. tâm diệt thì tất
cả pháp diệt”.[51] Vì thế, chỉ quay về nương lấy
tự tâm của chính mình, gọi là tự hộ trì.
BIẾT
TẤT CẢ KHỔ là biết được ngoài cái khổ phần đoạn sanh
tử còn có cái khổ biến dịch. ĐOẠN TẤT CẢ TẬP là đoạn
phần tập ngọn mà đoạn cả phần tập gốc. Tuy nói là đoạn
nhưng thật không phải đoạn. Phần kinh sau sẽ đề cập đến.
Ngọn là nghiệp tập của chúng sanh, tức 4 trụ địa và khởi
phiền não. Gốc là phần tập khí từ thời vô thủy, tức
vô minh trụ địa. CHỨNG TẤT CẢ DIỆT là chứng được pháp
thân thường trụ. TU TẤT CẢ ĐẠO là chỉ cho pháp Đại
thừa.
THÁNH
ĐẾ VIÊN MÃN là chỉ cho loại thánh đế đưa đến quả vị
Phật, không phải loại thánh đế đưa đến quả vị La Hán
của hàng Nhị thừa.
Như
vậy, có đến 8 thánh đế nhưng Như Lai chỉ nói 4 thánh đế.
Với nghĩa Vô tác thánh đế này chỉ có Như Lai Ứng Chánh
Đẳng Giác mới làm được việc rốt ráo, chẳng phải là
chỗ mà lực của A La Hán và Bích Chi Phật có thể đến.
Vì sao? Vì chẳng phải các pháp như thắng, liệt, thượng,
trung, hạ mà có thể chứng được niết bàn.
Đây
là lời tổng kết. Có đến 8 thánh đế chứ không phải là
4 như Phật đã nói với chư vị Nhị thừa. Đó là do biết
khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo có thô và tế. Thô
là 4 Tác thánh đế. Tế là 4 Vô tác thánh đế. Bởi Vô tác
thánh đế chỉ có Như Lai mới hoàn thành được trọn vẹn
nên Như Lai không nói với chư vị Nhị thừa.
Pháp
vốn không có thắng, liệt, trung, hạ … Thắng, liệt, trung,
hạ là do trí phân biệt của mình mà ra. Vì sao phân biệt?
Vì thấy vạn pháp là thật. Vì thấy thật có khổ, tập,
diệt đạo nên mới đoạn tập mà chứng diệt. Một khi biết
được khổ, tập, diệt, đạo chỉ là cái bóng rỗng thì
không có gì để phải đoạn trừ nữa. Đoạn trừ đó gọi
là TÁC, không đoạn trừ gọi là VÔ TÁC.
Như
việc hàng phục vọng tưởng của mình. Khi mới thực tập,
dù không muốn, cái BIẾT của mình vẫn có tác dụng đè đi
các vọng niệm chứ không phải chỉ có biết rồi thôi. Vì
sao? Vì sự tương tục của dòng vọng niệm quá mạnh. Dù
biết chúng là vọng, nhưng hở một cái là nó đầy dẫy,
cái chủ của mình không còn. Một khi nó vẫn sai sử cuốn
hút mình như vậy thì nó chưa phải là vọng đối với mình.
Không trừ bỏ đè nén là không được. Vì thế sự dụng
công lúc này là cần thiết. Đây là giai đoạn TÁC.
Một
khi sự tương tục của dòng vọng niệm không còn, mình không
còn bị lực tương tục ấy cuốn hút, vọng có hay không không
can hệ gì đến mình thì không cần trừ bỏ nữa. Vì sao?
Vì lúc đó vọng đã hiện đúng bản chất của nó. Do đã
liễu tri được bản chất của dòng vọng tưởng mà không
cần dụng công trừ khử.[52] Đó gọi là VÔ TÁC. Tạm
lấy tạm ví dụ này để hiểu sơ về nghĩa tác và vô tác.
Nhị
thừa còn thấy có sanh tử khác niết bàn, tức chưa thoát
được trí phân biệt, chưa liễu tri được tính bình đẳng
và như huyễn của vạn pháp, nên nói “Chẳng phải các pháp
thắng, liệt, thượng, trung, hạ mà có thể chứng được
niết bàn”. Hàng Bồ tát Bát Địa trở lên, do đã chứng
nhập được tánh bình đẳng chân như, mới nhận ra được
hoàn toàn tánh như huyễn của vạn pháp. Sở hành của chư
vị mới thật là Vô tác thánh đế. Song phải đến địa
vị Phật mới hoàn tất tận cùng nên nói “Vô tác thánh
đế này chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới LÀM ĐƯỢC
VIỆC RỐT RÁO”.
Vì
sao với Vô tác thánh đế Như Lai đạt được chỗ tối cùng?
Hỏi để giải thích vì sao chỉ có Vô tác thánh đế mới
có thể đạt được cội nguồn tận cùng. Qua đó hiển bày
Vô tác thánh đế là gì.
Vì
chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác biết hết các KHỔ, đoạn
các phiền não và khởi phiền não, nhiếp được TẬP khổ,
chứng được DIỆT khổ của tất cả ý sanh thân, tu tất
cả ĐẠO diệt khổ.
Đây
là nêu bày vì sao Tác thánh đế không đạt được niết bàn
pháp thân mà chỉ có Vô tác thánh đế mới đạt được.
La Hán đoạn phiền não để có niết bàn, cái đoạn ấy gọi
là TÁC. Chư Như Lai cũng qua giai đoạn đoạn phiền não như
vậy, nhưng không dừng ở đó mà tiếp tục phá sâu vào phần
vi tế bên trong để thấy được cội nguồn của khổ và
tập. Tuy nói là phá nhưng cái phá ấy không mang tính đoạn
trừ mà mang tính liễu tri nên nói NHIẾP TẬP KHỔ.
“Chứng
được diệt khổ của tất cả ý sanh thân” là chỉ cho việc
thể nhập được hoàn toàn pháp thân, là cội nguồn chân
thật của tất cả pháp, trong đó có phần ý sanh thân. Sau
là nói về phần DIỆT mà chư Như Lai đã chứng.
Bạch
Thế Tôn! Chẳng phải pháp hoại đi mà gọi là diệt khổ.
Vì sao? Nói DIỆT khổ là vô thủy, vô tác, vô khởi, vô tận,
thường trụ, bất động, bản tánh thanh tịnh, ra khỏi vỏ
phiền não. Bạch Thế Tôn! Như Lai thành tựu hằng hà sa số
pháp đầy đủ trí giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, gọi là
pháp thân.
Phần
DIỆT của Vô tác thánh đế khác với phần DIỆT của Tác
thánh đế ở chỗ : La Hán diệt phiền não để có niết bàn.
Còn DIỆT của Vô tác thánh đế là nói về pháp thân thường
trụ. Không phải diệt cái gì mới có niết bàn mà là nhận
ra được cội nguồn của những thứ đó nên có niết bàn.
Đó là trở về với pháp thân của mình, gọi là được niết
bàn. Vô thủy, vô tác … là bản chất của pháp thân thường
trụ. Vì VÔ TÁC nên không thể dùng Tác thánh đế mà thể
nhập nó được.
Cho
nên, hành giả tu hành lúc đầu dùng pháp đối trị mang tính
tạo tác rất nhiều, nhưng càng về sau càng phải đi dần
đến chỗ vô tác, mới thể nhập được pháp thân thanh tịnh
của mình. Đây là lý do vì sao Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy ngài
Trần Nhân Tông “Trì giới và nhẫn nhục, chuốc tội chẳng
chuốc phước, Muốn biết không tội phước, đừng trì giới
nhẫn nhục. Như khi người leo cây. Trong an tự cầu nguy. Như
người không leo cây, trăng gió có làm gì”. Rồi dặn nhỏ
một câu “Chớ bảo cho ngươi không ra gì biết”.
NGƯỜI
KHÔNG RA GÌ là người mà còn cần đến pháp đối trị nhiều.
Như người có tánh sân thì cần phải tập nhẫn nhục. Nói
là tánh vì cái sân ấy đã được huân tập thành thói quen.
Là thói quen rồi thì mình sẽ mê mờ theo nó mà tạo nghiệp
vô vàn, quả khổ không biết bao nhiêu mà kể, càng đi xa cội
nguồn pháp tánh chân như. Vì thế, cần phải dùng đến pháp
đối trị là nhẫn nhục để dừng đi thói quen sân giận.
Bản
tâm vốn thanh tịnh không có sân. Một khi sân không còn là
thói quen, tức không còn bị nó sai sử tạo nghiệp, ta sẽ
nhận dần ra thực tánh của sân, nhận được tánh của sân
thì không cần dùng pháp đối trị nữa. Nếu vẫn dùng pháp
đối trị thì không khác gì người đang an ổn dưới mặt
đất bỗng leo lên cây tìm sự nguy hiểm. Lúc đó cái nhẫn
ấy không khác gì cái sân. Như có bệnh thì uống thuốc, hết
bệnh thì thuốc phải bỏ. Hết bệnh mà vẫn uống thuốc
thì sẽ sanh bệnh mới.
Bạch
Thế Tôn! Như vậy pháp thân chẳng lìa phiền não, gọi là
Như Lai Tạng. Bạch Thế Tôn! Như Lai Tạng đó chính là
trí tánh không Như Lai, là chỗ mà tất cả Thanh văn và Độc
giác chưa từng thấy cũng chưa từng chứng, chỉ có Phật
mới có thể liễu tri và tác chứng.
Pháp
thân còn bị phiền não ràng buộc gọi là Như Lai Tạng. Đây
là tình trạng của chúng ta. Nghĩa là không ai không có phần
Như Lai Tạng này. Dù đang khóc hù hù hay cười hi hí thì kho
tàng vô giá ấy vẫn sờ sờ ra đó. Chỉ vì bận cười và
khóc nên không có đầu óc đâu để sử dụng đến nó.
“Như
Lai Tạng đó chính là trí tánh không” là nhấn mạnh về
mặt THỂ TÁNH của vạn pháp. Luận Đại Thừa Khởi Tín gọi
nó là TỰ TÁNH chân như, là tánh thể của vạn pháp. Nhờ
tánh thể này, ta mới chán sanh tử khổ, cầu vui niết bàn.
Địa vị Sơ Địa trực chứng được tánh không này. Chứng
tánh không này rồi, lậu hoặc vẫn chưa hết, nên chưa gọi
là pháp thân mà gọi là Như Lai Tạng, là Như Lai còn bị phiền
não ràng bọc. Trải qua các vị Thập địa cho đến địa
vị Bồ tát tối hậu, tập lậu theo đó trừ dần, TƯỚNG
và DỤNG của cái THỂ ấy từ từ hiển lộ. Đến địa vị
Phật thì viên mãn. Lúc này Như Lai Tạng với thể, tướng
và dụng hiển bày đầy đủ gọi là pháp thân.
Bạch
Thế Tôn! Trí tánh không Như Lai Tạng này lại có 2 thứ. Thế
nào là 2? Một là KHÔNG NHƯ LAI TẠNG, là lìa tất cả phiền
não và trí chẳng giải thoát. Bạch Thế Tôn! Hai là BẤT KHÔNG
NHƯ LAI TẠNG thì đầy đủ hằng hà sa số pháp chẳng thể
nghĩ bàn và trí giải thoát của Phật.
NHƯ
LAI TẠNG này có 2 thứ.
1.
KHÔNG NHƯ LAI TẠNG là chỉ cho TÁNH THỂ chân như. Nó chính
là cái KHÔNG của tâm chân như trong luận Đại Thừa Khởi
Tín. Đây gọi là trí tánh không.
Vì
nói về mặt THỂ TÁNH của Như Lai, nên ở đó ngay tướng
KHÔNG cũng không thể thấy, nên nói “Lìa tất cả phiền
não và trí chẳng giải thoát”. Bản dịch của ngài Cầu
Na Bạt Đà La ghi “Không Như Lai Tạng thì vừa ly, vừa thoát,
vừa khác tất cả phiền não”.
2.
BẤT KHÔNG NHƯ LAI TẠNG là chỉ cho pháp thân với thể, tướng
và dụng đã đầy đủ, là phần BẤT KHÔNG trong luận Đại
Thừa Khởi Tín. Vì đã đủ luôn cả TƯỚNG và DỤNG, nên
nói “Đầy đủ hằng hà sa số pháp chẳng thể nghĩ bàn
và trí giải thoát của Phật”. Bản dịch của ngài Cầu
Na Bạt Đà La dịch “Bất không Như Lai Tạng thì chẳng ly,
chẳng thoát, chẳng khác hằng hà sa số Phật pháp”. Thể,
dụng và tướng tuy ba mà chẳng phải ba nên nói chẳng ly,
chẳng thoát, chẳng khác. Đây là cảnh giới sự sự vô ngại
của thế giới Hoa Nghiêm.
Bạch
Thế Tôn! 2 thứ không trí này các vị đại Thanh văn do tin
mà vào. Bạch Thế Tôn! Như vậy, tất cả Thanh văn và Độc
giác, trí tánh không là từ 4 đảo cảnh phan duyên mà chuyển.
Cho nên, tất cả Thanh văn và Độc giác chưa từng thấy, chưa
từng chứng. Chỉ có Phật mới là hiện chứng tất cả DIỆT
khổ, hoại các phiền não, tu ĐẠO diệt khổ.
Phu
nhân khẳng định 2 loại KHÔNG Như Lai Tạng và BẤT KHÔNG
Như Lai Tạng này không phải là chỗ chứng của hàng Thanh
văn, Duyên giác. Đối với chỗ đó, chư vị chỉ có tin mà
vào chứ chưa phải là chỗ thực chứng của chư vị. Cội
nguồn chân thật nhất tâm thì thường, lạc, ngã, tịnh. Song
chư vị chỉ thấy được TƯỚNG vô thường, bất tịnh, vô
ngã của vạn pháp mà chưa thấu được TÁNH thường, lạc,
ngã tịnh của vạn pháp, nhưng lại lấy 4 cái tướng mình
thấy ấy làm tánh thật của vạn pháp, nên nói là 4 đảo
cảnh. ĐẢO có nghĩa là ngược lại. Nếu tu tập tiếp, Thanh
văn Độc giác sẽ đạt được trí tánh không như Phật. Trí
đó là từ cái trí thấy 4 đảo cảnh tu tập tiến về,[53]
nên nói “Tất cả Thanh văn và Độc giác, trí tánh không
là từ 4 đảo cảnh phan duyên mà chuyển”.
Bạch
Thế Tôn! Trong 4 đế này, 3 đế là vô thường, 1 đế là
thường. Vì sao? Vì 3 đế thuộc tướng hữu vi. Tướng hữu
vi thì vô thường. Nói vô thường đó là pháp phá hoại. Pháp
phá hoại thì chẳng phải thật, chẳng phải thường, chẳng
phải là chỗ qui y. Cho nên 3 đế theo đệ nhất nghĩa thì
chẳng phải thật, chẳng phải thường, chẳng phải là chỗ
qui y.
Diệt
đế là chỉ cho pháp thân Như Lai nên nói là thường. Nói
thường là đối với cái vô thường của thế gian mà nói,
chứ bản thân nó thì không thường cũng không vô thường.
Thứ
gì sanh rồi diệt thì thứ ấy vô thường nên nói 3 thứ khổ,
tập, đạo là vô thường. Vô thường thì có ngày nó hoại.
Nương vào cái hoại thì khi nó hoại mình sẽ khổ. Vì thế
không thể qui y với những thứ vô thường giả dối.
Bạch
Thế Tôn! Chỉ một một thứ DIỆT KHỔ THÁNH ĐẾ là lìa
tướng hữu vi. Lìa tướng hữu vi thì tánh thường trụ. Tánh
thường trụ thì chẳng phải là pháp phá hoại. Chẳng thể
phá hoại thì thật, thì thường, là chỗ qui y. Cho nên, diệt
khổ thánh đế vì là thắng nghĩa nên là thật, là thường,
là chỗ qui y.
Chỉ
có DIỆT thánh đế là chỗ nên qui y vì pháp thân ấy là cội
nguồn chân thật của tất cả pháp.
Bạch
Thế Tôn! Diệt khổ đế này chẳng thể nghĩ bàn, vượt quá
cảnh giới tâm thức của chúng sanh, cũng chẳng phải là chỗ
mà trí Thanh văn và Độc giác có thể đến. Thí như người
mù thì chẳng thấy sắc, trẻ sơ sinh thì chẳng thấy mặt
trời. Diệt khổ đế cũng lại như thế. Chẳng phải là chỗ
mà tâm thức phàm phu có thể duyên đến. Chẳng phải là cảnh
giới của trí Thanh văn và Độc giác.
Đây
là nói về pháp thân Như Lai, là phần DIỆT của Vô tác thánh
đế. Muốn chứng được cảnh giới này chúng ta phải ly hết
mọi suy nghĩ mang tính nhị biên hiện nay – tức phải bỏ
đi trí phân biệt. Cảnh giới này không phải là đối tượng
của cái thấy cũng như cái biết hiện nay của mình, nên nói
“Vượt quá cảnh giới tâm thức của chúng sanh”. Cảnh
giới tâm thức của chúng sanh bao gồm những gì sẽ được
nói ngay sau đây.
TÂM
THỨC của phàm phu là 2 biên kiến.
Tâm
do bất giác mà thành thức nên gọi là TÂM THỨC. Tâm thức
của phàm phu thì luôn luôn bị trí phân biệt chi phối. Phân
biệt thì phải có xấu hay đẹp, thường hay đoạn, tốt hay
không tốt v.v… Những thứ đó gọi là 2 BIÊN. Còn 2 BIÊN
KIẾN là cái thấy 2 bên. Tu chính là bỏ đi cái thấy 2 bên
ấy. Tu gì đó tu, giữ giới ra sao đó thì giữ, chỉ khi phá
vào phần phân biệt này thì tương lai mới thành Phật được.
TRÍ
của tất cả Thanh văn và Độc giác gọi là TỊNH TRÍ. Trí
của Thanh văn và Độc giác gọi là tịnh trí. Vì sao gọi
là tịnh trí? Tâm phàm phu thì hoạt động không ngưng nghỉ,
bày cái này, nghĩ cái kia, luôn luôn hướng ngoại náo động
nên thân náo động theo. Tâm của La Hán và Độc giác không
còn những thứ đó nên nói TỊNH TRÍ. Vậy nói TỊNH là do
đối với ĐỘNG mà nói.
Nói
BIÊN KIẾN là đối với 5 thủ uẩn mà chấp trước cho là
ngã, rồi sanh phân biệt.[54] Biên kiến có 2. Thế nào
là 2? Đó là thường kiến và đoạn kiến. Bạch Thế Tôn,
như cái thấy sanh tử là vô thường, niết bàn là thường.
Nếu có cái thấy chẳng phải đoạn chẳng phải thường,
gọi là chánh kiến.
Đây
là giải thích vì sao gọi là biên kiến. 5 THỦ UẨN là chỉ
cho cái thân với đầy đủ cảm thọ suy nghĩ của mình đây.
Với thân tâm này mà cho là chính tôi, gọi là CHẤP TRƯỚC
CHO LÀ NGÃ. Vì thân tâm này là chính tôi thì ngoài những thứ
đó ra, còn lại đều không phải tôi. Cái thấy tôi và không
phải tôi đó gọi là PHÂN BIỆT. Đó là cái phân biệt đầu
tiên sản sinh ra các loại phân biệt còn lại.
Một
loại phân biệt khác là phân biệt thường và đoạn. Đây
lấy ví dụ niết bàn là thường và sanh tử là vô thường.
Vì cho niết bàn là thường nên bỏ sanh tử tìm niết bàn.
Cho sanh tử vô thường nên đoạn sanh tử nhập niết bàn.
Chẳng biết rằng, niết bàn không khác sanh tử, chẳng thường
cũng chẳng vô thường. Thấy như vậy là thấy chính xác về
bản chất của vạn pháp nên nói CHÁNH KIẾN.
Vì
sao? Là để giải thích vì sao cái thấy thường và vô thường
không phải là chánh kiến.
Vì
những kẻ phân biệt thấy thân cùng các căn cảm thọ đó,
suy nghĩ đó, thấy sự hoại diệt của các pháp hiện tại,
mà chẳng biết gì về sự tương tục của hữu. Vì không
có con mắt tuệ nên mù mờ khởi cái thấy đoạn kiến.
Đây
nói về phần ĐOẠN KIẾN trước. KẺ PHÂN BIỆT là chỉ cho
chúng sanh mình. Nhìn tới đâu là phát huy cái nhìn xấu, đẹp,
ta, người, thân, sơ tới đó. Những kẻ phân biệt thì thấy
gì? Trong thì chỉ biết đến sự suy nghĩ và cảm thọ của
mình, ngoài thì thấy Phuket huy hoàng đã biến mất khỏi thế
gian, thấy người này sanh ra và người kia chết đi. Mọi thứ
rất hãi hùng. Chết rồi, không còn thấy lại nữa nên cho
rằng chết là hết, mà không hiểu rằng chết đây sanh kia,
luân chuyển liên tục trong 6 đường : Cha thành cháu nội,
mẹ thành chú chó giữ nhà v.v… SỰ TƯƠNG TỤC CỦA HỮU
là chỉ cho mấy thứ đầu thai tương tục không có ngày chấm
dứt đó. HỮU, chỉ cho một đời. Thấy không đúng sự thật
nên nói là MÙ MỜ. Cái mù mờ này do thiếu trí tuệ mà ra,
nên nói “Vì không có con mắt tuệ nên mù mờ khởi cái thấy
đoạn kiến”.
Còn
với tâm tương tục hoại diệt trên từng sát na, lại ngu
tối chẳng rõ cảnh giới ý thức, nên khởi cái thấy thường
kiến.
Đây
là nói về cái thấy THƯỜNG KIẾN. Thường kiến là thấy
vạn pháp còn hoài. Nói cái “còn hoài” đó thì với thế
gian mình thấy khó gặp. Vì không ai là không chết, nên có
cái thấy vô thường dễ hơn là có cái thấy thường. Song
một khi mình cho thân tâm này là thật, là mình đã dính vào
thường kiến. Vì sao? Vì không phải thân tâm này chỉ có
hai đầu mút là sanh và tử mà nó sanh diệt sanh diệt trên
từng sát na. Cái sanh diệt trên từng sát na đó biểu hiện
cho cái không thường. Không thường thì không thật. Cái sanh
diệt đó là phần sanh diệt của ý thức. [55]
Một
loại chấp THƯỜNG nữa là chấp có linh hồn bất tử. Có
người thấy thân đúng là pháp sanh diệt nhưng lại cho vọng
tâm (nghiệp thức) thì thường trụ và gọi nó là linh hồn
bất tử (một dạng thân trung ấm). Gọi là bất tử vì dù
thân xác này mất đi thì linh hồn vẫn vĩnh cữu. Thật ra,
không có linh hồn vĩnh cữu nào ở đây. Khi chứng nhập được
niết bàn của các vị La Hán hay Bích Chi Phật, mới thấy
cái gọi là linh hồn đó không có, chỉ còn lại một trạng
thái an lạc trống không, chính là trạng thái vô ngã của
Nhị thừa. Song muốn đạt được trạng thái an lạc này của
chư vị Nhị thừa thì mình phải tu hành hàng phục vọng tâm
như chư vị, không phải chết là có ngay cõi cực lạc đó
được. Đây là chỗ khác nhau giữa trạng thái niết bàn của
chư vị Nhị thừa với linh hồn. Cái gọi là linh hồn chỉ
là phần nghiệp thức của chúng sanh, theo nghiệp mà luân chuyển,
chết đây sanh kia, còn nghiệp còn sanh, còn sanh là còn tử,
không có chuyện bất tử. Hết nghiệp hết sanh, hết sanh thì
hết tử, cũng không thể nói là không bất tử. Đó là thực
tướng của vạn pháp ở thế giới này.
Trạng
thái niết bàn của A La Hán và Độc Giác đó tuy không còn
bị sự sanh diệt của ý thức chi phối, nhưng vẫn bị sự
tương tục của phần chuyển thức vi tế chi phối, không thật
tĩnh lặng như các vị đã cảm nhận. Nên, nếu cho niết bàn
của chư vị là thường, vẫn không được xem là chánh kiến.
Bạch
Thế Tôn! Mọi thứ đó, lỗi là từ phân biệt và cái thấy
hạ liệt. Do các ngu phu vọng sanh dị tưởng điên đảo chấp
trước mà cho là đoạn, là thường.
Đây
là kết luận của phu nhân Thắng Man. Mọi thứ đều do cái
thấy phân biệt mà ra. Nghiệm lại trong đời sống hiện nay
sẽ thấy rõ điều này. Chỉ vì sự phân biệt ta người mà
có tranh dành, cướp bóc, tham nhũng, tan thương v.v… Cái thấy
phân biệt ấy chỉ đưa đến những kết quả xấu nên nói
là HẠ LIỆT. Người mà không đủ trí tuệ nhìn đúng thực
chất của sự vật gọi là NGU PHU. Nhìn không đúng thực chất
của sự vật nên nói VỌNG SANH DỊ TƯỞNG ĐIÊN ĐẢO. Từ
cái thấy sai lầm đó mới có sự nắm giữ hay tống đi nên
nói CHẤP TRƯỚC. Như thấy mọi người chết rồi đều không
còn gặp lại, liền cho chết là hết, không có đời sau. Nghĩ
vậy rồi, ai nói khác đi mình cũng không nghe không tin thì
đó là biểu hiện cho sự chấp trước về đoạn kiến.
Bạch
Thế Tôn! Chúng sanh điên đảo, đối với 5 thủ uẩn, vô
thường mà tưởng thường, khổ mà tưởng lạc, vô ngã mà
tưởng ngã, bất tịnh lại tưởng tịnh. Tịnh trí của Thanh
văn và Độc giác, đối với cảnh giới Như Lai và Phật pháp
thân chưa từng được thấy.
ĐIÊN
là không bình thường. ĐẢO là ngược. Thân này sanh diệt
trên từng sát na mà cho là thường đó là cái thấy ngược
nên nói điên đảo. Tương tự với các thứ còn lại cũng
vậy.
Nhị
thừa do đã trú được trong tịnh trí nên đã nhận ra được
cái sanh diệt của thân cùng cái vô ngã của tâm. Song cả
hai vẫn còn trên đường đi vì chưa ai thấy được cội nguồn
của nhữ