CHÚ
THÍCH:
01
Lý do : Nhân duyên
02
Bản khác là “Tin Phật chưa lâu”. Nghĩa là, tuy đời này
đến với Phật pháp chưa bao lâu, nhưng đã có niềm tin đối
với Phật. Văn của hai bản tuy thấy khác nhưng cùng một
ý nghĩa.
03
Thứ gì được lặp lui lặp tới thành thói quen rồi, khi đủ
điều kiện nó sẽ hiện ra. Đây giải thích vì sao có các
thần đồng về âm nhạc, toán học v.v… cũng giải thích
vì sao có người nghe đến Phật và kinh thì ưa mà có người
thì không, có người tin hiểu pháp Đại thừa, có người
tin hiểu pháp Nguyên thủy … Đều do sự huân tập trước
đây.
04
Bản khác “Nhất định sẽ mau hiểu pháp, tâm được vô
ngại”.
05
Gặp được pháp và vị thiện tri thức mà mình đã từng
có nhân duyên từ những đời trước.
06
Nghiên cứu luận Đại Thừa Khởi Tín – phần HUÂN TẬP KHỞI
TỊNH PHÁP CHẲNG DỨT - sẽ thấy 2 loại sở kiến báo và
hóa thân này.
07
Tuy đều là ngộ nhưng có thô và tế. Thô là chỉ cho niềm
tin hoặc báo thân Phật. Tế là chỉ cho pháp thân Phật, tức
tự tánh chân như của chính mình. Duy Thức Học gọi cảnh
giới tự tánh chân như ấy là VÔ CHẤT TÁNH CẢNH.
08
“Vô tỷ, bất tư nghì” : Không có gì bì đọ, cũng chẳng
thể nghĩ bàn.
09
Đã giải thích rõ trong luận Đại Thừa Khởi Tín – dịch
và giải Chân Hiền Tâm
10
Chỉ cho tâm phân biệt hiện nay của mình, luôn luôn có chủ
thể và đối tượng để nhận thức. Đó chính là ý thức.
11
Bản Hán của ngài Bạt Đà La là “Nhiếp trì tất cả pháp”.
12
Bản Hán của ngài Bạt Đà La ghi là KÍNH LỄ.
13
Lời của HT Trụ trì thiền viện Thường Chiếu
14
Được biểu hiện ở địa vị vương phi hiện tại và qua
10 lời thệ nguyện cùng 3 đại nguyện sau của bà.
15
Nghiệm chính bản thân mình thì sẽ thấy điều này.
16
Theo Vãng Sanh Yếu Tập, nó là điều vui thứ 4 ở cõi Cực
Lạc, gọi là “Ngũ diệu cảnh giới lạc” - Tự điển Phật
Học Huệ Quang.
17
Bạch Ẩn Thiền Định Ca.
18
Bạch Ẩn Thiền Định Ca.
19
Thói quen về suy nghĩ thì gọi là định kiến, về hành động
gọi là tập nghiệp.
20
Với người đời, những gì thuận với tánh dục của mình
là mình hạnh phúc. Song thuận theo cái dục ấy có khi đưa
đến kết quả tốt, nhưng có khi dẫn đến kết quả rất
xấu. Vì thế, khiến người được hạnh phúc sung sướng
không hẳn đã là làm lợi ích cho người.
21
LY nghĩa là không có các thứ đó hay không dính với các thứ
đó (Do nhận ra được thực tướng của chúng). Nhờ vậy,
chư vị Bồ tát mới có phương tiện làm lợi ích cho chúng
sanh.
22
Vì chỉ mới trực nghiệm được phần THỂ.
23
Vì đã đầy đủ cả thể, tướng và dụng.
24
Được nói đầy đủ trong luận Đại Thừa Khởi Tín.
25
Như pháp bố thí, muốn gọi là BỐ THÍ BA LA MẬT thì phải
hội đủ 5 điều kiện : 1/ Cho mà không được nhiễm trước
: Không vì thương mà cho, không dính mắc vào việc cho ấy
v.v… 2/ Cho mà không luyến tiếc : Cho rồi thì thôi,
không suy nghĩ đúng sai gì nữa. 3/ Cho mà không gây tội lỗi
: Cho không theo kiểu quăng ra hay nặng nhẹ cho xứng với thứ
mình cho, cũng không sanh tâm kiêu ngạo 4/ Cho mà không phân
biệt : Không phải người mình thương mình mới cho, ghét thì
miễn. Không phải người thân của tôi tôi mới cho. Cho là
cho, như Phật tặng vợ tặng con của ngài. 5/ Cho mà hồi hướng
chân chính : Tất cả công đức có được từ việc bố thí
đều hồi hướng cho con đường Phật đạo, không phải để
tìm quả báo sung sướng ở cõi trời và người.
26
So với cái thấy của phàm phu thì cái thấy của Nhị thừa
được xếp vào loại chánh trí. Song so với trí tuệ của
các vị Bồ tát đăng địa và chư Như Lai thì trí Nhị thừa
vẫn bị cho là thiên lệch. Đây là mặt DUYÊN KHỞI của vạn
pháp. Một khi đã nói đến tốt, xấu, chánh, tà thì phải
nói đến DUYÊN. Còn tánh của pháp thì không có tính tốt,
xấu, chánh, tà. Chỉ tùy duyên mà hiển tướng.
27
Còn gọi là duyên sanh. Pháp ở thế gian không có gì TỰ xuất
hiện mà phải NHỜ duyên mới xuất hiện được nên gọi
là duyên khởi. Như con gà không thể tự xuất hiện. Phải
có các DUYÊN như gà mái, gà trống, lương thực, thời tiết
v.v… mới có gà con. Vì pháp xuất hiện là nhờ duyên nên
gọi là DUYÊN KHỞI, là do duyên mà khởi, do duyên mà thành.
Trong
các phần DUYÊN để tạo ra pháp mới đó, có một DUYÊN QUYẾT
ĐỊNH và những DUYÊN PHỤ TRỢ. Như gà thì phải từ giống
gà ra chứ không thể từ nước hay từ thóc. Duyên quyết định
đó, gọi là NHÂN. Các duyên phụ còn lại gọi là DUYÊN. Chính
hay phụ đều phải đầy đủ, pháp mới xuất hiện. Vì thế,
ta có khái niệm NHÂN DUYÊN.
Đã
đủ nhân và duyên thì pháp chắc chắn thành hình. Pháp thành
hình ấy gọi là QUẢ. Trường hợp này, tất cả duyên phụ
và nhân chính đều gọi chung là NHÂN. Gọi chung là NHÂN vì
do đối với QUẢ mà nói. Vì tất cả đều là thứ góp phần
sinh ra QUẢ. Vì thế, ta có khái niệm NHÂN QUẢ. 3 thứ Nhân
Quả, Nhân Duyên và Duyên Khởi này tuy có 3 tên khác nhau nhưng
vẫn có phần dung thông không khác.
28
Đó là với những người đã đủ duyên. Những người mà
duyên chưa đủ thì chưa chắc đã tin mà làm theo …
29
Thô là chỉ cho Nhân Duyên, Nhân Quả. Tế là chỉ cho chỗ
“4 tướng đồng thời có, đều không tự dựng lập”. 4
tướng đây là chỉ cho 4 tướng sanh - trụ - dị – diệt
của tâm. Của tâm mà cũng là của vạn pháp. Hội được
chỗ Nhân Quả đồng thời này là hội được chỗ sanh ra
thức tâm. Mới hay, vạn pháp chỉ là tướng của tâm, còn
“Tâm chân thật chính là tánh của tất cả các pháp”. Muốn
nắm được phần này thì nghiên cứu 9 tướng bất giác trong
luận Đại Thừa Khởi Tín - Dịch và giải Chân Hiền Tâm.
30
Như thấy nước trên sa mạc, không hiểu đó là ảo ảnh lại
tranh tàn giết chóc để lấy bằng được nước đó.
31
Thế gian là có, là không, là không có không không, là vừa
có vừa không.
32
Với loại tập khí sâu dày, không đau khổ thấu xương thấu
tủy không dễ gì bỏ được.
33
Không khác nhưng không phải một. Nhờ cái KHÔNG KHÁC này nên
dù lực oai thần của Phật sẵn đó mà chỉ có bà mới nương
vào đó giảng nói được, còn người khác thì không nương
được.
34
Phương tiện là những thứ giúp trí vô sư hiển bày, không
phải là thứ tạo ra trí vô sư ấy. Trí ấy sẵn đủ trong
mọi chúng sanh, chỉ vì bị vô minh che lấp mà không sử dụng
được nó.
35
Không có bờ mé.
36
Đây, nói về những người có chất lượng Đại thừa, không
phải là người chỉ có danh xưng Đại thừa.
37
Đây là nêu tạm phần thô để ta hình dung. Phần phiền não
tương tục này còn phần tế. Dưới sẽ giải thích rõ.
38
Luận Đại Thừa Khởi Tín - Dịch và giải Chân Hiền Tâm.
39
Theo luận Đại Thừa Khởi Tín thì tâm bất tương ưng này
phân thành 3. Do vô minh nghiệp tướng mà có cái thấy hư vọng
và hiện cảnh giới hư vọng. Do vô minh mà có CĂN BẢN NGHIỆP
BẤT TƯƠNG ƯNG NHIỄM, tương đương với phần VÔ MINH TRỤ
ĐỊA nói đây. Cái thấy hư vọng ấy gọi là NĂNG KIẾN BẤT
TƯƠNG ƯNG NHIỄM. Phần hiện cảnh giới hư vọng gọi là
HIỆN SẮC BẤT TƯƠNG ƯNG NHIỄM. Qua được 3 cái nhiễm ấy
thì thành Phật. Cái định của A La Hán và Bích Chi Phật đều
là cảnh giới của phần Năng Kiến, tùy thô tế mà có A La
Hán hay Bích Chi Phật. Chỉ có Phật mới phá được phần
Căn Bản.
40
Ngoài Phật, tất cả đều gọi là chúng sanh.
41
Gặp những duyên phù hợp với tập khí của mình, như người
nghiện rượu gặp lại rượu, người có chủng tử âm
nhạc trong tàng thức gặp lại âm nhạc.
42
Phần này, Bồ tát Long Thọ giải thích rõ trong luận Đại
Trí Độ.
43
Tâm do bất giác mà thành thức. Bởi thức này không có bờ
mé, thâu gom tất cả, lại là thứ ẩn tàng khó thấy, nên
gọi là thức tạng.
44
THỦ còn gọi là PHIỀN NÃO. Nên Thành Duy Thức Luận nói nghiệp
hữu lậu làm nhân, phiền não làm duyên, sinh ra thân phần
đoạn của chúng sanh. Thành Duy Thức Học phân cái THỦ này
thành 4 loại.
45
Theo kinh Lăng Già Tâm Ấn, phải đến địa vị thứ 3 trở
đi mới có ý sanh thân.
46
Luận Thành Duy Thức.
47
Luận Thành Duy Thức trang 128 – Bản dịch của HT Thiện Siêu.
48
Phần tu hành này đã giải thích rõ trong luận Đại Thừa
Khởi Tín.
49
Muốn biết chi tiết xin xem luận Đại Trí Độ tập II, trang
165. Bản dịch của HT Thiện Siêu.
50
Muốn biết chi tiết về phần này, xin xem luận Đại Trí Độ
tập II trang 120. Bản dịch của HT Thiện Siêu.
51
Luận Đại Thừa Khởi Tín.
52
Như một khi nhận ra vàng giả thì dù sử dụng nó thế nào,
mình cũng không còn bị nó làm lầm để đến nỗi tan thân
mất mạng.
53
Nói theo nhà thiền là kiến tánh hay chứng được nhất niệm
vô sanh.
54
Âm Hán : Sanh dị phân biệt.
55
Muốn rõ hơn về phần này thì nghiên cứu luận Đại Thừa
Khởi Tín hoặc Duy Thức Học.
56
Kinh Đại Niết Bàn, phần Tứ Y.
57
Vốn, nghĩa là bản chất của nó không có sanh tử.
58
Ngài Hiền Thủ nói “Nay Tịnh độ của Nhất thừa tuy chỉ
có ở Phật mà chẳng xả thân nghiệp chúng sanh cùng các pháp.
Tuy chẳng xả mà chẳng đồng phần hạn. Tuy chẳng đồng
mà tức là đó. Giống như trong mộng mà thấy các vật thế
gian, chỉ là giác tâm lượng. Tuy là giác tâm lượng mà không
như mộng kế. Tuy chẳng như mộng kế mà chẳng bỏ các pháp
được thấy trong mộng”.
59
Muốn rõ phần này thì nghiên cứu luận Đại Thừa Khởi Tín.
60
Không lìa đây muốn diễn tả tình trạng như nước và sóng.
Do duyên gió mà nước biến thành sóng, tướng nước không
phải là tướng sóng nhưng bản chất của sóng vẫn là nước.
Không phải KHÔNG LÌA là tham sân si không bao giờ hết. Hết
duyên gió thì sóng không còn. Hết duyên vô minh thì tham sân
si không còn. Chỉ là một Như Lai Tạng thanh tịnh.
61
“Thấu suốt về cái LÝ của mọi sự mọi vật” là muốn
nói đến tính chi phối bao quát của nó mà gọi là LÝ, không
hẳn là nói đến chỗ rốt ráo.
62
Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ của thiền sư Hàm Thị. Bản dịch
của TT Phước Hảo. Phần thức ấm thuộc Ngũ ấm ma.
63
Đây là nói đến sự trực nghiệm của tâm, không phải là
niềm tin hay ngộ theo kiểu trong đầu bực ra các kiến giải.
64
Dịch thuận theo văn là “Mà tướng ngã nhân chẳng thể đến
được, còn có sở liễu”.
65如來藏者。身見有情。顛倒有情。空見有情。非所行境
66
Kinh Niết Bàn nói Phật tánh thường, là do đối trị cái
chấp vô thường của hàng Thanh văn. Vì có chấp mới lập
kinh ra để phá cái chấp ấy.
67
Với người thường thì khó cảm nhận chỗ này. Nhưng ai từng
hàng phục vọng tâm sẽ thấy rất rõ. Như người từng miên
mật với pháp Biết Vọng của Hòa thượng Thanh Từ chẳng
hạn. Sẽ thấy rõ cái đi và đến không vướng bận như mây
trên hư không, như bụi lấm tấm trong hư không này.
68
Trích trong Bạch Ẩn Thiền Định Ca. 說空性義隱覆真實
Đọc
Thêm:
Kinh
Thắng Man, HT. Thích Thanh Từ Việt dịch
Thắng
Man Giảng Luận, TT. Thích Tuệ Sỹ
KINH
THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI
Chân
Hiền Tâm dịch & giải
NHÀ
XUẤT BẢN TÔN GIÁO
Nhà
số 4 – lô 1 – Trần Duy Hưng – Hà Nội
ĐT
: 04-5566701 – Fax : (04).5566702
Chịu
trách nhiệm xuất bản
NGUYỄN
THANH XUÂN
Biên
tập : Đỗ Thị Quỳnh
Trình bày : Thủy Tiên
Bìa
:
Đối
tác liên kết : Thủy Tiên ĐT : 8443138
In
1000 bản, khổ 14,5cmx20,5cm tại Xí nghiệp In Số 5, Q.5, Tp.HCM.
Số xuất bản 145-2005/CXB/02-94/T6. In xong và nộp lưu chiểu
quí I năm 2006.