A.-
Bản Phỏng-dịch
(Dựa
theo Bản văn đời Đông-Tấn, thiếu tên dịch-giả Hán-văn,
nơi bộ Càn-Long Đại-Tạng Kinh, Quyển số 108, các trang 706-
753)
Quyển
Thượng
Xin
Lưu-ý:
(Các
tiểu-mục có đánh số, in chữ đậm, và các chữ nghiêng
trong ngoặc đều do Thiện Nhựt thêm vào, chánh-văn trong Đại-Tạng
chẳng có.)
001.-
Đức Phật vào rừng tòng.
Vào
một thời kia, Đức Phật ngụ tại nước Xá-Vệ, nơi vườn
Kỳ-thọ Cấp-cô-độc, các vị tì-kheo tăng, ni, cận-sự-nam,
cận-sự-nữ, chư Thiên, Vua, đại-thần, trưởng-giả, nhơn-dân
và chín mươi sáu hàng đạo-giả, hơn vạn người, cùng đến
trước Phật để nghe giảng Kinh. Đức Phật nhận thấy rằng
đông đảo dân chúng hôm nay tâm-thần thật chẳng an, nên
Ngài có ý-định muốn rời xa, nên đi đến một nơi nhàn-tịnh,
để ngồi niệm Đạo. Đức Phật liền rời dân chúng, đi
vào núi, tới một khu rừng tòng, trên cây có các vị thọ-thần.
Nơi gốc cây, Đức Phật ngồi niệm Đạo thanh-tịnh.
*
002.-
Tượng-vương vào rừng tòng gặp Đức Phật.
Cách
khu rừng tòng chẳng xa, có một bầy voi hơn năm trăm con, trong
đó Tượng-vương là voi chúa, hiền-lành, biết rõ điều lành
việc ác, tựa như loài người vậy. Bầy voi bao quanh Tượng-vương,
đực có, cái có, ngà dài có, ngà vừa có, ngà ngắn có. Tượng
Vương khát, muốn đi uống nước; nhưng đàn voi nhỏ đã chạy
đi trước, nhảy xuống uống nước; uống xong lại ở dưới
nước nô-đùa khiến cho nước trở nên đục ngầu. Tượng-vương
chẳng có nước trong để giải khát. Tượng-vương lại đói,
muốn đi ăn cỏ; đàn voi nhỏ lại chạy trước ăn hết cỏ
non, lại dẫm đạp lên, khiến Tượng-vương chẳng có cỏ
tốt để đỡ dạ. Tượng-vương thầm nghĩ, bầy voi con đã
khuấy đục nước, dày xéo cỏ tươi, khiến ta chẳng có nước
trong uống, chẳng có cỏ sạch ăn; vậy ta hãy xa rời chúng
đi đến một nơi nào an-tịnh, sung-sướng hơn. Tượng-vương
liền rời đàn voi, đi vào núi, đến khu rừng tòng. Thấy
Đức Phật đang ngồi dưới gốc tòng, Tượng-vương lòng
rất vui mừng, liền đến vập đầu trước chơn Phật, làm
lễ, rồi đứng sang bên cạnh. Đức Phật tự nghĩ, ta lià
dân chúng đến nơi nầy; Tượng-vương cũng lià đàn voi đến
gốc cây nầy, cả hai việc đều đồng một ý-nghiã. Đức
Phật liền vì Tượng-vương nói Kinh: ''Phật là bực tôn-kính
nhứt trong hàng người; Tượng-vương cũng là bực tôn-kính
nhứt trong hàng voi. Đức Phật nói, tâm ta với tâm của Tượng-vương
hợp nhau, ta và Tượng-vương cùng vui bên gốc cây nầy.''
Tượng-vương nghe Kinh xong, tâm-tư liền mở sáng, hiểu rõ
ý Phật, liền đi nhiễu quanh chỗ Đức Phật ngồi, lấy vòi
hút nước tưới đất, dùng mũi quét đất, dùng chơn đạp
đất cho bằng phẳng. Tượng-vương sớm chiều hầu-hạ như
thế. Mãi lâu về sau, Đức Phật nhập Niết-Bàn, Tượng-vương
chẳng biết Phật đi về đâu, nên rảo quanh khắp chốn, mãi
cầu tìm gặp Phật chẳng được, khóc lóc áo-não, bỏ cả
ăn uống.
*
003.-
Tượng-vương đến chùa nghe Kinh
Vào
thời đó, trong nước có ngôi chùa Phật tên là Ca-La-Hoàn
ở trên núi, là nơi tu-hành của năm trăm vị sa-môn, đều
đắc đạo-quả A-la-hán cả; thường cứ vào sáu ngày trai
trong tháng, tụng Kinh cho dến sáng. Tượng-vương cũng ở trên
núi, bên cạnh chùa, biết vào ngày trai có tụng Kinh, nên vào
chùa nghe Kinh. Các vị sa-môn biết Tượng-vương thích nghe
Kinh, nên khi Tượng-vương đến thì tụng. Tượng-Vương nghe
Kinh, hiểu được thông suốt, chẳng hề buồn ngủ, chẳng
hề nằm, chẳng hề giao-động. Cứ như thế mà Tượng-vương
luôn nghe Kinh và thừa sự chư Phật.
*
004.-
Tiền-kiếp của tì-kheo Na-Tiên và vua Di-Lan
Mãi
lâu về sau, Tượng-vương thọ-mạng hết, chết đi và được
tái sanh làm người, con trai một nhà theo đạo Bà-la-môn, chẳng
còn được nghe Kinh Phật, chẳng gặp được sa-môn, nên mới
rời nhà lên non, học đạo. Trên núi, được gần gũi với
một vị đạo-nhơn theo đạo Bà-la-môn, cả hai cùng làm bạn
trí-thức với nhau. Một người tự nghĩ, ta nhìn thấy nơi
thế-gian đầy ưu-sầu, già bịnh khổ, chết đi lại phải
sa vào địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh; cho nên ta nguyện cạo
râu tóc, mặc áo cà-sa, làm sa-môn, cầu đạo vô-vi cứu đời.
Còn người kia thì lại tự nghĩ, ta muốn cầu làm vua một
nước, tự-tại, khiến thiên-hạ cùng thuộc về ta, nghe lịnh
ta. Hai người cùng nguyện-cầu như thế. Về sau, cả hai người
đều hết thọ-mạng, được tái sanh làm người. Một người,
kiếp trước có lời nguyện làm quốc-vương, sanh ra làm Thái-tử
ở một nước bên ven biển; cha mẹ đặt tên là Di-Lan. Còn
một người, kiếp trước có lời nguyện cầu đạo vô-vi
cứu đời, thì sanh ra tại nước Thiên-Trúc (Ấn-độ), ở
huyện Kế-Tân, được cha mẹ đặt tên là Đà-Liệp.
Vì
có lời nguyền tiền-kiếp, nên khi sanh ra Đà-Liệp có áo
cà-sa quấn khắp thân-thể; cùng lúc đó, một con Tượng-vương
cũng ra đời trong nhà đó; nên cha mẹ lấy tên Na của Tượng-vương
mà đặt tên cho con, và gọi là Na-Tiên.
*
005.-
Na-Tiên xuất-gia cầu Đạo với Lâu-Hán.
Na-Tiên
lớn lên, đến năm mười lăm, mười sáu tuổi, theo người
cậu là Lâu-Hán. Lâu-Hán làm sa-môn có tài tuyệt-diệu, thế-gian
chẳng ai bằng, mắt nhìn thật xa, tai nghe thật thính, biết
rõ việc đời trước và đời sau của mình, di chuyển thì
bay cao, vượt qua các hang động chẳng bị ngăn-ngại, tự-tại
biến-hóa chẳng điều chi chẳng làm được, trên trời dưới
đất muôn loài động-vật bò sát hay bay cao, hễ động-tâm
là hay biết đến cả. Na-Tiên đến nơi cậu ở, kể rõ tâm-nguyện
mình cầu Phật-đạo, muốn xuống tóc cạo râu, mặc áo cà-sa
làm sa-môn, xin cậu cho làm đệ-tử. Lâu-Hán biết đời trước
Na-Tiên siêng làm việc thiện, có lời thề nguyền thâm-trọng,
nên thương mà cho làm sa-di. Na-Tiên được thọ Thập-Giới,
hằng ngày tụng Kinh giữ giới, tu đắc cõi Tứ-Thiền, nên
biết rành tất cả Kinh-kệ, nhưng còn chưa được thọ giới
Đại-sa-môn.
*
006.-
Na-Tiên đến chùa Hoà-Thiền-Tự.
Vào
thời đó, trong nước có ngôi chùa trên núi tên là Hoà-Thiền-Tự,
có năm trăm vị sa-môn đều chứng đạo-quả A-la-hán, trong
số đó có vị A-la-hán bực nhứt tên là Át-Bi-Viết (Pali:
Assagutta) biết rõ các việc trên trời, dưới đất, quá-khứ,
vị-lai và hiện-tại. Na-Tiên vừa hai mươi tuổi, nhân thọ
giới Đại-sa-môn mới đến chùa Hoà-Thiền-Tự, là nơi trụ-trì
của Ngài Át-Bi-Viết. Bấy giờ, vào ngày Rằm có lễ thuyết
giới Đại-sa-môn, các vị Thượng-toạ, Đại-sa-môn đều
đi vào giảng-đường. Na-Tiên cũng nhập vào trong số đó.
Chư sa-môn vừa ngồi xuống xong, Ngài Át-Bi-Viết nhìn chư
sa-môn thấy tất cả tâm đều chứng đạo A-la-hán, chỉ riêng
một mình Na-Tiên còn chưa chứng-đắc quả-vị ấy. Ngài Át-Bi-Viết
liền nói Kinh: ''Thí-dụ như vào gĩa gạo, hột hột đều
trong trắng, nếu lộn hột gạo đen, thì đó là lựa ra còn
chưa kỹ. Nay chúng ta ngồi đây tất cả đều thanh bạch,
chỉ trừ Na-Tiên là hột gạo đen, vì chưa đắc đạo A-la-hán.''
Nghe Ngài Át-Bi-Viết thuyết kinh như thế, Na-Tiên lòng sầu-bi,
liền đứng dậy, cúi xuống làm lễ năm trăm vị sa-môn, rồi
bước ra ngoài. Na-Tiên tự nghĩ, ta chẳng xứng ngồi tại
tòa nầy vì chưa đắc độ-thoát; tất cả các vị sa-môn
đều đã được độ-thoát, đó cũng như giữa bầy sư-tử
có chồn cáo lộn vào. Kể từ nay, ta còn chưa đắc đạo
thì chẳng trở vào đây nữa.
Ngài
Át-Bi-Viết biết được ý-nghĩ của Na-Tiên, liền gọi Na-Tiên
lại trước mặt, lấy tay xoa đầu Na-Tiên và nói: ''Đừng
sầu-bi, chẳng bao lâu nữa con sẽ đắc quả A-la-hán.'' (...)
*
007.-
Na-Tiên bị Sư Ca-Duy-Viết trục-xuất, liền đi vào rừng ẩn-tu
và đắc quả-vị A-la-hán.
Na-Tiên
còn có một vị sư-phụ khác nữa, tên là Ca-Duy-Viết, tuổi
trên tám mươi. Trong huyện có một vị ưu-bà-tắc rất hiền-lành,
mỗi ngày thường cúng-dường thực-phẩm cho các đệ-tử
của Ngài Ca-Duy-Viết. Na-Tiên đến nơi thầy ở, vì thầy
mà cầm lấy bình bát và đi khất-thực mang cơm về cho thầy.
Sư-phụ
ra lịnh cho Na-Tiên phải ngậm một ngụm nước mặn trong miệng
khi đi đến nhà vị ưu-bà-tắc để nhận cơm. Vị ưu-ba-tắc
nhìn thấy Na-Tiên tuổi còn trẻ mà đi đứng đoan-trang, nổi
bật lên giữa các vị tì-kheo, nên biết đó là người có
trí-huệ thông-minh, thông-đạt Kinh-kệ, có biện-tài thuyết-pháp.
Khi thấy Na-Tiên bước vào nhà, vị ưu-bà-tắc liền đứng
dậy làm lễ, xoa tay và thưa rằng: ''Hằng ngày tôi thường
dưng cúng thực-phẩm cho chư sa-môn; các Ngài đến thường
vì tôi thuyết giảng Kinh-kệ; nguyện xin Ngài thương tôi mà
nói Kinh để giải sự ngu-si của tôi.'' Na-Tiên liền tự nghĩ:
''Ta nay vâng lịnh của Sư-phụ phải ngậm nước mặn trong
miệng, chẳng được nói năng. Nếu nay ta nhỗ nước ra thì
phạm giới của Thầy, biết làm sao đây?'' Na-Tiên lại nghĩ:
''Vị ưu-bà-tắc nầy chắc cũng tài cao có chí, nếu ta vì
ông ấy nói Kinh, tưởng ông ta sẽ đắc đạo cũng nên...''
Na-Tiên liền nhỗ nước ra, đến ngồi xuống và thuyết Kinh:
''Người hay bố-thí, làm lành, phụng-hành Kinh-kệ và giới-luật,
thì đời nầy được an-ổn, đời sau sẽ sanh lên cõi Trời,
hoặc vào hàng Người cao-quí, trí-huệ sáng-suốt, chẳng phải
sa vào địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh. Còn người chẳng phụng-hành
Kinh và Giới thì đời nầy khổ-sở, đời sau bị đọa vào
ba đường ác, chẳng biết bao giờ ra khỏi.'' Vị ưu-bà-tắc
nghe Kinh, lòng rất vui mừng. Na-Tiên thấy biết tâm vị ấy
hoan-hỉ, liền tiếp-tục nói Kinh thâm-diệu: ''Vạn vật ở
thế-gian đều chẳng thường-còn, trong quá-khứ đều khổ-sở.
Con người ở thế-gian cũng lại như vậy; họ đều nói, thân
nầy của ta hứa-hẹn nhiều điều chẳng được tự-tại.
Cõi Nê-hoàn (= cõi Niết-bàn) thì vui-sướng vô cùng, ở đấy
chẳng sanh, chẳng già, chẳng bịnh, chẳng chết, chẳng sầu,
mọi sự khổ-sở đều tiêu-diệt...'' Na-Tiên nói Kinh xong,
vị ưu-bà-tắc liền chứng được đạo-quả Tu-đà-huờn;
Na-Tiên cũng tự chứng-đắc quả-vị ấy. Vị ưu-bà-tắc
lòng rất hoan-hỉ, liền đem thực-phẩm ngon tốt ra dưng cúng.
Na-Tiên bảo vị ấy, trước nên sớt đầy bát của Sư-phụ
để mang về. Na-Tiên ăn xong, súc miệng, thu xếp cầm bát
đầy cơm mang về cho Sư-phụ.
Sư-phụ
thấy cơm ngon trong bát, liền nói: ''Nếu hôm nay mang về bát
đầy cơm hết sức ngon-tốt như vầy, đó là đã vi-phạm
lời ước của chúng tăng, vậy phải trục-xuất ngươi ra
khỏi đây.'' Na-Tiên buồn tủi, chẳng vui. Sư nói với hội-chúng,
và các tì-kheo đang cùng ngồi đó: ''Na-Tiên vi-phạm điều
ước của chúng ta, cần phải trục-xuất, chẳng được ở
trong hội-chúng nữa.'' Ngài Át-Bi-Viết nói thí-dụ rằng:
''Như một người dùng một mũi tên mà bắn trúng được hai
mục-tiêu, thì như thế chẳng nên trục-xuất vậy. Na-Tiên
thuyết Kinh mà tự chứng-đắc đạo, lại đồng thời khiến
cho vị ưu-bà-tắc cũng chứng quả, thì chẳng nên trục xuất.''
Sư Ca-Duy-Viết nói: ''Ngay cả dùng một mũi tên mà bắn trúng
đến trăm mục-tiêu đi nữa cũng vi-phạm điều ước của
chúng tăng, chẳng thể cho lưu ở lại được. Các người
khác tất chẳng đủ khả năng như Na-Tiên mà đắc đạo.
Nên chận đứng việc nầy về sau; nếu chẳng trục xuất
Na-Tiên, các người khác sau nầy sẽ bắt chước theo.'' Toàn
thể chúng tì-kheo ngồi im, mặc-nhiên tùy theo lời Sư dạy
trục-xuất Na-Tiên. Na-Tiên liền cúi đầu sát chơn Sư-phụ,
làm lễ chúng tăng.
Lễ
xong, Na-Tiên liền đi ngay vào rừng sâu núi thẩm, ngồi dưới
gốc cây, ngày đêm tinh-tấn niệm Đạo chẳng ngừng. Chẳng
bao lâu, Na-Tiên đắc đạo A-la-hán, có thể bay cao, nhìn thấy
thật xa, tai nghe thật rõ, tỏ tường ý-nghĩ tư-tưởng trong
lòng kẻ khác, thông-đạt việc đời trước, đời sau. Đắc
đạo A-la-hán xong, Na-Tiên liền trở lại chùa Hoà-Thiền-Tự,
khấu đầu cầu sám-hối với chư tì-kheo tăng; các Ngài nghe
nhận lễ. Lễ xong, Na-Tiên liền ra đi.
*
008.-
Na-Tiên đi hành-đạo trong dân-gian.
Na-Tiên
chuyển hướng đi vào các quận huyện, qua các nẻo đường
phố, ngỏ hẻm, vì người mà thuyết Kinh, giảng Giới, dạy
người làm lành, trong số có người đắc các đạo-quả Tu-đà-huờn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, ngay cả trong hàng sa-môn chứng được
đạo-quả A-la-hán nữa.
Trời
Tứ-Thiên-Vương, Trời Đao-Lợi, Trời Đế-Thích, Đại-Phạm
Thiên-Vương đều đến trước mặt Na-Tiên, cúi đầu sát
chơn làm lễ, ngồi bên cạnh nghe thuyết pháp, lời văn vang
đến bốn cõi Trời.
Tất
cả Trời, Người, dân, quỉ, thần, rồng... chẳng ai trông
thấy Na-Tiên mà chẳng tỏ lòng hoan-hỉ, được hưởng nhiều
phước-đức.
Na-Tiên
mới di-chuyển sang Thiên-Trúc nơi nước Xá-Kiệt, dừng trụ
lại ở chùa Tiết-Để-Ca-Tự.
*
009.-
Vua Di-Lan cai-trị nước Xá-Kiệt.
Bấy
giờ ở Xá-Kiệt-quốc có vị Thái-tử tên là Di-Lan, trong
tiền-kiếp vốn là bạn trí-thức cũ với Na-Tiên, sau sanh
tại hải-biên. Thái-tử Di-Lan lúc còn trẻ hiếu-học, siêng
đọc Kinh-kệ ngoại-đạo, biết rành các Kinh cao-thâm và khó
hiểu, cùng với các tu-sĩ ngoại-đạo tranh-luận, chẳng ai
thắng nổi. Khi phụ-vương băng-hà, thái-tử lên nối ngôi,
tức-vị là Quốc-Vương Di-Lan.
Một
hôm, Vua hỏi các đại-thần hầu bên cạnh: ''Trong nước có
đạo-gia hay nhơn-dân nào đủ sức cùng Ta bàn-luận về các
Kinh khó chăng?'' Các quan hầu-cận tâu: ''Bẩm có, có người
học đạo Phật được dân gọi là vị Sa-môn. Vị ấy trí-huệ
thông-đạt rộng-sâu, có thể cùng Đại-vương bàn-luận về
các Kinh cao khó.''
Thuở
ấy tại miền Bắc Đại-Tần, có nước Xá-Kiệt yên-ổn,
nhơn dân hiền-lành. Đường xá trong thành rộng-rãi, mỗi
cửa thành đều có chạm trổ, (...) phố xá trưng bày la-liệt,
đường quan-đạo có ngựa voi, xe cộ dập dìu, nam thanh nữ
tú ra vào. Đạo nhơn, thầy thợ, dân lành đều rất cao-minh;
nhơn dân áo quần loè-lẹt năm màu, phụ nữ trang-sức màu
trắng, tay đeo vòng châu ngọc. Đất-đai cao ráo có nhiều
trân-bảo. Bốn phương khách mua bán đều dùng tiền vàng (...)
Nhà nhà nuôi súc-vật, chợ chợ bày bán canh ngon, đói tức
dùng cơm sốt, khát uống rượu bồ-đào, vui-sướng chẳng
thể tả.
Quốc-vương
nước nầy hiệu là Di-Lan, dùng Chánh-Pháp trị nước. Vua
Di-Lan tài cao, trí sáng, thấu-hiểu Kinh-đạo, rành việc quá-khứ,
vị-lai và hiện-tại, các mưu-lược chiến-đấu chẳng chi
chẳng lảu-thông.
*
010.-
Vua Di-Lan hỏi bí tu-sĩ Dã-Hoà-La.
Lúc
bấy giờ, Vương ra thành đi du-ngoạn, các binh-chủng dàn ra
hộ-tống bên ngoài. Tâm Vương cao-ngạo tự nghĩ, Ta làm Vua,
có đủ khả năng đối-đáp chín mươi sáu loại kinh, nói
giải ra chỗ người hỏi đến tận vô cùng, thích-hợp với
lòng người vui hiểu lời ta nói. Vương liền nói với các
quan hầu-cận:
- Vẫn
còn sớm quá để trở vào thành, chẳng có việc gì làm. Các
khanh có biết vị đạo-nhơn hay sa-môn nào có thể cùng Ta
bàn-luận về các Kinh khó chăng?
Viên
quan hầu-cận tên là Triêm-Di-Lợi-Vọng-Quần tâu rằng:
- Bẩm
có, có sa-môn tên là Dã-Hoà-La biết thật rõ-ràng về Kinh-đạo,
có thể cùng Đại-Vương thảo-luận về các kinh khó.
Vương
bảo Triêm-Di-Lợi đi thỉnh vị sa-môn ấy. Triêm tâu:
- Thật
lành thay! Nhà vua muốn tương-kiến thì nên đi đến đó. Kẻ
hạ-thần khỏi đi mời.
Triêm-Di-Lợi
tâu lại lần nữa như thế. Vương liền ngồi xe, có năm trăm
kỵ-sĩ cùng đi theo đến chùa.
Vương
hội-kiến với Dã-Hoà-La, trước hỏi thăm sức khoẻ, kế
đến an-tọa; năm trăm kỵ-binh cũng ngồi xuống. Vương liền
hỏi Dã-Hoà-La:
- Vì
lý-do nào mà Khanh đã rời bỏ vợ con, xuống tóc, cạo râu,
mặc áo cà-sa, làm sa-môn vậy? Khanh cầu Đạo nào thế?
Dã-Hoà-La
tâu:
- Chúng
tôi học hạnh trung-chánh của đạo Phật, đời nầy được
phước, đời sau cũng được phước, vì lẽ đó, tôi xuống
tóc, cạo râu, mặc áo cà-sa làm sa-môn.
Vương
lại hỏi:
- Kẻ
áo trắng còn ở nhà, có vợ con, mà theo đúng hạnh trung-chánh,
đời nay có được phước chăng? Đời sau, cũng được phước
ấy chăng?
Dã-Hoà-La
đáp:
- Người
áo trắng còn tại nhà, có vợ con mà theo đúng hạnh trung-chánh,
đời nầy được phước, và đời sau cũng được phước
ấy nữa.
Vương
liền nói:
- Nếu
kẻ áo trắng có vợ con tại nhà, theo đúng hạnh trung-chánh,
đời nầy được phước mà đời sau cũng lại được phước
đó nữa, thì cớ sao Khanh lại bỏ vợ con, xuống tóc, cạo
râu, làm sa-môn chớ?
Dã-Hoà-La
ngồi im-lặng, chẳng đáp được lời Vua. Các vị quan hầu-cận
thấy thế liền nói:
- Vị
sa-môn cao-minh nầy bị bối rối nặng, chẳng trả lời nổi.
Họ
liền quơ tay lên, nói to:
- Đại-Vương
đắc thắng! Đại-Vương đắc thắng!
Dã-Hoà-La
im lặng chịu thua.
*
011.-
Vua Di-Lan thỉnh Na-Tiên.
Vương
quay nhìn lại các vị ưu-bà-tắc, thấy các vị nầy gương
mặt chẳng có chút hổ-thẹn nào. Vương tự nghĩ, các ưu-bà-tắc
mặt chẳng hổ-thẹn, chắc còn có một vị sa-môn nào rành-rẽ
Kinh-kệ hơn, có thể cùng Ta bàn-luận đấy. Vương liền hỏi
Triêm-Di-Lợi:
- Còn
vị sa-môn cao-minh nào khác có thể cùng Ta bàn-luận về các
Kinh khó chăng?
Thời
bấy giờ, có vị Thầy của các sa-môn, tên là Na-Tiên, thường
cùng các sa-môn ra vào, vì các sa-môn mà thuyết-giảng Kinh-kệ.
Na-Tiên hiểu rõ điều tinh-yếu của tất cả các Kinh, có
thể giảng-giải Mười hai thể-loại Kinh, phân-biệt rõ-ràng
từng chương, từng đoạn, từng câu, thông-đạt rõ đạo
Nê-Hoàn (=Niết-bàn), chẳng ai hỏi cho đến cùng nổi, chẳng
ai đắc thắng nổi, có thể phá mọi sự nghi-ngờ, có thể
làm sáng tỏ lời suy-tư của người khác, trí như sông biển,
từng khắc-phục chín mươi sáu loại ngoại-đạo, vì bốn
chúng đệ-tử của Phật mà giảng dạy Kinh-kệ, được các
bực trí-giả ngưỡng-mộ, thường mang Kinh-kệ ra dạy dỗ
người. Na-Tiên nay đến nước Xá-Kiệt, có đông-đảo đệ-tử
theo hầu, phục nể Na-Tiên cao-minh như Sư-tử dõng-mãnh.
Triêm-Di-Lợi
tâu vua:
- Có
vị sa-môn tên là Na-Tiên, trí-huệ thâm-diệu, biết rõ điều
tinh-yếu của các Kinh, giải rõ mọi nghi-ngờ, chẳng điều
chi chẳng thông, có thể cùng Đại-Vương bàn-luận về Kinh
khó.
Vua
hỏi lại Triêm-Di-Lợi:
- Khanh
nghĩ kỹ, vị ấy có thể cùng Ta bàn-luận Kinh khó chăng?
Triêm-Di-Lợi
liền đáp:
- Dĩ-nhiên,
Na-Tiên có thể cùng Đại-Vương nói Kinh khó, Na-Tiên từng
bàn-luận Kinh-kệ với Đại-Phạm Thiên-Vương trên tầng Trời
thứ bảy, sao lại chẳng đủ sức bàn-luận với người?
Vương
liền ra lịnh Triêm-Di-Lợi đi thỉnh Na-Tiên đến.
*
012.-
Vua Di-Lan vừa gặp Na-Tiên.
Triêm-Di-Lợi
liền đi đến chỗ Na-Tiên ở và thưa rằng:
- Bạch
Ngài, Đại-Vương muốn cùng Ngài tương-kiến.
Na-Tiên
liền cùng chư đệ-tử đi đến nơi Vua ngự. Vương tuy chưa
từng gặp mặt Na-Tiên lần nào, nhưng đưa mắt nhìn ra xa
thấy Na-Tiên mặc áo nổi bật trong hàng các người đang đi,
liền thầm biết đó là Na-Tiên. Vương tự nghĩ, Ta thường
thấy rất nhiều người đi vào tòa đại-điện nầy, Ta cũng
chưa hề lo-lắng như hôm nay gặp Na-Tiên. Hôm nay, nhứt-định
Na-Tiên thắng Ta, Ta chắc chẳng vui, vì tâm Ta đang bất-an,
bàng-hoàng.
Triêm-Di-Lợi
tâu Vua:
- Na-Tiên
đã đến, còn đứng bên ngoài.
Vua
hỏi Triêm:
- Na-Tiên
đứng tại chỗ nào đâu?
Triêm-Di-Lợi
liền chỉ cho Vương thấy. Vương rất vui mừng vì chính đúng
là người mà Ngài đã thầm nhận ra trước đó. Vương nhìn
thấy Na-Tiên mặc áo đi giữa các người đang vào chẳng khác
chi cả.
Na-Tiên
liền đến, trước hỏi thăm tin-tức sức khoẻ; Vương rất
hoan-hỉ, ngồi trước mặt Na-Tiên cùng trò chuyện.
Vương
nói:
- Kinh
Phật nói, người an-ổn là điều lợi lớn, người biết
đủ là điều giàu nhứt, người được sự tín-cẩn là điều
sâu-dầy nhứt. Đạo Niết-bàn là đìều khoái-lạc nhứt.
*
013.-
Ai là Na-Tiên? Xe là gì? Người là gì?
Hướng
về Na-Tiên, Vương hỏi:
- Khanh
tên chi?
Na-Tiên
đáp:
- Cha
mẹ tôi đặt tên cho là Na-Tiên, có lúc gọi là Thủ-Na-Tiên,
có khi kêu là Duy-Ca-Tiên; vì thế người đời biết đến
tôi dưới danh-tự đó.
Vương
hỏi Na-Tiên:
- Ai
là Na-Tiên?
Vương
lại hỏi tiếp:
- Đầu
là Na-Tiên chăng?
- Đầu
chẳng phải là Na-Tiên.
- Mắt,
tai, mũi, miệng là Na-Tiên chăng?
- Mắt,
tai, mũi, miệng chẳng phải là Na-Tiên.
- Cổ,
ót, vai, cánh tay, chơn, bàn tay là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- (...),
bàn chơn là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- Nhan-sắc
là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- Khổ,
vui là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- Thiện,
ác là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- Thân-thể
là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- Gan,
phổi, tim, lá-lách, gân, ruột, dạ-dày là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- Hiệp
năm việc: nhan-sắc, khổ vui, thiện ác, thân, tâm lại có
phải là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- Thanh-âm,
tiếng vang, hơi thở, có phải là Na-Tiên chăng?
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
- Vậy
chớ chỗ nào là Na-Tiên hử?
Na-Tiên
hỏi Vương:
- Xe
kia, chỗ nào là xe? Trục xe có phải là xe chăng?
- Trục
xe chẳng phải là xe.
- Vành
bánh xe có phải là xe chăng?
- Vành
bánh xe chẳng phải là xe.
- Căm
bánh xe có phải là xe chăng?
- Căm
bánh xe chẳng phải là xe.
- Ngàm
vành xe có phải là xe chăng?
- Ngàm
vành xe chẳng phải là xe.
- Càng
xe có phải là xe chăng?
- Càng
xe chẳng phải là xe.
- Ách
xe có phải là xe chăng?
- Ách
xe chẳng phải là xe.
- Đòn
xe có phải là xe chăng?
- Đòn
xe chẳng phải là xe.
- Gọng
xe có phải là xe chăng?
- Gọng
xe chẳng phải là xe.
- Mui
xe có phải là xe chăng?
- Mui
xe chẳng phải là xe.
- Hiệp
tất cả các bộ-phận bằng cây đó lại thành một, có phải
là xe chăng?
- Hiệp
các bộ-phân đó lại cũng chẳng phải là xe.
- Nếu
chẳng hiệp các bộ-phận đó lại, có phải là xe chăng?
- Chẳng
hiệp chúng lại thì chẳng thành xe.
- Thanh-âm
là xe chăng?
- Thanh-âm
chẳng phải là xe.
- Vậy
thì cái gì là xe?
Vương
im lặng, chẳng trả lời được. Na-Tiên liền nói:
- Kinh
Phật có nói đến, hiệp-tụ các bộ-phận bằng cây đó lại,
là nguyên-nhân để có được chiếc xe. Con người cũng lại
như vậy, hễ hiệp-tụ đầu, mặt, tai, mũi, miệng, cổ, ót,
vai, cánh tay, xương, thịt, bàn tay, chơn, gan, phổi, mật, lá-lách,
thận, ruột, dạ-dày, nhan-sắc, thanh-âm, hơi thở, khổ vui,
thiện ác, chung lại thì thành con người.''
Vương
nói: ''Lành thay! Lành thay!''
*
014.-
Thái-độ đứng-đắn khi thảo-luận.
Vương
lại hỏi Na-Tiên: ''Sư có thể cùng Ta bàn-luận về các Kinh
khó chăng?''
Na-Tiên
đáp: ''Nếu Vua dùng trí-huệ để hỏi tôi, thì có thể cùng
nhau bàn-luận. Nếu Vua dùng ý lời vương-giả kiêu-quí, thì
chẳng thể cùng Vua bàn-luận được.''
Vương
hỏi tiếp:
- Trí-huệ,
có bao nhiêu loại?
- Bực
trí-giả, khi đàm-luận, hết sức vặn hỏi cùng nhau, giải
rõ cùng nhau, lời nói cao, lời nói thấp, lời nói chánh-trực,
lời nói bất-chánh; có thắng có thua tự mình biết lấy phải
trái, đó là trí-huệ tối-thượng, chẳng cần chút giận-hờn;
bực trí-giả là như thế đó.
- Lời
nói vương-giả, có bao nhiêu loại?
- Lời
nói vương-giả tự phóng theo cảm-nghĩ của mình; hễ có chỗ
trái lệ chẳng như ý Vua, tức thời Vua bắt tội nặng, phạt
giết đi; như thế đó là lời nói bực vương-giả.
Vương
liền nói rằng:
- Nguyện
dụng lời nói của bực trí-giả, chẳng dùng lời nói của
Vương-giả; chẳng giữ ý-nghĩ Vương-giả trong lời mình nói,
chỉ nên nói theo như lời đệ-tử của chư sa-môn, như lời
các vị ưu-bà-tắc, nên theo lời của chư sa-môn mà khiến
cho lòng mình chẳng mang sợ-hãi, chánh-tâm cùng được khai-ngộ.
Na-Tiên
liền thốt lên rằng: ''Thật lành thay!''
*
015.-
Câu hỏi rất khó: chẳng nghe hỏi, mà đã có đáp rồi chăng?
Vương
nói: ''Ta có điều muốn hỏi.''
Na-Tiên
đáp: ''Đại-Vương cứ hỏi!''
Vương
nói: ''Ta đã hỏi rồi.''
Na-Tiên
liền nói: ''Tôi cũng đáp xong.''
Vương
vặn hỏi: ''Đáp những gì đâu?''
Na-Tiên
hỏi lại: ''Vương đã hỏi tôi những gì đâu?''
Vương
nói: ''Ta chẳng có chỗ hỏi, Na-Tiên cũng chẳng có chỗ đáp.''
Vương
tự nghĩ, vị sa-môn nầy trí-huệ thật cao-minh, Ta vừa mới
muốn hỏi cho thật nhiều, nhưng (...) ngày cũng gần tối rồi,
hay là nên để sáng mai lại thỉnh người đến cung-điện
mới tiện cùng nhau tham-vấn thêm. Vương liền bảo Triêm-Di-Lợi-Vọng-Quần
nói với Na-Tiên: ''Ngày gần tối rồi, Vương cần phải hồi-cung.
Ngày mai, Vương muốn thỉnh Ngài đến hoàng-cung.'' Na-Tiên
đáp: ''Lành lắm thay!''
Vương
lên ngựa trở về hoàng-cung. Ngồi trên lưng ngựa, Vương
vẫn tiếp-tục nghĩ đến ''Na-Tiên! Na-Tiên!'', nghĩ mãi cho
đến sáng hôm sau.
*
016.-
Thỉnh Na-Tiên, mời thêm bao-nhiêu sa-môn
Sáng
hôm sau, Triêm-Di-Lợi và các quan hầu-cận tâu Vua: ''Đại-Vương
thẩm-định nên mời Na-Tiên đến chăng?'' Vương đáp: ''Nên
mời đến chớ!'' Triêm liền thưa: ''Khi mời Na-Tiên, nên mời
bao nhiêu vị sa-môn cùng đến?'' Vương bảo: ''Hãy cứ để
tùy ỳ Na-Tiên muốn cho bao nhiêu vị sa-môn cùng đến cũng
được.'' Vị chủ kho vua, tên là Khan, bước ra tâu rằng:
''Nên bảo Na-Tiên cùng đến với mười vị sa-môn nữa, cũng
được.'' Vương lại phán: ''Nên nghe theo lời Na-Tiên, muốn
đến cùng với bao nhiêu vị sa-môn cũng được.'' Khan lại
cố tâu nữa: ''Nên bảo Na-Tiên cùng đến với mười vị
sa-môn, cũng được.'' Vương nghe Khan ấn-định nhơn-số như
thế, liền nổi giận quở: ''Nhà-ngươi quá keo-kiệt; tên
nhà-ngươi là Khan, tức nghĩa là keo-kiệt, đồ-vật của vua
mà người còn bỏn-sẻn như thế, huống gì là của riêng
ngươi thì ngươi còn rít-róng đến bực nào? Ngươi chẳng
biết nghịch ý Ta là đáng bị phạt tội nặng sao?'' Vương
lại ôn-tồn bảo: ''Thôi ta thương mà tha tội cho, hãy cút
đi. Ta làm Vua mà chẳng đủ sức để cung-cấp thực-phẩm
cho chúng sa-môn hay sao?'' Khan bẻn lẻn hổ thẹn, chẳng dám
nói nữa.
Triêm-Di-Lợi
liền đi đến ngay trú-sở của Na-Tiên, trước làm lễ rồi
bạch rằng: ''Đại-Vương thỉnh Ngài đến hoàng-cung.'' Na-Tiên
nói: ''Nhà-vua định tôi đến với bao nhiêu vị sa-môn đồng-hành?''
Triêm thưa: ''Vua bảo, tự-ý Ngài muốn đến với bao nhiêu
vị sa-môn cũng được.''
Na-Tiên
liền bảo tám mươi vị sa-môn ở Dã-Hoà-La-Tự cùng mình
ra đi với Triêm-Di-Lợi.
*
017.-
Dọc đường, Na-Tiên khai-ngộ cho Triêm.
Trên
đường đi, khi sắp vào cửa thành, Triêm-Di-Lợi nhớ lại
ngày hôm qua, Na-Tiên có nói với Vua, ''chẳng có chi là Na-Tiên'',
liền thưa-thỉnh vị sa-môn về ý-nghĩa câu đó. Na-Tiên hỏi
Triêm: ''Theo ý của Khanh, thì cái gì là Na-Tiên?''
Triêm-Di-Lợi
đáp:
-Theo
tôi, thì mạng sống trong hơi thở ra vào chính là Na-Tiên.
Na-Tiên
hỏi lại Triêm:
- Hơi
thở của người khi ra mà chẳng hoàn vào lại, thì người
ấy còn sống chăng?
- Khi
hơi thở ra mà chẳng trở vào lại, tức là chết mất.
- Như
người thổi kèn lá lau, như người thổi ống bể lò rèn,
có hơi ra mà có hơi trở vào chăng?
- Chẳng
có hơi trở vào.
- Như
người dùng tù-và thổi quét dưới đất, hơi thổi ra mà
có vào lại chăng?
- Chẳng
có hơi trở vào.
- Cùng
với hơi thổi có ra mà chẳng có trở vào, sao con người chẳng
chết theo?
Triêm-Di-Lợi
bạch với Sư:
- Tôi
chẳng thể hiểu nổi khoảng giữa hơi thở ra và vào, nguyện
Sư vì chúng tôi mà giải rõ ra.
Na-Tiên
giải-thích:
- Hơi
thở ra vào là một phần-việc ở trong thân-thể; như trong
tâm có ý-niệm, thì lưỡi nói ra lời, đó là phần-việc
của lưỡi; như trong lòng có điều nghi, tâm liền nghĩ đến,
đó là phần-việc của tâm; mỗi mỗi có cơ-phận và phần-việc
cả, nhìn lại thì là không, (là rỗng-rang). Vậy thì, chẳng
có gì là Na-Tiên cả.
Triêm-Di-Lợi-Vọng-Quần,
lòng được rộng mở, hiểu ra rõ-ràng, liền xin thọ giới
ưu-bà-tắc.
*
018.-
Bàn về điều tinh-yếu: tại sao làm sa-môn?
Na-Tiên
đi vào hoàng-cung, đến nơi Vua đang ngồi trên điện cao. Vương
liền đứng lên làm lễ Na-Tiên và mời ngồi. Tám mươi vị
sa-môn tùy tùng cũng an-toạ. Vương liền dâng-hiến thực-phẩm
thật tốt, thật ngon. Chính tay Vua sớt thức ăn cho Na-Tiên
trước nhứt. Khi chư vị sa-môn dùng cơm xong và rửa tay rồi,
Vương liền cho đem ban-tặng mỗi vị sa-môn một bộ áo cà-sa
và một đôi giầy da, và dâng-hiến cho chư Tăng ở Dã-Hoà-La-Tự
của Na-Tiên mỗi vị ba bộ áo và một đôi giầy da. Vương
liền nói với Na-Tiên, xin lưu lại mười vị sa-môn, các vị
còn lại có thể ra về. Na-Tiên liền giữ lại mười người,
còn các người khác cho trở về chùa.
Vương
ra lịnh cho các quí-nhơn và kỹ-nữ ở hậu-cung phải ra thượng-điện,
ngồi sau màn mà nghe Vương và Na-Tiên bàn-luận về Kinh khó.
Khi các quí-nhơn và kỹ-nữ đã ngồi sau màn nơi thượng-
điện xong, Vương liền đến gần bên cạnh Na-Tiên, ngồi
xuống trước mặt, và nói:
- Nên
thuyết-giảng điều chi đây?
- Vương
muốn nghe điều tinh-yếu, thì nên nói điều tinh-yếu.
- Đạo
của chư Khanh có điều tinh-yếu nào tối quan-trọng? Chư Khanh
vì lý-do nào mà làm sa-môn?
- Chúng
tôi vì muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc ở thế-gian trong đời
nầy và cả ở đời sau, nên mới làm sa-môn. Chúng tôi lấy
điều đó làm điều thiện tối-yếu.
- Có
phải tất cả chư sa-môn đều vì muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc
ở thế-gian trong đời nầy, đời sau mà làm sa-môn chăng?
- Chẳng
phải tất cả đều vì muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc ở thế-gian
trong đời nầy và đời sau mới làm sa-môn. Sa-môn có bốn
hạng.
- Thế
nào là bốn hạng sa-môn?
- (1)
Có hạng vì nợ-nần mà làm sa-môn; (2) Có hạng vì sợ huyện-quan
mà làm sa-môn;(3) Có hạng vì nghèo-khó mà làm sa-môn; (4) Có
hạng thật-tình muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc đời nầy, đời
sau nên mới làm sa-môn. Còn tôi, vốn vì cầu Đạo, mới làm
sa-môn.
- Nay
phải chăng vì cầu Đạo mà Khanh làm sa-môn?
- Tôi
lúc tuổi còn trẻ cầu làm sa-môn, được gặp các vị thông
Kinh hiểu Đạo và các đệ-tử chư sa-môn đều là bực cao-minh,
nên theo học Kinh-kệ và Giới-luật đã nhập-tâm, vì thế
nay muốn dứt bỏ sự khổ-nhọc đời nầy và đời sau, nên
mới làm sa-môn.
Vương
nói: ''Lành thay!''
*
019.-
Tại sao phải sanh trở lại? Trí-huệ giúp được gì?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Có
người chết rồi chẳng phải sanh lại nữa hay chăng?
- Có
người phải sanh lại, mà cũng có người chẳng phải sanh
trở lại.
- Ai
còn phải sanh lại và ai chẳng còn sanh lại?
- Ngưòi
quyến-luyến niềm ân-ái nhiều, lắm sự ham-muốn thì sanh
lại ở đời sau; người đã dứt sạch sự ân-ái, bỏ hết
mọi ham-muốn thì đời sau chẳng phải sanh trở lại.
- Còn
người một lòng niệm Chánh-Pháp, có trí-huệ và siêng làm
điều thiện, cũng chẳng sanh lại đời sau, phải không?
- Nguời
lấy nhứt-tâm niệm Chánh-Pháp, niệm thiện, niệm trí- huệ
và các điều lành khác, nhờ đó đời sau chẳng phải sanh
trở lại.
- Người
một lòng niệm Chánh-Pháp, niệm thiện và trí-huệ, hai đìều
đó cùng một ý-nghĩa như nhau chăng?
- Hai
điều đó ý-nghĩa khác nhau, chẳng đồng.
- Trâu,
ngựa, thú-vật nuôi trong nhà, có trí hay chẳng có trí?
- Trâu
ngựa, thú-vật nhà đều có trí cả, nhưng tâm chẳng đồng.
Vương
từng thấy việc gặt luá chăng? Tay trái cầm bó lúa, tay phải
cắt đứt các cọng luá. Trí-huệ con người cắt dứt được
sự tham-ái, cũng như ta gặt lúa, cắt lúa vậy.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
020.-
Thiện là gì? Thành-tín là gì?
Vương
hỏi Na-Tiên:
- Các
điều thiện là những gì?
- Thành-tín,
hiếu-thuận, tinh-tấn, niệm thiện, nhứt-tâm, trí-huệ, đó
là các đìều thiện.
- Thành-tín
là những gì?
- Thành-tín
tức là chẳng còn chỗ nào để nghi-ngờ: tin có Phật, tin
có Kinh, Pháp của Phật, tin có Tì-kheo Tăng, tin có A-la-hán;
tin có đời nầy, tin có đời sau; tin có sự hiếu-thuận với
cha-mẹ; tin làm lành gặp lành, làm ác gặp ác. Tin được
như thế thì về sau, tâm liền thanh-tịnh dứt xa được năm
điều ác.
*
021.-
Năm điều ác là những gì?
- Thế
nào là năm điều ác?
- Năm
điều ác là: (1) tham dâm, (2) giận hờn, (3) mê ngủ, (4) vui
đùa, (5) nghi-ngờ. Người chẳng lià xa năm điều ác đó thì
tâm-ý chẳng an-định; rời bỏ được chúng thì tâm liền
thanh-tịnh.
Thí
dụ như Vua Già-Ca-Việt cùng người ngựa qua sông, khiến cho
nước trở nên đục ngầu. Vượt qua sông rồi, Vua khát, muốn
có nước uống. Nhà Vua có viên ngọc thanh-thủy-châu, đem
ngâm vào nước, nước liền lóng trong, Vua được nước tinh-khiết
để uống. Lòng người ác ví như nước đục. Các vị đệ-tử
Phật đắc đạo độ-thoát sanh-tử thì tâm thanh-tịnh như
viên ngọc thanh-thủy-châu. Người bỏ được các điều ác,
lòng thành-tín và thanh-tịnh tựa như vầng trăng sáng.
Vương
ngợi khen:''Lành thay! Lành thay!''
*
022.-
Tinh-tấn là làm sao?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Người
thành-tín tinh-tấn thì như thế nào?
- Các
vị đệ-tử Phật tự thấy trong hàng đồng-tu có người
dứt bỏ được ác-tâm, có người đắc quả Tu-đà-huờn,
có người đắc quả Tư-đà-hàm, có người đắc quả A-na-hàm,
có người đắc quả A-la-hán, nguyên-nhân là biết bắt chước
nhau mà hành-động, nên cũng đều đắc độ-thoát cả.
Cũng
tựa như trên núi cao có trận mưa rào, nước chảy tràn xuống
sông ngập lai-láng. Các người dân gần đấy chẳng biết
được nước sâu cạn thế nào, nên chẳng dám lội qua sông.
Chợt có người từ xa lại, nhìn làn nước biết rộng hẹp,
cạn sâu ra sao, tự lượng sức mình, nên vượt qua được.
Dân gần đó thấy thế mới bắt chước theo mà lội qua. Đệ-tử
Phật cũng thế, thấy người đi trước tâm thanh-tịnh chứng
đắc bốn quả-vị, nên đều noi theo thiện-tâm đó mà tinh-tấn
tiến lên. Kinh Phật có nói, người có lòng thành-tín có thể
tự đắc độ-thoát, người kềm chế được năm sự tham-dục,
thì tự biết thân nầy là khổ lại còn giúp cho người đời
nên theo trí-huệ mà thành-toàn nền đạo-đức.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
023.-
Hiếu-thuận ở đây là tuân theo 37 Phẩm trợ Đạo.
Vương
lại hỏi:
- Thế
nào là hiếu-thuận?
- Hiếu-thuận
tức là tất cả các điều thiện. Ba mươi bảy phẩm kinh
(= Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo) đều đặt căn-bản nơi sự
hiếu-thuận.
- Ba
mươi bảy phẩm kinh đó là những gì?
- Đó
là: (1) bốn sự dừng-ý; (2) bốn sự đoạn-ý; (3) bốn thần-túc,
(4) năm căn;(5) năm lực; (6) bảy giác-ý; (7) tám loại đạo-hạnh.
*
024.-
Thế nào là bốn sự dừng-ý (= tứ niệm-xứ)?
- Bốn
sự dừng-ý là những gì?
- Đức
Phật dạy: ''Một là quán thân, thì thân dừng lại; hai là
quán sự đau-đớn thì sự đau-đớn ngừng lại; ba là quán
tâm-ý, thì ý dừng lại; bốn là quán pháp (tức là các sự-vật)
thì pháp dừng lại. Đó là bốn phép quán dừng-ý lại.''
*
025.-
Thế nào là bốn sự đoạn-ý?
- Bốn
sự đoạn ý là những gì?
- Đức
Phật dạy: ''Khi đã phân-biệt được bốn sự dừng-ý rồi
thì chẳng nhớ nghĩ đến nữa, đó là bốn sự đoạn-ý.
Khi đã đắc được bốn sự đoạn-ý rồi, thì liền đắc
được bốn niệm thần-túc.
*
026.-
Thế nào là bốn niệm thần-túc?
- Bốn
niệm thần-túc là những gì?
- Thứ
nhứt là mắt có thể nhìn thấy thấu-triệt. Hai là tai có
thể nghe rõ được thấu-triệt. Ba là có khả-năng biết rõ
tâm-trạng của kẻ khác. Bốn là thân-thể có khả-năng bay
cao. Đó là bốn niệm thần-túc.
*
027.-
Năm căn là những gì?
- Năm
căn là những gì?
- Thứ
nhứt là mắt thấy sắc đẹp, sắc xấu, ý chẳng dính mắc.
Thứ hai là tai nghe tiếng tốt, lời mắng, ý chẳng dính mắc.
Ba là mũi ngửi mùi thơm hay thúi, ý chẳng dính mắc. Bốn
là miệng được vị ngon, hay đắng cay, ý chẳng dính mắc.
Năm là thân đụng chạm vào chỗ trơn láng, ý chẳng tham-muốn,
đụng vào vật thô cứng, ý chẳng oán-ghét. Đó là năm căn.
*
028.-
Năm lực gồm có những gì?
- Thế
nào là năm lực?
- Một
là kềm chế mắt, hai là kềm-chế tai, ba là kềm-chế mũi,
bốn là kềm-chế miệng, năm là kềm-chế thân, để cho ý
khỏi bị sa-đoạ; đó là năm lực.
*
029.-
Thế nào là bảy giác-ý?
- Bảy
giác-ý là những gì?
- Một
là ý giác-ý; hai là phân-biệt giác-ý; ba là tinh-tấn giác-ý;
bốn là khả giác-ý, năm là ỷ giác-ý; sáu là định giác-ý;
bảy là hộ giác-ý: đó là bảy giác-ý.
*
030.-
Tám loại đạo-hạnh (Bát chánh-đạo) là những gì?
- Thế
nào là tám loại đạo-hạnh?
- Một
là trực-kiến; hai là trực-niệm; ba là trực-ngữ; bốn là
trực-mạng; năm là trực-nghiệp; sáu là trực phương-tiện;
bảy là trực-ý; tám là trực-định: đó là tám loại đạo-hạnh.
*
031.-
Lấy Bát-Chánh-Đạo làm căn-bản tu-hành.
Ba
mươi bảy phẩm-kinh đó đều do hiếu-thuận làm căn-bản.
Người thường nặng nợ mà tiến tới xa được có chỗ thành-tựu
đều do đất mà nên; ở thế-gian, lúa-má, cây-cối, rau cỏ
ngẩng lên trời đều do đất sanh.
Na-Tiên
nói:
- Thí
dụ như vị kiến-trúc-sư xây cất thành-thị lớn, phải lượng-định
nền móng trước, sau mới khởi công; thí dụ như người diễn
trò muốn trình-diễn, trước phải dọn đất cho bằng-phẳng
rồi mới diễn trò. Chư đệ-tử Phật cầu Đạo trước phải
tuân-hành Giới, Kinh, niệm điều thiện, nhân vì biết sự
khổ-nhọc ở thế-gian nên mới dứt bỏ mọi sự ham-muốn,
mà một lòng niệm tám loại đạo-hạnh.
- Làm
cách nào để dứt bỏ mọi ham-muốn?
- Một
lòng niệm Đạo, tức mọi ham-muốn tự tiêu-diệt.
Vương
khen: ''Lành thay! Lành thay!''
*
032.-
Tinh-tấn là gì?
Vương
lại hỏi:
- Tinh-tấn
là như thế nào?
- Giữ
điều lành, giúp cho điều lành thêm lớn, đó là tinh-tấn.
Thí-dụ như trong nước quốc-vương có nơi bị công-kích,
Vương dàn binh ra chống-cự, binh yếu chẳng cự được, Vương
liền cho thêm binh tiếp-viện, nên đắc thắng. Người có
các điều ác cũng như binh yếu, nếu người biết giữ lòng
lành tiêu-diệt ác-tâm, cũng như Vương cho viện-binh thêm để
chiến-thắng. Lòng giữ năm điều thiện, tiêu diệt năm điều
bất-thiện của ác-tâm, cũng như chiến-đấu đắc thắng
vậy. Tinh-tấn trợ giúp cho điều lành cũng lại như thế.
Tinh-tấn trợ-giúp ngưới tiến đến con đường lành, hầu
đắc độ-thoát, chẳng hoàn trở lại.
Vương
ngợi khen: ''Lành thay! Lành thay!''
*
033.-
Niệm điều thiện là phải làm sao?
Vương
lại hỏi:
- Tâm
đương niệm các điều thiện là như thế nào?
- Thí
dụ như người có nhiều bông hoa khác nhau, dùng giây kết
chung lại thành tràng, gió thổi chẳng rời-rụng ra.
Lại
ví như vị quan chủ kho vua biết rõ kho vua đang còn có bao
nhiêu vàng bạc, châu ngọc, lưu-ly, trân-bảo.
Người
học Đạo muốn đắc Đạo thì tâm-ý niệm ba mươi bảy phẩm-kinh
cũng như đó chính là niệm đạo cứu đời vậy. Người có
đạo-tâm, nhân vì hiểu rành việc thiện-ác, nên biết điều
gì nên làm, điều gì chẳng nên làm, phân-biệt trắng đen,
tự mình suy-tư từ nay trở về sau, bỏ điều ác, theo điều
lành.
Lại
thí dụ như Đại-Vương có người giữ cửa biết ai là người
được Vua kính-nể, ai là người chẳng được Vua kính-nể,
ai là người đem lợi lại cho Vua, ai là người gây bất-lợi
cho Vua. Vị quan ấy biết ai được Vua kính, ai đem lợi lại
cho Vua, thì liền cho vào; còn những người nào chẳng được
Vua kính, hoặc gây bất-lợi cho vua, thì chẳng cho vào. Người
giữ-gìn tâm-ý cũng lại như thế, các điều thiện thì cho
vào, các điều ác thì ngăn lại. Giữ-gìn ý, kềm chế tâm
là như thế đó.
Na-Tiên
lại nói Kinh: ''Người đang tự giữ-gìn thân-tâm kiên-cố
khỏi sáu điều ái-dục (=ham-muốn), kiên-trì tâm-ý, là tự
mình đang lo cứu-độ cho đời.''
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
034.-
Thế nào gọi là nhứt-tâm?
Vương
lại hỏi:
- Nhứt-tâm
có nghĩa ra sao?
- Trong
mọi điều thiện, nhứt-tâm là vào bực cao nhứt. Người
hay giữ được nhứt-tâm thì mọi điều thiện đều đi theo
đó. Ví như lâu-đài, bệ ngọc cần có chỗ nương-tựa để
dựng lên, các người làm lành cũng đều dựa vào sự nhứt-tâm.
Thí-dụ như các tướng-quân đem bốn đạo binh ra chiến-đấu,
binh cỡi voi, binh cỡi ngựa, binh ngồi xe, và bộ-binh, dàn
ra đi chung quanh Vua trước và sau. Các Kinh Giới của Phật
và các điều lành cũng đều qui về nhứt tâm, giống như
các binh-chủng đi theo bên Vua.
Na-Tiên
liền nói Kinh: ''Trong các điều thiện nhứt-tâm làm căn-bản;
các người học Đạo trước nhứt nên qui về nhứt-tâm; thân
người, sống chết, quá-khứ, cũng như nước chảy bên dưới,
trước sau nương theo nhau, chẳng có thời trụ lại.''
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
035.-
Trí-huệ là như thế nào?
Vương
lại hỏi:
- Trí-huệ
là như thế nào?
- Tôi
đã có nói trước rồi, trí-huệ có khả-năng cắt đứt các
nghi-ngờ, làm sáng tỏ các việc thiện (...) Ví như cầm đèn
đi vào nhà tối, ánh lửa vừa vào nhà thì phá tan màn u-tối
mà sáng rực lên. Người có trí-huệ sáng-tỏ cũng như ánh
lửa. Lại ví như người cầm dao bén chặt cây, người có
trí-huệ hay diệt dứt các điều ác, cũng như con dao bén.
Nơi thế-gian, con người lấy trí-huệ làm điều quan-trọng
bực nhứt; người có trí-huệ mới đủ khả-năng vượt thoát
được nổi khổ sanh-tử.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
036.-
Các loại Kinh đều dạy điều thiện để nhắm vào việc
tận-diệt các điều ác .
Vương
lại hỏi:
- Phải
chăng các loại Kinh trước sau có dạy nhiều điều khác nhau,
nhưng cũng đều chung một hướng là nhằm diệt tất cả điều
ác?
- Dĩ
nhiên, Kinh Phật dạy nhiều loại thiện nhưng cũng chỉ hướng
về nhằm diệt mọi điều ác. Ví như Vương phát bốn đạo
binh ra đi chiến-đấu, ý lúc khởi hành là để công-kích
địch-quân, diệt tất cả mọi điều ác vậy.
Vương
ngợi khen: ''Lành thay! Lành thay! Na-Tiên nói Kinh thật vô-cùng
thích-thú!''
*
037.-
Người tái-sanh lại thì dùng thân cũ, hay là có thân mới?
Vương
lại hỏi:
- Người
chết rồi đi theo hướng các ngỏ thiện và ác, có phải lấy
thân-tâm cũ sanh ra lại, hay là dùng thân-tâm mới?
- Cũng
chẳng phải lấy thân-tâm cũ sanh ra lại, mà cũng chẳng phải
lià bỏ thân-tâm cũ.
Na-Tiên
nhân đó liền hỏi Vua:
- Thân
của Vương, thân lúc nhỏ còn bú, đến thân lúc lớn lên,
có tiếp-tục thân cũ chăng?
- Thân
lúc còn nhỏ thì khác.
- Con
người lúc còn trong bụng mẹ (...) thân khi mới tượng hình
đến lúc thịt xương cứng-cáp, thân từ lúc sơ-sanh đến
khi tuổi lớn, đều khác nhau cả. Ví như có người học sách,
kẻ ngồi bên cạnh có thay thế mà nhận lấy công học sách
đó không?
- Chẳng
thể nhận thay được.
- Ví
như người phạm tội, có thể lấy người vô-tội chịu tội
thay thế cho mình hay không?
- Chẳng
thể được.
Na-Tiên
dùng tinh-thần tội-pháp hỏi Vương, ý Vương chẳng hiểu.
Vương liền hỏi Na-Tiên:
- Ví
như có người hỏi Na-Tiên như vậy, Na-Tiên đáp lại như
thế nào?
- Thân
tôi lúc bé cho đến khi lớn vẫn tiếp-tục thân cũ; thân
cũ của hai thời-kỳ cả lúc bé và khi lớn lên, cũng đều
hàm-chứa một thân được mạng sống nuôi-dưỡng. Ví như
người thắp đèn, đèn có thể cháy tỏ cho đến sáng hay
không?
- Đèn
đủ dầu thì cháy đến sáng.
- Ánh
đèn lúc đầu hôm, đến nửa đêm, chí đến sáng, có phải
là ánh đèn lúc vừa mới thắp sáng lên không?
- Chẳng
phải là ánh đèn cũ.
- Ngọn
đèn lúc đầu hôm đến nửa đêm có thắp đèn mới khác
không, đến gần sáng có đốt ngọn đèn khác không?
- Nửa
đêm chẳng thắp đèn khác, chỉ ánh đèn cũ tiếp-tục cháy
đến sáng.
- Tinh-thần
con người cứ triển- chuyển (= phát-triển và biến-chuyển)
tiếp nối nhau như thế mãi, cũng giống như vậy; một cái
đi thì một cái tới. Con người tòng theo tinh-thần từ lúc
sanh ra cho tới già, đến khi chết tinh-thần lại một lần
nữa hướng về nẻo sanh, rồi triển-chuyển liên-tục mãi.
Đó chẳng phải là tinh-thần cũ, mà cũng chẳng phải là lià
xa tinh-thần cũ. Ví như sữa, lấy sữa làm thành kem, kem làm
thành bơ, rồi bơ làm thành phó-mát; nếu có người nói, cứ
lấy phó-mát, bơ, kem để làm ra sữa lại, lời nói đó có
dùng được chăng?
- Lời
nói của kẻ đó chẳng thể dùng được.
- (...)
Từ sữa có kem, từ kem có bơ, từ bơ có phó-mát. Tinh-thần
con người cũng lại như thế; tòng theo tinh-thần mà sanh ra;
tòng theo sanh mà lớn lên đến trưởng-thành, tòng theo trưởng-thành
mà già, rồi chết; sau khi chết, tinh-thần lại muốn sanh trở
lại. Một thân chết muốn có lại một thân, giống như hai
tim đèn nối nhau cùng cháy tiếp-tục.''
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
038.-
Người hết tái-sanh có biết mình chẳng sanh lại ở đời
sau hay không?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Có
người chẳng sanh lại ở đời sau không, và có tự biết
được việc chẳng sanh lại ấy chăng?
- Dĩ
nhiên, có người như thế, tự biết mình chẳng còn tái sanh.
- Làm
sao biết được?
- Người
ấy tự biết mình chẳng còn quyến-luyến ân-ái, chẳng còn
ham-muốn, chẳng có điều ác; nhờ đó biết mình chẳng còn
phải sanh lại nữa.
Thí
dụ như người nông-phu trồng lúa, được nhiều thóc, trữ
lại để về sau, sang năm anh chẳng trồng nữa, chỉ lấy
lúa dự trữ ra ăn. Người nông-phu ấy có mong được lúa
gạo mới chăng?
- Người
nông-phu ấy chẳng mong được lúa mới.
- Tại
sao biết người ấy lại chẳng được lúa mới?
- Người
nông-phu ấy chẳng cầy cấy, chẳng trồng lúa, thì có chờ
mong được chi nữa.
- Người
đã đắc đạo cũng lại như thế, tự biết rằng đã dứt
bỏ ân-ái, sướng-khổ, chẳng còn tham-tâm, do đó biết rõ
đời sau chẳng sanh lại.
*
039.-
Khả-năng của Trí-huệ ra sao?
Vương
lại hỏi:
- Bực
đã đắc đạo chẳng sanh lại ở đời sau, đời nầy có
được trí-huệ khác hơn với người thường chăng?
- Dĩ
nhiên, có trí-huệ khác hơn người.
- Có
được sáng-suốt chăng?
- Dĩ
nhiên, có được sáng-suốt.
- Trí-huệ
với sáng-suốt giống nhau hay khác nhau?
- Trí-huệ
và sáng-suốt giống bằng nhau.
- Người
có trí-huệ và sáng-suốt có biết hết muôn sự-vật chăng,
hay có chỗ còn chưa hiểu-biết kịp?
- Trí
con người có chỗ hiểu-biết kịp, có chỗ chẳng kịp.
- Những
gì là kịp hiểu, những gì là còn chưa hiểu kịp?
- Người
thường biết rõ điều chưa học, điều chưa kịp hiểu; và
cũng biết điều đã học và điều đã hiểu kịp. Còn bực
trí-giả thấy rõ con người cùng vạn vật đều phải qua
đi, qui về Không, chẳng được sự tự-tại; vì lòng ham muốn
vui-sướng mà đã gieo trồng nguồn-gốc của Khổ; đã biết
như thế và tòng theo đó mà tiến đến Khổ-Huệ ( =Trí hiểu
rõ sự Khổ), biết rõ-ràng sự vô-thường, sự thành-bại;
cho nên trí-huệ khác với người thường.
- Người
có trí-huệ rồi thì ngu-si ở vào đâu?
- Người
có trí-huệ thì ngu-si tự tiêu-diệt hết. Ví như người cầm
đèn vào trong nhà tối, phòng sáng lên, tức màn tối đen bị
tiêu-diệt. Trí-huệ cũng lại như vậy, người có trí thì
ngu-si tất tiêu-diệt.
- Thế
còn trí-huệ của trí-giả nay lại ở đâu?
- Người
dùng trí để làm công-việc, làm xong, trí-huệ liền tiêu-diệt,
nhưng sự-việc mà trí-huệ đã làm thì còn đó. Ví như ban
đêm viết thơ bên đèn, viết xong tắt đèn, nhưng bức thơ
còn đó.
Bực
trí-giả cũng lại như thế, làm xong việc đã làm, trí-huệ
liền tiêu-diệt, nhưng việc làm thành-tựu vẫn tiếp-tục
còn tại đó.
- Bảo
rằng, trí-huệ làm xong việc đã thành, liền tự tiêu-diệt,
nghĩa đó như thế nào?
- Ví
như người kia phòng-bị lửa cháy chứa sẵn năm thùng nước,
khi có nạn cháy nhà, liền đem năm bình nước đổ nước
ra chữa lửa; lửa tắt rồi, người cứu-hỏa kia còn muốn
đem năm bình kia về nhà nữa thôi?
- Người
cứu-hỏa dập tắt lửa rồi chẳng còn muốn giữ năm bình
(nước) làm chi nữa.
- Tâm
người đắc-đạo giữ năm điều thiện để diệt xong các
điều xấu-ác, cũng tựa như năm bình nước cứu-hỏa dập
tắt lửa.
*
040.-
Năm điều thiện là những gì?
Vua
liền hỏi Na-Tiên:
- Năm
điều thiện là những gì?
- Thứ
nhứt là tin-tưởng có điều thiện, điều ác. Thứ hai là
chẳng hủy-phạm giới-luật và Kinh-kệ. Thứ ba là tinh-tấn.
Thứ tư là có trí-huệ niệm điều thiện. Thứ năm là một
lòng niệm Đạo. Đó là năm điều thiện. Người thường
hay phụng-hành năm điều thiện đó đắc trí-huệ, liền biết
thân người và vạn-vật đều vô-thường, biết khổ chẳng
được tự-tại, biết tánh Không rỗng-rang chẳng có gì. Ví
như ông thầy thuốc dùng năm vị thuốc đem đến nhà người
bịnh, cho bịnh-nhơn uống thuốc, bịnh được bớt, rồi khỏi,
thì ông thầy có còn dùng năm vị thuốc cũ mà cho người
ấy uống nữa không?
- Hết
bịnh rồi còn cho uống thuốc cũ làm gì nữa?
- Năm
vị thuốc cũng như trí giữ năm điều thiện; ông thầy thuốc
cũng như người cầu Đạo; căn bịnh cũng như các điều ác;
ngu-si như là bịnh-nhơn; người đắc-đạo cứu đời như
bịnh đã lành. Trí đã thành-tựu nơi người, đưa người
đến chỗ cứu đời. Người đắc-đạo rồi, trí cũng tự
diệt. Lại ví như viên kiện-tướng mang năm mũi tên tiến
lên hướng về địch-quân bắn xong đắc thắng; vị ấy có
mong năm mũi tên quay lại để mang về không?
- Đâu
có mong tên quay về lại làm chi.
- Năm
mũi tên cũng như năm điều thiện của trí-huệ đó. Người
tòng theo trí đó mà đắc đạo, giống như vị kiện-tướng
đắc-thắng quân địch. Các điều ác như các nẻo ác-đạo
(trong cảnh Luân-hồi). Người giữ năm điều thiện để diệt-trừ
các điều ác; khi các điều ác diệt, trí lành phát-sanh, người
tòng theo trí lành đó mà đắc đạo cứu đời, trở nên thường-tại,
bất-diệt.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay!''
*
041.-
Vì sao bực đắc-đạo còn sống lại phải chịu khổ?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Như
người đắc đạo, chẳng phải sanh lại ở đời sau, có còn
phải chịu cảnh khổ nữa không?
- Hoặc
còn phải chịu khổ, hoặc chẳng còn phải khổ nữa.
- Thế
nào là còn phải chịu khổ, là chẳng phải chịu khổ nữa?
- Thân
còn chịu khổ, tâm-ý hết chịu khổ. Sở dĩ thân còn phải
chịu khổ là vì trong hiện-tại thân đó còn là nguồn-gốc
của sự khổ; tâm-ý sở dĩ hết khổ là vì đã dứt bỏ
tất cả các điều ác, chẳng còn ham-muốn chi, cho nên chẳng
phải chịu khổ nữa.
- Nếu
như người đắc đạo chẳng thể lià thân khổ nầy, thì
đó là chưa đắc được đạo Nê-Hoàn (=Niết-bàn) chăng?
Người đắc đạo chẳng còn ân-ái, mà thân còn khổ, dẫu
tâm-ý đã an-ổn, thì sự đắc đạo để làm gì? Nếu như
người đắc đạo đã thành-công, thì vì cớ gì mà còn lưu
lại ở đây?
- Thí
dụ như trên cây, trái còn chưa chín thì chẳng vội hái, nên
đợi cho chín muồi. Đại- Vương có biết lời nói của Đại-đức
Xá-lê-viết (Pali: Sariputta = Xá-lợi-phất) chăng? Xá-lê-viết
lúc còn sống có nói: ''Tôi chẳng cầu chết, tôi cũng chẳng
cầu sống, tôi chỉ chờ đúng thời ra đi thì ra đi.''
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
Kinh
Tì-kheo Na-Tiên
Hết
Quyển Thượng