Kinh Pháp
Cú
Phẩm
01-10
I.
Phẩm Song Yếu
II.
Phẩm Không Phóng Dật
III.
Phẩm Tâm
IV.
Phẩm Hoa
V.
Phẩm Kẻ Ngu |
VI.
Phẩm Hiền Trí
VII.
Phẩm A-La-Hán
VIII.
Phẩm Ngàn
IX.
Phẩm Ác
X.
Phẩm Hình Phạt |
Phẩm
11-20
XI.
Phẩm Già
XII.
Phẩm Tự Ngã
XIII.
Phẩm Thế Gian
XIV.
Phẩm Phật Ða
XV.
Phẩm An Lạc |
XVI.
Phẩm Hỷ Ái
XVII.
Phẩm Phẫn Nộ
XVIII.
Phẩm Cấu Uế
XIX.
Phẩm Pháp Trụ
XX.
Phẩm Ðạo |
Phẩm
21-26
XXI.
Phẩm Tạp Lục
XXII.
Phẩm Ðịa Ngục
XXIII
Phẩm Voi |
XXIV.
Phẩm Tham Ái
XXV.
Phẩm Tỷ Kheo
XXVI.
Phẩm Bà-La-Môn |
Giới
thiệu:
Kinh
Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ
Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Ðây
là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được
dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma)
có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Ðức Phật;
Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali,
"Pada" còn có nghĩa là con đường. Do đó, Dhammapada thường
được dịch là Con đường Chân lý (Path of Truth), Con đường
Phật Pháp (Path of the Buddha's Teaching).
Dhammapada
là tập hợp 423 bài kệ do đức Phật nói ra trong nhiều dịp
khác nhau, trong suốt 45 năm hoằng dương Chánh Pháp của Ngài.
Các bài kệ nầy được sắp xếp trong 26 phẩm, do các vị
đại đệ tử thu xếp và tụng đọc trong Ðại hội Kết
tập Kinh điển lần đầu tiên sau khi Ðức Phật nhập diệt.
Mỗi bài kệ chứa đựng một nội dung tu học rất sâu sắc
và phong phú, không thể nào chỉ đọc một lần mà hiểu hết
được. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tra cứu
các bản chú giải, và suy nghiệm từ các tu chứng tự thân
thì mới mong thông ngộ và thấu đạt ý nghĩa của các lời
dạy cao quý đó. Mỗi bài kệ là một nguồn cảm hứng cao
đẹp, một lối đi mới lạ, một sức mạnh kỳ diệu giúp
chúng ta có một niềm tin vững chắc hơn trên con đường tu
học để tiến đến giác ngộ, giải thoát. (...)
Bình
Anson,
tháng
6 - 1998,
Perth,
Western Australia
