|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TIỂU BỘ
TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2543 - 1999
Kinh Pháp
Cú
Phẩm 21-26
XXI.
Phẩm Tạp Lục
290.
"Nhờ từ bỏ lạc nhỏ,
Thấy
được lạc lớn hơn,
Bậc
trí bỏ lạc nhỏ,
Thấy
được lạc lớn hơn." |
291.
"Gieo khổ đau cho người,
Mong
cầu lạc cho mình,
Bị
hận thù buộc ràng
Không
sao thoát hận thù." |
292.
"Việc đáng làm, không làm,
Không
đáng làm, lại làm,
Người
ngạo mạn, phóng dật,
Lậu
hoặc ắt tăng trưởng." |
293.
"Người siêng năng cần mẫn,
Thường
thường quán thân niệm,
Không
làm việc không đáng,
Gắng
làm việc đáng làm,
Người
tư niệm giác tỉnh,
Lậu
hoặc được tiêu trừ." |
294.
"Sau khi giết mẹ cha,
Giết
hai Vua Sát lỵ,
Giết
vương quốc, quần thần
Vô
ưu, phạm chí sống." |
295.
"Sau khi giết mẹ cha,
Hai
vua Bà-la-môn,
Giết
hổ tướng thứ năm
Vô
ưu, phạm chí sống." |
296.
"Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác
Vô
luận ngày hay đêm,
Tưởng
Phật Ðà thường niệm." |
297.
"Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Tưởng
Chánh Pháp thường niệm" |
298.
"Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Tưởng
Tăng Già thường niệm." |
299.
"Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Tưởng
sắc thân thường niệm." |
300.
"Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Ý
vui niềm bất hại." |
301.
"Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Ý
vui tu thiền quán." |
302.
"Vui hạnh xuất gia khó,
Tại
gia sinh hoạt khó,
Sống
bạn không đồng, khổ,
Trôi
lăn luân hồi, khổ,
Vậy
chớ sống luân hồi,
Chớ
chạy theo đau khổ." |
303.
"Tín tâm, sống giới hạnh
Ðủ
danh xưng tài sản,
Chỗ
nào người ấy đến,
Chỗ
ấy được cung kính." |
304.
"Người lành dầu ở xa
Sáng
tỏ như núi tuyết,
Người
ác dầu ở gần
Như
tên bắn đêm đen." |
305.
"Ai ngồi nằm một mình.
Ðộc
hành không buồn chán,
Tự
điều phục một mình
Sống
thoải mái rừng sâu." |
XXII.
Phẩm Ðịa Ngục
306.
"Nói láo đọa địa ngục
Có
làm nói không làm,
Cả
hai chết đồng đẳng,
Làm
người, nghiệp hạ liệt." |
307.
"Nhiều người khoác cà sa,
Ác
hạnh không nhiếp phục.
Người
ác, do ác hạnh,
Phải
sanh cõi Ðịa ngục." |
308.
"Tốt hơn nuốt hòn sắt
Cháy
đỏ như lửa hừng,
Hơn
ác giới, buông lung
Ăn
đồ ăn quốc độ." |
309.
"Bốn nạn chờ đợi người,
Phóng
dật theo vợ người;
Mắc
họa, ngủ không yên,
Bị
chê là thứ ba,
Ðọa
địa ngục, thứ bốn." |
310
"Mắc họa, đọa ác thú,
Bị
hoảng sợ, ít vui.
Quốc
vương phạt trọng hình.
Vậy
chớ theo vợ người." |
311.
"Như cỏ sa vụng nắm,
Tất
bị họa đứt tay
Hạnh
Sa môn tà vạy,
Tất
bị đọa địa ngục." |
312.
"Sống phóng đãng buông lung,
Theo
giới cấm ô nhiễm,
Sống
Phạm hạnh đáng nghi
Sao
chứng được quả lớn? |
313.
"Cần phải làm, nên làm
Làm
cùng tận khả năng
Xuất
gia sống phóng đãng,
Chỉ
tăng loạn bụi đời." |
314.
"Ác hạnh không nên làm,
Làm
xong, chịu khổ lụy,
Thiện
hạnh, ắt nên làm,
Làm
xong, không ăn năn." |
315.
"Như thành ở biên thùy,
Trong
ngoài đều phòng hộ
Cũng
vậy, phòng hộ mình,
Sát
na chớ buông lung.
Giây
phút qua, sầu muộn.
Khi
rơi vào địa ngục." |
316.
"Không đáng hổ, lại hổ.
Việc
đáng hổ, lại không.
Do
chấp nhận tà kiến,
Chúng
sanh đi ác thú." |
317.
"Không đáng sợ, lại sợ,
Ðáng
sợ, lại thấy không,
Do
chấp nhận tà kiến.
Chúng
sanh đi ác thú." |
318.
"Không lỗi, lại thấy lỗi,
Có
lỗi, lại thấy không,
Do
chấp nhận tà kiến,
Chúng
sanh đi ác thú." |
319.
"Có lỗi, biết có lỗi,
Không
lỗi, biết là không,
Do
chấp nhận chánh kiến,
Chúng
sanh đi cõi lành." |
XXIII.
Phẩm Voi
320.
"Ta như voi giữa trận,
Hứng
chịu cung tên rơi,
Chịu
đựng mọi phỉ báng.
Ác
giới rất nhiều người." |
321.
"Voi luyện, đưa dự hội,
Ngựa
luyện, được vua cưỡi,
Người
luyện, bậc tối thượng
Chịu
đựng mọi phỉ báng." |
322.
"Tốt thay, con la thuần,
Thuần
chủng loài ngựa Sin.
Ðại
tượng, voi có ngà.
Tự
điều mới tối thượng." |
323
"Chẳng phải loài cưỡi ấy,
Ðưa
người đến Niết-Bàn,
Chỉ
có người tự điều,
Ðến
đích, nhờ điều phục." |
324.
"Con voi tên Tài Hộ,
Phát
dục, khó điều phục,
Trói
buộc, không ăn uống.
Voi
nhớ đến rừng voi." |
325.
"Người ưa ngủ, ăn lớn
Nằm
lăn lóc qua lại,
Chẳng
khác heo no bụng,
Kẻ
ngu nhập thai mãi." |
326.
"Trước tâm này buông lung,
Chạy
theo ái, dục, lạc.
Nay
Ta chánh chế ngự,
Như
cầm móc điều voi." |
327.
"Hãy vui không phóng dật,
Khéo
phòng hộ tâm ý.
Kéo
mình khỏi ác đạo,
Như
voi bị sa lầy." |
328.
"Nếu được bạn hiền trí
Ðáng
sống chung, hạnh lành,
Nhiếp
phục mọi hiểm nguy
Hoan
hỷ sống chánh niệm." |
329.
"Không gặp bạn hiền trí.
Ðáng
sống chung, hạnh lành
Như
vua bỏ nước bại,
Hãy
sống riêng cô độc,
Như
voi sống rừng voi." |
330.
"Tốt Hơn sống một mình,
Không
kết bạn người ngu.
Ðộc
thân, không ác hạnh
Sống
vô tư vô lự,
Như
voi sống rừng voi." |
331.
"Vui thay, bạn lúc cần!
Vui
thay, sống biết đủ,
Vui
thay, chết có đức!
Vui
thay, mọi khổ đoạn." |
332.
"Vui thay, hiếu kính mẹ,
Vui
thay, hiếu kính cha,
Vui
thay, kính Sa môn,
Vui
thay, kính Hiền Thánh." |
333.
"Vui thay, già có giới!
Vui
thay, tín an trú!
Vui
thay, được trí tuệ,
Vui
thay, ác không làm." |
XXIV.
Phẩm Tham Ái
334.
"Người sống đời phóng dật,
Ái
tăng như giây leo.
Nhảy
đời này đời khác,
Như
vượn tham quả rừng." |
335.
"Ai sống trong đời này,
Bị
ái dục buộc ràng
Sầu
khổ sẽ tăng trưởng,
Như
cỏ Bi gặp mưa." |
336.
"Ai sống trong đời này
Ái
dục được hàng phục
Sầu
rơi khỏi người ấy
Như
giọt nước lá sen." |
337.
"Ðây điều lành Ta dạy,
Các
người tụ họp đây.
Hãy
nhổ tận gốc ái
Như
nhổ gốc cỏ Bi.
Chớ
để ma phá hoại,
Như
giòng nước cỏ lau." |
338.
"Như cây bị chặt đốn,
Gốc
chưa hại vẫn bền
Ái
tùy miên chưa nhổ,
Khổ
này vẫn sanh hoài." |
339.
"Ba mươi sáu dòng Ái,
Trôi
người đốn khả ái.
Các
tư tưởng tham ái.
Cuốn
trôi người tà kiến." |
340.
"Dòng ái dục chảy khắp,
Như
giây leo mọc tràn,
Thấy
giây leo vừa sanh,
Với
tuệ, hãy đoạn gốc." |
341.
"Người đời nhớ ái dục,
Ưa
thích các hỷ lạc.
Tuy
mong cầu an lạc,
Họ
vẫn phải sanh già." |
342
"Người bị ái buộc ràng,
Vùng
vẫy và hoảng sợ,
Như
thỏ bị sa lưới.
Họ
sanh ái trói buộc,
Chịu
khổ đau dài dài." |
343.
"Người bị ái buộc ràng,
Vùng
vẫy và hoảng sợ,
Như
thỏ bị sa lưới.
Do
vậy vị tỷ kheo,
Mong
cầu mình ly tham
Nên
nhiếp phục ái dục." |
344.
"Lìa rừng lại hướng rừng
Thoát
rừng chạy theo rừng.
Nên
xem người như vậy,
Ðược
thoát khỏi buộc ràng.
Lại
chạy theo ràng buộc." |
345.
"Sắt, cây, gai trói buộc
Người
trí xem chưa bền.
Tham
châu báu, trang sức
Tham
vọng vợ và con." |
346.
"Người có trí nói rằng:
"Trói
buộc này thật bền.
Rì
kéo xuống, lún xuống,
Nhưng
thật sự khó thoát.
Người
trí cắt trừ nó,
Bỏ
dục lạc, không màng." |
347.
"Người đắm say ái dục
Tự
lao mình xuống dòng
Như
nhện sa lưới dệt.
Người
trí cắt trừ nó,
Bỏ
mọi khổ, không màng." |
348.
"Bỏ quá, hiện, vị lai,
Ðến
bờ kia cuộc đời,
Ý
giải thoát tất cả,
Chớ
vướng lại sanh già." |
349.
"Người tà ý nhiếp phục,
Tham
sắc bén nhìn tịnh,
Người
ấy ái tăng trưởng,
Làm
giây trói mình chặt." |
350.
"Ai vui, an tịnh ý,
Quán
bất tịnh, thường niệm,
Người
ấy sẽ diệt ái,
Cắt
đứt Ma trói buộc." |
351.
"Ai tới đích, không sợ,
Ly
ái, không nhiễm ô
Nhổ
mũi tên sanh tử,
Thân
này thân cuối cùng." |
352.
"Ái lìa, không chấp thủ.
Cú
pháp khéo biện tài
Thấu
suốt từ vô ngại,
Hiểu
thứ lớp trước sau.
Thân
này thân cuối cùng
Vị
như vậy được gọi,
Bậc
Ðại trí, đại nhân." |
353.
"Ta hàng phục tất cả,
Ta
rõ biết tất cả,
Không
bị nhiễm pháp nào.
Ta
từ bỏ tất cả
Ái
diệt, tự giải thoát.
Ðã
tự mình thắng trí,
Ta
gọi ai thầy ta?" |
354.
"Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp
vị, thắng mọi vị!
Pháp
hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái
diệt, dứt mọi khổ!" |
355.
"Tài sản hại người ngu.
Không
người tìm bờ kia
Kẻ
ngu vì tham giàu,
Hại
mình và hại người." |
356.
"Cỏ làm hại ruộng vườn,
Tham
làm hại người đời.
Bố
thí người ly tham,
Do
vậy được quả lớn." |
357.
"Cỏ làm hại ruộng vườn,
Sân
làm hại người đời.
Bố
thí người ly sân,
Do
vậy được quả lớn." |
358.
"Cỏ làm hại ruộng vườn,
Si
làm hại người đời,
Bố
thí người ly si,
Do
vậy được quả lớn." |
359.
"Cỏ làm hại ruộng vườn,
Dục
làm hại người đời.
Bố
thí người ly dục,
Do
vậy được quả lớn." |
XXV.
Phẩm Tỷ Kheo
360.
"Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành
thay, phòng hộ tai.
Lành
thay, phòng hộ mũi,
Lành
thay, phòng hộ lưỡi." |
361.
"Lành thay,phòng hộ thân!
Lành
thay, phòng hộ lời,
Lành
thay, phòng hộ ý.
Lành
thay, phòng tất cả.
Tỷ
kheo phòng tất cả.
Thoát
được mọi khổ đau." |
362.
"Người chế ngự tay chân,
Chế
ngự lời và đầu,
Vui
thích nội thiền định.
Ðộc
thân, biết vừa đủ,
Thật
xứng gọi tỷ kheo." |
363.
"Tỷ kheo chế ngự miệng,
Vừa
lời, không cống cao,
Khi
trình bày pháp nghĩa,
Lời
lẽ dịu ngọt ngào." |
364.
"Vị tỷ kheo thích pháp,
Mến
pháp, suy tư Pháp.
Tâm
tư niệm chánh Pháp,
Không
rời bỏ chánh Pháp." |
365.
"Không khinh điều mình được,
Không
ganh người khác được
Tỷ
kheo ganh tị người,
Không
sao chứng Thiền Ðịnh." |
366.
"Tỷ kheo dầu được ít,
Không
khinh điều mình được,
Sống
thanh tịnh không nhác,
Chư
thiên khen vị này." |
367.
"Hoàn toàn, đối danh sắc,
Không
chấp Ta, của Ta.
Không
chấp, không sầu não.
Thật
xứng danh Tỷ kheo." |
368.
"Tỷ kheo trú từ bi,
Tín
thành giáo Pháp Phật,
Chứng
cảnh giới tịch tỉnh.
Các
hạnh an tịnh lạc." |
369.
"Tỷkheo, tát thuyền này,
Thuyền
không, nhẹ đi mau.
Trừ
tham, diệt sân hận,
Tất
chứng đạt Niết-Bàn." |
370.
"Ðoạn năm, từ bỏ năm
Tụ
tập năm tối thượng
Tỷ
kheo vượt năm ái
Xứng
danh "Vượt bộc lưu" |
371.
"Tỷ kheo, hãy tu thiền,
Chớ
buông lung phóng dật,
Tâm
chớ đắm say dục,
Phóng
dật, nuốt sắt nóng
Bị
đốt, chớ than khổ!" |
372.
"Không trí tuệ, không thiền,
Không
thiền, không trí tuệ.
Người
có thiền có tuệ,
Nhất
định gần Niết-Bàn." |
373.
"Bước vào ngôi nhà trống,
Tỷ
kheo tâm an tịnh,
Thọ
hưởng vui siêu nhân
Tịnh
quán theo chánh pháp." |
374.
"Người luôn luôn chánh niệm,
Sự
sanh diệt các uẩn,
Ðược
hoan hỷ, hân hoan,
Chỉ
bậc bất tử biết." |
375.
"Ðây Tỷ kheo có trí,
Tụ
tập pháp căn bản
Hộ
căn, biết vừa đủ,
Giữ
gìn căn bản giới,
Thường
gần gũi bạn lành,
Sống
thanh tịnh tinh cần." |
376.
"Giao thiệp khéo thân thiện,
Cử
chỉ mực đoan trang.
Do
vậy hưởng vui nhiều,
Sẽ
dứt mọi khổ đau." |
377.
"Như hoa Vassikà,
Quăng
bỏ cánh úa tàn,
Cũng
vậy vị Tỷ kheo,
Hãy
giải thoát tham sân." |
378.
"Thân tịnh, lời an tịnh,
An
tịnh, khéo thiền tịnh.
Tỷ
kheo bỏ thế vật,
Xứng
danh "bậc tịch tịnh ". |
379.
"Tự mình chỉ trích mình,
Tự
mình dò xét mình,
Tỷ
kheo tự phòng hộ
Chánh
niệm, trú an lạc." |
380.
"Tự mình y chỉ mình,
Tự
mình đi đến mình,
Vậy
hãy tự điều phục,
Như
khách buôn ngựa hiền." |
381.
"Tỷ kheo nhiều hân hoan,
Tịnh
tín giáo pháp Phật,
Chứng
cảnh giới tịch tịnh,
Các
hạnh an tịnh lạc." |
382.
"Tỷ kheo tuy tuổi nhỏ
Siêng
tu giáo pháp Phật,
Soi
sáng thế gian này,
Như
trăng thoát khỏi mây." |
|
XXVI.
Phẩm Bà-La-Môn
383.
"Hỡi này Bà là môn,
Hãy
tinh tấn đoạn dòng,
Từ
bỏ các dục lạc,
Biết
được hành đoạn diệt,
Người
là bậc vô vi." |
384.
"Nhờ thường trú hai pháp
Ðến
được bờ bên kia.
Bà-la-môn
có trí,
Mọi
kiết sử dứt sạch." |
385.
"Không bờ này, bờ kia
Cả
hai bờ không có,
Lìa
khổ, không trói buộc
Ta
gọi Bà-la-môn." |
386.
"Tu thiền, trú ly trần
Phận
sự xong, vô lậu,
Ðạt
được đích tối thượng,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
387.
"Mặt trời sáng ban ngày,
Mặt
trăng sáng ban đêm.
Khí
giới sáng Sát lỵ,
Thiền
định sáng Phạm chí.
Còn
hào quang đức Phật,
Chói
sáng cả ngày đêm." |
388.
"Dứt ác gọi Phạm chí,
Tịnh
hạnh gọi Sa môn,
Tự
mình xuất cấu uế,
Nên
gọi bậc xuất gia." |
389.
"Chớ có đập Phạm chí!
Phạm
chí chớ đập lại!
Xấu
thay đập Phạm chí
Ðập
trả lại xấu hơn!" |
390.
"Ðối vị Bà-la-môn,
Ðây
không lợi ích nhỏ.
Khi
ý không ái luyến,
Tâm
hại được chận đứng,
Chỉ
khi ấy khổ diệt," |
391.
"Với người thân miệng ý,
Không
làm các ác hạnh
Ba
nghiệp được phòng hộ,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
392.
"Từ ai, biết chánh pháp
Bậc
Chánh Giác thuyết giảng,
Hãy
kính lễ vị ấy,
Như
phạm chí chờ lửa." |
393.
"Ðược gọi Bà-la-môn,
Không
vì đầu bện tóc,
Không
chủng tộc, thọ sanh,
Ai
thật chân, chánh, tịnh,
Mới
gọi Bà-la-môn." |
394.
"Kẻ ngu, có ích gì
Bện
tóc với da dê,
Nội
tâm toàn phiền não,
Ngoài
mặt đánh bóng suông." |
395.
"Người mặc áo đống rác,
Gầy
ốm, lộ mạch gân,
Ðộc
thân thiền trong rừng.
Ta
gọi Bà-la-môn." |
396
"Ta không gọi Phạm Chí,
Vì
chỗ sanh, mẹ sanh.
Chỉ
được gọi tên suông
Nếu
tâm còn phiền não.
Không
phiền não, chấp trước
Ta
gọi Bà-la-môn." |
397.
"Ðoạn hết các kiết sử,
Không
còn gì lo sợ
Không
đắm trước buộc ràng
Ta
gọi Bà-la-môn |
398.
"Bỏ đai da, bỏ cương
Bỏ
dây, đồ sở thuộc,
Bỏ
then chốt, sáng suốt,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
399.
"Không ác ý, nhẫn chịu,
Phỉ
báng, đánh, phạt hình,
Lấy
nhẫn làm quân lực,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
400.
"Không hận, hết bổn phận,
Trì
giới, không tham ái,
Nhiếp
phục, thân cuối cùng,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
401.
"Như nước trên lá sen,
Như
hột cải đầu kim,
Người
không nhiễm ái dục,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
402.
"Ai tự trên đời này,
Giác
khổ, diệt trừ khổ,
Bỏ
gánh nặng, giải thoát,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
403.
"Người trí tuệ sâu xa,
Khéo
biết đạo, phi đạo
Chứng
đạt đích vô thượng,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
404.
"Không liên hệ cả hai,
Xuất
gia và thế tục,
Sống
độc thân, ít dục,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
405.
"Bỏ trượng, đối chúng sanh,
Yếu
kém hay kiên cường,
Không
giết, không bảo giết,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
406.
"Thân thiện giữa thù địch
Ôn
hòa giữa hung hăng.
Không
nhiễm, giữa nhiễm trước,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
407.
"Người bỏ rơi tham sân,
Không
mạn không ganh tị,
Như
hột cải đầu kim,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
408.
"Nói lên lời ôn hòa,
Lợi
ích và chân thật,
Không
mất lòng một ai,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
409.
"Ở đời, vật dài, ngắn,
Nhỏ,
lớn, đẹp hay xấu
Phàm
không cho không lấy,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
410.
"Người không có hy cầu,
Ðời
này và đời sau,
Không
hy cầu, giải thoát,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
411.
"Người không còn tham ái,
Có
trí, không nghi hoặc,
Thể
nhập vào bất tử,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
412.
"Người sống ở đời này
Không
nhiễm cả thiện ác,
Không
sầu, sạch không bụi
Ta
gọi Bà-la-môn." |
413
"Như trăng, sạch không uế
Sáng
trong và tịnh lặng,
Hữu
ái, được đoạn tận,
Ta
gọi Bà là môn." |
414.
"Vượt đường nguy hiểm này,
Nhiếp
phục luân hồi, si,
Ðến
bờ kia thiền định
Không
dục ái, không nghi,
Không
chấp trước, tịch tịnh,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
415.
"Ai ở đời, đoạn dục,
Bỏ
nhà, sống xuất gia,
Dục
hữu được đoạn tận,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
416.
"Ai ở đời đoạn ái
Bỏ
nhà, sống xuất gia,
Ái
hữu được đoạn tận,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
417.
"Bỏ trói buộc loài người,
Vượt
trói buộc cõi trời.
Giải
thoát mọi buộc ràng,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
418.
"Bỏ điều ưa, điều ghét,
Mát
lạnh, diệt sanh y
Bậc
anh hùng chiến thắng,
Nhiếp
phục mọi thế giới,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
419.
"Ai hiểu rõ hoàn toàn
Sanh
tử các chúng sanh,
Không
nhiễm, khéo vượt qua,
Sáng
suốt chân giác ngộ,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
420.
"Với ai, loài trời, người
Cùng
với Càn thát bà,
Không
biết chỗ thọ sanh
Lậu
tận bậc La hán.
Ta
gọi Bà-la-môn." |
421
"Ai quá, hiện, vị lai
Không
một sở hữu gì,
Không
sở hữu không nắm,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
422.
"Bậc trâu chúa, thù thắng
Bậc
anh hùng, đại sĩ,
Bậc
chiến thắng, không nhiễm,
Bậc
tẩy sạch, giác ngộ,
Ta
gọi Bà-la-môn." |
423.
"Ai biết được đời trước,
Thấy
thiên giới, đọa xứ,
Ðạt
được sanh diệt tận
Thắng
trí, tự viên thành
Bậc
mâu ni đạo sĩ.
Viên
mãn mọi thành tựu
Ta
gọi Bà-la-môn." |
|

|