Kinh Phật
Tự Thuyết (Cảm Hứng Ngữ)
Udàna
Chương 1-3
Chương
1: Phẩm Bồ Ðề
Chương
2: Phẩm Muccalinda
Chương
3: Phẩm Nanda
Chương
Một
Phẩm
Bồ Ðề
(I)
(Ud 1)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà,
dưới gốc cây Bồ đề, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế
ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn
sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh thứ nhứt,
khéo thuận chiều tác ý lý Duyên khởi: "Do cái này có mặt,
cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Tức là duyên
vô minh, có các hành; duyên các hành, có thức; duyên thức,
có danh sắc; duyên danh sắc, có sáu xứ; duyên sáu xứ, có
xúc; duyên xúc, có thọ; duyên thọ, có ái; duyên ái, có thủ;
duyên thủ, có hữu; duyên hữu, có sanh; duyên sanh, có già,
chết, sầu bi khổ ưu não. Như vậy là sự tập khởi của
khổ uẩn này".
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, trong lúc ấy, nói
lên lời cảm hứng này:
1.
Thật sự, khi các pháp,
Có
mặt, hiện khởi lên,
Ðối
vị Bà-la-môn,
Nhiệt
tâm hành thiền định,
Khi
ấy, với vị ấy,
Các
nghi hoặc tiêu trừ,
Vì
quản tri hoàn toàn,
Pháp
cùng với các nhân.
(II)
(Ud 2)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà,
dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác.
Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày, ngồi trong một thế
ngồi kiết-già thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn
sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh giữa,
khéo nghịch chiều tác ý lý Duyên khởi: "Do cái này không
có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia
diệt. Tức là, do vô minh diệt nên hành diệt; do hành diệt,
nên thức diêt; do thức diệt, nên danh sắc diệt; do danh sắc
diệt nên sáu xứ diệt; do sáu xứ diệt nên xúc diệt, do
xúc diệt nên thọ diệt, do thọ diệt, nên ái diệt; do ái
diệt, nên thủ diệt; do thủ diệt, nên hữu diệt; do hữu
diệt, nên sanh diệt; do sanh diệt, nên già, chết, sầu, bi,
khổ, ưu não diệt. Như vậy là đoạn diệt của khổ uẩn
này".
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này.
2.
Thật sự khi các pháp,
Có
mặt, hiện khởi lên,
Ðối
với vị Bà-la-môn,
Nhiệt
tâm, hành thiền định,
Khi
ấy, với vị ấy,
Các
nghi hoặc tiêu trừ,
Vì
đã biết hoàn toàn,
Sự
tiêu diệt các duyên.
(III)
(Ud 2)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà,
dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác.
Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày, ngồi trong một thế
ngồi Kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn,
sau bảy ngày, ra khỏi định ấy, trong đêm canh cuối cùng,
khéo thuận chiều và nghịch chiều tác ý lý duyên khởi: "Do
cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia
sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái
này diệt, cái kia diệt". Tức là duyên vô minh có các hành.
Duyên các hành có thức... Duyên sanh, có già chết, sầu bi
khổ ưu não. Như vậy là tập khởi của khổ uẩn này. Do
đoạn diệt, ly tham, vô minh không có dư tàn, nên các hành
diệt. Do các hành diệt, nên thức diệt... Như vậy là đoạn
diệt của khổ uẩn này".
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
3.
Thật sự khi các pháp
Có
mặt, hiện khởi lên,
Ðối
với vị Bà-la-môn,
Nhiệt
tâm hành thiền định,
Quét
sạch các ma quân,
Vị
ấy đứng, an trú,
Như
ánh sáng mặt trời,
Chói
sáng khắp hư không.
(IV)
(Ud 3)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà,
dưới gốc cây bàng ajapala, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế
ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn
sau bảy ngày ấy ra khỏi định. Có một Bà-la-môn thuộc dòng
họ Huhunka, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên lời chào
hỏi, sau khi nói lời chào hỏi thân hữu, rồi đứng một
bên. Ðứng một bên, Bà-la-môn ấy nói với Thế Tôn:
- Tôn
giả Gotama, cho đến như thế nào là Bà-la-môn, và những
pháp nào tác thành Bà-la-môn?
Thế
Tôn sau khi biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói
lên lời cảm hứng này:
4.
Vị Bà-la-môn nào,
Loại
trừ các ác pháp,
Không
kiêu, không uế nhiễm,
Tự
ngã khéo chế ngự,
Vệ-đà
được thông đạt,
Phạm
hạnh được viên thành,
Vị
Bà-la-môn ấy,
Có
thể nói lên được,
Lời
Phạm ngữ đúng pháp,
Vị
ấy ở đời này,
Không
hề có mạn tâm
Bất
cứ ở nơi nào.
(V)
(Ud 3)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ) tại Jetavana
(Kỳ-đà-lâm),
khu vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ,
Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahàmoggallàna
(Ðại
Mục-kiền-liên) Tôn giả
Mahàkassapa (Ðại Ca-diếp),
Tôn giả Mahàkaccayàna (Ðại Ca-chiên-diên), Tôn giả
Mahàkotthita (Ðại Câu-thi-la), Tôn giả Mahàkappina
(Ðại
kiếp-tân-na), Tôn giả Mahàcunda (Ðại-Thuần-đà), Tôn
giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đà),
Tôn giả Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa), Tôn giả Ananda
(A-nan) đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy các Tôn giả ấy từ
xa đi đến, thấy vậy liền nói với các Tỳ-kheo:
- Này
các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn này đang đi đến. Này các Tỳ-kheo,
các Bà-la-môn này đang đi đến.
Khi
được nói vậy, một Tỳ-kheo, thọ sanh là Bà-la-môn, bạch
Thế Tôn:
- Cho
đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Bà-la-môn, và có bao
nhiêu pháp, tác thành Bà-la-môn?
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
5.
Sau khi loại ác pháp,
Ai
thường hành chánh niệm,
Kiết
sử đoạn, giác ngộ,
Những
vị ấy ở đời,
Thật
là Bà-la-môn.
(VI)
(Ud 4)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc lâm, chỗ nuôi dưỡng
các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Mahakassapa trú ở
hang Pipphali, đang bị bệnh rất khổ đau, bệnh trầm
trọng. Rồi Tôn giả Mahàkassapa sau một thời gian, thoát
khỏi bệnh ấy. Rồi Tôn giả Mahàkassapa thoát khỏi
bệnh ấy, suy nghĩ như sau: "Ta hãy đi vào Vương Xá để khất
thực ". Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Thiên nhân, đang cố
gắng sửa soạn để Tôn giả Mahàkassapa nhận đựoc
đồ ăn khất thực. Nhưng Tôn giả Mahàkassapa gạt bỏ
năm trăm Thiên nhân ấy, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát,
đi vào Vương Xá để khất thực, đi ngang những con đường
những con người nghèo, con đường những người ăn xin, con
đường những người thợ dệt.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
6.
Ai sống không nhờ người,
Không
được người biết đến,
Sống
tự mình chế ngự,
An
trú trên lõi cây,
Các
lậu hoặc đã đoạn,
Sân
hận được trừ diệt,
Vị
ấy được Ta gọi,
Là
vị Bà-la-môn.
(VII)
(Ud 4)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Pàtali tại Ajakalàpaka, chỗ
ở của Dạ-xoa Ajakalàpa. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang
ngồi ngoài trời, trong đêm tối đen, và trời mưa từng hột
xuống. Rồi Dạ-xoa Ajakalàpaka muốn làm cho Thế Tôn
sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, ba lần nói lên gần Thế Tôn tiếng gào thét
của mình là Akkulopakkulo: "Này Sa môn, có con quỷ cho
Ông ". Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc
ấy nói lên lời cảm hứng này:
7.
Khi nào Bà-la-môn
Ðối
với pháp của mình,
Ðã
đạt được bờ kia,
Vị
ấy vượt qua được,
Ác
quỷ yêu ma này.
(VIII)
(Ud 5)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sangamàji
đã đi đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Người
vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nghe được tin
Tôn giả Sangamàji đã đến Sàvattthi. Nàng liền
dắt người con đi đến Jetavana. Lúc bấy giờ Tôn giả
Sangamàji
đang ngồi dưới gốc cây đề nghỉ ban ngày. Rồi người
vợ trước đây của Tôn giả Sangamàji, đi đến Tông
Giả Sangamàji, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sangamàji:
- Này
Sa môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!
Khi
nghe nói vậy, Tôn giả Sangamàji, giữ im lặng. Lần thứ
hai, người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói
với Tôn giả Sangamàji:
- Này
Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!
Lần
thứ hai, Tôn giả Sangamàji giữ im lặng. Lần thứ ba
người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji nói với
Tôn giả Sangamàji:
- Này
Sa-môn, hãy nuôi dưỡng tôi và đứa con nhỏ!
Lần
thứ ba, Tôn giả Sangamàji vẫn giữ im lặng. Rồi người
vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji đặt đứa nhỏ
trước mặt Tôn giả Sangamàji rồi bỏ đi, nói rằng:
- Này
Sa-môn, đây là đứa con trai của Sa-môn. Hãy nuôi dưỡng nó!
Tôn
giả Sangamàji không có ngó đến đứa nhỏ ấy, cũng
không nói gì. Rồi người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji
sau khi đi không xa, ngó lui lại thấy Tôn giả Sangamàji
không ngó đứa con nhỏ ấy, cũng không nói; thấy vậy liền
suy nghĩ: "Sa môn này không muốn ngó đến người con ". Nàng
liền trở lui lại, bồng lấy đứa con rồi ra đi. Thế Tôn
với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy cử chỉ thô bạo
như vậy của người vợ trước kia của Tôn giả Sangamàji.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc
ấy, nói lên lời cảm hứng này:
8.
Không hoan hỷ, nàng đến,
Không
sầu muộn, nàng đi,
Giải
thoát khỏi ái phược,
Là
Sangamàji
Ta
gọi người như vậy,
Là
vị Bà-la-môn.
(IX)
(Ud 6)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Gayà, tại Gayasisa. Lúc bấy
giờ, nhiều kẻ bện tóc, trong những đêm gió lạnh mùa đông,
giữa những ngày mồng tám, trong thời tuyết rơi, đang lặn
xuống và nổi lên trong nước, làm việc lặn xuống nổi lên,
tưới nước và tế lửa, nghĩ rằng: "Với hành động này,
được thanh tịnh ".
Thế
Tôn thấy nhiều kẻ bện tóc ấy, trong những đêm gió lạnh
mùa đông, giữa những ngày mồng tám, trong thời tuyết rơi,
đang lặng xuống và nổi lên trong nước, làm việc lặn xuống
nổi lên, tưới nước và tế lửa, nghĩ rằng: "Với hành
động này, được thanh tịnh ".
Thế
Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên
lời cảm hứng này:
9.
Thanh tịnh không có nước,
Ở
đây nhiều người tắm,
Trong
ai có chân thật,
Lại
thêm có Chánh pháp,
Người
ấy là Thanh tịnh,
Người
ấy là Phạm chí.
(X)
(Ud 6)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Bàhiya Daruciriya
trú ở Suppàraka, trên bờ biển, được cung kính, tôn
trọng đảnh lễ, cúng dường và nhận được y, đồ ăn khất
thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Rồi Bàhiya Dàcuciriya
khởi lên tư tưởng như sau: "Với ai là bậc A-la-hán hay đang
đi trên con đường A-la-hán, ta là một trong những vị ấy
". Rồi một Thiên nhân, trước là bà con huyết thống với
Bàhiya
Dàruciriya, vì lòng từ mẫn, vì muốn lợi ích, với tâm
của mình biết tâm tư của Bàhiya Dàruciriya, đi đến
Bàhiya
Dàruciriya và nói như sau:
- Này
Bàhiya.
Ông không phải là A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán.
Ông không có đạo lộ ấy, với đạo lộ này Ông có thể
trở thành A-la-hán hay đang đi trên con đường đưa đến A-la-hán.
- Nhưng
ai là những vị, trong thế giới này, với thế giới chư Thiên
là những vị A-la-hán hay đang đi trên con đường A-la-hán?
- Này
Bàhiya,
có thành phố tên là Sàvatthi trên những quốc lộ phương
Bắc. Tại đấy có Thế Tôn hiện đang trú, bậc A-la-hán.
Chánh Ðẳng Giác. Vị ấy là bậc A-la-hán và thuyết pháp
đưa đến quả A-la-hán.
Rồi
Bàhiya
Dàruciriya, được Thiên nhân ấy thúc dục, đi ra khỏi
Sappàraka,
trong suốt đường trường, chỉ nghỉ một đêm, đi đến
chỗ Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong
khu vườn Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo đang
đi kinh hành giữa trời. Bàhiya Dàruciritya đi đến các
Tỳ-kheo ấy, sau khi đến nói như sau:
- Thưa
các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác ở
đâu? Chúng tôi muốn được yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác.
- Này
Bàhiya, Thế Tôn đã đi vào giữa các nhà để khất thực.
Rồi
Bàhiya
Dàraciriva mau chóng ra khỏi Jetavana, đi vào
Sàvatthi,
và thấy Thế Tôn đang đi khất thực, khả ái, khởi lên tịnh
tin, các căn an tịnh, tâm ý an tịnh, đạt được an chỉ,
chế ngự tối thượng, giống như một con voi được điều
phục, phòng hộ với các căn an tịnh. Thấy vậy, Bàhiya
Dàruciriya liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu
xuống chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy
thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc
an lạc lâu dài.
Khi
được nói vậy, Thế Tôn nói với Bàhiya Dàruciriya:
- Không
phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.
Lần
thứ hai Bàhiya Dàruciriya Bạch Thế Tôn:
- Thật
khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống
của Thế Tôn, hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy
thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc
an lạc lâu dài.
Lần
thứ hai, Thế Tôn nói với Màhiya Dàruciriya:
- Không
phải thời, này Bàhiya, Ta đang khất thực.
Lần
thứ ba, Bàhiya Dàruciriya bạch Thế Tôn:
- Thật
khó biết... hạnh phúc lâu dài.
- Vậy
này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái
thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái
nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong
cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya,
Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với
Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ
chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ
tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy,
này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya,
Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng
giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.
Nhờ
lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bàhiya
Dàruciriya được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không
có chấp thủ. Thế Tôn sau khi thuyết cho Bàhiya Dàruciriya
lời giáo giới tóm tắt này, liền ra đi. Thế Tôn ra đi không
bao lâu, một con bò con húc chết Bàhiya Dàruciriya. Thế
Tôn sau khi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con
đường đi khất thực trở về, đi ra khỏi thành với nhiều
Tỷ-kheo, thấy Bàhiya Dàruciriya bị chết, thấy vậy
liền nói với các Tỳ-kheo:
- Này
các Tỳ-kheo, hãy lấy thân xác Bàhiya Dàruciriya, đặt
lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên.
Này các Tỷ-kheo, một vị đồng Phạm hạnh với các Thầy
đã qua đời!
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Các
vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, sau khi đặt xác thân của
Bàhiya
Dàruciriya lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, xây dựng
cái tháp cho vị ấy, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, thân xác của Bàhiya Dàruciriya đã được hỏa
thiêu, tháp đã được xây dựng xong cho vị ấy. Sanh thứ
cho vị ấy là gì? Ðời sau vị ấy là gì?
- Này
các Tỷ-kheo, Hiền trí là Bàhiya Dàruciriya đã hành trì
tùy pháp, đúng pháp và không có phiền nhiễu Ta với những
tranh luận về pháp. Này các Tỷ-kheo, Bàhiya Dàruciriya
đã nhập Niết Bàn.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
10.
Chỗ nào nước và đất,
Lửa,
gió không chấp trước,
Tại
đây sao không chói,
Mặt
trời không chiếu sáng,
Tại
đây trăng không chiếu,
Tại
đây u ám không,
Khi
ẩn sĩ Phạm chí,
Tự
mình với trí tuệ,
Thể
nhập vào Chánh pháp,
Vị
ấy được giải thoát
Khỏi
sắc và vô sắc,
Khỏi
an lạc, đau khổ.
Lời
cảm hứng này được Thế Tôn thuyết giảng và tôi được
nghe như vậy. [^]
Chương
Hai
Phẩm
Mucalinda
(I)
(Ud 10)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở Uruvela, trên bờ sông Neranjarà,
dưới gốc cây Mucalinda, khi Ngài mới chứng Chánh Ðẳng Giác.
Lúc bấy giờ Thế Tôn, trong bảy ngày ngồi một thế ngồi
kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Lúc bấy giờ, một
cơn giông tố lớn trái mùa khởi lên và trong bảy ngày, trời
mưa gió lạnh, bầu trời u ám. Rồi thần rắn Mucalinda ra
khỏi chỗ ở của mình, với thân cuốn vòng quanh bảy vòng
thân của Thế Tôn, và đứng thẳng, vươn cao các mang lớn
trên đầu (Thế Tôn) với ý nghĩ: "Mong Thế Tôn khỏi lạnh!
Mong Thế Tôn khỏi nóng! Mong Thế Tôn khỏi xúc chạm với
ruồi, muỗi, gió, sức nóng, các loài bò sát ".
Rồi
Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy. Rồi Mucalinda,
vua các loài rắn, sau khi biết trời đã sáng tỏ, mây đã
được thoát đi, cởi mở thân mình khỏi thân Thế Tôn, biến
dạng thân sắc của mình, hóa hiện thân sắc một thanh niên
đứng trước mặt Thế Tôn, chắp tay đảnh lễ Thế Tôn.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
1.
Viễn ly là an lạc,
Với
người biết tri túc,
Với
người có nghe pháp,
Với
người có chánh kiến
Không
sân là an lạc,
Những
ai ở trên đời,
Ðối
hữu tình chúng sanh
Biết
tự chế, ngăn ngừa.
Ly
tham là an lạc,
Vượt
các dục ở đời,
Ai
nhiếp phục ngã mạn,
Ðây
an lạc tối thượng.
(II)
(Ud 10)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều vị Tỳ-kheo,
sau bữa ăn, đi khất thực trở về, ngồi họp tại hội trườong,
và câu chuyện này được khởi lên:
"Này
chư Hiền, giữa hai vị vua này, vua Seniya Bimlisàra ở
Magdha,
và vua Pasenadi ở xứ Kosala, ai giàu có hơn, ai tài
sản lớn hơn, ai kho tàng lớn hơn, ai quốc độ lớn hơn,
ai xe cộ lớn hơn, ai sức mạnh lớn hơn, ai thần lực lớn
hơn, ai uy lực lớn hơn? ". Rồi câu chuyện này giữa các Tỳ-kheo
ấy chưa được chấm dứt.
Rồi
Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi
đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã
soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, ở đây, nay các Thầy ngồi hội họp với câu
chuyện gì? Và câu chuyện gì giữa chừng chưa chấm dứt giữa
các Thầy?
- Ở
đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau bữa ăn, đi khất thực trở
về... câu chuyện này được khơi lên... ai uy lực lớn hơn
" Câu chuyện này giữa chúng con, bạch Thế Tôn, chưa được
chấm dứt thời Thế Tôn đã đến.
- Này
các Tỷ-kheo, thật không thích đáng cho các Thầy, những thiện
nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình, lại nói câu chuyện như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi
các Thầy hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: Ðàm
luận về Chánh pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
2.
Dục lạc gì ở đời,
Kể
cả thiên lạc này,
Không
bằng phần mười sáu,
Lạc
do ái đoạn diệt.
(III)
(Ud 11)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana khu vườn
ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông đứa trẻ
đang hành hạ con rắn với cây gậy, giữa Sàvatthi và Jetavana.
Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi
để khất thực. Thế Tôn thấy giữa Sàvatthi và Jetavana
nhiều đứa trẻ đang hành hạ con rắn với cây gậy.
Thế
Tôn sau khi hiểu hết ý nghĩa này, ngay lúc ấy, nói lên lời
cảm hứng này:
3.
Ai làm hại với trượng,
Kẻ
tìm lạc cho mình,
Người
ấy sau khi chết,
Không
tìm được an lạc.
Ai
không hại với trượng,
Kẻ
tìm lạc cho mình,
Ðời
sau tìm được lạc.
(IV)
(Ud 13)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn được
cung kính, tôn trọng đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, nhận
được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa,
dược phẩm trị bệnh. Chúng Tăng cũng được cung kính, tôn
trọng, đảnh lễ cúng dường, tôn kính, nhận được các
vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm
trị bệnh. Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính,
tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, không nhận được
các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược
phẩm trị bệnh. Các du sĩ ấy không kham nhẫn được việc
ấy Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo được kính trọng. Khi nào gặp
các Tỷ-kheo ở làng và ở trong rừng, họ dùng những lời
nói không tốt lành, thô ác, mắng nhiếc, phỉ báng, công kích
não hại các Tỷ-kheo. Rồi một số đông Tỷ-kheo, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế
Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, nay Thế Tôn được cung kính, tôn trọng... dược
phẩm trị bệnh. Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính tôn trọng...
dược phẩm trị bệnh nhưng các du sĩ ngoại đạo không được
tôn kính, tôn trọng... dược phẩm trị bệnh. Rồi bạch Thế
Tôn, các ngoại đạo du sĩ ấy không kham nhẫn được sự
việc Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo được kính trọng... não hại
chúng.
Thế
Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay lúc ấy, nói lên lời
cảm hứng này.
4.
Giữa làng, tại núi rừng,
Cảm
thọ khổ và lạc,
Chớ
quy về tự mình,
Chớ
quy về người khác,
Các
xúc được cảm thọ,
Là
do duyên sanh y,
Với
vị không sanh y,
Do
đâu, xúc cảm thọ.
(V)
(Ud 13)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một nam cư sĩ
tên là Icchànanga-laka đi đến Sàvatthi vì một
vài công việc phải làm. Nam cư sĩ ấy, sau khi làm công việc
xong ở Sàvatthi, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nam cư
sĩ ấy đang ngồi một bên:
- Ðã
lâu rồi, này Nam cư sĩ, ông tạo nên cơ hội này, tức là
đến đây!
- Bạch
Thế Tôn, đã lâu rồi, con muốn yết kiến Thế Tôn. Nhưng
con bị bận bịu lợi bởi những công việc phải làm này
nên con không thể đi đến yết kiến Thế Tôn được.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
5.
Ai lão luyện Chánh pháp,
Ðược
nghe nhiều Chánh pháp,
Không
xem bất cứ gì
Là
an lạc của mình.
Hãy
xem, não hại thay,
Những
ai có sở hữu,
Khiến
cho con người này,
Bị
trói buộc người khác.
(VI)
(Ud 13)
Như
vậy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông
Anàthapindika.
Lúc bấy giờ, thanh nữ trẻ Bà-la-môn, vợ của một du sĩ
có thai sắp sinh. Vợ của du sĩ ấy nói với du sĩ:
- Này
Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!
Khi
được nói vậy, du sĩ ngoại đạo nói với nữ du sĩ:
- Ở
đâu, ta có thể đem dầu về cho nàng?
Lần
thứ hai, nữ du sĩ nói với du sĩ:
- Này
Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!
Lần
thứ hai du sĩ nói với nữ du sĩ:
- Ở
đâu, ta có thể đem dầu về cho nàng?
Lần
thứ ba, nữ du sĩ nói với du sĩ:
- Này
Bà-la-môn, hãy đi và đem dầu về. Tôi cần dùng khi sanh con!
Lúc
bấy giờ, tại một kho của vua Pasenadi nước Kosala,
một Sa-môn hay Bà-la-môn có thể uống bơ hay dầu cho đến
thỏa thích, nhưng không được mang đi. Người du sĩ ấy suy
nghĩ: "Tại một kho của vua Pasenadi nước Kosala...
không được mang đi. Vậy ta hãy đi đến nhà kho của vua Pasnadi
nước
Kosala,
uống dầu cho đến thỏa thích, sau khi về đến nhà, mửa
dầu ấy ra và ta cho nữ du sĩ dùng khi sanh con ". Rồi du sĩ
ấy đi đến nhà kho của vua Pasenadi nước Kosala, uống
dầu cho đến thỏa thích, sau khi về nhà không có thể mửa
lên hay mửa xuống; có cảm thọ khổ đau, nhói đau, đau khốc
liệt thống khổ, lăn lộn qua lại.
Thế
Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi
để khất thực. Thế Tôn thấy người du sĩ ấy cảm thọ
khổ đau, nhói đau khốc liệt, thống khổ, lăn lộn qua lại.
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói
lên lời cảm hứng này:
6.
An lạc thay là người
Không
có gì sở hữu,
Người
chánh tri hiểu biết,
Không
có gì sở hữu.
Hãy
xem não hại thay,
Những
ai có sở hữu,
Khiến
cho con người này,
Bị
trói buộc người khác.
(VIII)
(Ud 14)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthaphindika. Lúc bấy giờ, con trai độc
nhất của một nam cư sĩ, khả ái, đáng yêu bị mệnh chung.
Rồi nhiều nam cư sĩ, với áo đẫm ướt, với tóc đẫm ướt,
đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Thế Tôn nói với các cư sĩ ấy đang ngồi
một bên.
- Này
các Cư sĩ, sao các Ông, với áo đẫm ướt, với tóc đẫm
ướt, lại đến đây, trong lúc quá sớm như vậy?
Khi
được nói vậy, người cư sĩ ấy thưa với Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, người con trai độc nhất của con khả ái, khả
ý đã mệnh chung. Do vậy chúng con với áo ướt đẫm, với
tóc ướt đẫm đã đến đây trong lúc quá sớm!
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói
lên lời cảm hứng này:
7.
Bị khả ái, dễ thương
Trói
buộc và chi phối,
Rất
nhiều chư Thiên chúng,
Và
nhiều hạng con người
Ðau
khổ và héo mòn,
Bị
thần chết nhiếp phục.
Ngày
đêm không phóng dật,
Từ
bỏ dung sắc đẹp,
Vị
ấy đào gốc khổ,
Mồi
nhử của ác ma,
Thật
khó vượt qua được.
(VIII)
(Ud 15)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Kundiyàya, trong rừng Kunditthàna.
Lúc bấy giờ, Suppavàsà, con gái của vua xứ Koliya
có
thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thứ bảy.
Dầu nàng cảm giác những cảm thọ khổ đau, nhức nhối,
khốc liệt, thống khổ, nàng vẫn duy trì ba niệm: "Thế Tôn
thật là bậc Chánh Ðẳng Giác, Ngài thuyết pháp để đoạn
tận đau khổ này. Chúng đệ tử của bậc Thế Tôn ấy là
khéo hành trì. Chúng hành trì để đoạn tận đau khổ này.
Thật sự an lạc là Niết-bàn, tại đây khổ đau này không
có mặt ". Rồi Suppavàsà, con vua Koliya gọi ngưòi
chồng của mình:
- Này
Phu quân, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến nhân danh tôi,
cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi thăm có ít bệnh ít
não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú và thưa: "-Bạch Thế Tôn,
Suppavàsà
con gái vua Koliya cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, hỏi
thăm có ít bệnh ít não, khinh an khỏe mạnh, lạc trú ". Rồi
hãy nói như sau: "Bạch Thế Tôn, Suppavàsà, con gái vua
Koliya,
có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến ngày thứ bảy.
Dầu nàng cảm giác những cảm thọ.... tại đấy khổ đau
này không có mặt! "
- Thật
là tốt lành.
Koliyaputta
đáp
lại Suppavàsà, con gái vua Koliya, đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Koliyaputta bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Suppavàsà, con vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ
chân Thế Tôn,.... lạc trú.... tại đấy khổ đau này không
có mặt.
- Mong
rằng Suppavàsà, con gái vua Koliya được an lạc,
không bệnh, sanh đứa con không có bệnh hoạn. Với lời nói
này của Thế Tôn, Suppavàsà, con gái Koliya, được
an lạc không bệnh, đẻ đứa con trai không bệnh.
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Koliyaputta
hoan
hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi trở
về nhà của mình. Koliyaputta thấy Suppavàsà, con
gái vua Koliya, được an lạc, không bệnh, sanh đứa con
trai không bệnh, thấy vậy liền suy nghĩ như sau: "Thật vi
diệu thay! Thật hy hữu thay, thần lực và đại uy lực của
Thế Tôn, khiến cho Suppavàsà con gái vua Koliya này,
với lời nói của Thế Tôn được an lạc, không bệnh, sanh
con trai không bệnh!". Nghĩ vậy, Koliyaputta hoan hỷ, thích
thú, tâm sanh hỷ lạc. Rồi Suppavàsà, con gái vua Koliya,
bảo người chồng mình:
- Hãy
đi, này Phu quân, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đếnc nhân
danh tôi, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: " - Bạch
Thế Tôn, Suppavàsà, con vua Koliya, cúi đầu đảnh lễ
chân Thế Tôn, có thai đến bảy năm và nay bị đau đẻ đến
ngày thú bảy. Nàng được an lạc, không bệnh và sanh đứa
con trai không bệnh. Nay nàng muốn mời chúng Tỳ-kheo dùng cơm
trong bảy ngày. Mong Thế Tôn hãy nhận lời thọ bảy bữa
cơm của Suppavàsà với chúng Tỷ-kheo".
- Thật
là tốt lành.
Koliyaputta
đáp lại Suppavàsà, con gái vua Koliya, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, Koliyaputta bạch Thế
Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Suppavàsà, con gái vua Koliya, cúi đầu
đảnh lễ chân Thế Tôn và nói như sau: Suppavàsà, có
thai đến bảy năm... đau đẻ đến ngày thứ bảy. Nay nàng
được an lạc, không bệnh và sanh đứa con trai không bệnh.
Nay nàng muốn mời chúng Tỳ-kheo... với chúng Tỷ-kheo!
Lúc
bấy giờ một nam cư sĩ khác đã mời chúng Tỷ-kheo với Thế
Tôn là vị cầm đầu, ngày mai dùng cơm người cư sĩ ấy
là người hộ trì cho Tôn giả Moggallàna. Rồi Thế Tôn
nói với Tôn giả Mahà Mogallàna:
- Này
Moggallàna,
hãy đến người cư sĩ, sau khi đến, nói với người cư sĩ
ấy như sau: "Này Hiền giả, Suppavàsà con của vua Koliya..
có thai đến bảy năm... đến ngày thứ bảy. Nay nàng được
an lạc.. Nay nàng muốn mời chúng Tỷ-kheo... với chúng Tỷ-kheo.
Hãy để cho Suppavàsà tổ chức bảy ngày cơm trước.
Sau sẽ đến lượt người hộ trì cho người".
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!.
Tôn
giả Mahà Moggallàna vâng đáp Thế Tôn rồi đi đến
người cư sĩ ấy, sau khi đến nói với người cư sĩ:
- Này
Hiền giả Suppavàsà... Hãy để cho Suppavàsà con
của Koliya tổ chức bảy ngày cơm trước, sau sẽ đến
phiên Ông.
- Thưa
Tôn giả, nếu Tôn giả bảo đảm cho con ba pháp về tài sản,
về thọ mạng, về lòng tin, hãy để cho Suppavàsà, con
gái của vua Koliya, tổ chức trước, rồi sau đến phiên
con.
- Này
Hiền giả, về hai pháp ta sẽ bảo đảm cho ông, về tài sản
và về thọ mạng. Còn về lòng tin, thời ông phải tự bảo
đảm!.
- Thưa
Tôn giả, nếu Tôn giả bảo đảm cho con hai pháp, về tài
sản và về thọ mạng, hãy để cho Suppavàsà, con gái
vua Koliya, tổ chức bảy ngày con trước. Rồi sẽ đến
phiên con.
Rồi
Tôn giả Mahà Moggallàna, sau khi thuyết phục được người
cư sĩ ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, cư sĩ ấy đã được con thuyết phục. Hãy để
cho Suppavàsà, con gái vua Koliya, tổ chức bảy ngày
cơm trước, sau sẽ đến phiên người cư sĩ ấy.
Rồi
Suppavàsà, con gái vua Koliya, trong bảy ngày mời
chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là bậc dẫn đầu, tự tay mời
và làm cho thỏa mãn với những món ăn thượng vị, loại
cứng và loại mềm và khiến cho đứa trẻ đảnh lễ Thế
Tôn và toàn thể chúng Tỷ-kheo. Rồi Tôn giả Sàriputta
nói với đứa trẻ:
- Này
Con, Con có kham nhẫn được không? Con có nuôi sống được
không? Con có đau khổ gì không?
- Thưa
Tôn giả, từ đâu con có thể kham nhẫn? Từ đâu con có thể
nuôi sống? Từ đâu con không có đau khổ? Con đã sống bảy
năm trong các ghè đầy máu!
Rồi
Suppavàsà,
con gái vua Koliya, nghĩ rằng: "Con ta đang nói chuyện với vị
tướng quân về Pháp, hoan hỷ, tín thọ, với tâm hỷ lạc."
Rồi
Thế Tôn nói với Suppavàsà, con gái vua Koliya:
- Này
Suppavàsà.
Con có muốn một người con trai khác như vậy không?
- Bạch
Thế Tôn, con muốn có bảy người con trai như vậy!
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này,ngay trong lúc ấy, nói
lên lời cảm hứng này:
8.
Không vui, giả dạng vui,
Không
ái, giả dạng ái,
Khổ
đau, giả dạng lạc,
Nhiếp
phục kẻ phóng dật.
(IX)
(Ud 18)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ngôi lầu
của mẹ Migàra.
Mẹ
Migàra
có
công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước
Kosala
và vua Pasenadi nước Kosala chưa có quyết định
về việc ấy. Rồi Visàkhà, mẹ của Migàra, vào buổi
sáng sớm đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn
rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với
Visàkhà,
mẹ
của Migàra, đang ngồi một bên:
- Này
Visàkhà,
Bà từ đâu đi đến sớm như vậy?
- Bạch
Thế Tôn con có công việc liên hệ đến vua Pasenadi nước
Kosala...
về
việc ấy.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
9.
Mọi tùng thuộc là khổ,
Mọi
chủ quyền là lạc,
Chung
dùng làm não hại,
Trói
buộc khó vượt qua.
(X)
(Ud 18)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Anupiya tại rừng xoài. Lúc bấy
giờ, Tôn giả Bhaddiya, con của Kàligodha, đi đến
khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống, và thường
hay nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!
" Một số đông Tỳ-kheo nghe Tôn giả Bhaddiya, con của
Kàligodha
đi
đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống,
thường nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi an lạc
thay! ". Nghe vậy, các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: "Không gì nghi ngờ
chư Hiền, Tôn giả Bhaddiya con của Kàlighodha
sống
Phạm hạnh không có hoan hỷ, vì trước khi còn ở gia đình
được hưởng an lạc nhà vua, vì Tôn giả nhớ đến an lạc
ấy, nên khi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây... thường
nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!
" Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Bhaddiya con của Kàligodha khi
đi đến rừng... nói lên lời cảm hứng: "Ôi, an lạc thay!
Ôi, an lạc thay! "... không có nghi ngờ gì nữa.. sống Phạm
hạnh không có hoan hỷ... "Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!
".
Rồi
Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
- Này
Tỳ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta nói với Bhaddiya, con của
Kàligodha:
"Thưa hiền giả, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả! ".
- Thưa
vâng bạch Thế Tôn.
Vị
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Bhaddiya,
con của Kàligodha:
- Thưa
Hiền giả, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả.
- Thưa
vâng, Hiền giả.
Tôn
giả Bhaddiya, con của Kàligodha, vâng đáp Tỷ-kheo
ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi
ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhaddiya,
con của Kàligodha, đang ngồi một bên:
- Có
thật chăng, này Bhaddiya, Thầy đi đến khu rừng "...
Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay! "?
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
- Do
thấy mục đích gì đi đến khu rừng "... an lạc? ".
- Bạch
Thế Tôn, thuở trước khi còn ở trong gia đình, được hưởng
an lạc nhà vua, trong nội cung có đặt người khéo bảo vệ,
ngoại nội cung có đặt người khéo bảo vệ; trong thành nội
có đặt người khéo bảo vệ, ngoài thành có đặt người
khéo bảo vệ. Trong nước cũng có đặt người khéo bảo vệ,
ngoài nước cũng có đặt người khéo bảo vệ. Bạch Thế
Tôn, con được bảo vệ phòng giữ như vậy, nhưng con vẫn
sống sợ hãi, hồi hộp, run sợ, hoảng sợ. Nhưng nay con đi
đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến ngôi nhà trống,
con sống một mình, con sống không sợ hãi, không hồi hộp,
không run sợ, không hoảng sợ, không rộn ràng, không hốt
hoảng, lắng dịu, nhẹ nhàng, tâm như con thú rừng. Bạch
Thế Tôn, do thấy mục đích như vậy, nên con khi đi đến
khu rừng... con nói lên lời cảm hứng "... an lạc thay! ".
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy nói
lên lời cảm hứng này:
10.
Với ai, trong nội tâm,
Không
có lòng phẫn nộ,
Vượt
qua hữu, phi hữu,
Vị
ấy thoát sợ hãi,
An
lạc, không sầu muộn,
Chư
Thiên không thấy được.
[^]
Chương
Ba
Phẩm
Nanda
(I)
(Ud 21)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong
khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo
ngồi không xa Thế Tôn, ngồi kiết già, lưng thẳng, chịu
đựng sự đau đớn, kết quả của nghiệp về trước, nhói
đau, cực khổ, thống khổ, chánh niệm, tỉnh giác, không có
sầu não.
Thế
Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói
lên lời cảm hứng này:
1.
Tỷ-kheo bỏ mọi nghiệp,
Tẩy
sạch bụi làm trước,
An
trú, không ngã sở,
Không
cần nói với người.
(II)
(Ud 21)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn của ông Anàhapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nanda,
em của Thế Tôn, con của người dì, nói như sau với nhiều
Tỷ-kheo: "Này các Hiền giả, tôi sống Phạm hạnh không có
hoan hỷ, tôi không chịu nổi đời sống Phạm hạnh; sau khi
bỏ học tập, tôi sẽ hoàn tục!" Một Tỷ-kheo khác đi đến
Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế
Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Nanda, em của Thế Tôn, con của người
dì, nói như sau: "... Tôi sẽ hoàn tục ". Rồi Thế Tôn bảo
một Tỷ-kheo:
- Này
Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta bảo Tỷ-kheo Nanda: "Hiền
giả Nanda, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả ".
- Thưa
vâng, Bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo
ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Nanda, sau khi
đến nói với Tôn giả Nanda:
- Hiền
giả Nanda, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả!
- Thưa
vâng, Hiền giả.
Tôn
giả Nanda vâng đáp vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn;
sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Tôn giả Nanda đang ngồi một bên:
- Có
thật chăng này Nanda, Thầy nói như sau với nhiều Tỷ-kheo:
"Này các Hiền giả tôi sống Phạm hạnh không có hoan hỷ...
tôi sẽ hoàn tục!".
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
- Nhưng
này, không hoan hỷ cái gì, Thầy sống Phạm hạnh, khiến Thầy
không chịu nổi sống Phạm hạnh, từ bỏ học tập, Thầy
sẽ hoàn tục?
- Bạch
Thế Tôn, khi con từ bỏ gia đình, một Thích ca nữ cô gái
đẹp trong nước, với tóc chải mới nửa phần, ngó nhìn
con và nói: "Quý tử hãy về gấp!" Bạch Thế Tôn, vì con không
thể quên nàng, nên con sống Phạm hạnh không có hoan hỷ,
con không có thể chịu nổi đời sống Phạm hạnh, sau khi
từ bỏ học tập, con sẽ hoàn tục".
Rồi
Thế Tôn cầm tay Tôn giả Nanda như người lực sĩ duỗi
bàn tay dang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, biến mất
ở Jetavana, và hiện ra tại cõi trời Ba mươi ba. Lúc
bấy giờ, khoảng năm trăm Thiên nữ đi đến để hầu hạ
Thiên chủ Sakka, và họ được gọi là "có chân như
chim bồ câu". Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Tôn giả Nanda:
- Này
Nanda,
Thầy có thấy năm trăm Thiên nữ này, có chân như chim bồ
câu không?
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
- Này
Nanda,
Thầy nghĩ thế nào? Ai đẹp đẽ hơn, hay ai đáng ưa nhìn
hơn, hay ai khả ái hơn, Thích ca nữ cô gái đẹp trong nước
hay năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu này? ".
- Bạch
Thế Tôn, ví như một con khỉ cái bị thương, tai mũi bị
chặt đứt; cũng vậy là Thích ca nữ cô gái đẹp trong nước,
nếu đem so sánh với năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ
câu này, không thể ước lường so sánh, không bằng một phần
nhỏ, không thể so sánh với chúng. Năm trăm Thiên nữ này
đẹp hơn, dáng ưa nhìn hơn, khả ái hơn.
- Hãy
hoan hỷ, này Nanda! Hãy hoan hỷ, này Nanda! Ta đền
cho Thầy năm trăm Thiên nữ có chân như chim bồ câu ấy!
- Bạch
Thế Tôn, nếu Thế Tôn đền cho con năm trăm Thiên nữ có
chân như chim bồ câu, thời bạch Thế Tôn, con sẽ sống hoan
hỷ trong đời sống Phạm hạnh.
Rồi
Thế Tôn cầm cánh tay của Tôn giả Nanda, như người
lực sĩ... đang duỗi ra, như vậy biến mất ở chư Thiên cõi
trời Ba mươi ba, hiện ra ở Jetavana.
Các
Tỷ-kheo được nghe: "Tôn giả Nanda, em Thế Tôn, con của
bà dì sống Phạm hạnh vì mục đích Thiên nữ. Họ nói Thế
Tôn có hứa đền cho năm trăm Thiên nữ với chân như chân
chim bồ câu". Rồi các Tỷ-kheo bạn của Tôn giả Nanda, gọi
Tôn giả Nanda là người làm thuê, là người buôn bán:
"Tôn giả Nanda là người làm thuê, Tôn giả Nanda là
người buôn bán. Vì mục đích Thiên nữ, Tôn giả Nanda
sống Phạm hạnh. Thế Tôn có hứa đền cho năm trăm Thiên
nữ có chân như chim bồ câu!" Rồi Tôn giả Nanda, bị
bực phiền, tủi nhục, chán ngấy, bởi bị gọi là người
làm thuê, là người buôn bán, sống một mình, viễn ly, không
phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tự tin, không bao lâu, do mục
đích mà thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình... vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ấy,
ngay trong hiện tại vị ấy tự mình với thắng trí chứng
ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không trở lui
trạng thái này nữa". Tôn giả Nanda đã trở thành một
vị A-la-hán.
Rồi
một thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi
đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một
bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Nanda con trai của bà dì, do đoạn
trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng
tri chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát.
Trí
khởi lên nơi Thế Tôn: "Nanda, do đoạn trừ các lậu
hoặc... vô lậu tâm giải thoát". Rồi Tôn giả Nanda,
sau khi đêm ấy đã mãn, đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ
Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên Tôn giả
Nanda
bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn có hứa đền cho con năm trăm Thiên nữ
với chân như chim bồ câu. Bạch Thế Tôn, con xin giải tỏa
cho Thế Tôn lời hứa đền ấy.
- Này
Nanda,
với tâm cuả Ta, Ta rõ biết tâm của Thầy: "Do đoạn diệt
các lậu hoặc, ngay trong hiện tại... tuệ giải thoát". Lại
nữa một Thiên nhân có báo cho Ta tin ấy: "Bạch Thế Tôn,
Tôn giả Nanda... tuệ giải thoát". Vì rằng, này Nanda,
tâm của Thầy được giải thoát khỏi các lậu hoặc không
còn chấp thủ, nên Ta được giải thoát khỏi lời hứa này.
Thế
Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, chính trong lúc ấy, nó
lên lời cảm hứng này:
2.
Ai vượt khỏi bùn này,
Ðè
bẹp gai của dục,
Ðạt
được si đoạn diệt,
Vị
Tỷ-kheo như vậy,
Không
cảm thọ khổ lạc!
(III)
(Ud 24)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong
khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, khoảng năm
trăm Tỷ-kheo do Yasoja dẫn đầu, đã đến Sàvatthi
để yết kiến Thế Tôn. Các Tỷ-kheo mới đến ấy, trong
khi chào thăm các Tỷ-kheo sở tại, sắp đặt sàng tọa, sửa
soạn y bát, gây tiếng ồn ào to lớn. Thế Tôn bảo Tôn giả
Ananda:
- Này
Ananda,
tiếng ồn ào to lớn này là gì, như các người đánh cá cướp
giật cá?
- Bạch
Thế Tôn, có năm trăm Tỷ-kheo này, dẫn đầu là Yasoja,
đã đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Các Tỷ-kheo
mới đến ấy... gây nên tiếng ồn ào to lớn.
- Này
Ananda,
hãy nhân danh Ta nói với các Tỷ-kheo ấy: "Bậc Ðạo Sư gọi
các Tôn giả ".
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau
khi đến nói với các Tỷ-kheo ấy:
- Bậc
Ðạo Sư gọi các Tôn giả!
- Thưa
vâng, Hiền giả.
Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:
- Này
các Tỷ-kheo, tiếng ồn ào to lớn này là gì, như các người
đánh cá cướp giựt cá?
Tôn
giả Yasoja bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, có năm trăm Tỷ-kheo này đã đến Sàvatthi để yết
kiến Thế Tôn. Các Tỳ-kheo mới đến này... gây nên tiếng
ồn ào to lớn.
- Này
các Tỷ-kheo, hãy đi đi! Ta đuổi các Thầy, các Thầy không
xứng đáng được sống gần Ta!
- Thưa
vâng! Bạch Thế Tôn.
Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài, dọn dẹp,
sàng tọa, cầm lấy y bát, đi đến dân chúng Vajjì,
tiếp tục bộ hành giữa dân chúng Vajjì rồi đi đến
con sông Vaggamudà; sau khi đến, dựng lên chòi lá trên
sông Vaggamudà, an cư mùa mưa tại chỗ ấy. Rồi Tôn
giả Yasoja, sửa soạn an cư bảo các Tỳ-kheo:
- Thưa
các Hiền giả, Thế Tôn đuổi chúng ta, vì lợi ích, vì hạnh
phúc cho chúng ta, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với chúng
ta. Này chư Hiền, chúng ta hãy sống cho thật đúng pháp, chúng
ta sống như thế nào để Thế Tôn có thể hoan hỷ!
- Thưa
vâng, Hiền giả.
Các
Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Yasoja. Rồi các Tỷ-kheo ấy
sống viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và trong
thời gian an cư, tất cả đều giác ngộ ba minh.
Rồi
Thế Tôn, sau khi ở tại Sàvatthi cho đến khi vừa ý,
liền bộ hành đi đến Vesàli, tiếp tục bộ hành đến
Vesàli.
Tại đấy, Thế Tôn trú ở Ðại Lâm, tại ngôi nhà có nóc
nhọn. Rồi Thế Tôn với tâm cuả mình tác ý đến tâm các
Tỷ-kheo ở trên bờ sông Vaggumudà, gọi Tôn giả Ananda:
"Như có hào quang, này Ananda, là phương này, như có ánh
sáng, này Ananda, là phương này. Tại phương ấy, các
Tỷ-kheo đang sống trên bờ sông Vagumudà. Thật là không
nhàm chán cho Ta nếu được đi và tác ý đến phương ấy.
Này Ananda, hãy gửi một sứ giả đến các Tỷ-kheo ở
trên bờ sông Vaggumudà và nói: "Bậc Ðạo sư cho gọi
các Tôn giả! Bậc Ðạo sư muốn gặp các Tôn giả!".
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến một Tỷ-kheo,
sau khi đến, nói với Tỷ-kheo ấy:
- Hãy
đi, này Hiền giả, hãy đi đến các Tỷ-kheo ở trên bờ sông
Vaggumudà;
sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo ấy như sau: "Bậc Ðạo
sư cho gọi các Tôn giả!".
- Thưa
vâng, Hiền giả.
Vị
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, như một người
lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay đang
duỗi ra, cũng vậy vị ấy biến mất ở ngôi nhà có nóc nhọn
tại Ðại Lâm, và hiện ra trước mắt các Tỷ-kheo ở trên
bờ sông Vaggumudà. Rồi Tỷ-kheo ấy nói với các Tỷ-kheo
ở trên bờ sông Vaggumudà:
- Bậc
Ðạo Sư gọi các Tôn giả! Bậc Ðạo sư muốn gặp các Tôn
giả.
- Thưa
vâng, Hiền giả.
Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp vị Tỷ-kheo ấy, sau khi dọn dẹp sàng
tọa, cầm y bát, ví như một nhà lực sĩ... co lại bàn tay
đang duỗi ra, cũng vậy các Tỳ-kheo ấy biến mất ở trên
bờ sông Vaggumudà, và hiện ra ở Ðại Lâm, tại nhà
có nóc nhọn, trước mặt Thế Tôn. Lúc bấy giờ Thế Tôn
đang ngồi trong thiền định bất động. Các Tỷ-kheo ấy suy
nghĩ: "Nay Thế Tôn đang an trú trong loại an trú nào?". Rồi
các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: "Thế Tôn nay đang an trú trong loại
an trú bất động".
Và
tất cả các Tỷ-kheo ấy ngồi xuống trong định bất động.
Tôn
giả Ananda khi đêm đã gần mãn, canh một đã gần qua,
từ chỗ ngôi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay
hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
- Ðêm
đã gần tàn, canh một đã gần qua. Các Tỷ-kheo mới đến
ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy chào đón các Tỷ-kheo
mới đến.
Ðược
nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả
Ananda, sau khi đêm đã gần mãn, canh giữa đã gần qua, từ
chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay hướng
đến Thế Tôn và Bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, đêm đã gần mãn. Canh giữa đã gần qua. Các Tỷ-kheo
mới đến ngồi đã lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy chào
đón các Tỷ-kheo mới đến.
Lần
thứ hai, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Ananda,
khi đêm đã gần mãn, canh cuối đã gần qua, rạng đông đã
ló dạng, đêm đã có bộ mặt hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đắp y vào một bên, chắp tay hướng về Thế Tôn, và
bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, đêm đã gần mãn, canh cuối đã gần qua, rạng đông
đã ló dạng, đêm đã có bộ mặt hoan hỷ, các Tỷ-kheo mới
đến ngồi đã lâu... Thế Tôn hãy chào đón các Tỷ-kheo mới
đến!
Rồi
Thế Tôn xuất khỏi định ấy bảo Tôn giả Ananda:
- Nếu
Thầy có hiểu biết, này Ananda, Thầy sẽ không nói như
vậy. Này Ananda, Ta và năm trăm Tỷ-kheo này tất cả
đang nhập định bất động.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
3.
Ai đã thắng gai dục,
Nắng,
gia hại, trói buộc,
Vị
ấy đứng bất động,
Như
núi vững an trú,
Vị
Tỷ-kheo như vầy,
Lạc
khổ không dao động.
(IV)
(Ud 27)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sàriputta
ngồi
không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, đặt
niệm trước mặt. Thế Tôn thấy Tôn giả Sàriputta
ngồi
không xa bao nhiêu, ngồi kiết già lưng thẳng, đặt niệm trước
mặt, rồi sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói
lên lời cảm hứng:
4.
Như ngọn núi bằng đá,
Không
động, khéo an trú,
Cũng
vậy vị Tỳ-kheo,
Ðoạn
diệt được ngu si,
Như
ngọn núi bằng đá,
Không
có bị dao động.
(V) (Ud
27)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha
Moggallàna ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già
lưng thẳng, nội tâm khéo an trú thân hành niệm. Thế Tôn
thấy Tôn giả Maha Moggallàna ngồi không xa bao nhiêu,
ngồi kiết-già lưng thẳng nội tâm khéo an trú thân hành niệm.
Rồi
Thế Tôn, sau khi biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên
lời cảm hứng này:
5.
Thân hành niệm an lập,
Sáu
xúc xứ chế ngự,
Tỷ-kheo
thường thiền định,
Tự
chứng tri Niết Bàn.
(VI)
(Ud 28)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ
nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ, Tôn giả Pilindavaccha,
thường hay gọi Tỳ-kheo với danh từ bần tiện. Rồi một
số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Tôn
giả Pilindavaccha thường hay gọi các Tỷ-kheo với danh
từ bần tiện.
Rồi
Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:
- Hãy
đi, này Tỷ-kheo, và nhân danh Ta, bảo Tỷ-kheo Pilindavaccha:
"Này Hiền giả, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả! ".
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo
ấy vâng đáp Thế Tôn đi đến Tôn giả Pilindavaccha,
sau khi đến nói với Pilindavaccha:
- Bậc
Ðạo Sư gọi Hiền giả!
- Thưa
vâng, Hiền giả.
Tôn
giả Pilindavaccha vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế
Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Pilindavaccha đang ngồi
một bên:
- Có
thật chăng, này Vaccha. Thầy thường gọi các Tỷ-kheo
với danh từ bần tiện?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn.
Rồi
Thế Tôn sau khi tác ý đến đời sống trước của Pilindavaccha,
liền bảo các Tỷ-kheo:
- Này,
các Tỷ-kheo, chớ có bực phiền với Tỷ-kheo Pilindavaccha.
Này các Tỷ-kheo, không phải vì trong lòng có sân hận mà Vaccha
thường gọi các Tỷ-kheo với danh từ bần tiện. Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Vaccha trong năm trăm năm nối tiếp nhau đã
sanh trong gia đình Bà-la-môn. Danh từ bần tiện đã lâu ngay
được chứa chấp trong vị ấy. Do vậy, Vaccha thường
gọi Tỷ-kheo với danh từ bần tiện.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy
nói lên lời cảm hứng này:
6.
Trong ai không man trá,
Không
mạn, tham đoạn tận,
Không
ngã sở, không dục,
Phẫn
nộ được trừ diệt,
Tự
ngã thành mát lạnh
Vị
ấy là Phạm chí,
Là
Sa môn Tỷ-kheo.
(VII)
(Ud 29)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Veluvana, tại
chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Mahakassapa,
trú ở hang Pipphali, ngồi một thế ngồi kiết-già trong
bảy ngày, sau khi nhập vào một loại thiền định. Rồi Tôn
giả Mahakassapa, sau bảy ngày, xuất khỏi định ấy,
Tôn giả Mahakassapa, sau khi xuất khỏi định ấy, suy
nghĩ như sau: "Ta hãy đi vào Ràjagaha để khất thực!
". Lúc bấy giờ năm trăm chư Thiên đang cố gắng lo cho Tôn
giả Mahakassapa được đồ ăn khất thực. Rồi Tôn giả
Mahakassapa
sau khi khước từ năm trăm Thiên nhân ấy, vào buổi sáng đắp
y, cầm y bát, vào Ràjagaha để khất thực.
Lúc
bấy giờ, Thiên chủ Sakka muốn cúng dường đồ ăn khất
thực cho Tôn giả Mahakassapa, hóa thân làm người thợ
dệt đang dệt chỉ Sujàta, thiếu nữ Asura đang làm cho
đầy cái thoi. Rồi Tôn giả Mahakassapa, sau khi đi từng
nhà khất thực ở Ràjagaha, đi đến trú xứ của Thiên
chủ Sakka. Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Mahakassapa
từ
xa đi đến, sau khi thấy, liền ra khỏi nhà, tiếp đón, lấy
bát từ nơi tay cầm đem vào nhà, bới cơm từ nơi nồi, đựng
đầy bát và đưa lại cho Tôn giả Mahakassapa. Ðồ ăn
khất thực ấy gồm có nhiều loại canh, nhiều loại món ăn,
nhiều loại gia vị, món ăn trộn lẫn với nhau.
Rồi
Tôn giả Mahakassapa suy nghĩ: "Ai là chúng sanh này, lại
có thần lực uy lực như vậy? ". Rồi Tôn giả Mahakassapa
suy nghĩ: "Chính là Thiên chủ Sakka", sau khi biết vậy,
nói với Thiên chủ Sakka:
- "Này
Kosiya,
chính Ông đã làm sự việc này. Chớ làm như vậy nữa!".
- Thưa
Tôn giả Kassapa, mục đích của chúng tôi là được
phước. Ðiều chúng tôi cần làm là được phước.
Rồi
Thiên chủ Sakka, sau khi đảnh lễ Tôn giả Mahakassaspa,
thân phía hữu hướng về Ngài, bay lên trên hư không, và ở
giữa hư không nói lên ba lần cảm hứng: "Ôi, bố thí tối
thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa! Ôi, bố thí
tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kasapa! ".
Thế
Tôn với Thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân nghe giữa hư không
Thiên chủ Sakka nói lên ba lần lời cảm hứng: "Ôi,
bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa!
Ôi, bố thí tối thượng là bố thí khéo an trú vào Kassapa!.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
7.
Vị Tỷ-kheo khất thực,
Tự
sống không nhờ người,
Chư
Thiên thương vị ấy,
Thường
an tịnh chánh niệm.
(VIII)
(Ud 30)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo
sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi hội họp
tại rạp tròn có cây kareri và câu chuyện sau đây được
khởi lên: "Tỷ-kheo đi khất thực, thưa các Hiền giả, thỉnh
thoảng mắt được thấy sắc khả ái, thỉnh thoảng tai được
nghe tiếng khả ái, thỉnh thoảng mũi được ngửi hương khả
ái, thỉnh thoảng lưỡi được nếm khả ái, thỉnh thoảng
thân được cảm giác xúc khả ái.
Thưa
các Hiền giả, Tỷ-kheo khất thực được cung kính, tôn trọng,
đảnh lễ, cúng dường, tôn kính khi đi khất thực. Vậy này
chư Hiền, chúng ta hãy là ngưòi đi khất thực, thỉnh thoảng,
mắt chúng ta được thấy sắc khả ái, thỉnh thoảng tai chúng
ta được nghe tiếng khả ái, thỉnh thoảng mũi chúng ta được
ngửi hương khả ái, thỉnh thoảng lưỡi chúng ta được nếm
vị khả ái, thỉnh thoảng thân chúng ta được cảm giác xúc
khả ái. Chúng ta cũng được cung kính, tôn trọng, đảnh lễ,
cúng dường, tôn kính khi chúng ta sẽ đi khất thực".
Câu
chuyện này giữa các Tỷ-kheo ấy chưa được nói xong, thì
Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền định đứng dậy, đi
đến rạp tròn có cây kareri, sau khi đến ngồi trên
chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, này các Thày ngồi ở đây nói câu chuyện gì?
Và câu chuyện gì giữa các Thầy chưa được nói xong?
- Ở
đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau bữa ăn, sau khi đi khất
thực trở về, chúng con ngồi hội họp tại rạp tròn có
cây kareri, và câu chuyện sau đây được khởi lên giữa chúng
con: "Tỷ-kheo đi khất thực, thưa các Hiền giả, thỉnh thoảng
mắt được thấy sắc khả ái... chúng ta cũng được cung
kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn kính, khi chúng
ta sẽ đi khất thực ". Bạch Thế Tôn đây là câu chuyện
giữa chúng con chưa được nói xong thì Thế Tôn đến.
- Này
các Tỳ-kheo, chuyện này thật không xứng đáng cho các Thầy,
là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình, khi các Thầy nói lên câu chuyện như
vậy. Khi các Thầy ngồi hội họp với nhau, này các Tỷ-kheo,
có hai công việc cần phải làm: Nói pháp hay giữ im lặng
của bậc Thánh!.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy, nói
lên lời cảm hứng này:
8.
Vị Tỷ-kheo khất thực,
Tự
sống không nhờ người,
Chư
Thiên thương vị ấy,
Nhưng
nếu Tỷ-kheo ấy,
Y
tựa vào danh vọng,
Chư
Thiên không có thương.
(IX)
(Ud 31)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn
ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo... (như
kinh trên)... câu chuyện này khởi lên: "Này chư Hiền, ai biết
nghề gì? Ai học tập nghề gì? Nghề gì là tối thượng?
"
Ở
đây, một số người nói như sau: "Huấn luyện voi là nghề
tối thượng". Một số người nói như sau: "Huấn luyện ngựa
là nghề tối thượng". Một số người nói như sau: "Làm xe
là nghề tối thượng." Một số người nói như sau: "Nghề
bắn cung là nghề tối thượng". Một số người nói như sau:
"Nghề đao kiếm là nghề tối thượng". Một số người nói
như sau: "Nghề ấn hiệu là nghề tối thượng". Một số người
nói như sau: "Nghề tính toán là nghề tối thượng". Một số
người nói như sau: "Nghề ước lượng là nghề tối thượng".
Một số người nói như sau: "Nghề viết bài là nghề tối
thượng". Một số người nói như sau: "Nghề làm thơ là nghề
tối thượng". Một số người nói như sau: "Nghề phỏng đoán
các nguyên nhân tự nhiên là nghề tối thượng". Một số
người nói như sau: "Nghề điều khiển bộ máy quốc gia là
nghề tối thượng". Ðây là câu chuyện xảy ra giữa chúng
con chưa được nói xong.