Kinh Phật
Tự Thuyết (Cảm Hứng Ngữ)
Udàna
Chương 06-08
Chương
6: Phẩm Sanh Ra Ðã Mù
Chương
7: Phẩm Nhỏ
Chương
8: Phẩm Pataligamiya
Chương
Sáu
Phẩm
Sanh Ra Ðã Mù
(I)
(Ud 62)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Vesàli tại Ðại Lâm chỗ ngôi
nhà có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm
bát, đi vào Vesàli để khất thực. Khất thực ở Vesàli
xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, Thế Tôn gọi
Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
hãy cầm tọa cụ, Ta sẽ đi đến điện Càpàla
để
nghỉ ban ngày.
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, cầm tọa cụ và đi sau
lưng Thế Tôn. Thế Tôn đi đến đền Càpàla, khi đến,
ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, Thế Tôn nói với Tôn
giả Ananda:
- Này
Ananda,
khả ái thay Vesàli! Khả ái thay Vesàli! Khả ái
thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay
đền Sattambaka! Khả ái thay đền Bahuputta! Khả
ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla!
Này
Ananda,
những ai đã tụ tập Bốn như ý túc, làm cho sung mãn, làm
thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được an trú, tích lũy,
khéo thực hành, nếu muốn, người ấy có thể sống đến
một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như
Lai đã tu tập Bốn như ý túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ
xe, làm thành căn cứ địa, được an trú, tích lũy, khéo thực
hành. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến
một kiếp hay phần còn lại!
Nhưng
Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá
rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, không
thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại
cho đến trọn kiếp! Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn
kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh,
vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc,
vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Vì tâm Tôn giả
bị Ma vương ám ảnh. Lần thứ hai... Lần thứ ba Thế Tôn
nói với Tôn giả Ananda: "Này Ananda, khả ái thay
Vesàli!
Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền
Gotamaka!
Khả ái thay đền Sattambaka! Khả ái thay đền Bahyputta!
Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla!...
" Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi
ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn,
không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở
lại cho đến trọn kiếp! Thiện Thệ hãy ở lại cho đến
trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng
sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh
phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người!". Vì tâm Tôn
giả bị Ma vương ám ảnh. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả
Ananda:
- Này
Ananda,
hãy đi và làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời!.
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ngồi
xuống một gốc cây không xa bao nhiêu.
Tôn
giả Ananda ra đi không bao lâu, Ác ma đi đến Thế Tôn,
sau khi đến liền đứng một bên. Ðứng một bên, Ác ma nói
với Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ! Thiện thệ hãy diệt
độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
Bạch Thế Tôn, đấy là lời Thế Tôn đã nói:
- Này
Ác ma, Ta sẽ chưa diệt độ, khi nào những Tỷ-kheo của Ta
chưa trở thành những đệ tử có tài năng được huấn luyện,
đạt được tự tín, an ổn khỏi các khổ ách, nghe nhiều,
trì pháp, thực hành Chánh pháp và tuỳ pháp, sống chánh hạnh,
sống tùy pháp, sau khi học hỏi giáo lý từ Thầy của mình;
khi nào họ chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày,
xác định, khai mở, phân tích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có
tà đạo khởi lên, họ chưa có thể, sau khi chất vấn, khéo
hàng phục một cách đúng pháp, chưa có thể thuyết pháp thần
diệu.
- Bạch
Thế Tôn, nay có những Tỷ-kheo, đệ tử của Thế Tôn có
tài năng, được huấn luyện, đạt được tự tín, an ổn
khỏi các khổ ách, nghe nhiều, trì pháp, thực hành Chánh pháp
và tùy pháp, sống chánh hạnh, sống tùy pháp; sau khi học
hỏi giáo lý từ Thầy của mình, họ tuyên bố diễn giảng
trình bày, xác định, khai mở, phân tích và giải thích rõ
ràng Chánh pháp. Khi có tà đạo khởi lên, sau khi chất vấn,
họ khéo hàng phục một cách đúng pháp, thuyết pháp thần
diệu. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ
hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn
diệt độ Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói.
- Này
Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của
Ta... Những nam cư sĩ của Ta... Những nữ cư sĩ của Ta chưa
trở thành những đệ tử có tài năng... chưa có thể thuyết
pháp thần diệu.
- Bạch
Thế Tôn, nay có những Tỷ-kheo ni... Những nam cư sĩ... Những
nữ cư sĩ đệ tử của Thế Tôn có tài năng, được huấn
luyện, đạt được tự tín... có thể thuyết pháp thần diệu.
Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt
độ! Bạch Thế Tôn,nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!
Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói.
- Này
Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào Phạm hạnh Ta giảng dạy
chưa được thành tựu, thành đạt, phổ biến, quảng bá,
biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy, cho chư Thiên và
loài Người.
- Bạch
Thế Tôn, nay Phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành
tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa được
khéo giảng dạy cho chư Thiên và loài Người. Như vậy, nay
Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế
Tôn! Nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ! Khi được nói
vậy, Thế Tôn nói với Ác ma:
- Này
Ác ma, hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau
ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Và
tại đền Càpàla, Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, từ
bỏ thọ hành, không duy trì mạng sống lâu hơn nữa. Khi Thế
Tôn từ bỏ thọ hành, thời đại địa chấn động, ghê rợn,
lông tóc dựng ngược, sấm trời vang dậy.
Thế
Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên
lời cảm hứng:
1.
Bậc ẩn sĩ từ bỏ,
Các
hành động sanh hữu,
Sanh
hữu có cân lượng,
Sanh
hữu không cân lượng,
Ưa
thích hướng nội tâm,
Thật
định tỉnh an tịnh,
Phá
đổ ngã sanh hữu,
Như
cởi thoát áo giáp.
(II)
(Ud 64)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, lâu đài
mẹ của Migàra. Lúc bấy giờ Thế Tôn vào buổi chiều,
từ độc cư thiền tịnh đứng dậy và đến ngồi tại một
ngôi nhà nhỏ phía cửa ngoài.
Rồi
vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi
đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Lúc bấy
giờ bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lõa
thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ, với nách đầy
lông, với móng tay dài, mang các dụng cụ khất sĩ, đã đi
ngang qua Thế Tôn không xa bao nhiêu.
Rồi
vua Pasenadi nước Kosala, từ chỗ ngồi đứng dậy,
đắp y một bên vai, quỳ xuống trên đầu gối tay mặt, chấp
tay hướng về bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy
vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy, nói
lên ba lần tên của mình: "Thưa chư Tôn giả, con là vua Pasenadi
nước Kosala!".
Rồi
vua Pasenadi nước Kosala, khi bảy vị bện tóc, bảy
vị Ni-kiền Tử, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lõa thể,
bảy vị mặc một y, và bảy vị du sĩ ấy đã đi ngang qua
không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước
Kosala
bạch
Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán
trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng
đến đạo quả A-la-hán?
- Thưa
Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ trong khi còn sống
với gia đình, thọ hưởng dục lạc, bị vợ con trói buộc,
quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức
với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, thọ hưởng vàng và bạc
thời Ðại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc
A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán
quả. Thưa Ðại vương, chính phải cộng trú mới biết được
giới đức của một người và như vậy phải trong một thời
gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ý không phải
không có tác ý; phải có trí tuệ không phải với ác tuệ.
Thưa Ðại vương, chính phải có liên hệ mới biết được
sự thanh liêm của một người, phải trong một thời gian dài
không thể ít ngày được, phải có tác ý, không phải không
có tác ý, phải có trí tuệ không phải với ác tuệ. Thưa
Ðại vương, chính trong thời gian bất hạnh biết được sự
trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không
thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không tác
ý; phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ. Thưa Ðại
vương, chính phải đàm luận biết được trí tuệ của một
người, và như vậy phải trong một thời gian dài không thể
ít ngày được; phải có tác ý, không phải không tác ý, phải
có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
- Thật
là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn,
khi Thế Tôn đã khéo nói như sau: "Thưa Ðại vương, khi Ðại
vương còn là cư sĩ... không phải với ác tuệ". Bạch Thế
Tôn, có những trinh thám này của con những người trinh sát
sau khi đi trinh sát mặt nước, chúng đến con. Trước hết
họ báo cáo rồi con mới đúc kết. Bạch Thế Tôn, ở đây
những người ấy sau khi tẩy sạch bụi và nhớp, sau khi tắm
rửa và xoa dầu, sau khi chải sạch râu tóc, mặc áo vải trắng,
chúng được hầu hạ săn sóc và cho thọ hưởng năm dục
công đức.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên bài kệ này:
2.
Phải siêng năng cố gắng,
Tại
bất cứ chỗ nào,
Chớ
trở thành là người
Thuộc
vào con người khác,
Chớ
có sống ỷ lại,
Nương
tựa vào ngưòi khác,
Chớ
sống nghề buôn bán,
Ðem
pháp để kiếm lời.
(III)
(Ud 65)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi
quán sát của pháp bất thiện của mình được trừ diệt,
và các pháp thiện của mình được tu tập, làm cho tăng trưởng.
Rồi Thế Tôn sau khi biết các pháp bất thiện của mình đã
được trừ diệt và các pháp thiện của mình được tu tập,
được làm cho sung mãn, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm
hứng này:
3.
Trước có nay không có,
Trước
không có nay có,
Ðã
không và sẽ không,
Và
nay hiện không có.
(IV)
(Ud 66)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông
các ngoại đạo sai khác. Các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại
đạo đều vào Sàvatthi để khất thực. Họ có quan
điểm khác nhau, có kham nhẫn khác nhau, có sở thích khác nhau,
y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau. Một số Sa-môn,
Bà-la-môn, luận thuyết như sau: "Thế giới là thường còn,
chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn,
Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Thế giới
là vô thường, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng".
Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm
như sau: "Thế giới là có biên tế, chỉ đây là sự thật,
ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết
như sau, có quan điểm như sau: "Thế giới là vô biên, chỉ
đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn
luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Sanh mạng và thân
thể là một, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng".
Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm
như sau: "Sanh mạng và thân thể là khác, chỉ đây là sự
thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận
thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai có tồn tại sau
khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một
số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan điểm như
sau: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự
thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn
luận thuyết như sau, quan điểm như sau: "Như Lai có tồn tại
và không có tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật,
ngoài ra là hư vọng". Một số Bà-la-môn, Bà-la-môn luận thuyết
như sau, quan điểm như sau: "Như Lai không có tồn tại và không
không tồn tại sau khi chết, chỉ đây là sự thật, ngoài
ra là hư vọng". Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh,
đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này
là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp.
Như thế này không phải pháp".
Rồi
nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi,
để khất thực, Khất thực ở Sàvatthi xong sau buổi
ăn, khi đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở
đây, bạch Thế Tôn, một số đông ngoại đạo sai khác, các
Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi
để khất thực..."... như thế này không phải pháp, như thế
này là pháp".
- Này
các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không
có mắt, không biết mục đích, không biết phải mục đích,
không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết mục
đích, do họ không biết không phải mục đích, do không biết
pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận tranh,
đấu tranh... như thế này là pháp. Này các Tỷ-kheo, thưở
xưa tại thành Sàvatthi này, có một ông vua. Này các
Tỷ-kheo, ông vua ấy bảo một người: "Này người kia, phàm
có bao nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi hãy
nhóm lại một chỗ tất cả " - "Thưa vâng, Ðại vương". Này
các Tỷ-kheo, người ấy vâng đáp ông vua ấy, phàm có bao
nhiêu những người sanh ra đã mù ở Sàvatthi, người
ấy giữ lại tất cả, rồi đi đến ông vua ấy, sau khi đến
thưa với vị vua: "Thưa Ðại vương, phàm có bao nhiêu những
người sanh ra đã mù ở Sàvatthi đã được tụ tập
lại".
- Này
khanh, hãy đưa ra một con voi cho những người mù.
Thưa
vâng, Ðại vương. Này các Tỷ-kheo, người ấy vâng đáp ông
vua ấy, đưa ra một con voi cho những người mù: "Này các người
mù, đây là con voi". Với một số người mù, ông ta đưa cái
đầu và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với
một số người mù, ông ta đưa cái lỗ tai con voi và nói:
"Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một số người
mù, ông ta đưa các ngà con voi và nói: "Này các người mù,
đây là con voi". Ðối với một số người mù, ông ta đưa
cái vòi con voi và nói: "Này các người mù, đây là con voi".
Ðối với một số người mù, ông ta đưa cái thân con voi
và nói: "Này các người mù, đây là con voi". Ðối với một
số người mù, ông ta đưa cái chân... Ðối với một số
người mù, ông ta đưa cái lưng... Ðối với một số người
mù, ông ta đưa cái đuôi... Ðối với một số người mù,
ông ta đưa cái lông đuôi và nói: "Này các người mù, đây
là con voi". Này các Tỷ-kheo, rồi người ấy sau khi đưa con
voi cho các người mù, đi đến ông vua ấy, sau khi đến tâu
với vua: "Thưa Ðại vương, con voi đã được các người mù
thấy, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là
hợp thời! " Rồi này các Tỷ-kheo, ông vua đi đến các người
mù ấy, sau khi đến nói với họ: "Này các người mù, các
ông đã thấy con voi chưa? " - "Thưa Ðại vương, chúng tôi
đã thấy con voi". - Này các người mù, hãy nói con voi là như
thế nào? " Này các Tỷ-kheo, những ai thấy đầu con voi, họ
nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như
cái ghè! " Này các Tỷ-kheo, những ai được thấy cái tai con
voi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế
này, như cái rổ sàng gạo. " Này các Tỷ-kheo, những ai được
thấy cái ngà con voi, họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con
voi là như thế này, như cái lưỡi cày. " Những ai... được
thấy cái vòi..."... như cái cày". Những ai... được thấy
cái thân..."... như cái kho chứa. " Những ai... được thấy
cái chân..."... như cái cột. " Những ai... được thấy cái
lưng..."... như cái cối. " Những ai... được thấy cái đuôi,
họ nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này,
như cái chày". Những ai được thấy cái nhóm lông đuôi, chúng
nói như sau: "Thưa Ðại vương, con voi là như thế này, như
cái chổi " - "Con voi các ông nói như vậy không phải là con
voi. Con voi không phải như vậy. Con voi không phải vậy. Như
thế này là con voi". Cho đến khi họ đánh lộn nhau bằng tay.
Rồi này các Tỷ-kheo, ông vua ấy hoan hỷ. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không
có mắt... như vậy là pháp.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng:
4.
Có một số Sa-môn,
Cùng
với Bà-la-môn,
Họ
chấp trước, giành giật,
Trong
các luận thuyết này,
Họ
tranh luận tranh chấp,
Họ
nhìn chỉ một phía.
(V)
(Ud 69)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều ngoại đạo
sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các di sĩ trú ở Sàvatthi.
Họ có quan điểm khác nhau. Họ có kham nhẫn khác nhau. Họ
có sở thích khác nhau. Họ y cứ nương tựa vào quan điểm
khác nhau. Một số Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như sau, quan
điểm như sau: "Tự ngã và thế giới là thường còn, chỉ
đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Một số Sa-môn, Bà-la-môn...
"Tự ngã và thế giới là vô thường"... "Tự ngã và thế
giới là thường còn và vô thường"... "Tự ngã và thế giới
là không thường còn và không vô thường... " "Tự ngã và
thế giới do tự mình tạo ra"... "Tự ngã và thế giới do
người khác tạo ra"... "Tự ngã và thế giới do tự mình và
người khác tạo ra"... "Tự ngã và thế giới do không tự
mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do vô nhân sanh, tự
nhiên"... "Lạc khổ, tự ngã và thế giới là thường còn"...
"Lạc khổ, tự ngã và thế giới là vô thường"... "Lạc khổ,
tự ngã và thế giới là thường còn và vô thường"... "Lạc
khổ, tự ngã và thế giới là không thường còn và không
vô thường"... Có một số Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết
như sau, quan điểm như sau: "Lạc khổ, tự ngã và thế giới
là không tự mình tạo ra, không người khác tạo ra do vô nhân
sanh". Họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương
nhau, bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như
thế này không phải là pháp. Như thế này không phải pháp,
như thế này là pháp".
Rồi
nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào Vương
Xá để khất thực. Khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi
ăn, đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở
đây, bạch Thế Tôn, có nhiều ngoại đạo sai khác, các Sa-môn,
Bà-la-môn, các du sĩ, trú ở Sàvatthi... họ sống cạnh
tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí
miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này không phải
pháp. Như thế này không phải pháp, như thế này là pháp".
- Này
các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không
có mắt, không biết mục đích, không biết không phải mục
đích, không biết pháp, không biết phi pháp. Do họ không biết
mục đích, do họ không biết không phải mục đích, do không
biết pháp, do không biết phi pháp, họ sống cạnh tranh, luận
tranh, đấu tranh, đã thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi:
"Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế
này không phải pháp. Như thế này là pháp".
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng:
5.
Có một số Sa-môn,
Cùng
với Bà-la-môn,
Họ
chấp trước giành giật,
Trong
các luận thuyết này,
Họ
bị chìm đắm xuống,
Khi
đang còn giữa dòng,
Họ
không đạt đến được,
Ðất
cứng trên bờ kia.
(VI)
(Ud 70)
(Giống
như kinh VI, 5, tức là kinh trước, với đoạn kết luận khác
nhau như sau:)
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
6.
Có người ở đời này,
Chấp
người làm là ta,
Trói
buộc với tư tưởng,
Người
làm là người khác,
Họ
không biết sự này,
Họ
thấy là mũi tên,
Ai
nhìn mũi tên này,
Với
thận trọng cần thiết,
Người
ấy không còn chấp,
"Người
làm chính là ta",
Người
ấy cũng không chấp,
"Người
làm là người khác",
Loài
người ở đời này,
Bị
kiêu nạn khiếp phục,
Bị
cột bởi kiêu mạn,
Bị
trói bởi kiêu mạn,
Trong
các loài chủ thuyết,
Họ
cạnh tranh, luận tranh,
Họ
không thể vượt qua,
Luân
chuyển trong sanh tử.
(VII)
(Ud 71)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn Giả
Subhùti
ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng,
nhập định không tầm. Thế Tôn thấy Tôn giả
Subhùti ngồi
không xa bao nhiêu, ngồi kiết-già lưng thẳng, nhập định
không tầm. Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong
lúc ấy nỗi lên lời cảm hứng:
7.
Với ai, tầm quét sạch,
Nội
tâm khéo cắt đứt,
Không
còn chút dư tàn
Vượt
qua ái nhiễm ấy,
Ðạt
được tưởng vô sắc,
Vượt
khỏi bốn ách nạn,
Không
đi đến thọ sanh.
(VIII)
(Ud 71)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng
các con sóc. Lúc bấy giờ, ở Vương xá, có hai nhóm say đắm
một ngưòi kỹ nữ, tâm bị ám ảnh, họ cạnh tranh, đấu
tranh nhau. Họ đi đến đánh nhau bằng nắm tay, đánh nhau bằng
cục đất, đánh nhau bằng gậy gộc, đánh nhau bằng kiếm.
Họ đi đến chết, đi đến đau khổ gần như chết. Rồi
nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Vương
Xá để khất thực. Khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi
ăn, khi đi khất thực trở về, các Tỷ-kheo đi đến Thế
Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, ở Vương Xá có hai nhóm say đắm một người kỷ
nữ... họ đi đến chết, đi đến đâu khổ gần như chết.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng:
8.
Phàm cái gì đạt được,
Cái
gì cần phải đạt,
Cả
hai vướng bụi trần,
Với
kẻ bị bệnh hoạn,
Học
tập chưa thuần thục,
Kẻ
tinh chuyên học tập,
Sống
giữ gìn giới cấm,
Tinh
chuyên chú Phạm hạnh,
Ðây
là một cực đoan,
Ðây
là một chủ thuyết,
Trong
dục không lỗi lầm,
Là
cực đoan thứ hai,
Cả
hai cực đoan này,
Làm
mộ phần tăng trưởng,
Chính
do các tà kiến,
Làm
tăng trưởng mộ phần.
Những
ai không thắng tri,
Cả
hai cực đoan này,
Có
kẻ bị chìm đắm,
Có
kẻ chạy quá mau,
Những
ai thắng tri chúng,
Không
có suy tư vậy,
Không
có tự quá mạn,
Họ
không có luân chuyển,
Ðể
được tuyên bố lên.
(IX)
(Ud 72)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn của ông Anàathapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn
đang ngồi giữa trời, trong đêm tối mù mịt, với những
cây đèn dầu đang chói sáng. Lúc bấy giờ, nhiều loại côn
trùng có cánh tiếp tục rơi vào trong những đèn dầu ấy
và gặp phải tai nạn, gặp phải hoại diệt, gặp phải tai
nạn hoại diệt. Thế Tôn thấy nhiều loại côn trùng có cánh
tiếp tục rơi vào...
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy
nói lên lời cảm hứng:
9.
Họ chạy gấp vượt qua,
Nhưng
bỏ mất lối cây,
Họ
làm cho tăng trưởng,
Các
trói buộc mới mẻ,
Như
các loại côn trùng,
Rơi
vào trong ánh sáng,
Có
người sống dựa vào
Ðiều
được thấy được nghe.
(X)
(Ud 73)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavena, khu
vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Ananda, đi
đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch
Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, cho đến khi nào, các Như Lai không hiện hữu ở
đời, bậc A-la-hán, Chánh-Ðẳng-Giác, cho đến khi ấy các
du sĩ ngoại đạo được cung kính, được tôn trọng, được
đảnh lễ, được cúng dường, được tôn kính, nhận được
các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược
phẩm trị bệnh. Nhưng đến khi các Như Lai hiện hữu ở đời,
bậc A-la-hán, Chánh-Ðẳng-Giác, cho đến khi ấy, các du sĩ
ngoại đạo, không được cung kính, không được tôn trọng,
không được đảnh lễ, không được cúng dường, không nhận
được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa,
dược phẩm trị bệnh. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn được
cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, nhận
được các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa,
dược phẩm trị bệnh; chúng Tỷ-kheo cũng như vậy.
- Ðúng
như vậy, này Ananda. Cho đến khi nào, các Như Lai không
xuất hiện ở đời... dược phẩm trị bệnh. Nhưng đến
khi các Như Lai xuất hiện ở đời... dược phẩm trị bệnh.
Này Ananda nay Thế Tôn được cung kính... chúng Tỷ-kheo
cũng vậy.
Sau
khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, Thế Tôn nói
lên lời cảm hứng:
10.
Con đôm đốm chiếu sáng,
Khi
mặt trời chưa mọc,
Khi
mặt trời mọc lên,
Ánh
sáng đôm đốm diệt,
Cũng
vậy là ánh sáng,
Của
các nhà ngoại đạo,
Khi
bậc Chánh Ðẳng Giác
Chưa
xuất hiện ở đời,
Các
nhà ưa biện luận.
Không
có được ánh sáng,
Cũng
vậy đệ tử chúng,
Còn
các nhà tà kiến,
Họ
không được giải thoát,
Khỏi
các sự đau khổ.
[^]
Chương
Bảy
Phẩm
Nhỏ
(I)
(Ud 74)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana, khu
vườn cuả ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Sàriputta,
với pháp thoại gồm nhiều pháp môn đang trình bày, khích
lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Tôn giả Lakumthakabbaddiya.
Do Tôn giả Sàriputta, với pháp thoại gồm nhiều pháp
môn trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ
nên tâm của Tôn giả Lakumthakabhaddiya được giải thoát
các lậu hoặc không có chấp thủ. Thế Tôn thấy Tôn giả
Lakumthakabbaddiya,
do Tôn giả Sàriputta với pháp thoại gồm nhiều pháp
môn trình bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ
nên tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp
thủ.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
1.
Trên dưới khắp tất cả,
Ðược
giải thoát hoàn toàn,
Không
còn có tùy quán
"Cái
này chính là tôi".
Giải
thoát vậy vượt dòng,
Trước
chưa từng vượt qua,
Không
còn có rơi rớt
Vào
sanh hữu thọ sanh.
(II)
(Ud 74)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Tôn giả Sàriputta,
với
pháp thoại gồm nhiều pháp môn, đang thuyết trình, khích lệ,
làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, Tôn giả Bhaddiya
người
lùn; lại càng nhiệt tình hơn lên khi Tôn giả Sàriputta
nghĩ rằng: "Tôn giả Bhaddiya người lùn là một vị
hữu học". Thế Tôn thấy Tôn giả Sàriputta với pháp
thoại gồm nhiều pháp môn, là một vị hữu học. Sau khi hiểu
biết ý nghĩa này, Thế Tôn ngay trong lúc ấy, nói lên lời
cảm hứng này:
2.
Cắt đứt được luân chuyển,
Ðạt
được sự không dục,
Hoàn
toàn được khô cạn,
Nước
sông không chảy nữa,
Cắt
đứt, lưu chuyển đứng,
Là
giải thoát đau khổ.
(III)
(Ud 75)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn
ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều người ở Sàvatthi,
phần lớn đắm say quá độ về các dục, sống say đắm,
tham đắm, tham muốn, tham mê, bị trói buộc, bị mê say trong
các dục. Rồi một số đông Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp
y, cầm bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực
ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, khi đã khất thực trở
về, họ đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn
rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ bạch
Thế Tôn:
Ở
đây, bạch Thế Tôn, những người ở Sàvatthi,... bị
mê say trong các dục.
Thế
Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói
lên lời cảm hứng này:
3.
Chúng sanh bị tham đắm,
Trong
các loại ái dục,
Họ
không thấy lỗi lầm,
Trong
phiền não kiết sử,
Chắc
chắn các chúng sanh,
Tham
đắm trong ái dục,
Họ
không vượt qua được,
Thác
nước rộng và lớn.
(IV)
(Ud 75)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, nhiều người
ở Sàvatthi phần lớn đắm say quá độ về các dục
(như trên III)... trong các dục. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng
đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Rồi
Thế Tôn thấy các người ấy ở Sàvatthi... trong các
dục.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
4.
Bị mù bởi các dục,
Bị
bao phủ bởi lưới,
Bị
ái dục bao trùm,
Lại
còn bị trói buộc,
Bởi
trói buộc phóng dật,
Như
cá mắc miệng lưới,
Họ
đi đến già chết,
Như
con bê bú sữa.
(V)
(Ud 76)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvtthi, tại Jetavana, khu
vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả
Lakumthakabhaddiya
đi theo sau lưng nhiều Tỷ-kheo, đi đến Thế Tôn, Thế Tôn
thấy Tôn giả Lakumthakabhaddiya đi theo sau lưng nhiều
Tỷ-kheo, xấu xí, khó nhìn, khòm lưng, phần lớn bị các Tỷ-kheo
khinh bỉ; thấy vậy, nói với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy chăng Thầy Tỷ-kheo này từ
đàng xa... bị các Tỷ-kheo khinh bỉ?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn. Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại
thần lực, có đại uy lực, thiền chứng không dễ gì chứng
được, thiền chứng ấy trước đây Tỷ-kheo ấy không thực
hành tốt đẹp. Và vì mục đích gì các thiện nam tử chơn
chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức
là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, vị ấy ngay trong hiện
tại tự mình với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an
trú.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
5.
Bộ phận không khuyết thiếu,
Có
tán trắng che trên,
Chỉ
có một bánh xe,
Chiếc
xe được di chuyển.
Hãy
thấy vị ấy đến,
Không
phiền muộn khó khăn,
Dòng
nước đã cắt đứt,
Vị
ấy không trói buộc.
(VI)
(Ud 77)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Annatakondanna
ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng,
suy tư đến sự giải thoát do ái được diệt. Thế Tôn thấy
Tôn giả Annatakondanna ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết
già lưng thẳng, suy tư đến sự giải thoát do ái được diệt.
Thế
Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên
lời cảm hứng này:
6.
Rễ không có bén đất,
Không
lá, đâu dây leo,
Bậc
trí thoát trói buộc,
Ai
xứng đáng được khen,
Chư
Thiên khen người ấy,
Phạm
Thiên cũng ngợi khen.
(VII)
(Ud 77)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana khu
vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn
đang ngồi quán sát sự từ bỏ, đoạn diệt các hý luận
tưởng. Rồi Thế Tôn sau khi biết sự từ bỏ, đoạn diệt
các tưởng hý luận của mình, ngay trong lúc ấy, nói lên lời
cảm hứng này:
7.
Với ai các hý luận,
Không
còn có an trú,
Thoát
ly được liên hệ,
Thoát
ly được ảo tưởng,
Chư
Thiên và thế giới,
Không
thể nào rõ biết,
Sở
hành vị ẩn sĩ,
Ðã
vượt khỏi tham ái.
(VIII)
(Ud 77)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahàkaccàna
ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết-già, lưng thẳng,
với thân hành niệm khéo an trú trước mặt và trong nội tâm.
Thế Tôn thấy Tôn giả Mahàkaccàna ngồi không xa bao
nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng, với thân hành niệm khéo
an trú trước mặt trong nội tâm.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
8.
Với ai thường thường niệm,
Liên
tục trú thân hành,
"Trước
không thể có được,
Với
tôi, nay không có,
Sẽ
không thể có được,
Với
tôi, nay sẽ không".
Tiếp
tục trú như vậy,
Ðúng
thời vượt dục ái.
(IX)
(Ud 78)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn đang bộ hành giữa dân chúng Mallà cùng
với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến làng Bà-la-môn của dân
chúng Malà tên là Thùna. Các Bà-la-môn gia chủ
ở Thùna được nghe: "Sa-môn Gotama từ dòng họ Thích
Ca xuất gia, đang bộ hành giữa dân chúng Mallà cùng
với đại chúng Tỷ-kheo, nay đã đến Thùna". Họ đổ
đầy miệng giếng với cỏ và trấu với ý nghĩ: "Mong rằng
các Sa-môn trọc đầu ấy không có nước uống".
Rồi
Thế Tôn từ trên đường bước xuống, đi đến dưới một
gốc cây, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
hãy đem nước uống từ nơi giếng này cho Ta.
Khi
được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, nay các giếng ấy bị các gia chủ Bà-la-môn ở Thùna
lắp
đầy miệng với cỏ và trấu với ý nghĩ: "Mong rằng các
Sa-môn trọc đầu ấy không có nước uống".
Lần
thứ hai, Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
hãy đem nước uống từ nơi giếng này cho Ta!.
Lần
thứ hai, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Nay
các giếng ấy... không có nước uống.
Lần
thứ ba, Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
hãy đem nước uống từ nơi giếng này cho Ta.
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy bình bát, đi đến
cái giếng ấy. Tại cái giếng ấy, khi Tôn giả Ananda
đi đến, phun ra tất cả cỏ và trấu khỏi miệng giếng,
và nước trong sáng không cấu uế, trong lặng, tràn đầy miệng,
cho đến như là tràn ra ngoài. Rồi Tôn giả Ananda suy
nghĩ: "Thật vi diệu thay!. Thật hy hữu thay là đại thần
lực, đại uy lực của Như Lai. Cái giếng này khi ta đến,
phun ra tất cả cỏ và trấu khỏi miệng giếng... như là tràn
ra ngoài". Rồi Tôn giả Ananda cầm lấy bát nước, đi
đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:
- Thật
vi diệu thay! Thật hy hữu thay là đại thần lực... như là
tràn ra ngoài! Bạch Thế Tôn hãy uống nước. Bạch Thiện
Thệ, hãy uống nước!.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
9.
Cần làm gì với giếng,
Khi
nước có cùng khắp,
Chắt
đứt ái từ gốc,
Cần
hành tầm cầu gì?
(X)
(Ud 79)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Kosambi tại khu vườn Ghosita.
Lúc bấy giờ, vua Udena đang đi ngoài vườn, thì nội
cung bị cháy và năm trăm nữ nhân bị chết, đứng đầu là
Sàmavati.
Rồi nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào
Kosambi
để khất thực. Các Tỷ-kheo ấy khất thực ở
Kosambi
xong, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về đi đến Thế
Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Ở
đây, bạch Thế Tôn, trong khi vua Udena đi ra ngoài vườn,
nội cung bị cháy, năm trăm nữ nhân bị chết, đứng đầu
là Sàmàvati. Các nữ cư sĩ ấy, sanh thú họ là gì?
Tương lai họ thế nào?
- Này
các Tỷ-kheo, có nữ cư sĩ là bậc Dự lưu, có nhất bậc
Nhất lai, có bậc Bất Lai. Này các Tỷ-kheo, tất cả các nữ
cư sĩ ấy mạng chung không phải không có kết quả.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng này:
10.
Ðời bị si trói buộc,
Ðược
thấy bị tái sanh,
Bị
trói bởi sanh y,
Kẻ
ngu bị mù vây,
Tự
thấy mình thường còn,
Nhưng
với ai thấy được,
Sẽ
không có vật gì.
[^]
Chương
Tám
Phẩm
Pàtaligàmiya
(I)
(Ud 80)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana ngôi
vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang
thuyết giảng pháp thoại liên tưởng đến Niết-bàn cho các
Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Các
Tỷ-kheo ấy chú tâm, tác ý, dồn tất cả tâm tư lắng nghe
pháp.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng:
- Này
các Tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có
nước, không có lửa, không có gió; không có Hư không vô biên,
không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không
có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không
có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy,
này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi,
không có trú, không có diệt, không có sanh; không có an trú,
không có chuyện vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn
tận khổ đau.
(II)
(Ud 81)
(Như
kinh trên (I), chỉ khác lời cảm hứng)
1.
Khó thấy là vô ngã,
Không
dễ thấy, sự thật,
Với
bậc có hiểu biết,
Khéo
xâm nhập được ái,
Với
vị ấy thấy rõ,
Ðâu
còn có vật gì.
(III)
(Ud 82)
(Như
kinh trên, chỉ khác lời cảm hứng)
- Này
các Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị
làm, không hữu vi, này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không
sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thì ở
đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu,
bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh,
không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình
bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.
(IV)
(Ud 83)
(Như
các kinh trước, chỉ khác lời cảm hứng).
- Cái
gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương
tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh
an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì
không có đến và đi; không có đến và đi thì không có diệt
và sanh; không có diệt và sanh thì không có đời này, không
có đời sau, không có đời ở giữa. Ðây là sự đoạn tận
khổ đau.
(V)
(Ud 84)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn đang bộ hành đi giữa dân chúng Mallà,
cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và đã đến Pàvà. Rồi
Thế Tôn trú ở Pàvà, tại rừng xoài của thợ rèn
Cunda.
Thợ rèn Cunda được nghe: "Thế Tôn đang bộ hành giữa
dân chúng Mallà, đã đến Pàvà cùng với đại
chúng Tỷ-kheo, và trú ở Pàvà, trong rừng xoài của
ta". Thợ rèn Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp
thoại cho thợ rèn Cunda đang ngồi một bên, khích lệ,
làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Thợ rèn Cunda sau
khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi,
làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến
dùng cơm với chúng Tỷ-kheo.
Thế
Tôn im lặng nhận lời. Thợ rèn Cunda, sau khi biết Thế
Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế
Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Thợ
rèn Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại
nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng, loại mềm
và nhiều thứ mộc nhĩ và báo tin cho Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng.
Thế
Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo
đến nhà thợ rèn Cunda, khi đến liền ngồi trên chỗ
đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với thợ rèn Cunda:
- Này
Cunda,
loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho Ta. Còn các món
ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn
cho chúng Tỷ-kheo.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn.
Thợ
rèn Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món
mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món
ăn khác, loại cứng và loại mềm. Rồi Thế Tôn nói với
thợ rèn Cunda:
- Này
Cunda,
món ăn mộc nhĩ còn lại, hãy đem chôn. Này Cunda, Ta
không thấy một ai, ở cõi trời, cõi Người, ở Ma giới,
ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn
và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên nhân, ăn món mộc nhĩ
này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn.
Thợ
rèn Cunda vâng đáp Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ
còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài
và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ
rèn Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho
phấn khởi, làm cho hoan hỷ rồi từ chỗ đứng dậy và ra
đi.
Sau
khi dùng cơm của thợ rèn Cunda. Thế Tôn bị nhiễm bịnh
nặng, bệnh ly huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế
Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại chịu đựng cơn bệnh.
Thế
Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
chúng ta hãy đi đến Kusinàra. Xin vâng, bạch Thế Tôn,
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn:
2.
Dùng cơm Cunda xong,
Như
vậy tôi được nghe,
Bậc
trí cảm bệnh nặng,
Bạo
bệnh, gần như chết,
Khi
ăn loại mộc nhĩ
Ðạo
Sư bị bệnh nặng,
Khi
bệnh được lắng dịu,
Thế
Tôn nói như sau:
"Ta
nay sẽ đi đến,
Ðến
Kusinàra".
Rồi
Thế Tôn bước xuống đường, đến một góc cây và nói với
Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn
ngồi nghỉ, này Ananda.
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn và xếp áo Sanghàti
lại. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với
Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
hãy đem nước cho Ta. Này Ananda. Ta nay đang khát và muốn
uống nước.
Khi
được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh
xe khấy lên nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẫn
đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây,
nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến
và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm
mát dịu chân tay.
Lần
thứ hai, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát
và muốn uống nước.
Lần
thứ hai, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do
bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động
và vẫn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây,
nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến
và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm
mát dịu chân tay.
Lần
thứ ba, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát
và muốn uống nước.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy bát và đi đến con
sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẫn
đục, khi Tôn giả Ananda đến, liền chảy trong trẻo,
sáng lặng và không vẩn đục.
Tôn
giả Ananda tự nghĩ: "Thật kỳ diệu thay! Thật hi hữu
thay! Thần lực và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy
nông cạn, khuấy động và vẫn đục này, khi ta đến, liền
trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục". Sau khi
dùng bát lấy nước,Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch
với Ngài:
- Bạch
Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn, thật là hy hữu!
Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động
và vẫn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo,
sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước,
xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước và Thế Tôn uống nước.
Rồi
Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến con sông Kakutthà,
xuống sông tắm và uống nước, rồi lội qua bờ bên kia,
đi đến rừng xoài và tại đây, nói với Tôn giả Cundaka:
- Này
Cundaka, hãy xếp áo Sanghati làm bốn cho Ta, này Cundaka,
Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghati
làm bốn. Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như
dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm,
tỉnh giác, tác ý đến tưởng ngồi dậy, Tôn giả Cundaka
ngồi
phía trước Thế Tôn.
3.
Ðức Phật tự đi đến,
Con
sông Kakutthà,
Con
sông chảy trong sáng,
Mát
lạnh và thanh tịnh,
Vị
Ðạo Sư mỏi mệt,
Ði
dần xuống mé sông,
Như
Lai đấng vô thượng
Ngự
trị ở trên đời.
Tắm
xong uống nước xong,
Lội
qua bên kia sông,
Bậc
Ðạo sư đi trước,
Giữa
Tăng chúng Tỷ-kheo,
Vừa
đi vừa diễn giảng,
Chánh
pháp thật vi diệu,
Rồi
bậc Ðại Sĩ đến,
Tại
khu vực rừng xoài,
Cho
gọi vị Tỷ-kheo,
Tên
họ Cundaka;
"Hãy
gấp tư áo lại,
Trải
áo cho Ta nằm"
Nghe
dạy, Cundaka,
Lập
tức vâng lời dạy,
Gấp
tư và trải áo,
Một
cách thật mau lẹ,
Bậc
Ðạo Sư nằm xuống,
Thân
mình thật mệt mỏi.
Tại
đây Cundaka,
Ngồi
ngay ngắn trước mặt.
Rồi
Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda,
rất có thể có người làm cho thợ rèn Cunda
hối hận:
"Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ông,
thật là tai hại cho Ông, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng
từ Ông cúng dường, và nhập diệt". Này Ananda, cần
phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ rèn Cunda:
"Này Hiền giả, thật lợi ích cho bạn, thật là công đức
cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn
cúng dường, và nhập diệt. Nay Hiền giả Cunda, tôi tự thân
nghe, tôi tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: "Có
hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một
di thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng
dường ăn uống khác. Thế nào là hai? Một là, bữa ăn trước
khi Như Lai chứng Vô thượng Chánh Ðẳng Giác; hai là, bữa
ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn
di hưởng sanh tử". Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng
một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự
cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, Tôn giả Cunda
sẽ được hưỏng tuổi thọ; nhờ hành động này, Tôn giả
Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, Tôn
giả Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này,
Tôn giả Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động
này, Tôn giả Cunda sẽ được hưởng cõi Trời; nhờ hành
động này, Tôn giả Cunda sẽ được hưởng uy quyền".
Này
Ananda, cần phải làm cho thợ rèn tiêu tan hối hận.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lời cảm khái
như sau:
4.
Công đức người bố thí,
Luôn
luôn được tăng trưởng,
Trừ
được tâm hận thù,
Không
chất chứa chế ngự,
Kẻ
chí thiện từ bỏ,
Mọi
ác hạnh bất thiện,
Diệt
trừ tham, sân, si.
Tâm
giải thoát thanh tịnh.
(VI)
(Ud 85)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn đang đi bộ hành giữa dân chúng Magadha
cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và đã đến làng Magadha
cùng với đại chúng Tỷ-kheo, và đã đến làng Pàtali.
Các nam cư sĩ ở làng Pàtali được nghe: "Thế Tôn đang
đi bộ hành giữa dân chúng Magadha với đại chúng Tỷ-kheo,
và đã đến làng Pàtali". Rồi các nam cư sĩ ở làng
Pàtali
đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ làng Pàtali
bạch
Thế Tôn:
- Mong
Thế Tôn trú ở giảng đường chúng con.
Thế
Tôn im lặng nhận lời. Rồi các nam cư sĩ ở làng Pàtali,
sau khi được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về
Ngài rồi đi đến giảng đường, sau khi đến chúng cho trải
thảm toàn bộ giảng đường, sửa soạn các chỗ ngồi, đặt
một ghè nước, cho treo đèn dầu, rồi đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng
một bên, các nam cư sĩ ở làng Pàtali, bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, giảng đường đã được trải thảm, các chỗ ngồi
đã sửa soạn, ghè nước đã đặt xong, đèn dầu đã được
treo, Thế Tôn hãy làm những gì Thế Tôn nghĩ là hợp thời.
Rồi
Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát, cùng với chúng Tỷ-kheo,
đi đến giảng đường, sau khi đến rửa chân, bước vào
giảng đường, dựa nơi cây cột ở giữa, ngồi hướng mặt
về phía đông. Chúng Tỷ-kheo, sau khi rửa chân, bước vào
giảng đường, ngồi xuống dựa vào tường giữa, mặt hướng
về phía đông có đức Phật trước mặt. Các nam cư sĩ ở
làng Pàtalli, sau khi rửa chân, bước vào giảng đường, dựa
vào tường phía đông, mặt hướng về phía Tây, và ngồi
xuống, với đức Phật ở trước mặt.
Rồi
Thế Tôn bảo các nam cư sĩ ở làng Pàtali:
- Này
các Gia Chủ, có năm điều nguy hiểm này cho người ác giới,
người phạm giới. Thế nào là năm? Ở đây, này các Gia chủ,
người ác giới, phạm giới, do nhân duyên phóng dật, nên
hao mất tài sản lớn. Ðây là nguy hiểm thứ nhất cho người
ác giới, người phạm giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người
ác giới, phạm giới, tiếng xấu đồn xa. Ðây là nguy hiểm
thứ hai cho người ác giới, cho người phạm giới. Lại nữa,
này các Gia chủ, người ác giới, người phạm giới khi đến
hội chúng nào, hoặc là hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc là
hội chúng Bà-la-môn, hoặc là hội chúng gia chủ, hoặc là
hội chúng Sa-môn, vị ấy đến với sự sợ hãi, với sự
ngỡ ngàng. Ðây là nguy hiểm thứ ba cho người ác giới, cho
người phạm giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người ác
giới, phạm giới, khi chết bị si ám. Ðây là nguy hiểm thứ
tư cho người ác giới, cho người phạm giới. Lại nữa, này
các Gia chủ, người ác giới, người phạm giới, khi thân
hoại mạng chung bị sanh vào ác xứ, ác thú, đọa xứ, địa
ngục. Ðây là nguy hiểm thứ năm của người ác giới, của
người phạm giới. Này các Gia chủ, có năm điều nguy hiểm
này cho người ác giới, cho người phạm giới.
Này
các Gia chủ, có năm điều lợi ích này cho người giữ giới,
cho người đầy đủ giới. Thế nào là năm? Ở đây, này
các Gia chủ người giữ giới, người đầy đủ giới, do
nhân duyên không phóng dật được tài sản lớn. Ðây là lợi
ích thứ nhất cho người giữ giới, cho người đầy đủ
giới. Lại nữa, này các Gia chủ, với người giữ giới,
người đầy đủ giới, tiếng tốt lành được đồn xa. Ðây
là lợi ích thứ hai cho người giữ giới, cho người đầy
đủ giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới,
người đầy đủ giới khi đi đến hội chúng nào, hoặc là
Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn, hoặc là gia-chủ, hoặc là
Sa-môn, người ấy đi đến không có sợ hãi, không có ngỡ
ngàng. Ðây là lợi ích thứ ba cho người giữ giới cho người
có đầy đủ giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ
giới, người đầy đủ giới, khi chết không có si ám. Ðây
là lợi ích thứ tư cho người giữ giới, cho ngưòi có đầy
đủ giới. Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới,
người đầy đủ giới khi thân hoại mạng chung được sanh
thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ðây là lợi ích thứ
năm cho người giữ giới, cho người đầy đủ giới. Này
các Gia chủ, có năm lợi ích này cho người giữ giới, cho
ngưòi đầy đủ giới.
Rồi
Thế Tôn, sau khi thuyết giảng pháp thoại cho đến đêm khuya
cho các cư sĩ ở làng Pàtali, khích lệ, làm cho phấn
khởi, làm cho hoan hỷ, liền giải tán chúng, nói rằng:
- Ðêm
đã khuya, này các Gia chủ, hãy làm những gì các vị nghĩ
là hợp thời!.
Rồi
các Gia chủ ở làng Pàtali hoan hỷ tín thọ lời Thế
Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân
bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Rồi
Thế Tôn, sau khi các nam cư sĩ ở làng Pàtali ra đi không
bao lâu, đi vào căn nhà trống. Lúc bấy giờ, Sunìdha và
Vassakàra
đại thần ở Magadha đang cho xây dựng một thành phố ở
Pàtaligàma
để ngăn chận các người Vajjì. Lúc bấy giờ, rất
nhiều chư Thiên có đến con số ngàn, đang trú ở các trú
xứ ở làng Pàtali. Tại chỗ nào các chư Thiên có đại
uy lực trú ở tại chỗ ấy chúng làm cho tâm các vua, các
đại thần có đại uy lực thiên về, hướng về xây dựng
các trú xứ. Tại chỗ nào các chư Thiên có uy lực trung bình
trú ở, tại chỗ ấy chúng làm cho tâm các vua, các vị đại
thần có uy lực trung bình thiên về, hướng về xây dựng
các trú xứ. Tại chỗ nào các chư Thiên thấp kém trú ở,
tại chỗ ấy, chúng làm cho tâm các vua, các đại thần có
uy lực thấp kém thiên về, hướng về xây dựng các trú xứ.
Thế
Tôn với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân thấy hàng ngàn chư
Thiên ở làng Pàtali đang trú ở các trú xứ ở làng
Pàtali.
Tại chỗ nào các chư Thiên có đại uy lục trú ở... Họ
làm cho tâm các vua, các đại thần uy lực thấp kém thiên
về, hướng về xây dựng các trú xứ.
Rồi
Thế Tôn, vào lúc tảng sáng đêm ấy, thức dậy và bảo Tôn
giả Ananda:
- Này
Ananda, ai cho xây dựng thành phố ở làng Pàtali?
- Bạch
Thế Tôn, các đại thần Sunìdha và Vassa-kàra cho xây
dựng thành phố ở làng Pàtali để ngăn chận các người
Vajjì.
- Này
Ananda,
ví như họ làm như vậy sau khi đã hỏi chư Thiên ở cõi trời
Ba mươi ba. Cũng vậy, Sunìdha và Vasakàra đại
thần ở Magadha, đang cho xây dựng thành phố ở làng
Pàtali để ngăn chận các người Vajjì.
Ở
đây, này Ananda, với Thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân,
Ta thấy hàng ngàn chư Thiên ở làng Pàtali... hướng
về xây dựng các trú xứ. Này Ananda, xa cho đến thánh
xứ, xa cho đến con người buôn bán đây sẽ trở thành một
thành phố tối thượng, một chỗ mà các kiện hàng được
mở ra. Này Ananda, ba tai nạn sẽ đến với Pàtaliuputta,
nạn lửa, nạn lụt và nạn phản bội.
Rồi
Sunìdha
và Vassakàra đại thần ở Magadha đi đến Thế
Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón
thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân
hữu, rồi đứng một bên. Ðứng một bên, các Sunìdha
và Vassakàra, đại thần xứ Magadha, bạch Thế
Tôn:
- Mong
Tôn giả Gotama hôm nay nhận lời mời dùng cơm của chúng
con với chúng Tỷ-kheo!
Thế
Tôn im lặng nhận lời.;
Rồi
Sunìdha
và
Vassakara đại thần Magadha, sau khi biết Thế Tôn
đã nhận lời, đi đến chỗ của mình, sau khi đến sửa soạn
các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và báo thời
giờ cho Thế Tôn:
- Thưa
Tôn giả Gotama, nay đã đến thời. Cơm đã sẵn sàng.
Rồi
Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm bát cùng với chúng Tỷ-kheo
đi đến trú xứ của Sunìdha và Vassakara, đại
thần xứ Magadha, sau khi đến ngồi xuống trên chỗ đã
soạn sẵn. Rồi Sunìdha và Vassakara, đại thần
xứ Magadha tự tay thân mời chúng Tỷ-kheo với đức
Phật là vị Thượng thủ và làm cho thỏa mãn với các món
ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi Sunìdha
và Vassakara, đại thần xứ Magadha, sau khi Thế
Tôn ăn đã xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế ngồi
thấp khác. Thế Tôn với những bài kệ này, nói lên lời
tuỳ hỷ công đức với Sunìdha và Vassakara, đại
thần xứ Magadha:
5.
Tại chỗ nào bậc trí,
Làm
thành chỗ an trú,
Hãy
cúng các món ăn,
Cho
những người giữ giới,
Cho
người biết chế ngự,
Sống
đời sống Phạm hạnh,
Ở
đấy chư Thiên trú,
Hãy
cúng dường chư Thiên
Ðược
cúng dường, chư Thiên,
Cúng
dường lại vị ấy,
Ðược
cung kính, chư Thiên,
Cung
kính lại vị ấy,
Họ
từ mẫn vị ấy
Như
mẹ thương con mình,
Người
được chư Thiên thương,
Luôn
luôn thấy hiền thiện.
Rồi
Thế Tôn sau khi nói lời tuỳ hỷ công đức với những bài
kệ này cho Sunìdha và Vasakara, đại thần xứ Magadha,
từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Lúc bấy giờ Sunìdha
và Vassakara, đại thần xứ Magadha đi theo sau lưng
Thế Tôn và nghĩ rằng: "Hôm nay, Sa-môn Gotama đi ra cửa
nào, cửa ấy sẽ đặt tên là cửa thành Gotama. Tại
bến nước nào Sa-môn Gotama sẽ đi qua sông Hằng, bến
nước ấy sẽ đặt tên là bến nước Gotama". Và cửa
nào Thế Tôn đã đi ra khỏi, các vị ấy đặt tên là cửa
thành Gotama. Và Thế Tôn đi đến sông Hằng, nước sông
tràn đầy đến bờ, con quạ có thể uống được, một số
người đi tìm thuyền, một số người đi tìm bè, một số
người cột chiếc bè để đi qua sông. Rồi như người lực
sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi
ra, cũng vậy Thế Tôn biến mất từ bờ bên này sông Hằng
và đứng qua bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo. Thế Tôn thấy
các người ấy, một số người đi tìm thuyền, một số người
đi tìm bè, một số người cột lại chiếc bè để qua sông,
sau khi hiểu biết ý nghĩa này, Thế Tôn ngay trong lúc ấy,
nói lên bài kệ:
6.
Sau khi làm cái cầu,
Họ
vượt qua thác nước,
Họ
vượt qua hồ nước,
Họ
vượt qua đầm lầy,
Có
người cột chiếc bè,
Bậc
trí đã qua sông.
(VII)
(Ud 90)
Như
vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn đang đi giữa đường cùng
với Tôn giả Nàgasamàla là Sa-môn tuỳ tùng. Tôn giả
Nàgasamàla
giữa
đường thấy một con đường rẽ, thấy vậy bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, đây là con đường, chúng ta đi con đường này.
Khi
được nói vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Nàgasamàla:
- Này
Nàgasasmàla,
đây là con đường. Chúng ta sẽ đi con đường này.
Lần
thứ ba, Tôn giả Nàgasamàla bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, đây là con đường, chúng ta hãy đi con đường này.
Lần
thứ ba, Thế Tôn nói:
- Này
Nàgasamàla,
đây là con đường. Chúng ta đi con đường này.
Rồi
Tôn giả Nàgasamàla đặt xuống đất y và bát của Thế
Tôn, bỏ đi và nói:
- Bạch
Thế Tôn, đây là y bát của Thế Tôn.
Rồi
Tôn giả Nàgassamàla đi theo con đường ấy, giữa đường
bị các tên cướp xuất hiện đánh bằng tay hay chân, đập
vỡ bình bát và xé rách thượng y của Tôn giả. Rồi Tôn
giả Nàgasamàla với bình bát bị vỡ, với thương y
bị xé rách đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế
Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả
Nàgasamàla
bạch Thế Tôn:
- Ở
đây, bạch Thế Tôn, con đi con đường ấy các tên cướp
xuất hiện, đánh con bằng tay hay bằng chân, đập vỡ bình
bát và xé rách thượng y.
Rồi
Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên lời cảm hứng:
7.
Cùng đi với kẻ ngu,
Kẻ
trí phải chen vai,
Khi
biết nó là ác,
Lập
tức từ bỏ nó,
Như
con bò bỏ nước,