|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TIỂU BỘ
TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2543 - 1999
Kinh Tập
(Sutta Nipata)
Chương
Một - Phẩm Rắn Uragavagga
(I)
Kinh Rắn (Sn 1)
1.
Ai nhiếp phục phẫn nộ
Ðang
được dấy khởi lên,
Như
dùng chất linh dược,
Ngăn
độc rắn lan rộng
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
2.
Ái cắt đứt tham dục,
Không
còn chút dư tàn,
Như
kẻ hái hoa sen
Sanh
ra từ ao hồ.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
3.
Ai cắt đứt tham ái,
Không
còn chút dư tàn,
Làm
cho nước cạn khô,
Dòng
nước chảy nhanh mạnh
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
4.
Ai phá hoại kiêu mạn
Không
còn chút dư tàn,
Như
nước mạnh tàn phá
Cây
cỏ lau yếu hèn,
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
5.
Ai trong các sanh hữu,
Không
tìm thấy lõi cây,
Như
kẻ đi hái hoa,
Trên
cây sung không hoa.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
6.
Với ai trong nội tâm,
Không
còn có phẫn hận,
Ðã
vượt thoát ra khỏi,
Cả
hữu và phi hữu.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
7.
Với ai những tầm tư,
Ðược
làm cho tan biến
Nội
tâm khéo sửa soạn,
Không
còn chút dư tàn.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
8.
Ai không đi quá trớn,
Cũng
không quá chậm trễ,
Ðã
nhiếp phục toàn diện,
Hý
luận chướng ngại này.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
9.
Ai không đi quá trớn,
Cũng
không quá chậm trễ,
Biết
rõ được ở đời,
Sự
này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
10.
Ai không đi quá trớn,
Cũng
không quá chậm trễ,
Từ
bỏ, không có tham,
Sự
này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
11.
Ai không đi quá trớn,
Cũng
không quá chậm trễ,
Từ
bỏ, không tham dục,
Sự
này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
12.
Ai không đi quá trớn,
Cũng
không quá chậm trễ,
Từ
bỏ, ly sân hận,
Sự
này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
13.
Ai không đi quá trớn,
Cũng
không quá chậm trễ,
Từ
bỏ, ly si ám,
Sự
này toàn hư vọng.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
14.
Với ai, các tùy miên,
Hoàn
toàn không hiện hữu,
Các
nguồn gốc bất thiện
Ðược
nhổ lên trừ sạch.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
15.
Với ai, không có gì,
Do
phiền não sanh khởi,
Làm
duyên trở lui lại,
Về
lại bờ bên này.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
16.
Với ai, không có gì,
Do
rừng ái sanh khởi,
Tạo
nhân khiến trói buộc
Con
người vào tái sanh.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
17.
Ai đoạn năm triền cái,
Không
sầu khổ bực phiền,
Vượt
qua được nghi hoặc,
Thoát
mũi tên phiền não.
Tỷ-kheo
ấy từ bỏ,
Bờ
này và bờ kia,
Như
loài rắn thoát bỏ
Da
rắn cũ già xưa.
(II)
Kinh Dhaniya (Sn 3)
Dhaniya:
18.
Cơm ta, nấu đã chín,
Sữa
uống, ta vắt xong,
Mục
đồng Dhaniya,
Ðã
nói lên như vậy.
Trên
bờ sông Mahì,
Ta
chung sống đồng cư,
Chòi
lá được khéo lợp,
Lửa
đốt được cháy đỏ.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Thế
Tôn:
19.
Ta đoạn được phẫn nộ,
Tâm
hoang vu không còn,
Bậc
Thế Tôn, Chánh Giác
Ðã
nói lên như vậy.
Trên
bờ sông Mahì,
Ta
chỉ sống một đêm,
Chòi
lá được rộng mở,
Lửa
đốt được tịch tịnh.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Dhaniya:
20.
Ruồi lằn và muỗi mòng,
Ở
đây không tìm thấy,
Mục
đồng Dhaniya,
Ðã
nói lên như vậy.
Trên
cánh đồng cỏ mọc,
Ðàn
bò đi ăn cỏ,
Dầu
cơn mưa có đến,
Chúng
có thể chịu đựng.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Thế
Tôn:
21.
Các bè đã được cột,
Khéo
tác thành tốt đẹp,
Bậc
Thế Tôn, Chánh Giác
Ðã
nói lên như vậy.
Ai
qua được bờ kia,
Nhiếp
phục dòng nước mạnh,
Lợi
ích của chiếc bè,
Ðâu
còn thấy cần thiết.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Dhaniya:
22.
Vợ ta khéo nhu thuận,
Không
có tham dục gì,
Mục
đồng Dhaniya
Ðã
nói lên như vậy.
Ðã
lâu ngày chung sống,
Vừa
đẹp ý đẹp lòng,
Ta
không nghe điều gì,
Thuộc
ác hạnh về nàng.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Thế
Tôn:
23.
Tâm Ta khéo nhu thuận,
Ðược
giải thoát, mở rộng,
Bậc
Thế Tôn, Chánh Giác
Ðã
nói lên như vậy.
Lâu
ngày tu viên mãn,
Khéo
nhiếp phục chế ngự,
Trong
Ta các pháp ác,
Không
còn được tìm thấy.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Dhaniya:
24.
Với lợi tức thâu hoạch,
Ta
tự nuôi sống ta,
Mục
đồng Dhaniya
Ðã
nói lên như vậy,
Con
ta và cả ta,
Sống
chung không bệnh hoạn,
Ta
không nghe điều gì,
Thuộc
ác hạnh về chúng.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Thế
Tôn:
25.
Ta không có làm mướn,
Cho
một ai ở đời,
Bậc
Thế Tôn, Chánh Giác
Ðã
nói lên như vậy
Với
điều được chứng đắc,
Ta
du hành thế giới,
Về
tiền công cần thiết,
Không
thể có nơi Ta.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Dhaniya:
26.
Ðây có các bò cái,
Ðây
có các bò con,
Mục
đồng Dhaniya
Ðã
nói lên như vậy.
Ðây
có những bò mẹ,
Mang
thai, nối giống dòng,
Ðây
có những bò đực,
Những
con chúa đầu đàn.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Thế
Tôn:
27.
Ðây không có bò cái,
Ðây
không có bò con,
Bậc
Thế Tôn, Chánh Giác
Ðã
nói lên như vậy.
Ðây
không có bò mẹ,
Mang
thai, nối giống dòng,
Ðây
không có bò đực,
Những
con chúa đầu đàn.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Dhaniya:
28.
Cây cột được đóng sâu,
Không
còn bị dao động,
Mục
đồng Dhaniya
Ðã
nói lên như vậy.
Các
dây bằng cây lau,
Ðược
bện lại mới chắc,
Và
các con bò con,
Không
thể nào giật đứt.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
Thế
Tôn:
29.
Giống như con bò đực,
Giật
đứt các trói buộc,
Bậc
Thế Tôn, Chánh Giác
Ðã
nói lên như vậy.
Như
voi làm bựt đứt
Các
giây leo héo mục,
Ta
không còn đi đến,
Chỗ
thai tạng tái sanh.
Nếu
là ý người muốn,
Thần
mưa, hãy mưa đi.
30.
Rồi mưa lớn đổ xuống,
Làm
đầy tràn đất trũng,
Làm
tràn ngập đất cao,
Nghe
trời gầm, mưa, thét,
Mục
đồng Dhaniya,
Nói
lên lời như sau:
Dhaniya:
31.
Lợi thay cho chúng ta,
Ðâu
phải là lợi nhỏ,
Chúng
ta được chiêm ngưỡng,
Bậc
Chánh Giác, Thế Tôn.
Ôi!
Kính bậc Pháp nhãn,
Con
xin quy y Ngài,
Kính
bậc Ðại ẩn sĩ,
Hãy
là Thầy chúng con.
32.
Vợ con và cả con,
Là
những người nhu thuận,
Xin
sống đời Phạm hạnh,
Dưới
chân bậc Thiện Thệ.
Ðược
đến bờ bên kia,
Vượt
khỏi sanh già chết,
Chúng
con sẽ trở thành
Người
đoạn tận đau khổ.
Màra:
33.
Ai có các con trai,
Hoan
hỷ với con trai,
Ðây
là lời Ác ma,
Ðã
nói lên như vậy
Người
chủ các con bò,
Hoan
hỷ với con bò.
Còn
người thì hoan hỷ,
Ðối
với sự sanh y,
Ai
không có sanh y,
không
thể có hoan hỷ.
Thế
Tôn:
34.
Ai có các con trai,
Sầu
muộn với con trai,
Bậc
Thế Tôn, Chánh Giác,
Ðã
nói lên như vậy.
Người
chủ các con bò,
Sầu
muộn với con bò;
Sầu
muộn của con người,
Chính
do sự sanh y,
Ai
không có sanh y,
Không
thể có sầu muộn.
(III)
Kinh Con Tê Ngưu Một Sừng (Sn 6)
35.
Ðối với các hữu tình,
Từ
bỏ gậy và trượng,
Chớ
làm hại một ai
Trong
chúng hữu tình ấy.
Con
trai không ước muốn,
Còn
nói gì bạn bè,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
36.
Do thân cận giao thiệp,
Thân
ái từ đấy sanh,
Tùy
thuận theo thân ái,
Khổ
này có thể sanh.
Nhìn
thấy những nguy hại,
Do
thân ái sanh khởi,
Hãy
sống riêng một mình,
Như
tê ngưu một sừng.
37.
Do lòng từ thương mến,
Ðối
bạn bè thân hữu,
Mục
đích bị bỏ quên,
Tâm
tư bị buộc ràng,
Do
thấy sợ hãi này,
Trong
giao du mật thiết,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
38.
Ai nhớ nghĩ chờ mong,
Ðối
với con và vợ,
Người
ấy bị buộc ràng,
Như
cành tre rậm rạp,
Còn
các ngọn tre cao,
Nào
có gì buộc ràng,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
39.
Như nai trong núi rừng,
Không
gì bị trói buộc,
Tự
đi chỗ nó muốn
Ðể
tìm kiếm thức ăn.
Như
các bậc Hiền trí,
Thấy
tự do giải thoát,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
40.
Giữa bạn bè thân hữu,
Bị
gọi lên gọi xuống,
Tại
chỗ ở trú xứ,
Hay
trên đường bộ hành.
Thấy
tự do giải thoát,
Không
có gì tham luyến,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
41.
Giữ bạn bè thân hữu,
Ưa
thích, vui cười đùa,
Ðối
với con, với cháu,
Ái
luyến thật lớn thay,
Nhàm
chán sự hệ lụy,
Với
những người thân ái,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
42.
Khắp cả bốn phương trời,
Không
sân hận với ai,
Tự
mình biết vừa đủ,
Với
vật này vật khác,
Vững
chịu các hiểm nguy,
Không
run sợ dao động,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
43.
Có số người xuất gia,
Chung
sống thật khó khăn,
Cũng
như các gia chủ,
Ở
tại các cửa nhà,
Sống
vô tư vô lự,
Giữa
con cháu người khác,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
44.
Từ bỏ, để một bên,
Mọi
biểu dương gia đình,
Như
loại cây san hô,
Tước
bỏ mọi lá cây,
Bậc
anh hùng cắt đứt,
Mọi
trói buộc gia đình.
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
45.
Nếu tìm được bạn lành,
Thận
trọng và sáng suốt,
Bạn
đồng hành chung sống,
Bạn
thiện trú Hiền trí.
Cùng
nhau đồng nhiếp phục,
Tất
cả mọi hiểm nạn,
Hãy
sống với bạn ấy,
Hoan
hỷ, giữ chánh niệm.
46.
Nếu không được bạn lành,
Thận
trọng và sáng suốt,
Bạn
đồng hành chung sống,
Bạn
thiện trú Hiền trí.
Hãy
như vua từ bỏ,
Ðất
nước bị bại vong,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
47.
Thật chúng ta tán thán,
Các
bằng hữu chu toàn,
Bậc
hơn ta, bằng ta,
Nên
sống gần thân cận.
Nếu
không gặp bạn này.
Những
bậc không lầm lỗi,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
48.
Thấy đồ trang sức vàng,
Lấp
lánh và sáng chói,
Ðược
con người thợ vàng,
Khéo
làm, khéo tay làm,
Hai
chúng chạm vào nhau,
Trên
hai tay đeo chúng,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
49.
Như vậy nếu ta cùng
Với
một người thứ hai,
Tranh
luận cãi vã nhau,
Sân
hận, gây hấn nhau,
Nhìn
thấy trong tương lai,
Sợ
hãi hiểm nguy này,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
50.
Các dục thật mỹ miều,
Ngọt
thơm và đẹp ý,
Dưới
hình sắc, phi sắc,
Làm
mê loạn tâm tư,
Thấy
sự nguy hiểm này,
Trong
các dục trưởng dưỡng,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
51.
Ðây là một mụn nhọt,
Và
cũng là tai họa,
Một
tật bệnh, mũi tên,
Là
sợ hãi cho ta,
Thấy
sự nguy hiểm này,
Trong
các dục trưởng dưỡng,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
52.
Lạnh lẽo và nóng bức,
Ðói
bụng và khát nước,
Gió
thổi, ánh mặt trời.
Muỗi
lằn và rắn rết.
Tất
cả xúc chạm này,
Ðều
chịu đựng vượt qua,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
53.
Như con voi to lớn,
Từ
bỏ cả bầy đàn,
Thân
thể được sanh ra,
To
lớn tợ hoa sen,
Tùy
theo sự thích thú,
Sống
tại chỗ rừng núi,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
54.
Ai ưa thích hội chúng,
Sự
kiện không xảy ra,
Người
ấy có thể chứng,
Cảm
thọ thời giải thoát.
Cân
nhắc lời giảng dạy,
Ðấng
bà con mặt trời,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
55.
Ðược giải thoát vượt khỏi,
Các
tri kiến hý luận,
Ðạt
được quyết định tánh,
Chứng
đắc được con đường.
Nơi
ta trí được sanh,
Không
cần nhờ người khác,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
56.
Không tham, không lừa đảo,
Không
khát dục, gièm pha,
Mọi
si mê ác trược,
Ðược
gạn sạch quạt sạch.
Trong
tất cả thế giới,
Không
tham ái ước vọng,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
57.
Với bạn bè độc ác,
Hãy
từ bỏ lánh xa,
Bạn
không thấy mục đích,
Quen
nếp sống quanh co,
Chớ
tự mình thân cận,
Kẻ
đam mê phóng dật,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
58.
Bậc nghe nhiều trì pháp,
Hãy
gần gũi người ấy,
Bạn
người tâm rộng lớn,
Người
thông minh biện tài,
Biết
điều không nên làm,
Nhiếp
phục được nghi hoặc,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
59.
Mọi du hí vui đùa,
Và
dục lạc ở đời,
Không
điểm trang bày biện,
Không
ước vọng mong cầu,
Từ
bỏ mọi hào nhoáng,
Nói
lên lời chân thật,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
60.
Với con và với vợ,
Với
cha và với mẹ,
Tài
sản cùng lúa gạo,
Những
trói buộc bà con,
Hãy
từ bỏ buộc ràng,
Các
dục vọng như vậy,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
61.
Chúng đều là trói buộc,
Lạc
thú thật nhỏ bé,
Vị
ngọt thật ít oi,
Khổ
đau lại nhiều hơn,
Chúng
đều là câu móc,
Bậc
trí biết như vậy,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
62.
Hãy chặt đứt, bẻ gãy,
Các
kiết sử trói buộc,
Như
các loài thủy tộc,
Phá
hoại các mạng lưới.
Như
lửa đã cháy xong,
Không
còn trở lui lại,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
63.
Với mắt cúi nhìn xuống,
Chân
đi không lưu luyến,
Các
căn được hộ trì,
Tâm
ý khéo chế ngự.
Không
đầy ứ, rỉ chảy,
Không
cháy đỏ bừng lên,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
64.
Hãy trút bỏ, để lại,
Các
biểu tượng gia chủ,
Như
loại cây san hô,
Loại
bỏ các nhành lá.
Ðã
đắp áo cà sa,
Xuất
gia bỏ thế tục,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
65.
Không tham đắm các vị,
Không
tác động, không tham,
Không
nhờ ai nuôi dưỡng,
Chỉ
khất thực từng nhà.
Ðối
với mọi gia đình,
Tâm
không bị trói buộc,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
66.
Từ bỏ năm triền cái
Che
đậy trói buộc tâm,
Ðối
với mọi kiết sử,
Hãy
trừ khử, dứt sạch,
Không
y cứ nương tựa,
Chặt
đứt ái sân hận,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
67.
Hãy xoay lưng trở lại
Ðối
với lạc và khổ,
Cả
đối với hỷ ưu,
Ðược
cảm thọ từ trước,
Hãy
chứng cho được xả,
An
chỉ và thanh tịnh;
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
68.
Tinh cần và tinh tấn,
Ðạt
được lý chân đế,
Tâm
không còn thụ động,
Không
còn có biếng nhác,
Kiên
trì trong cố gắng,
Dõng
lực được sanh khởi,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
69.
Không từ bỏ độc cư,
Hạnh
viễn ly thiền định,
Thường
thường sống hành trì,
Tùy
pháp trong các pháp.
Chơn
chánh nhận thức rõ,
Nguy
hiểm trong sanh hữu,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
70.
Mong cầu đoạn diệt ái,
Sống
hạnh không phóng dật,
Không
đần độn câm ngọng,
Nghe
nhiều, giữ chánh niệm.
Các
pháp được giác sát,
Quyết
định, chánh tinh cần.
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
71.
Như sư tử, không động,
An
tịnh giữa các tiếng,
Như
gió không vướng mắc,
Khi
thổi qua màn lưới.
Như
hoa sen không dính,
Không
bị nước thấm ướt,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
72.
Giống như con sư tử,
Với
quai hà hùng mạnh,
Bậc
chúa của loài thú,
Sống
chinh phục chế ngự.
Hãy
sống các trú xứ,
Nhàn
tịnh và xa vắng,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
73.
Từ tâm, sống trú xả,
Bi
tâm, hạnh giải thoát,
Sống
hành trì thực hiện,
Hỷ
tâm, cho đúng thời,
Không
chống đối và chậm,
Với
một ai ở đời.
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
74.
Ðoạn tận lòng tham ái,
Sân
hận và si mê,
Chặt
đứt và cắt đoạn,
Các
kiết sử lớn nhỏ
Không
có gì sợ hãi,
Khi
mạng sống gần chung,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
75.
Có những bạn vì lợi,
Thân
cận và chung sống,
Những
bạn không mưu lợi,
Nay
khó tìm ở đời.
Người
sáng suốt lợi mình,
Không
phải người trong sạch,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng.
(IV)
Kinh Bhàradvàja, Người Cày Ruộng (Sn 12)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi Dakkhinàgini,
trong một làng Bà-la-môn tên Ekanàlà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn
Kasibhàradvàja có khoảng năm trăm lưỡi cày sẵn sàng, vì
là thời gieo mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm
bát đi đến chỗ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang làm việc. Lúc
bấy giờ Bà-la-môn Kasibhàradvàja đang phân phát đồ ăn. Rồi
Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, sau khi đến, Ngài
đứng một bên, Bà-la-môn Kasibhàradvàja thấy Thế Tôn đang
đứng một bên để khất thực, liền nói với Thế Tôn:
- Này
Sa-môn, ta cày và ta gieo, sau khi cày, sau khi gieo, ta ăn. Và Sa-môn,
hãy cày và gieo. Sau khi cày và gieo, hãy ăn!
- Này
Bà-la-môn, Ta cũng cày và cũng gieo. Sau khi cày và sau khi gieo,
Ta ăn.
- Nhưng
chúng tôi không thấy cái ách, hay cái cày, hay lưỡi cày, hay
gậy thúc trâu bò, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama.
Vậy mà Tôn giả Gotama nói: "Này Bà-la-môn, Ta có cày và Ta
có gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn ".
Rồi
Bà-la-môn Kasibhàradvàja nói lên với Thế Tôn bài kệ:
Bhàradvàja:
76.
Người tự nhận Người cày,
Ta
không thấy Người cày,
Hãy
trả lời chúng tôi,
Ðã
hỏi về Người cày,
Chúng
tôi muốn rõ biết,
Người
cày như thế nào?
Thế
Tôn:
77.
Lòng tin là hột giống,
Khổ
hạnh là cơn mưa,
Trí
tuệ đối với Ta
Là
ách và lưỡi cày,
Xấu
hổ là cán cày,
Ý
là sợi dây buộc,
Và
niệm đối với Ta
Là
lưỡi cày, gậy thúc.
78.
Với thân khéo phòng hộ,
Với
lời khéo phòng hộ,
Với
món ăn trong bụng,
Biết
tiết độ, chế ngự,
Ta
tác thành chơn thực,
Ðể
cắt dọn cỏ rác,
Sự
giải thoát của Ta
Thật
hiền lành nhu thuận.
79.
Với tinh cần tinh tấn,
Ta
gánh chịu trách nhiệm,
Ta
tự mình đem lại
An
ổn khỏi khổ ách.
Như
vậy, Ta đi tới,
Không
trở ngại thối lui,
Chỗ
nào Ta đi tới,
Chỗ
ấy không sầu muộn.
80.
Cày bừa là như vậy,
Ðược
quả là bất tử,
Sau
cày bừa như vậy,
Mọi
khổ được giải thoát.
Rồi
Bà-la-môn Kasibhàradvàja lấy một bát bằng đồng lớn, cho
đổ đầy với cháo sữa dâng đức Phật và thưa:
- Thưa
Tôn giả Gotama, hãy dùng cháo sữa, Tôn giả là người đi
cày! Tôn giả Gotama đi cày quả bất tử!
Thế
Tôn:
81.
Ta không hưởng vật dụng,
Do
tụng kệ đem lại,
Ðây
không phải là pháp,
Của
bậc có chánh kiến
Chư
Phật đều bác bỏ,
Tụng
hát các bài kệ,
Khi
pháp có hiện hữu,
Truyền
thống là như vậy.
82.
Hỡi này Bà-la-môn,
Người
cần phải cúng dường,
Ðồ
ăn vật uống khác,
Bậc
đại sĩ toàn diện,
Ðã
đoạn các lậu hoặc,
Ðã
lắng dịu dao động,
Ta
chính là thửa ruộng,
Cho
những ai cầu phước.
- Vậy,
thưa Tôn giả Gotama, con sẽ cho ai cháo sữa này?
- Này
Bà-la-môn, Ta không thấy ai ở thế giới, với chư Thiên, chư
Ma, chư Phạm thiên, hay trên đời này với quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sau khi ăn,
tiêu hóa được món cháo sữa này, trừ Như Lai hay đệ tử
của Như Lai. Vậy, này Bà-la-môn, Ông hãy đổ cháo sữa này
trên chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm trong nước không
có sinh vật.
Rồi
Bà-la-môn Kasibhàradvàja đem nhận chìm cháo sữa ấy vào nước
không có sinh vật. Cháo sữa ấy khi bị đổ xuống nước,
nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói, nó bốc khói lên.
Ví như một lưỡi cày, phơi cả ngày dưới ánh nắng, được
đem quăng xuống nước, lưỡi cày ấy sôi lên sùng sục, nó
phun khói, nó bốc khói lên. Cũng vậy, cháo sữa ấy, khi bị
đổ xuống nước, nó sôi lên, sôi lên sùng sục, nó phun khói,
nó bốc khói lên. Rồi Bà-la-môn Kasibhàradvàja hoảng hốt,
rợn tóc gáy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu đảnh
lễ chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
- Thật
vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn
giả Gotama! Ví như, thưa Tôn giả Gotama, một người dựng
đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những
gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn
sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy
sắc. Cũng vậy, pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương
tiện trình bày. Con xin qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp, qui y
chúng Tỷ-kheo. Mong rằng con được xuất gia với Tôn giả
Gotama, được thọ đại giới.
Rồi
Bà-la-môn Kasibhàradvàja được xuất gia với Sa-môn Gotama,
được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Tôn
giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu, do vì mục đích gì, bậc
thiên nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình với thắng
trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú cứu cánh Phạm hạnh
ấy. Vị ấy thắng tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái
này nữa ". Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán.
(V)
Kinh Cunda (Sn 16)
83.
Người thợ rèn Cunda,
Nói
lên lời như sau:
Con
hỏi bậc Ðại sĩ,
Bậc
trí tuệ rộng lớn,
Ðấng
Giác ngộ, Pháp chủ,
Ðã
đoạn tận khát ái,
Bậc
tối thượng hai chân,
Bậc
đánh xe tối thắng,
Xin
Ngài nói ở đời,
Có
bao nhiêu Sa-môn?
Thế
Tôn:
84.
Chỉ có bốn Sa-môn,
Không
có hạng thứ năm,
Thế
Tôn đáp Cunda,
Này
Cunda, là vậy.
Ta
tỏ bày cho Ông,
Ðược
hỏi điều tự thấy,
Bậc
chiến thắng con đường,
Bậc
thuyết giảng con đường,
Bậc
sống trên con đường,
Kẻ
làm ô uế đạo.
Cunda:
85.
Người thợ rèn Cunda,
Liền
bạch với Thế Tôn:
Chư
Phật nói thế nào,
Bậc
chiến thắng con đường,
Bậc
thiền định con đường,
Sao
gọi không ước lường?
Con
hỏi xin trả lời,
Vị
sống đúng con đường?
Xin
trình bày cho con,
Kẻ
làm đường ô uế.
Thế
Tôn:
86.
Ai vượt khỏi nghi hoặc,
Vị
thoát khỏi mũi tên,
Ưa
thích cảnh Niết-bàn,
Không
tham đắm vật gì,
Bậc
lãnh đạo thế giới,
Chư
Thiên và loài Người,
Chư
Phật gọi vị ấy,
Bậc
chiến thắng con đường.
87.
Ai ở đời biết được,
Pháp
tối thượng, tối thượng,
Nói
lên và phân tích,
Pháp
ở đây là vậy.
Vị
chặt đứt nghi hoặc,
Bậc
ẩn sĩ, không dục,
Bậc
Tỷ-kheo thứ hai
Ðược
gọi thuyết con đường.
88.
Ai sống trên con đường,
Con
đường pháp khéo giảng,
Sống
chế ngự chánh niệm,
Bước
đường không lỗi lầm,
Tỷ-kheo
thứ ba này
Ðược
gọi sống trên đường.
89.
Ai sống ưa che đậy,
Dưới
hình thức giới cấm,
Xông
xáo, nhớp gia đình,
Bạt
mạng và man trá,
Không
chế ngự nhiếp phục,
Sống
lắm mồm lắm miệng.
Người
sở hành như vậy
Là
kẻ ô uế đạo.
90.
Vị cư sĩ thâm hiểu
Các
hạng người như vậy,
Thánh
đệ tử, nghe nhiều,
Có
trí tuệ thông hiểu,
Sau
khi rõ biết chúng,
Tất
cả là như vậy.
Thấy
vậy, vững lòng tin,
Không
có bị sút giảm
Làm
sao lại lẫn lộn,
Kẻ
ác với người thiện,
Làm
sao xem giống nhau,
Bậc
tịnh, kẻ không tịnh.
(VI)
Kinh Bại Vong (Paràbhava) (Sn 18)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông
Anàthapindika. Rồi một Thiên nhơn, sau khi đêm gần mãn, với
dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Ðứng một bên, Thiên nhân ấy bạch Thế Tôn với những bài
kệ:
Thiên
nhân:
91.
Về bại vong con người,
Con
hỏi Gotama,
Con
đến hỏi Thế Tôn,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
92.
Thật dễ hiểu thành công,
Thật
dễ hiểu bại vong,
Ưa
mến pháp, thành công,
Thù
ghét pháp bại vong.
Thiên
nhân:
93.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
nhất về bại vong,
Thứ
hai, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
94.
Ai mến kẻ bất thiện,
Không
ái luyến bậc thiện,
Thích
pháp kẻ bất thiện,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
95.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
hai về bại vong,
Thứ
ba, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
96.
Người tánh ưa thích ngủ,
Thích
hội chúng, thụ động,
Biếng
nhác, thường phẫn nộ,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
97.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
ba về bại vong.
Thứ
tư, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
98.
Ai với mẹ hay cha,
Già
yếu, tuổi trẻ hết,
Tuy
giàu không giúp đỡ,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
99.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
tư về bại vong.
Thứ
năm, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
100.
Ai nói dối lường gạt,
Sa-môn,
Bà-la-môn,
Hay
các khất sĩ khác,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
101.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
năm về bại vong.
Thứ
sáu, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
102.
Người giàu có tài sản,
Có
vàng bạc thực vật,
Hương
vị ngọt một mình,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
103.
Như vậy, chúng con rõ
Thứ
sáu về bại vong.
Thứ
bảy, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
104.
Người tự hào về sanh,
Về
tài sản dòng họ,
Khinh
miệt các bà con,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
105.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
bảy về bại vong,
Thứ
tám, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
106.
Người đắm say nữ nhân,
Ðắm
say rượu, cờ bạc,
Hoang
phí mọi lợi đắc,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
107.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
tám về bại vong.
Thứ
chín, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
108.
Không vừa đủ vợ mình,
Ðược
thấy giữa dâm nữ,
Ðược
thấy với vợ người,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
109.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
chín về bại vong.
Thứ
mười, mong Ngài nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
110.
Người tuổi trẻ đã qua,
Cưới
cô vợ vú tròn,
Ghen
nàng không ngủ được,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
111.
Như vậy, chúng con rõ,
Thứ
mười về bại vong.
Thứ
mười một, xin nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
112.
Ðàn bà, hay đàn ông,
Rượu
chè, tiêu hoang phí,
Ðược
địa vị quyền thế,
Chính
cửa vào bại vong.
Thiên
nhân:
113.
Như vậy, chúng con biết,
Thứ
mười một bại vong.
Thứ
mười hai, xin nói,
Cửa
vào của bại vong?
Thế
Tôn:
114.
Tài sản ít, ái lớn,
Sanh
gia đình hoàng tộc,
Ở
đây muốn trị vì,
Chính
cửa vào bại vong.
115.
Bại vong này ở đời,
Bậc
trí khéo quán sát,
Ðầy
đủ với chánh kiến,
Sống
hạnh phúc ở đời.
(VII)
Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam) (Sn 21)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi
để khất thực. Lúc bấy giờ, tại trú xứ của Bà-la-môn
Aggikabhàradvàja, lửa tế lễ được đốt cháy, đồ cúng
dường được dâng cao. Rồi Thế Tôn, trong khi thứ lớp khất
thực ở Sàvatthi, đi đến trú xứ của Bà-la-môn Aggibhàradvàja.
Bà-la-môn Aggibhàradvàja thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy
vậy bèn nói với Thế Tôn:
- Ở
đây kẻ trọc đầu, ở đây kẻ Sa-môn ti tiện, ở đây kẻ
bần tiện, hãy đứng lại.
Khi
được nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Aggibhàradvàja:
- Này
Bà-la-môn, Người có biết người bần tiện hay những pháp
tạo ra kẻ bần tiện không?
- Này
Tôn giả Gotama, tôi không biết kẻ bần tiện hay những pháp
tạo ra kẻ bần tiện. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết
pháp như thế nào cho tôi, để tôi được biết về kẻ bần
tiện hay các pháp tạo thành kẻ bần tiện.
- Vậy
này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa
vâng, Tôn giả!
Bà-la-môn
Aggibhàradvàja vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
116.
Người phẫn nộ, hiềm hận,
Ác
nhân, gièm pha người,
Ác
tà kiến, man trá,
Ðược
biết là bần tiện.
117.
Ai ở đây hại vật,
Một
sanh, hoặc hai sanh,
Không
thương xót hữu tình,
Ðược
biết là bần tiện. |