Phẩm III
Pàricchattaka
1.
(29) Chuyện thứ nhất -
Lâu
Ðài Huy Hoàng (Ulàra-Vimàna)
Bấy
giờ, bậc Ðạo Sư trú tại Ràjagaha, ở Trúc Lâm. Thời ấy
ở Ràjagaha trong một gia đình thường cúng dường Tôn giả
Mahà-Moggallàna có một thiếu nữ chuyên tâm bố thí và thích
thú bố thí.
Tại
nhà ấy, các loại thực phẩm cứng và mềm đều được làm
sẵn sàng trước buổi ngọ trai chính thức. Thời ấy, cô
gái kia thường đem bố thí nửa phần thức ăn mà nàng có
trong nhà. Nàng không ăn trừ khi đã bố thí xong.
Ngay
cả khi nàng không thấy một vị xứng đáng nhận phần cúng
dường, nàng cũng để dành một số thực phẩm cho đến khi
nàng gặp một vị như thế. Nàng cũng bố thí luôn cho đám
hành khất nữa.
Bấy
giờ mẹ nàng thường hân hoan hạnh phúc tự nhủ: 'Con gái
ta chuyên tâm bố thí và thích thú bố thí cúng dường'. Rồi
bà cho nàng phần ăn gấp đôi. Khi một phần ăn mà nàng nhận
đã được phân phát, bà mẹ lại cho nàng phần thứ hai. Nàng
cũng tiếp tục phân phát phần ấy.
Cứ
vậy với thời gian trôi qua, khi đến tuổi, cha mẹ nàng đem
gả nàng cho con trai một gia đình khác cũng ở trong thành phố
này. Song gia đình này có tà kiến, không mộ đạo.
Bấy
giờ, Tôn giả Mahà-Moggallàna đang lúc đi khất thực từng
nhà, dừng lại trước cửa nhà cha chồng của thiếu nữ kia.
Khi nàng thấy Tôn giả, lòng đầy thành tín, liền thưa:
- Bạch
Tôn giả, xin hãy vào đây.
Nàng
mời Tôn giả vào trong, cung kính đảnh lễ và cầm lấy chiếc
bánh đã được bà mẹ chồng để dành. Nhưng không thể tìm
ra bà, nàng tự nhủ: 'Ta sẽ kể với mẹ sau về việc này
và làm cho bà hân hoan vì thiện sự của ta', rồi nàng dâng
bánh lên Trưởng lão.
Vị
Trưởng lão nói lên tùy hỷ công đức và tiếp tục lên đường.
Còn cô gái thưa với mẹ chồng:
- Con
đã cúng dường Tôn giả Mahà-Moggallàna chiếc bánh mà mẹ
để dành.
Khi
nghe nàng nói vậy, bà mẹ chồng kêu lên:
- Con
này thật vô phép quá! Mày đã đem cho một Sa-môn đồ vật
của ta mà thậm chí cũng không xin phép nữa!
Rồi,
bà nói giọng lắp bắp vì bị cơn giận trấn áp và không
còn suy nghĩ phải trái, liền chụp cái chày gãy nện túi bụi
vào vai cô gái.
Cô
gái này thể chất mong manh yếu đuối và thọ mạng sắp chấm
dứt, nay bị thương tích trầm trọng gây đau đớn khốc liệt,
chỉ trong vòng vài ngày nàng qua đời và được tái sanh vào
cõi trời Ba mươi ba.
Mặc
dù nàng đã tạo được nhiều nghiệp lành, việc nàng đã
đặc biệt cúng dường Trưởng lão này vẫn là tối thắng
hơn cả.
Tôn
giả Mahà-Moggallàna du hành lên cõi trời như được tả ở
trên, liền hỏi nàng:
1.
Ðoàn tiên hộ tống thật huy hoàng,
Dung
sắc nàng làm sáng thập phương,
Ngọc
nữ múa đàn cùng hát xướng,
Tiên
đồng trang điểm biết bao chàng.
2.
Tiên chúng làm nàng hỷ lạc luôn,
Vây
quanh hầu cận thật vinh quang,
Ðây
Lâu đài của nàng vàng ánh,
Thiên
nữ, nàng trông đẹp rỡ ràng.
3.
Nàng là bà chủ đám tiên này,
Ðược
hưởng tràn trề lạc thú thay,
Ðầy
đủ oai thần, dòng quý tộc,
Hân
hoan giữa hội chúng như vầy,
Hỡi
nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Hãy
nói nghiệp gì tạo quả đây.
Khi
được Trưởng lão hỏi như vậy, Thiên nữ đáp:
4.
Khi được sinh ra giữa thế nhân,
Con
là người ở cõi phàm trần,
Ðã
làm dâu của gia đình nọ
Yếu
kém về đức hạnh bản thân.
5.
Giữa người keo kiệt , chẳng tâm thành,
Con
có lòng tin, đức hạnh lành,
Trong
lúc ngài đang đi khất thực,
Con
dâng chiếc bánh tự tay mình.
6.
Con đã trình thưa với mẹ chồng,
'Mới
đây vừa đến một Sa-môn,
Với
Ngài, con có lòng thành tín,
Ðem
bánh dâng bằng tay của con'.
7.
Bà mẹ chồng liền mắng nhiếc con:
'Con
dâu thiếu lễ giáo gia môn,
Mày
không muốn hỏi xin ta đấy,
Khi
muốn cho hành khất dọc đường!'.
8.
Rồi mẹ chồng con nổi giận đầy,
Ðánh
con túi bụi với cây chày,
Trúng
vai con đã làm thương tổn,
Con
chẳng sống thêm được mấy ngày.
9.
Lúc ấy con thân hoại mạng chung,
Tự
do, giải thoát cõi trần gian,
Tái
sanh hội chúng trời Ðao lợi,
Tam
thập tam thiên hỷ lạc tràn.
10.
Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và
con vinh hiển ở nơi đây,
Bất
kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu
chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
11.
Xin trình Tôn giả đại oan thần
Công
đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ
đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương.
2.
(30) Chuyện thứ hai -
Lâu
Ðài Do Cúng Mía (Ucchu-Vimàna)
Bấy
giờ, bậc Ðạo Sư trú tại Ràjagaha cũng giống như trong chuyện
trước. Song điểm khác ở đây là: nàng cúng dường khúc
mía, và bị đánh bằng cái ghế chết ngay lập tức và được
tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba.
Ngay
đêm ấy, nàng đến yết kiến bậc Trưởng lão, và giống
như mặt trăng, mặt trời, nàng làm cho Linh Thứu Sơn rực
sáng trong khoảnh khắc ấy. Ðảnh lễ Tôn giả xong, nàng đứng
sang một bên với dáng điệu cung kính. Sau đó Trưởng lão
hỏi nàng:
1.
Quả đất cùng chung các vị thần
Ðược
làm rạng rỡ thật vinh quang,
Như
vầng nhật nguyệt, nàng soi sáng
Với
ánh huy hoàng, vẻ mỹ quan,
Như
Phạm Thiên siêu quần bạt chúng
Giữa
Trời Ðao lợi với Thiên Hoàng.
2.
Hỡi nàng mang các chuỗi thanh liên,
Cùng
chuỗi bảo châu ở trán trên,
Da
tựa vàng ròng, trang điểm đẹp,
Xiêm
y tuyệt mỹ của thần tiên,
Nàng
là ai đó, này Thiên nữ,
Ðảnh
lễ ta rồi đứng một bên?
3.
Nghiệp gì nàng đã tạo trên đời,
Kiếp
trước sinh ra ở cõi người?
Bố
thí vẹn toàn hay giữ giới?
Nhờ
đâu vinh hiển, được lên trời?
Hỡi
nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Nghiệp
quả gì đây, hãy trả lời.
Khi
được Trưởng lão hỏi vậy, nàng Thiên nữ giải thích:
4.
Mới đây, Tôn giả, chính trong làng,
Khất
thực, đến nhà của chúng con,
Con
cúng dường ngài cây mía nhỏ
Với
lòng thành tín, nhiệt tâm tràn.
5.
Sau đó mẹ chồng mắng chửi con:
'Mày
quăng khúc mía ở đâu chăng?'
-
Con không quăng cũng không ăn mía,
Con
cúng Sa-môn đạt tịnh an.
6.
'Quyền của ta đây hoặc của mày?'
Mẹ
chồng nói vậy, chửi con ngay,
Bà
cầm chiếc ghế quăng con ngã,
Vong
mạng, con thành Thiên nữ đây.
7.
Ðó là thiện nghiệp trước con làm,
Phước
quả này con hưởng vẹn toàn,
Thiên
chúng cùng con vui thỏa thích
Năm
nguồn dục lạc tạo hân hoan.
8.
Ðó là thiện nghiệp trước con làm,
Phước
quả này con hưởng vẹn toàn,
Thiên
chủ cùng chư Thiên bảo hộ,
Ban
cho dục lạc đủ năm nguồn.
9.
Phước quả này không phải nhỏ nhoi,
Cúng
dường mía kết quả cao vời,
Nay
con hưởng lạc cùng Thiên chúng,
Tìm
thú vui năm dục cõi trời.
10.
Phước quả này không phải nhỏ nhen,
Cúng
dường khúc mía với lòng tin
Tạo
thành kết quả đầy vinh hiển,
Ðược
hộ phò trong Hỷ lạc Viên,
Tam
thập tam thiên nhờ Ðế Thích,
Như
ngài ngàn mắt trú bình yên.
11.
Tôn giả, hiền nhân thương xót con,
Ðến
gần, con hỏi có khang an,
Rồi
con dâng cúng ngài cây mía
Với
tín tâm và hỷ lạc tràn.
3.
(31) Chuyện thứ ba -
Lâu
Ðài Có Chiếc Trường Kỷ (Pallanka-Vimàna)
Bấy
giờ, bậc Ðạo Sư trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy
tại thành Sàvatthi, có con gái của một đệ tử tại gia được
kết hôn với một nam tử của một gia đình khác cùng gia
thế và hoàn cảnh tương tự trong thành ấy.
Nằng
có bản tánh tốt đẹp, giữ giới hạnh toàn vẹn, tôn trọng
chồng, hành trì Ngũ giới và đúng các ngày Bố-tát, nàng
giữ Bát quan trai giới. Sau đó từ trần, nàng tái sanh vào
cõi trời Ba mươi ba.
Tôn
giả Trưởng lão Mahà-Moggallàna du hành lên cõi thiên như (đã
được tả trên) và hỏi nàng:
1.
Trên bảo tọa tô điểm ngọc vàng,
Trăm
hoa rải rắc, đẹp huy hoàng,
Trú
kia, Thiên nữ oai nghi quá,
Biến
hóa hình dung với lực thần.
2.
Ðàn tiên này hộ tống quanh nàng,
Nhảy
múa hát ca, tạo lạc an,
Nàng
đắc thần thông Thiên chúng ấy,
Nay
là Thiên nữ đại vinh quang,
Xưa
làm người ở trong trần thế,
Nàng
tạo nên công đức gì chăng?
Uy
lực nàng vì sao rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương?
Thiên
nữ giải thích cho Tôn giả qua các vần kệ này:
3.
Khi được làm người giữa thế nhân,
Con
là dâu quý tộc giàu sang,
Vâng
lời chồng bảo, không hờn giận,
Và
giữ ngày trai giới nhiệt tâm.
4.
Kiếp xưa con đã được làm người,
Lòng
dạ thơ ngây, thuở thiếu thời,
Làm
đẹp ý chồng, tâm tín cẩn,
Ngày
đêm phụng sự để vui đời.
5.
Ngày xưa, giữ đạo lý luân thường,
Không
sát sanh, tà dục, ác gian,
Không
uống rượu nồng, không nói láo,
Con
hoàn thành giới luật chu toàn.
6.
Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Và
các ngày mồng tám, sáng trăng,
Ðặc
biệt là ngày trong nửa tháng
Liên
quan Bố-tát giới tu thân,
Lòng
thành, trì Bát quan trai giới
Theo
đúng pháp hành với nhiệt tâm.
7.
Hành trì Thánh thiện pháp liên quan
Tám
giới trang nghiêm, quả lạc an,
Tuân
phục phu quân, và khả ái,
Con
là đệ tử Phật Cồ-đàm.
8.
Hành thiện pháp xưa ở giữa đời,
Dự
phần ưu thắng vượt hơn người,
Ðến
khi thân hoại, con thành đạt
Thần
lực chư Thiên, đến cõi trời.
9.
Trong Lâu đài lạc thú, vinh quang,
Ðược
cả quần tiên hộ tống luôn,
Thiên
nữ một đoàn đem hỷ lạc
Cho
con trường thọ ở thiên đường.
4.
(32) Chuyện thứ tư -
Lâu
Ðài Của Latà (Latà-Vimàna)
Bấy
giờ, bậc Ðạo Sư trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy
có một cô gái tên Latà, con của một đệ tử cư sĩ sống
ở Sàvatthi, một thiếu nữ có học thức, nhiều tài năng
và thông minh, về nhà chồng. Nàng rất khả ái đối với
chồng, cha mẹ chồng, nói năng dịu dàng, nhân từ đối với
gia nhân, có khả năng đảm đương công việc gia đình, tánh
tình hiền thiện, thực hành giới hạnh hoàn hảo, thích thú
bố thí, nàng lại tinh cần giữ Ngũ giới trọn vẹn và tuân
thủ các ngày Bát quan trai giới.
Sau
một thời gian nàng từ trần, và tái sanh làm con gái của
Ðại Thiên Vương Vessavana (Tỳ-sa-môn). Song nàng vẫn có tên
là Latà. Ngoài ra còn có bốn chị em khác là Sajjà, Pavarà,
Acchimatì và Sutà.
Tất
cả năm chị em đều được Sakka Thiên chủ bảo dưỡng và
đưa vào vị trí thị giả của ngài nhờ khả năng ca múa.
Song Latà được sủng ái nhất vì tài đàn hát múa của nàng.
Khi nào các nàng hội họp, đều có tranh luận về tài năng
âm nhạc. Cả năm đều đi đến Ðại Thiên vương Vessavana
và hỏi:
- Tân
phụ vương, ai trong chúng con có tài nhất về đàn hát múa
ca?
Ngài
đáp:
- Này
các con, hãy đến chơi nhạc ở hội chúng chư Thiên bên bờ
hồ Anottata. Tại đó, tài năng đặc biệt của các con sẽ
thể hiện.
Các
nàng làm theo lời ngài. Tại đó các tiên đồng không thể
nào tự kiềm chế được khi Latà nhảy múa. Chư vị cười
rộ lên vì tràn ngập kỳ thú, hoan nghênh không ngớt và vẫy
khăn liên tục, chư vị gây huyên náo đến độ làm cho núi
Tuyết Sơn như thể đang rung động.
Nhưng
khi các nàng khác nhảy múa thì chư vị ngồi yên lặng như
sơn ca mùa đông. Như vậy tại đại hội ấy, tài năng đặc
biệt của Latà đã thể hiện rõ ràng.
Sau
đó tư tưởng này khởi lên trong tâm Thiên nữ Sutà: 'Vì hạnh
nghiệp gì nàng Latà này đã vượt trội chúng ta về vinh quang
hiển đạt? Nào, ta muốn hỏi về hạnh nghiệp Latà đã làm'.
Nàng đến hỏi và nàng kia giải thích vấn đề cho nàng rõ.
Ðại
vương Vessavana bèn trình toàn thể câu chuyện với Tôn giả
Mahà-Moggallàna nhân dịp Tôn giả du hành lên thiên giới. Khi
trình bày vấn đề lên đức Thế Tôn từ duyên cớ đầu
tiên của câu chuyện, Tôn giả nói về các nàng Latà, Sajjà,
Pavatà, Acchimatì và Sutà như sau:
1.
Năm nàng đây chính các tiên nương,
Con
gái Tỳ-sa-môn Ðại vương,
Thiên
đế huy hoàng, cao cả ấy,
Sáng
ngời đức tính, tỏa hào quang.
2.
Năm nàng Thiên nữ đến bên dòng,
Phủ
kín hoa sen, tắm mát xong,
Khi
đã đùa chơi, cùng múa hát,
Su-tà
lại hỏi La-tà rằng:
3.
Hỡi nàng mang các chuỗi sen xanh,
Và
chuỗi bảo châu ở trán mình,
Da
tựa vàng ròng, đen nháy mắt,
Sáng
ngời như thể sắc thiên thanh,
Cuộc
đời nàng lại thêm trường thọ,
Vì
cớ sao nàng được nổi danh?
4.
Thiên chủ quý yêu bạn nhất đoàn,
Hoàn
toàn khả ái vẻ dung nhan,
Bạn
tài giỏi múa ca đàn hát,
Và
được quần tiên đến hỏi han.
Sau
khi Sutà hỏi, Latà liền đáp:
5.
Khi được làm người giữa thế nhân,
Em
là dâu quý tộc giàu sang,
Tuân
lời chồng bảo, không hờn giận,
Luôn
giữ ngày trai giới nhiệt tâm.
6.
Thuở em là một kẻ phàm nhân,
Em
đã làm vui đẹp ý chồng,
Cha
mẹ, em chồng, người giúp việc,
Cho
nên được tiếng tốt vang lừng.
7.
Do hoàn thành thiện nghiệp xưa kia,
Em
xuất chúng luôn cả tứ bề:
Thọ
mạng, dung quang và hạnh phúc,
Khang
an, hưởng lạc thú tràn trề.
8.
Các nàng nghe chuyện La-tà chăng?
Nàng
giải đáp lời ta hỏi thăm:
Các
đức phu quân là thiện thú
Tối
cao cho cả đám hồng quần.
9.
Tất cả chúng ta trong Pháp chân,
Hãy
chăm lo phục vụ phu quân,
Nơi
đâu những kẻ là trinh phụ
Theo
Ðạo pháp này phải tận tâm
Thực
hiện những điều La-tà nói,
Chúng
ta sẽ hưởng được thiên ân.
10.
Sư tử lang thang khắp núi rừng,
Trú
trong hang đá, chốn nương thân,
Giết
tan các vật nào hèn yếu,
Vì
nó ăn loài thú bốn chân.
11.
Vậy tín nữ theo các Thánh nhân,
Lòng
thành, nương tựa đức phu quân,
Với
chồng, giữ trọn niềm trinh tiết,
Tiêu
diệt xan tham, thắng hận sân,
Người
ấy thực hành theo Chánh pháp,
Ðời
sau thọ hưởng cảnh thiên đàng.
5.
(33) Chuyện thứ năm -
Lâu
Ðài Của Guttila (Guttila-Vimàna)
Trong
lúc đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, Tôn giả Mahà-Moggallàna
du hành lên thiên giới, như đã kể ở trên, đến cõi trời
Ba mươi ba. Ở đó trong ba mươi sáu Lâu đài liên tiếp, Tôn
giả thấy ba mươi sáu Thiên nữ hưởng thọ thiên lạc vinh
quang với một đoàn tùy tùng gồm cả ngàn tiên nữ, và Tôn
giả lần lượt hỏi, bắt đầu với vần kệ. 'Nàng Thiên
nữ sắc đẹp siêu phàm' về các thiện nghiệp được các
nàng thành tựu.
Sau
khi Tôn giả hỏi, các Thiên nữ đáp lời với các vần kệ,
mà vần đầu tiên là:
Con
đã dâng y đẹp tuyệt trần...
Sau
đó Tôn giả về nhân thế, trình câu chuyện lên đức Thế
Tôn. Khi nghe chuyện, đức Thế Tôn nói:
- Này
Moggallàna, không phải các Thiên nữ chỉ được ông hỏi và
đáp lời như vậy mà thôi, nhưng xưa kia, hội chúng ấy cũng
được Ta hỏi và trả lời như vậy.
Rồi
vị Trưởng lão thỉnh cầu, Ngài kể lại cuộc đời Guttila,
một chuyện Tiền thân của Ngài. (Xem chuyện "Tiền thân đức
Phật", quyển II số 243, Guttila Jàtaka).
1.
Thất huyền cầm ấy thật du dương,
Ta
phải đàn êm ái lạ thường,
Ðệ
tử mời ta ra nhảy múa,
Ko-si-ya,
hãy giúp ta cùng.
2.
- Ta là nơi chốn bạn nương nhờ,
Ta
vẫn thường tôn trọng giáo sư,
Ðệ
tử sẽ không sao thắng bạn,
Giáo
sư này sẽ thắng môn đồ.
Tương
truyền rằng ba mươi sáu Thiên nữ ấy đã sinh làm người
vào thời đức Phật Kassapa (Ca-diếp cổ Phật trước đức
Gotama), và đã thực hành các công đức thiện sự như vầy;
một người dâng y, một người dâng hương, một người dâng
trái cây tuyệt hảo, một người dâng nước mía, một người
in dấu năm ngón tay có tẩm hương tại Tháp của đức Thế
Tôn, một người hành trì ngày trai giới, một người dâng
nước lên một Sa-môn lúc ấy đang thọ thực vào giờ ngọ
trai, một người vô sân phục vụ cha mẹ chồng cáu kỉnh,
một nữ tỳ tận trung chuyên cần, một người dâng cháo sữa
lên một Sa-môn đang khất thực, một người dâng mật mía,
một người dâng khúc mía, một người dâng quả timbaru, một
người dâng dưa hấu, một người dâng dưa bở, một người
dâng dưa leo, một người dâng hoa phàrusaka, một người dâng
lò than nhỏ bằng đất (để sưởi), một người dâng bó
củ sen, một người dâng một nắm lá thuốc, một người
dâng tương chua, một người dâng bánh mè, một người dâng
dây thắt lưng, một người dâng dây treo ở vai, một người
dâng tấm vải buộc vết thương, một người dâng quạt, một
người dâng quạt lá kè, một người dâng dụng cụ đuổi
ruồi bằng lông chim công, một người dâng dù che nắng, một
người dâng mứt, một người dâng bánh ngọt.
Tất
cả vị này được tái sanh cùng đoàn tùy tùng gồm cả ngàn
tiên nữ để làm thị nữ của Sakka Thiên chủ. Khi được
Guttila, giáo sư âm nhạc, hỏi thăm, mỗi vị lần lượt giải
thích các thiện nghiệp đã làm, bắt đầu với vần kệ:
'Tín nữ dâng y đẹp tuyệt trần' v.v....
3.
Nàng Thiên nữ sắc đẹp siêu phàm
Ðang
chiếu mười phương với ánh quang,
Nàng
đứng, toàn thân đều tỏa sáng
Như
vì sao cứu hộ trần gian.
4.
Vì sao nàng được sắc như vầy,
Vì
cớ gì nàng vinh hiển đây,
Những
lạc thú nào nàng mến chuộng
Trong
tâm, đều xuất hiện ra ngay?
5.
Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương?
6.
Nàng Thiên nữ ấy hỷ tâm tràn,
Ðược
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Bèn
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây là kết quả cho nàng.
7.
Tín nữ dâng y đẹp tuyệt trần,
Là
người vinh hiển giữa nhân quần,
Người
nào dâng các y như thế
Sẽ
đạt thiên cung đẹp thỏa lòng.
8.
Hãy ngắm Lâu đài đây của con,
Là
Thiên nữ, con biến hóa khôn lường,
Vinh
quang nhất giữa đàn tiên nữ,
Hãy
ngắm quả thành tựu phước ân.
9.
Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và
con vinh hiển ở nơi đây,
Bất
kỳ lạc thú nào ưa chuộng
Trong
dạ, tức thì xuất hiện ngay.
10.
Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công
đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ
đấy oai nghi con rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương.
Giống
như Lâu đài này của người dâng y, bốn Lâu đài kế tiếp
cũng được triển khai như vậy: Các vần kệ thứ 3 đến
thứ 10 được lập lại bốn lần với các điểm thay đổi
sau:
1.
Tín nữ dâng hoa đẹp tuyệt trần, ...
2.
Tín nữ dâng hương ngát tuyệt trần, ...
3.
Tín nữ cúng dâng quả tuyệt trần, ...
4.
Tín nữ dâng cam lộ tuyệt trần, ...
18.
Con đã in hình năm ngón tay,
Tẩm
hương lên bảo Tháp thờ Ngài
Thế
Tôn Ca-diếp thời sơ cổ,....
....
Giống
như Lâu đài người in dấu năm ngón tay tẩm hương, bốn Lâu
đài kế tiếp cũng được triển khai như vậy, và lập lại
các vần kệ từ 8 đến 10, nhưng có các biến đổi sau đây
thay thế vần kệ 18:
19.
Con thấy Tăng Ni ở dọc đường,
Khi
con nghe pháp của chư Tôn,
Con
tuân thủ một ngày trai giới,
...
20.
Khi đứng trên dòng với tín tâm,
Con
dâng cúng nước một Sa-môn,
...
21.
Xưa con hầu hạ mẹ cha chồng
Cáu
kỉnh, gắt gay lại cộc cằn,
Con
chẳng hận sân hay oán ghét,
Giữ
gìn giới đức thật chuyên tâm.
22.
Con là người phục dịch tha nhân,
Nô
lệ chuyên cần việc bản thân,
Con
chẳng hận sân hay ngã mạn,
Con
là người đã được chia phần.
23.
Khi đã hoàn thành sự nghiệp xong,
Tái
sanh thiện thú, được hân hoan,
...
24.
Con dâng cháo sữa một Sa-môn
Ðang
bước đi cầu thực giữa đường,
Hãy
ngắm Lâu đài con được hưởng....
...
Giống
như Lâu đài của người cúng cháo sữa, hai mươi lăm Lâu
đài khác cũng phải được khai triển như vậy:
25.
Con dâng mật mía....
26.
Con dâng khúc mía nhỏ...
27.
Con dâng quả timbaru...
28.
Con dâng dưa hấu...
29.
Con dâng dưa bở....
30.
Con dâng dưa leo....
31.
Con dâng hoa phàrusaka....
32.
Con dâng lò sưởi tay...
33.
Con dâng một nắm rau xanh....
34.
Con dâng một bó hoa nhỏ...
35.
Con dâng một bó củ sen...
36.
Con dâng một nắm lá thuốc...
37.
Con dâng cháo xoài...
38.
Con dâng bánh mè...
39.
Con dâng dây thắt lưng..
40.
Con dâng dây treo ở vai...
41.
Con dâng tấm vải buộc vết thương...
42.
Con dâng cây quạt...
43.
Con dâng cây quạt lá kè...
44.
Con dâng dụng cụ đuổi ruồi bằng lông công...
45.
Con dâng cây dù che nắng...
46.
Con dâng đôi dép...
47.
Con dâng bánh dẻo...
48.
Con dâng mứt kẹo...
49.
Con dâng bánh ngọt lên một Sa-môn đi khất thực....
50.
Hãy ngắm Lâu đài đây của con,
Là
Thiên nữ con biến hóa khôn lường,
Vinh
quang nhất giữa đàn tiên nữ,
Hãy
ngắm quả thành tựu phước ân.
51.
Vì thế sắc con đẹp thế này,
Và
con vinh hiển ở nơi đây,
Bất
kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu
chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
52.
Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công
đức con làm giữa thế nhân,
Vì
thế oai nghi con rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương.
53.
Lành thay ta đã đến hôm nay,
Hạnh
phúc bừng lên, rạng rỡ ngày,
Vì
được thấy đàn Thiên nữ ấy
Thay
hình đổi dạng thỏa lòng đây.
54.
Ðã nghe thiện pháp các nàng tiên,
Ta
quyết thực hành lắm phước duyên:
Bố
thí, tinh cần, thân chế ngự,
Ta
nguyền đến cảnh chẳng ưu phiền.
6.
(34) Chuyện thứ sáu -
Lâu
Ðài Rực Rỡ (Daddalha-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi ở Kỳ Viên. Thời ấy
trong một làng nhỏ của thị trấn Nàlaka có một người khá
giả, tình nguyện phụng sự Tôn giả Trưởng lão Revata (Ly-bà-la).
Người ấy được hai con gái: một nàng tên Bhaddà, nàng kia
là Subhaddà.
Bhaddà
về nhà chồng, đầy đủ tín tâm và thông tuệ, nhưng nàng
lại không sinh con. Nàng bèn nói với chồng:
- Thiếp
có một em gái tên Subhaddà, hãy cưới em gái thiếp. Nếu em
thiếp sanh con trai, nó cũng là con của thiếp và dòng dõi này
không bị tuyệt tự.
Chồng
bảo nàng:
- Ðược
lắm.
Và
chàng làm theo đề nghị của vợ.
Bấy
giờ Bhaddà khuyên nhủ Subhaddà:
- Này
em, hãy thích thú bố thí, và tinh cần sống theo chánh hạnh,
như vậy sẽ có nhiều lợi lạc cho em trong đời hiện tiền
này và đời sau.
Một
hôm, Subhaddà theo lời khuyên của chị và làm theo điều nàng
bảo, thỉnh cầu Tôn giả Revatà đến thọ thực cùng bảy
vị khác. Chư vị đến nhà nàng. Ðầy đủ tín tâm, nàng
tự tay phục vụ chư vị và thiết đãi Tôn giả Revatà cùng
chư Tỷ-kheo các món cao lương mỹ vị đủ loại cứng và
mềm. Vị Trưởng lão nói lời tùy hỷ công đức rồi ra đi.
Về
sau, Subhaddà từ trần và tái sanh vào hội chúng Hóa Lạc thiên.
Còn Bhaddà, trước kia chỉ cúng dường cho các cá nhân riêng
lẻ, nên được tái sanh làm thị nữ của Sakka Thiên chủ.
Bấy
giờ Subhaddà, nhân lúc suy nghĩ lại thành quả của chính mình,tự
hỏi: 'Vì công đức nào mà nay ta đã hóa sinh tại đây?'.
Và nhận ra chính nàng đạt được cảnh giới này do cúng
dường Tăng chúng theo lời khuyên của Bhaddà. Rồi trong lúc
nàng hỏi: 'Thế Bhaddà nay ở đâu?', nàng thấy chị nàng đã
tái sanh làm thị nữ của Sakka, và do lòng thương tưởng chị
kiếp trước, nàng bước vào Lâu đài của chị. Lúc ấy Bhaddà
hỏi nàng:
1.
Chói lọi dung nhan đẹp rỡ ràng,
Hỡi
nàng Thiên nữ đại vinh quang,
Sáng
ngời vượt hẳn bao Thiên nữ
Tam
thập tam thiên giới vẻ vang.
2.
Ta chẳng nhớ ta đã gặp nàng,
Ðây
lần đầu diện kiến dung nhan,
Từ
Thiên chúng cõi nào đi đến,
Và
gọi tên ta thật rõ ràng?
Nàng
ngâm hai vần kệ giải thích:
3.
Bhad-dà, em chính Su-bhad-dà,
Khi
ở cõi người một kiếp xưa,
Em
lấy chồng chung cùng chị đó,
Em
là tiểu muội chị đây mà.
4.
Ðến lúc em thân hoại mạng chung,
Tự
do giải thoát cõi hồng trần,
Về
sau cộng trú cùng Thiên chúng
Hóa
Lạc thiên vui thú tột cùng.
Bhaddà
lại hỏi nàng:
5.
Những người làm thiện nghiệp an lành
Ði
đến cõi trời để tái sanh,
Em
được sanh cùng Thiên chúng ấy,
Su-bhad-dà
phát biểu phân minh.
6.
Nhưng làm sao có pháp môn nào
Em
được người nào dạy ở đâu,
Bố
thí cách nào hành thiện sự
Làm
em sáng chói giữa trời cao?
7.
Ðã đạt đến danh vọng lẫy lừng,
Vinh
quang xuất chúng, hưởng thiên ân,
Khi
nàng Thiên nữ nghe lời hỏi,
Quả
ấy nghiệp gì, hãy giải phân.
Subhaddà
đáp:
8.
Cúng dường vừa đúng tám phần ăn,
Kiếp
trước tự tay em hiến dâng,
Ðầy
đủ tín tâm đem bố thí
Chúng
Tỳ-kheo xứng đáng chia phần.
9.
Vì thế sắc em đẹp thế này,
Và
em vinh hiển ở nơi đây,
Bất
kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu
chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
10.
Xin trình Thiên nữ đại oai thần
Công
đức em làm giữa thế nhân,
Vì
thế oai nghi em rực rỡ,
Dung
quang chiếu sáng khắp mười phương.
Sau
đó Bhaddà hỏi nàng:
11.
Với tự tay mình, đủ tín tâm
Chị
đem nhiều thực phẩm cung dâng
Sa-môn,
Phạm hạnh, thân điều phục,
Hơn
cả em ngày trước đã làm.
12.
Sau khi đã bố thí nhiều hơn,
Chị
đến với Thiên chúng hạ tầng,
Sao
em cúng ít hơn thời ấy,
Lại
được vinh quang thật lẫy lừng?
Thiên
nữ, khi em vừa được hỏi,
Nghiệp
gì quả ấy, hãy phân trần.
Subhaddà
lại nói:
13.
Xưa em gặp một vị tu hành,
Là
bậc thầy làm khởi tín thành,
Em
thỉnh cầu ngài về thọ thực,
Ly-bà-la,
với bảy đồng hành.
14.
Ngài chú tâm làm lợi hữu tình,
Vì
lòng lân mẫn đối quần sanh,
Dạy
em: 'Bố thí lên Tăng chúng',
Vì
vậy em y giáo phụng hành.
15.
Lễ vật cúng dường lên chúng Tăng
Trú
an trong quả lớn vô ngần,
Chị
đem bố thí từng người một
Chẳng
được hưởng nhiều quả phước ân.
Khi
Subhadda đã nói như vậy, Bhaddà chấp nhận ý nghĩa trên và
ước mong đời sau sẽ nhiệt tình noi gương em nàng, bèn ngâm
kệ:
16.
Nay biết cúng dường lên chúng Tăng
Ðược
nhiều phước quả lớn vô ngần,
Khi
nào trở lại làm người nữa,
Chị
sẽ chuyên tâm việc cúng dường
Lên
chúng Tỷ-kheo nhiều mãi mãi,
Lòng
đầy hào phóng, chẳng xan tham.
Rồi
Subhaddà trở lại thiên giới của nàng. Sau đó, khi Sakka Thiên
chủ thấy Thiên nữ ấy sáng chói nhờ hào quang của sắc
thân nàng vượt trội hơn hẳn Thiên chúng cõi trời Ba mươi
ba, và đã nghe câu chuyện giữa hai nàng, nên ngay sau khi Subhaddà
biến mất, ngài không biết nàng là ai, bèn hỏi Bhaddà:
17.
Ai là Thiên nữ, hỡi Bhad-dà,
Trò
chuyện cùng nàng thật nết na,
Nàng
ấy vượt lên về mỹ sắc
Mọi
Thiên thần cõi Ba mươi ba?
Nàng
tâu trình Thiên chủ:
18.
Tâu ngài Thiên chủ, ở phàm trần,
Kiếp
trước sinh làm một nữ nhân,
Nàng
đã cùng con làm tỷ muội,
Chúng
con thời ấy lấy chung chồng,
Bởi
vì nàng cúng dường Tăng chúng,
Nay
sáng ngời lên với phước ân.
Sau
đó Sakka Thiên chủ thuyết pháp, nêu rõ thành quả vĩ đại
của lễ vật đáng tuyên dương mà nàng đã cúng dường Tăng
chúng:
19.
Ngày xưa Thiên nữ ấy em nàng,
Nhờ
thiện pháp, nay chiếu ánh quang,
Nàng
đã cúng dường lên Thánh chúng,
Trú
an trong quả lớn vô lường.
20.
Trước kia trên đỉnh Thứu Linh Sơn,
Ta
hỏi Phật-đà, đức Thế Tôn,
Về
sự kết thành do bố thí,
Nơi
nào đem quả lớn khôn lường.
21.
Ðối với phàm nhân chúng hữu tình
Cúng
dường mong phước đức phần mình,
Nơi
nào bố thí nhiều thành quả
Mang
lại cho người lúc tái sanh?
22.
Phật-đà trước đã hiểu tinh tường
Nghiệp
quả tạo nên bởi cúng dường,
Bố
thí nơi nào đem quả lớn,
Nên
Ngài giảng giải với ta rằng:
23.
Bốn người đang tiến bước lên đường,
Và
bốn người đắc quả trú an,
Tăng
chúng chánh chân và chú trọng
Thực
hành Giới, Ðịnh, Tuệ tinh cần.
24.
Ðối với phàm nhân, chúng hữu tình
Cúng
dường mong phước đức cho mình,
Dâng
nhiều lễ vật lên Tăng chúng
Ðem
quả lớn về lúc tái sanh.
25.
Vì Tăng chúng rộng lớn mênh mang,
Sâu
thẳm không lường giống đại dương,
Ðệ
tử bậc Anh hùng dưới thế
Là
người tối thắng giữa phàm nhân,
Nơi
nào Tăng chúng đi truyền pháp,
Chư
vị đều mang đến ánh quang.
26.
Những người đem lễ cúng chư Tăng,
Lễ
vật cúng dường thật chánh chân,
Bố
thí, hiến dâng theo Chánh pháp,
Lễ
kia mang quả lớn vô cùng,
Cúng
dường lễ vật lên Tăng chúng
Ðược
các Phật-đà tán thán luôn.
27.
Tích đức này đây chính phước điền,
Những
người kia tiến bước đi lên
Giữa
đời, tâm ngập tràn hoan hỷ,
Khi
đã diệt ô nhiễm thấp hèn
Của
thói xan tham cho tận gốc,
Không
còn lầm lỗi, sẽ sanh Thiên.
Sakka
Thiên chủ kể toàn chuyện này với Tôn giả Mahà-Moggallàna,
Tôn giả lại trình lên Thế Tôn. Ngài lấy đó làm một dịp
thuyết pháp.
7.
(35) Chuyện thứ bảy -
Lâu
Ðài Của Sesavati (Sesavati-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Thời ấy
trong làng Nàlaka nước Ma-kiệt-đà (Magadha) có một nàng dâu
trong nhà một gia chủ giàu tiền của.
Chuyện
kể rằng nhiều kiếp trước, khi ngôi kim Tháp rộng một do-tuần
đang được xây để thờ đức Thế Tôn Kassapa, nàng còn là
một thiếu nữ cùng đi với mẹ đến khuôn viên của đền
thờ này và hỏi mẹ:
- Mẹ
ơi, các người này đang làm gì thế?
- Họ
đang đúc gạch bằng vàng để xây tháp.
Khi
nghe vậy, cô gái có tín tâm liền bảo mẹ:
- Mẹ
ơi, ở cổ con có món nữ trang nhỏ này bằng vàng. Con muốn
đem nó tặng vào ngôi bảo Tháp.
- Thế
thì tốt lắm, con hãy đem cúng nó đi.
Rồi
tháo món nữ trang từ cổ con gái ra trao tận tay người thợ
vàng, bà bảo:
- Ðây
là phần đóng góp của con bé này. Hãy thêm nó vào viên gạch
ông đang đúc nhé.
Người
thợ vàng làm theo lời ấy.
Về
sau cô gái từ trần và do công đức đặc biệt kia, được
tái sanh vào thiên giới, rồi lần lượt đi từ thiện thú
này đến thiện thú khác; vào thời đức Thế Tôn Gotama, nàng
tái sanh ở làng Nàlaka.
Một
hôm nàng được mẹ sai đi làm việc cho bà, nàng đem một
ít tiền đến một tiệm mua dầu. Trong tiệm này có một gia
chủ đang đào đất để lấy một số lớn đồng tiền, vàng,
ngọc trai, châu báu đủ loại đã được cha chôn giấu để
dành từ xưa. Người chủ tiệm thấy rằng vì nghiệp quả
của mình, chúng đã biến thành sỏi đá. Sau đó vị ấy chất
thành một đống, cất vào một nơi để quan sát chúng vừa
tự bảo: 'Do năng lực của những người đầy đủ công đức,
chúng sẽ trở thành vàng bạc, đồng tiền như xưa'.
Bấy
giờ cô gái thấy vậy bèn hỏi:
- Sao
các đồng tiền kahàpana và châu báu được chất đống thế
này? Hiển nhiên chúng cần phải được cất giữ đúng đắn
mới phải.
Người
chủ tiệm nghe vậy tự nghĩ: 'Cô gái này có đại phước
đức. Nhờ cô này tất cả của cải này sẽ biến thành vàng
bạc cả, và sẽ có giá trị cho ta. Ta sẽ đối xử với cô
ấy thật ân cần tử tế'.
Ông
liền đến gặp mẹ nàng và xin cầu hôn nàng:
- Xin
hãy gả con gái bà cho con trai tôi.
Ông
trao tặng nàng một số tài sản lớn, tổ chức lễ cưới
linh đình và rước cô gái về nhà mình.
Sau
đó, nhận thấy rõ đức hạnh của nàng, ông mở kho gia bảo
ra và nói:
- Con
thấy cái gì đây?
Nàng
đáp:
- Con
chẳng thấy gì ngoài một đống tiền, vàng, và châu báu.
Ông
lại bảo:
- Các
châu báu này đã biến mất vì kết quả các nghiệp ác của
nhà ta, nay nhờ các nghiệp ưu thắng của con, chúng đã trở
thành bảo vật. Vậy từ nay chỉ mình con trong nhà này được
cai quản mọi sự. Còn chúng ta sẽ chỉ dùng những thứ gì
do con định đoạt.
Từ
đó mọi người biết nàng qua danh hiệu Sesavati (Nữ phú gia).
Vào
thời ấy Tôn giả Tướng quân Chánh pháp Sàriputta biết các
hành nghiệp của đời mình đã chấm dứt, bèn suy nghĩ: 'Ta
sẽ trao bảo vật cho mẹ ta, nữ nhân Bà-la-môn Rùpasari, để
làm nơi nương tựa cho bà, rồi ta sẽ đắc Niết-bàn vô dư
y'.
Tôn
giả liền đến gần đức Thế Tôn, thông báo cho Ngài biết
Niết-bàn vô dư y của mình sắp đến, và theo lệnh của bậc
Ðạo Sư, Tôn giả thị hiện một phép đại thần thông, rồi
nói hàng ngàn lời tán thán đức Thế Tôn và khởi hành; mặt
vừa hướng thẳng về phía Thế Tôn, vừa lùi dần cho đến
khi khuất dạng Ngài.
Khi
đã ra đi khuất dạng, Tôn giả còn đảnh lễ Ngài một lần
nữa, rồi được chúng Tỷ-kheo vây quanh, Tôn giả rời tinh
xá. Tôn giả đưa huấn thị cho Tăng chúng xong, lại an ủi
Tôn giả Ananda, và bảo tứ chúng quay về sau khi tiễn đưa
Tôn giả. Vừa đúng lúc đến làng Nalaka, an trú mẫu thân
Tôn giả vào quả vị Dự Lưu. vào lúc rạng đông, Tôn giả
đắc Niết-bàn vô dư y ngay ở trong căn phòng mà Tôn giả
đã được sinh ra. Sau đó cả chư Thiên và loài Người cùng
làm lễ cung kính cúng dường di hài Tôn giả suốt bảy ngày.
Họ làm dàn hỏa thiêu cao một trăm cubit (45m) với đủ loại
chiên-đàn và hương liệu.
Nàng
Sesavati cũng nghe tin về Niết-bàn vô dư y của Tôn giả. Nàng
bảo: 'Ta sẽ đi đảnh lễ ngài', và dặn gia nhân đặt hoa
bằng vàng đầy hộp và đem hương liệu đến, nàng muốn
xin phép cha chồng ra đi.
Ông
bảo nàng:
- Con
đang mang thai và ở đó đông nghẹt cả người, vậy con nên
ở nhà và gửi hương hoa đến thôi.
Tuy
thế, nàng đầy tín tâm, suy nghĩ: 'Cho dù có nguy hiểm đến
tính mạng ta tại đó, ta cũng muốn đi hành lễ cúng dường'.
Rồi không nghe lời khuyên của ông, nàng cùng các người hầu
cận ra đi, cúng dường hương hoa xong, nàng đứng chắp tay
trước ngực trong dáng điệu sùng kính.
Vào
lúc ấy, một con voi đang lên cơn động tình ở trong đoàn
tùy tùng của hoàng gia đến làm lễ cúng dường Tôn giả
Trưởng lão, thình lình chạy vào đó, khi mọi người thấy
nó, liền hốt hoảng chạy trốn vì sợ chết, đám đông ấy
dẫm chết Sesavati, nàng đã ngã gục trong đám người chen
lấn nhau.
Nàng
đã hoàn thành lễ cúng dường và từ trần với niềm tin
đối với Tôn giả. Tâm đầy thành tín, nàng được tái sanh
vào cõi trời Ba mươi ba.
Khi
quan sát thành quả của nàng và suy luận ra nguyên nhân, nàng
thấy chính là do lễ cúng dường Tôn giả Trưởng lão, nên
với lòng thành tín hướng về Tam Bảo, nàng cùng Lâu đài
của nàng du hành đến đảnh lễ bậc Ðạo Sư, vừa bước
xuống khỏi Lâu đài, nàng đứng chắp tay trước ngực trong
dáng điệu sùng kính.
Thời
ấy Tôn giả Vangìsa, đang ngồi cạnh đức Thế Tôn nói như
vầy:
- Bạch
Thế Tôn, con muốn hỏi Thiên nữ kia về công đức phước
nghiệp mà nàng đã làm.
Ðức
Thế Tôn bảo:
- Này
Vangìsa, cứ làm như vậy đi.
Sau
đó Tôn giả Vangìsa ngâm kệ tán thán Lâu đài của nàng trước
tiên:
1.
Với ánh sáng ngời của thủy tinh,
Bạc
vàng bao phủ khắp chung quanh,
Lâu
đài diễm lệ đầy màu sắc,
Ta
thấy nơi cư trú hiển vinh,
Ðầy
đủ cửa vòng cung chạm trổ,
Cát
vàng rải rắc lối Thiên đình.
2.
Như mặt trời xua bóng tối tan,
Về
thu chiếu sáng khắp mười phương,
Lâu
đài chói lọi trên thiên đỉnh
Như
cột lửa bừng ánh dạ quang.
3.
Chẳng khác nào tia chớp sáng lòa,
Khiến
hồn mê mẩn giữa trời xa,
Vang
lừng chũm chọe, đàn, kèn, trống,
Tráng
lệ như thành phố Ind-ra.
4.
Ðây đó hoa sen đỏ, trắng, xanh,
Hoa
lài, dâm bụt đỏ đầy cành,
A-so-ka
với Sà-la nở,
Cây
đẹp tỏa hương ngát dịu lành.
5.
Viền quanh thông, mít, Bhu-ja-ka,
Chằng
chịt hoa leo đám cọ dừa,
Sen,
súng đâm chồi như bảo ngọc,
Hồ
sen tuyệt mỹ, hỡi tiên nga!
6.
Bất kỳ dưới nước có hoa nào,
Hoặc
ở đất bằng hoa mọc sao,
Dù
thuộc thiên thần hay hạ giới,
Chúng
đều mọc ở tại lầu cao.
7.
Ðây là kết quả sự tu hành,
Ðiều
phục tự thân, được hóa sanh,
Do
nghiệp gì, Lâu đài đạt được?
Hỡi
nàng Thiên nữ nói cho minh.
Sau
đó Thiên nữ đáp:
8.
Cách nào con đạt Lâu đài này
Có
công, hạc, trĩ đến từng bầy,
Hồng
nga, ngỗng xám, sơn ca hót,
Vang
dội tiếng chim lảnh lót thay.
9.
Ðầy đủ cây hoa tỏa rộng cành:
Vô
ưu, đào đỏ với kèn xanh,
Làm
sao con đạt Lầu thiên giới,
Tôn
giả nghe con sẽ thuyết trình.
10.
Hưng thịnh miền đông Ma-kiệt-đà,
Có
làng tên gọi Na-la-ka,
Xưa
làm dâu một nhà nơi ấy,
Dân
chúng gọi con 'Nữ phú gia'.
11.
Tâm con tràn ngập nỗi hân hoan,
Rải
rắc hoa thơm khắp đại nhân,
Ngài
được trời, người đồng kính mộ
Về
tài thuyết pháp lẫn hồng ân,
Phước
điền vô thượng là Tôn giả
Xá-lợi-phất
vừa xả báo thân.
12.
Sau khi con kính lễ ngài xong,
Ngài
đã về nơi tối thượng tầng,
Ðại
giác giả mang thân cuối ấy,
Con
từ giã thể xác phàm trần,
Ði
lên Tam thập tam thiên giới,
Con
đến nơi này để trú thân.
8.
(36) Chuyện thứ tám -
Lâu
Ðài Của Mallikà (Mallikà-Vimàna)
Sau
khi, đã hoàn thành nhiệm vụ của bậc Giác Ngộ, từ thời
Chuyển Pháp luân cho đến thời giáo hóa du sĩ ngoại đạo
Subhadda, vào lúc rạng đông một đêm trăng tròn tháng Visàkha,
giữa đôi Sàla song thọ tại Upavattana, rừng Sàla của các
quốc vương Malla ở Kusinàrà, đức Thế Tôn, nơi nương tựa
của thế gian đã viên tịch trong Niết-bàn giới vô dư y,
và trong lúc kim thân của Ngài được chư Thiên và loài Người
cúng dường, một tín nữ ở Kusinàrà tên Mallikà thuộc dòng
họ các quốc vương Malla, vợ của Bandhula, một người mộ
đạo, đầy tín tâm, lấy nước hương thơm rửa bộ nữ trang
hình tấm mạng lớn (để phủ quanh thân), giống như bộ nữ
trang của đại tín nữ Visàkhà, và lau chùi thật bóng với
một miếng vải mịn, rồi đem theo nhiều đồ vật khác như
hương liệu, vòng hoa v.v.... đến đảnh lễ di hài đức Thế
Tôn.
[Ðây
chỉ là phần sơ lược, còn chuyện Mallikà có đầy đủ chi
tiết trong bộ Luận Pháp cú (Dh.A.III.119, Mallikàdevivatthu) ]
Về
sau, Mallikà từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi
ba. Vì nàng đã cúng dường lễ vật như vậy, nên nàng được
hưởng vô lượng Thiên lạc huy hoàng. Xiêm y nữ trang, lâu
đài, đều sáng chói với thất bảo, cùng với ánh sáng của
vàng ròng tuyệt hảo, rực rỡ chiếu khắp mười phương với
kim sắc như thể rải rắc mọi hướng với những tia vàng
tinh chất.
Bấy
giờ Tôn giả Nàrada đang du hành giữa Thiên chúng, trông thấy
nàng bèn lại gần. Nàng cung kính đảnh lễ Tôn giả, rồi
đứng chắp tay trong dáng điệu sùng kính. Tôn giả hỏi nàng:
1.
Thiên nữ khoác y phục ánh vàng,
Ðiểm
trang đầy ngọc báu kim hoàn,
Thượng
y vàng chói trông kiều diễm,
Nàng
chiếu sáng dầu chẳng điểm trang.
2.
Nàng đeo vòng đủ sắc là ai,
Chiếc
mão điểm trang tỏa sáng ngời,
Che
phủ mạng vàng ròng óng ả,
Với
bao hàng chuỗi ngọc buông lơi.
3.
Bảo vật hoàng kim kết ngọc hồng,
Ngọc
trai và ngọc thạch chen lồng,
Minh
châu mắt báo và hồng ngọc
Như
mắt bồ câu ngọc sáng trong.
4.
Tiếng chim khổng tước đáng yêu thay,
Tiếng
của hồng nga chúa ở đây
Cùng
tiếng sơn ca êm ái quá,
Dịu
dàng nghe chúng hót từng bầy,
Khác
nào âm điệu đàn năm thứ
Ðồng
tấu lên hòa khúc nhạc hay.
5.
Xe của nàng hoàn hảo sáng ngời,
Khảm
đầy bảo ngọc thật xinh tươi,
Thiên
xa lộng lẫy và cân xứng,
Hình
dáng hài hòa khắp mọi nơi.
6.
Thân sắc nàng như bức tượng vàng,
Ðứng
bên xe ngọc tỏa hào quang,
Hỡi
nàng Thiên nữ, khi ta hỏi,
Hãy
nói nghiệp gì quả ấy mang?
Và
Thiên nữ đáp lời:
7.
Tấm mạng vàng ròng với bảo trân,
Ngọc
trai dày đặc phủ kim ngân,
Lòng
thành con cúng Cồ-đàm Phật
Vô
lượng phước điền tịch diệt xong.
8.
Sau khi thiện sự đã hoàn toàn,
Công
đức được chư Phật tán dương,
Con
thọ hưởng Lâu đài hạnh phúc,
Vô
sầu, vô bệnh, mãi an khương.
9.
(37) Chuyện thứ chín -
Lâu
Ðài Của Visàlakkhì (Visàlakkhì-Vimàna)
Sau
khi đức Thế Tôn đã viên tịch, khi Ðại vương Ajàtasattu
(A-xà-thế) đã xây một đại Tháp ở Ràjagaha trên phần xá-lợi
mà vua nhận được và cử hành lễ hội cúng dường xong,
cô con gái một nhà làm vòng hoa tên Sunandà, một tín nữ,
một vị Thánh đệ tử đắc quả Dự Lưu, gửi nhiều tràng
hoa thơm đến cúng bảo Tháp, và vào các ngày trai giới, chính
nàng đi đến đó lễ bái.
Về
sau, lúc từ trần, nàng được tái sanh làm thị nữ của Sakka
Thiên chủ và một hôm Thiên chủ đi vào Lâm viên Cittalatà,
thấy nàng đứng đó mà không bị ảnh hưởng bởi ánh hào
quang của tất cả các vị Thiên thần chung quanh nàng.
Ngài
bèn hỏi nàng lý do:
1.
Thiên nữ là ai cặp mắt huyền,
Trong
vườn lạc thú Cit-ta Viên,
Nàng
đang đi dẫn đầu tiên chúng
Hầu
cận quanh nàng ở cõi thiên.
2.
Khi chư Thiên cõi Ba mươi ba
Vào
Lạc Viên này đủ mã, xa,
Tất
cả hào quang toàn hội chúng
Ðồng
thời được phóng tỏa lan ra.
3.
Song nàng đã đến tận nơi đây,
Dạo
bước Lâm viên lạc thú này,
Thân
thể nàng không ai chiếu sáng,
Vì
sao dung sắc được như vầy,
Hỡi
nàng Thiên nữ, khi nghe hỏi,
Hãy
nói nghiệp gì tạo quả đây?
Khi
được Sakka Thiên chủ hỏi, Thiên nữ Sunandà đáp lời qua
các vần kệ này:
4.
Thiên chủ, nghiệp xưa tạo quả này,
Hình
dung, sanh thú của con đây,
Vinh
quang, uy lực, tâu Thiên chủ,
Xin
lắng nghe con sẽ giải bày.
5.
Vương Xá thành đầy lạc thú kia,
Con
là tín nữ Su-nan-dà,
Tín
tâm đầy đủ hành trì giới,
Bố
thí hân hoan rộng rãi mà.
6.
Các thứ đèn dầu, thức uống ăn,
Tọa
sàng, y phục thứ cần dùng,
Con
dâng cúng những người chơn chánh,
Cùng
với niềm thành tín nhiệt tâm.
7.
Vào ngày mười bốn với mười lăm,
Mồng
tám, những ngày có sáng trăng,
Ðặc
biệt là ngày trong nửa tháng
Liên
quan Bố-tát giới tu thân,
Con
hành trì Bát quan trai giới,
Ðức
hạnh con luôn sống hộ phòng.
8.
Hại mạng sát sanh con tránh xa,
Giữ
mình không dối trá sai ngoa,
Cũng
không trộm cắp hay tà dục,
Thói
uống rượu say cũng đoạn trừ.
9.
Hân hoan giữ Ngũ giới tu hành,
Thành
Ðế con nghiên cứu thật tinh,
Ðệ
tử đức Cồ-đàm Giác giả,
Là
người có mắt, đấng lừng danh.
10.
Thuở trước một nhà quyến thuộc con
Ðã
đưa con đủ loại hoa vòng,
Con
dâng tất cả vòng hoa ấy
Tại
tháp của Ngài, đức Thế Tôn.
11.
Vào ngày trai giới có trăng rằm,
Con
đến cúng dường với tín tâm,
Hương
liệu, vòng hoa, dầu đủ thứ,
Tại
đền bảo Tháp, chính tay dâng.
12.
Vì hạnh nghiệp ngày trước của con,
Dâng
tràng hoa, tấu đức Thiên hoàng,
Hình
dung, cảnh giới này con đạt,
Vinh
hiển cao sang, đủ lực thần.
13.
Vì hạnh nghiệp xưa tạo ở đời,
Con
thường giữ giới Bát quan trai,
Kết
thành thiện quả ngày sau đến,
Thiên
chủ, con mong đạt Bất lai.
Rồi
Sakka Thiên chủ trình vấn đề này với Tôn giả Vangìsa. Tại
Hội nghị kết tập Kinh điển, Tôn giả thuật chuyện này
với chư Trưởng lão thời ấy đang biên soạn Giáo pháp và
chư vị thêm chuyện này đúng như thật vào Kinh tạng.
10.
(38) Chuyện thứ mười -
Lâu
Ðài Cây San Hô (Paricchattaka-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn, trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Một
đệ tử tại gia đầy tín thành cúng dường thực phẩm lên
đức Thế Tôn tại nhà riêng vô cùng trọng thể.
Ngay
lúc ấy một nữ nhân lượm củi trong Hắc lâm thấy một
cây Vô ưu (Asoka) đang nở hoa. Bà đi nhặt các cành hoa đến
rải quanh đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ Ngài rồi ra về.
Sau
đó bà từ trần, được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba,
hưởng lạc thú tại Hỷ lạc Viên Nandana, cùng với đoàn
tiên nữ ca múa tham dự lễ hội dưới cây Thiên hoa San hô.
Tôn giả Mahà-Moggallàna cũng thấy nàng và hỏi nàng như vầy:
1.
Cùng với San hô, các loại hoa,
Vườn
tiên tuyệt mỹ đẹp lòng ta,
Kết
thành từng chuỗi hoa thiên giới,
Nàng
thích thú và cất tiếng ca.
2.
Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay
tít tứ chi khắp mọi phương,
Âm
nhạc thiên đình vang vọng đến
Bên
tai nghe quả thật du dương.
3.
Trong khi nàng múa với toàn thân,
Xoay
tít tứ chi khắp mọi phương,
Nhè
nhẹ hương trời lan tỏa rộng,
Làn
hương dịu ngọt tạo hân hoan.
4.
Ðang lúc nàng di chuyển dáng hình,
Trâm
cài tóc bím kết bên mình,
Âm
vang như tiếng tơ hòa tấu
Năm
thứ đàn huyền diệu hợp thành.
5.
Vòng
tai được gió thổi ngang qua,
Lay
động theo làn gió nhẹ đưa,
Âm
hưởng các vòng vàng ngọc ấy
Khác
nào năm tiếng nhạc đồng hòa.
6.
Và hương của các chuỗi phương hoa
Khả
ái trên đầu nhẹ tỏa ra,
Thoang
thoảng bay đi khắp mọi hướng
Giống
như cây mạn-thù-sa-ka,
7.
Nàng thở làn hương thật ngọt ngào,
Nàng
nhìn vẻ đẹp cõi trời cao,
Hỡi
nàng Thiên nữ khi nghe hỏi,
Hãy
nói quả đây của nghiệp nào.
Sau
đó Thiên nữ đáp lời:
8.
Thuở trước con dâng cúng Phật-đà
Những
vòng hoa đẹp A-so-ka,
Ðỏ
hồng, rực sáng như màu lửa,
Ngào
ngạt hương thơm thoang thoảng đưa.
9.
Khi đã thực hành thiện nghiệp xong,
Nghiệp
lành được đức Phật tuyên dương,
Nay
con thọ hưởng nhiều ân phước,
Vô
bệnh, vô sầu, mãi lạc an.
Tổng
Kết
- Lâu
đài Huy Hoàng, Lâu đài người cúng khúc mía, Lâu đài Trường
kỷ, Lâu đài Lata.
- Lâu
đài Guttila, Lâu đài Sáng chói, Lâu đài Sesavati, Lâu đài
Mallikà, Lâu đài Vìsalakkhi,
- Lâu
đài Cây San hô.
Phẩm
này được biết qua các chuyện trên.
Phẩm
Ba : Cây San Hô