Phẩm IV.a
Ðại Phẩm
1.
(36) Chuyện Vua Ambasakkhara (Ambasakkhara)
Trong
lúc đức Thế Tôn đang trú tại Jetavana (Kỳ Viên) một vị
vua dòng họ Licchavi mệnh danh Ambasakkhara, là một người không
mộ đạo, có tà kiến, đang trị vì ở Vesàli (Tỳ-xá-ly).
Tại
đó lại có một thương nhân chánh trực đã bắc cầu bằng
những thanh gỗ chiên-đàn qua một đầm lầy. Trái lại, cháu
trai vị ấy đã lấy trộm hàng hóa đem đến tiệm của chú,
nên bị xử hình phạt đóng thân vào cọc. Người chú bị
chặt đầu và hóa thành một địa thần cỡi ngựa thuần
bạch, vào nửa đêm lại đến thăm cháu đang bị đóng cọc
và bảo: 'Hãy cố sống thì hơn'.
Bấy
giờ vua Ambasakkhara muốn chiếm vợ của một thần dân, liền
sai người ấy đi lấy đất đỏ và hoa súng đỏ ở một
hồ sen cách xa kinh thành ba do-tuần, và buộc y phải trở về
trước khi trời tối nếu không sẽ bị giết. Ðồng thời
vua ra lệnh đóng cổng thành trước khi trời tối. Nhờ chư
thần giúp đỡ, người kia đem đất đỏ và hoa súng đỏ
về kịp trước khi trời tối, nhưng gọi cổng thành không
được, y phải nhờ sự làm chứng của vị quỷ thần ấy.
Sau đó vua đích thân đi gặp vị quỷ thần để tìm hiểu
sự việc. (Bổ sung Tập Sớ).
Các
vần kệ này kể lại chuyện trên. Vần kệ đầu do các vị
kết tập Kinh điển đưa vào:
1.
Kinh thành dân chúng xứ Vaj-ji,
Tên
gọi là thành Tỳ-xá-ly,
Tại
đó có vì vua ngự trị,
Am-ba-sa,
tộc Lic-cha-vi,
Khi
nhìn thấy quỷ ngoài thành ấy,
Vua
muốn biết, nên hỏi tức thì:
2.
'Kẻ này không có chỗ nằm ngồi,
Cùng
chẳng hề đi tới, bước lui,
Không
thức uống ăn, quần áo mặc,
Cũng
không tỳ nữ, một mình thôi.
3.
Quyến thuộc thân bằng thuở đã qua
Có
lòng thương xót nó bây giờ,
Song
không có khả năng nhìn nó,
Họ
đã bỏ rơi nó thật mà.
4.
Kẻ nào sa sút chẳng thân bằng,
Bạn
bỏ rơi khi thấy khốn cùng,
Hễ
thấy phồn vinh, vây lấy bạn,
Người
đang hưng thịnh, lắm thân nhân.
5.
Khi hưởng thụ xong hết bạc vàng,
Gia
tài chắc đã phải tan hoang,
Thân
hình vấy máu đang rời rã
Như
hạt sương treo, đến số tàn.
6.
Với người đang chịu cảnh đau thương,
Khủng
khiếp trên cây cọc gỗ mun,
Vua
hỏi: 'Quỷ kia, sao lại nói:
Ngươi
cần phải sống, sống thì hơn?'
Quỷ
thần:
7.
Người này trên cọc chính thân nhân,
Tôi
nhớ kiếp xưa ở cõi trần,
Nên
đã xót thương khi thấy nó
Phải
vào địa ngục bởi tà tâm.
8.
Lic-cha-vi chúa thượng, từ đây
Kẻ
đã tạo ra ác nghiệp này
Vào
ngục tái sanh đầy khủng khiếp,
Nóng
bừng, gay gắt, hãi kinh thay.
9.
Ngay cái cọc kia đủ mọi phần,
Tốt
hơn địa ngục biết bao lần,
Ước
mong nó chẳng sa vào ngục
Gay
gắt, kinh hoàng, thật khổ thân.
10.
Nếu kẻ ấy nghe tôi nói vầy,
Nó
đầy sầu khổ, tắt hơi ngay,
Cho
nên trước nó tôi không nói,
E
chỉ vì tôi nó bỏ thây.
Quân
vương:
11.
Vụ án người này ta biết qua,
Song
ta muốn hỏi chuyện thêm mà;
Nếu
ngươi cho phép, ta xin hỏi,
Song
chớ giận hờn với chúng ta.
Quỷ
thần:
12.
Việc ấy tôi xin hứa thật lời,
Chuyện
này không kể với người đời
Không
có tín tâm vào Ðạo pháp,
Dù
tôi không muốn, hãy tin tôi;
Hỏi
ngay những việc gì ngài muốn,
Tôi
sẽ đáp tùy sức đó thôi.
Quân
vương:
13.
Những gì ta thấy tận mắt ta,
Ước
mong ta đủ tín tâm mà,
Nếu
không tin dẫu khi ta thấy,
Ấy
việc riêng ta, hỡi Dạ-xoa!
Quỷ
thần:
14.
Tôi đã được ngài hứa thủy chung,
Khi
ngài nghe pháp hãy thành tâm,
Ði
tìm tri kiến cao hơn nữa,
Với
trí chẳng ô nhiễm, sáng trong.
Những
pháp ngài chưa nghe hoặc đã,
Tôi
đều muốn nói hết cho thông.
Quân
vương:
15.
Trên ngựa trang hoàng, ngươi đến đây
Tìm
người bị đóng cọc phanh thây,
Ðây
là phong cách ngươi đi lại,
Kỳ
diệu và cao quý hiển bày.
Do
bởi nghiệp nào xưa đã tạo
Mà
nay được phước báo như vầy?
Quỷ
thần:
16.
Chính giữa kinh thành Tỳ-xá-ly,
Xuyên
qua đầm ở khoảng đường đi,
Có
nơi nọ cực kỳ nguy hiểm,
Với
dạ tín thành, một bữa kia,
Tôi
lấy gỗ chiên-đàn trắng bạch
Bắc
qua chỗ ấy có nề chi.
17.
Sau đó chúng tôi đặt bước chân,
Chúng
tôi và những kẻ qua đường,
Ðây
là phương tiện rất kỳ diệu,
Xứng
đáng được chiêm ngưỡng giữa trần,
Do
chính nghiệp ngày xưa đã tạo,
Giờ
đây đem phước báo cho thân.
Quân
vương:
18.
Hình dáng ngươi soi sáng mọi phương,
Khắp
nơi đều phảng phất mùi hương.
Nhà
ngươi có cả thần thông lực
Của
một Dạ-xoa lực dị thường.
Nhưng
việc gì xưa đem kết quả
Nhà
ngươi nay phải chịu trần truồng?
Quỷ
thần:
19.
Luôn giữ tín tâm thoát hận sân,
Nói
lời từ tốn với tha nhân
Việc
xưa kia đã đem thành quả
Hình
dáng thần tiên mãi sáng bừng.
20.
Khi tôi lưu ý đến thanh danh
Của
những người an trú Pháp hành,
Tôi
trịnh trọng trình bày việc ấy,
Việc
xưa đem kết quả cho mình:
Mùi
hương tiên giới trên thân thể
Liên
tục thoảng đưa thật dịu lành.
21.
Khi các bạn tôi tắm bến sông,
Tôi
đem quần áo giấu quanh vùng,
Tôi
không ác ý, thích đùa giỡn,
Nay
chịu trần truồng thật khổ thân.
Quân
vương:
22.
Nếu ai làm ác để đùa nhau,
Người
bảo đây là quả kiếp sau;
Song
nếu ai làm không bỡn cợt,
Thì
người bảo kết quả nào đâu?
Quỷ
thần:
23.
Bất cứ ai làm ác cố tâm
Ngôn
từ, hành động quá buông lung,
Phải
vào địa ngục sâu tăm tối,
Chắc
chắn khi thân hoại mạng chung.
24.
Kẻ nào mong thế giới quang vinh,
Tìm
thích thú trong các thiện hành,
Bố
thí, bản thân luôn chế ngự,
Mạng
chung vào thế giới thanh minh.
Khi
quỷ thần đã phân tích sơ lược các nghiệp quả, nhà vua
không tin, bèn ngâm kệ:
25.
Tại sao ta phải tin điều này
Là
quả thiện hành, ác nghiệp đây?
Việc
đã thấy ta cần tín ngưỡng?
Người
nào thuyết phục được ta vầy?
Quỷ
thần:
26.
Khi ngài đã mắt thấy tai nghe,
Ngài
hãy tin vào nghiệp quả kia,
Nếu
thiện ác đều không hiện hữu,
Sao
người hạnh phúc, kẻ ê chề?
27.
Nếu chúng sanh không tạo thiện hành,
Và
gây ác nghiệp giữa nhân sanh,
Thì
nhân quần, dẫu cao hay thấp,
Chẳng
có tai ương, hoặc phước lành.
28.
Nhưng bởi chúng sanh tạo thiện hành,
Và
gây ác nghiệp giữa nhân sanh,
Nên
nhân quần, dẫu cao hay thấp,
Ðều
gặp tai ương hoặc phước lành.
29.
Có hai loại nghiệp báo trên đời,
Ta
phải hiểu ngay: Một hạng người
Ðược
hạnh phúc, và người chịu khổ.
Chư
Thiên hưởng lạc thú trên trời,
Song
người ngu bị nhiều hành hạ
Khi
thấy quả hai mặt chín muồi.
Khi
được nhà vua hỏi:
- Như
vầy ngươi đã tin vào nghiệp quả, tại sao ngươi lại phải
chịu cảnh khốn khổ này?
Quỷ
thần đáp:
30.
Không ai làm việc thiện vì tôi,
Hồi
hướng về tôi, chẳng có người,
Dâng
cúng áo, giường, đồ ẩm thực,
Nên
tôi trần trụi, khổ trên đời!
Khi
nghe quỷ thần ước muốn nhận đủ áo quần và nhiều vật
dụng khác, nhà vua bảo:
31.
Quả thật giờ đây có cách nào
Nhà
ngươi được áo mặc hay sao?
Nói
cho ta biết về nguồn gốc,
Ta
sẽ nghe lời tín nhiệm mau.
Quỷ
thần đáp:
32.
Có vị Tỷ-kheo ở tại đây
Kap-pi-ta
ấy chính danh này,
Ngài
chuyên Thiền định, và cao đạo,
Giải
thoát, điều thân, ứng cúng thay.
Sống
chế ngự mình bằng giới luật,
An
nhiên, đạt trí tối cao vầy.
33.
Ngài vốn nói năng thật dịu hiền,
Ôn
tồn, nhỏ nhẹ, giọng êm đềm,
Ðón
chào niềm nở đầy chân thật,
An
tịnh trú trong giới luật nghiêm,
Xứng
đáng cúng dường nhiều lễ vật
Từ
loài người đến cả chư Thiên.
34.
Thanh thản đoạn trừ lưới ác tâm,
Chánh
chân, vô ngã, lại ly tham,
Ngài
không có ước mong gì nữa,
Chẳng
có sanh y ở thế gian,
Nên
ngài giải thoát, tâm an tịnh,
Tam
minh chứng đắc thật vinh quang.
35.
Mặc dù quần chúng thấy hình ngài,
Ngài
chẳng tiếng tăm, quen biết ai;
Dân
chúng Bạt-kỳ thường vẫn gọi
Ngài
là bậc trí tuệ cao vời.
Thiên
thần biết rõ ngài ly dục,
Người
có tín tâm sống ở đời.
36.
Nếu chúa thượng dâng lễ cúng ngài
Và
đem công đức hướng về tôi,
Một,
hai bộ áo do ngài nhận
Cũng
đủ cho tôi có mặc rồi.
Quân
vương:
37.
Bậc ẩn sĩ kia đang ở đâu?
Chúng
ta yết kiến ở phương nào?
Hôm
nay ngài đánh tan nghi hoặc,
Tà
kiến giăng đầy tự bấy lâu.
Quỷ
thần:
38.
Ở Kap-pi-na, ngài tọa thiền,
Ðược
bao quanh bởi các thần tiên,
Ngài
đang thuyết pháp, ly sân hận,
Chân
chánh như danh tiếng đã truyền.
Quân
vương:
39.
Ta đi làm việc ấy giờ đây,
Ta
sẽ dâng y ẩn sĩ này
Khi
bộ y kia ngài đã nhận,
Thì
ngươi sẽ có áo quần ngay.
Rồi
cả hai cùng đi đến chỗ ấy và quỷ thần nói:
40.
Với người xuất thế, bản thân tôi
Không
yết kiến khi chẳng đúng thời.
Chúa
thượng, giờ đây không thích hợp.
Ðúng
thời, hãy viếng chỗ ngài ngồi.
Các
vần kệ sau do chư vị kết tập Kinh điển ghi:
41.
Khi quỷ thần vừa nói vậy xong,
Nhà
vua được cả đám tùy tùng
Ðưa
về lại chốn kinh thành ấy,
Tư
thất của vua ở hậu cung.
42.
Từ đó, thực hành giới tại gia,
Nhà
vua tắm gội, chọn từ nhà
Xiêm
y tám bộ và đi cúng,
Ðược
đám tùy tùng hộ tống ra.
43.
Khi nhà vua đến tận nơi này,
Thấy
ẩn sĩ tâm thanh tịnh đầy
Ðã
trở về sau thời khất thực,
An
nhiên, tĩnh tọa dưới gốc cây.
44.
Ðúng lúc vua đi yết kiến ngài,
Vấn
an sức khoẻ, sống an vui;
'Lic-cha-vi
ấy là thân tộc,
Tỳ-xá-ly
thành, đất nước tôi,
Tôi
chính Am-ba-sa, tộc trưởng,
Mong
ngài hoan hỷ, kính thăm ngài.
45.
Tôn giả, xin ngài hãy nhận ngay
Tám
y tốt đẹp cúng dâng này,
Ðể
tôi có thể đầy an lạc,
Vì
mục đích này tôi đến đây.
Ẩn
sĩ:
46.
Sa-môn ẩn sĩ, dẫu từ xa,
Ðều
phải tránh cung điện của vua,
Nơi
đó, bao nhiêu bình bát vỡ,
Thầy
tu bị xé áo cà-sa!
47.
Nhiều người khác đấm đá kinh sao,
Như
búa, Tỷ-kheo phải ngã nhào,
Ẩn
sĩ xuất gia mang tổn hại,
Chính
tay ngài đã biết là bao!
48-49.
Dầu mè, đệm cỏ chẳng hề ban,
Chẳng
chỉ dùm ai lạc bước đàng,
Từ
một người mù, ngài lấy gậy
Ngài
vừa phóng dật, lại xan tham;
Bây
giờ vì lý do nào vậy,
Bằng
cách nào ngài muốn phát ban?
Quân
vương:
50.
Tôn giả, tôi công nhận thật ngôn,
Tôi
làm thương tổn các Sa-môn,
Tôi
mong đùa giỡn, không tà ý,
Việc
phạm lỗi xưa thật bạo tàn.
51.
Kẻ kia làm ác để bông lơn,
Hạnh
phúc nó không được vẹn toàn,
Nó
nhận khổ đau, dầu trẻ tuổi,
Số
phần nó phải chịu trần truồng,
Còn
gì khốn đốn hơn cho nó
Chính
việc này đây có phải không?
52.
Tôi thấy nó mang nặng lỗi lầm,
Nên
tôi dâng lễ vật, Tôn nhân,
Xin
ngài nhận tám y tôi cúng
Hồi
hướng về cho vị quỷ thần.
Ẩn
sĩ:
53.
Bố thí, dĩ nhiên được nhận mà,
Ước
công vô lượng với nhà vua,
Nay
tôi nhận tám y ngài tặng,
Mong
lễ vật hồi hướng Dạ-xoa.
54.
Rồi vua nhấp nước tự bàn tay
Ðể
tẩy trần và dâng cúng ngay
Tám
bộ y lên ngài Trưởng lão:
'Ước
mong y được nhận như vầy!
Và
hãy nhìn xem thần đại lực
Mặc
nhiều quần áo thỏa lòng thay!
55.
Tức thì vua thấy chính thần nhân
Tẩm
ướt dầu tinh chất gỗ trầm,
Hình
dáng cao sang, dòng quý tộc,
Cỡi
trên lưng tuấn mã oai hùng,
Ðiểm
trang y phục huy hoàng quá,
Ðược
hộ tống và đạt lực thần.
56.
Với niềm vui sướng, dạ hân hoan,
Khuôn
mặt vui tươi, hạnh phúc tràn,
Vì
thấy nghiệp mình đem quả lớn,
Vua
vừa nhìn tận mắt hoàn toàn.
57.
Vua bước lên và nói với thần:
'Từ
nay ta cúng các Sa-môn,
Ta
không có vật gì không cúng,
Ðại
quỷ, ngài là bậc cứu nhân'.
Quỷ
thần:
58.
Chúa thượng cho tôi hưởng phước ân
Cúng
dường đâu có phải hoài công,
Phần
tôi sẽ tạo tình bằng hữu
Giữa
một phi nhân với thế nhân.
Quân
vương:
59.
Ngài là quyến thuộc lẫn thân bằng,
Chánh
đạo, nơi nương tựa, hộ thần!
Ta
khẩn cầu ngài và đảnh lễ,
Ta
mong được tái ngộ thần nhân.
Quỷ
thần:
60.
Ví thử ngài làm mất tín tâm,
Thích
nhiều tà kiến, hóa xan tham,
Và
trong trạng thái tà tâm ấy
Ngài
được gặp tôi để vấn an,
Tôi
sẽ chẳng cùng ngài nói chuyện,
Dẫu
tôi thấy mặt, hỡi quân vương!
61.
Còn nếu ngài tôn trọng Pháp chân,
Hân
hoan bố thí, tự điều thân,
Là
nguồn cung cấp cho tu sĩ,
Nếu
có duyên may gặp quỷ nhân,
Và
nếu tôi đây nhìn thấy mặt,
Thì
tôi sẽ đáp lễ ân cần.
62.
Mau thả người ra khỏi cọc này,
Vì
ta thân thiết chính nhờ đây,
Tôi
đang nghĩ đến người đau khổ,
Nay
đã kết giao tại chốn này.
63.
Và nếu người này được thoát thân,
Sẽ
làm thiện nghiệp rất tinh cần,
Ngày
sau thoát ngục sâu tăm tối,
Thiện
nghiệp đều mang lại phước phần.
64.
Chúa công tham kiến Kap-pi-ta,
Ðúng
lúc cúng dường bậc xuất gia,
Ðến
trước mặt ngài, ngồi thỉnh ý,
Và
ngài sẽ nói vấn đề ra.
65.
Gặp Tỷ-kheo kia, thỉnh ý ngài,
Tạo
nhiều công đức, trí cao vời,
Tùy
theo tri kiến, ngài phân giải
Các
pháp chưa nghe giữa mọi người,
Ngài
sẽ thuyết về tất cả pháp
Ðưa
đường đến cảnh giới vui tươi.
66.
Khi vua đã nói chuyện tư riêng
Cùng
vị phi nhân, kết bạn hiền,
Vua
đến Lic-cha-vi bộ tộc,
Nói
cùng đại hội họp theo phiên:
67.
'Các người xin hãy lắng nghe lời,
Ta
sẽ tìm đường lối tốt thôi.
Kẻ
ác bị treo vào cọc ấy
Bị
trừng phạt nặng, khổ tơi bời.
68.
Hai mươi đêm ấy khoảng thời gian
Nó
đã bị ràng buộc tấm thân,
Nó
chẳng biết đâu là sống chết,
Ta
xin đại hội thả tù nhân!'.
Ðại
hội:
69.
'Mau thả luôn hai kẻ ấy ngay,
Nào
ai từ chối việc như vầy?
Xin
làm những việc ngài thông hiểu,
Ðại
hội tuân theo ý chỉ này'.
70.
Nơi kia, vua vội vã ra đi,
Phóng
thích người trên cọc tức thì,
Rồi
bảo: 'Bạn này, đừng sợ hãi',
Và
giao cho các vị lương y.
71.
Rồi vua yết kiến Kap-pi-ta,
Ðúng
lúc cúng dường bậc xuất gia,
Ðến
trước mặt ngài, ngồi thỉnh ý
Và
tìm các lý lẽ nêu ra.
Quân
vương:
72.
Kẻ ác bị treo ở cọc kia
Chịu
nhiều trừng phạt, khổ ê chề,
Hai
mươi đêm tấm thân ràng buộc,
Nó
chẳng sống còn hoặc chết đi.
73.
Bây giờ tôi đã đến buông tha
Cứu
nó theo lời quỷ Dạ-xoa,
Xin
hỏi, phải chăng còn có cách,
Làm
cho nó thoát ngục Diêm-la?
74.
Tôn giả, bảo tôi biết cách gì,
Chúng
tôi tin tưởng lắng tai nghe,
Phải
chăng không thể tiêu trừ nghiệp,
Cho
dẫu ta không hiểu chuyện kia?
Ẩn
sĩ:
75.
Nếu ngày đêm nỗ lực tinh cần
Nó
thực hiện nhiều thiện nghiệp nhân,
Nó
sẽ thoát ra từ ngục tối,
Thiện
nghiệp phải đem lại phước phần.
Quân
vương:
76.
Nay tôi hiểu rõ chuyện này rồi,
Tôn
giả, giờ đây thương xót tôi,
Bậc
trí dạy cho tôi Giáo pháp
Ðể
tôi khỏi đọa ngục Diêm đài.
Ẩn
sĩ:
77.
Ngay tự hôm nay với tín tâm
Ngài
qui y Phật, Pháp,Tăng nhân;
Ðồng
thời, thân thực hành năm giới
Trọn
vẹn và không có lỗi lầm.
78-79.
Từ nay ngài bỏ giết muôn loài,
Không
lấy vật chi chẳng tặng ngài,
Không
uống rượu nồng, không nói dối,
Hãy
bằng lòng với vợ ngài thôi.
Trang
nghiêm lãnh tám công thù thắng
Ðưa
đến nhiều thành quả đẹp tươi.
80.
Với tâm thanh thản, hãy đem dâng
Các
bậc chánh chân những vật cần,
Y
phục, đồ ăn bình khất thực,
Nơi
an trú với chỗ ngồi nằm,
Thức
ăn đủ loại mềm và cứng,
Thức
uống và nơi chốn nghỉ chân.
81.
Thiết đãi Tỷ-kheo thức uống ăn,
Những
người có giới hạnh siêu quần,
Ða
văn và thoát ly tham dục,
Công
đức vẫn luôn phát triển dần.
82.
Thực hành Chánh pháp thật tinh chuyên
Với
nhiệt tình luôn ngày lẫn đêm,
Ngài
tự cứu mình từ địa ngục,
Thiện
hành mang phước báo nhân thiên.
Quân
vương:
83.
Ngay tự hôm nay với tín tâm
Tôi
quy y Phật, Pháp, Tăng nhân;
Ðồng
thời, thân thực hành năm giới
Trọn
vẹn và không có lỗi lầm.
84-85.
Từ nay tôi bỏ giết muôn loài,
Không
lấy vật gì chẳng tặng tôi,
Không
uống rượu nồng, không nói dối,
Biết
bằng lòng với vợ mình thôi.
Trang
nghiêm lãnh tám công thù thắng
Ðưa
đến nhiều thành quả đẹp tươi.
86.
Với các vị cao đạo, Thánh Tăng,
Thoát
ly tham dục, lại đa văn,
Dâng
y, thực phẩm trong bình bát,
Sàng
tọa và nơi chốn nghỉ chân,
Ðủ
loại thức ăn mềm hoặc cứng,
Cùng
nhiều thức uống, chỗ ngồi nằm.
Tìm
trong Phật pháp niềm an lạc,
Tôi
quyết không dao động bản thân.
87.
Am-ba-sa, vị Líc-cha-vi,
Kẻ
tại gia thành Tỳ-xá-ly,
Ðã
trở nên người như vậy đó,
Ðầy
tâm thành tín, tính nhu mì,
Nhiệt
tình thực hiện nhiều công hạnh,
Với
chúng Tỷ-kheo, quyết hộ trì.
88.
Khi người trên cọc đã bình an,
Tự
nguyện, người từ giã thế gian,
Ðến
với Kap-pi-ta ẩn sĩ,
Rồi
hai người đắc quả Sa-môn.
89.
Ðây chính cách hầu cận Thánh Tăng,
Quả
nhiều cho các thiện hiền nhân,
Người
trên cọc đạt phần ưu thắng,
Trong
lúc Am-ba quả nhỏ hơn.
Sau
đó Tôn giả Mahàkappitaka đi đến Sàvatthi đảnh lễ bậc
Ðạo Sư và trình lên Ngài vấn đề đã được vị quỷ thần
kể cho nhà vua nghe. Bậc Ðạo Sư lấy đó làm đề tài thuyết
pháp cho hội chúng đang hiện diện.
2.
(37) Chuyện Serìssaka
(Chuyện
này giống như Chuyện 10, Phẩm VII ở tập Chuyện Thiên Cung).
3.
(38) Chuyện Quỷ Thần Nandaka (Nandakapeta)
Khoảng
hai trăm năm sau khi bậc Ðạo Sư diệt độ, có vua Pingala ngự
trị Surattha (Vương quốc an lạc). Vị tướng cầm đầu quân
đội nhà vua là Nandaka đầy tà kiến.
Chư
vị kết tập Kinh điển kể lại chuyện những người này:
1.
Tương truyền lãnh chúa Pin-ga-la
Ngự
trị thần dân Su-rat-tha,
Khi
đã đi chầu triều Khổng tước,
Trên
đường vua trở lại quê nhà.
2.
Trong cơn nóng bức giữa ban ngày,
Vua
đến một nơi có vũng lầy,
Nhìn
thấy một con đường khả ái,
Là
nơi trú ngụ quỷ ma đầy.
3.
Vua ấy bảo ngay vị quản xa:
'Con
đường này khả ái cho ta,
An
toàn, yên tĩnh, đầy may mắn,
Theo
lối này đi, hỡi quản xa'.
4.
Vua xứ Su-ra tự chốn đây
Tiến
lên cùng với đội quân ngài,
Bốn
đoàn hộ tống đều đi trước,
Hướng
dẫn thần dân xứ sở này.
5.
Với dáng lo âu, một lão gia
Nói
như vầy với chúa Su-ra:
'Chúng
ta đi lạc đường rồi đó,
Thật
đáng hãi kinh, rợn tóc da.
6.
Mặt tiền ta thấy một con đường,
Song
phía sau không thấy hướng phương,
Tất
cả chúng ta đang lạc bước
Ðến
gần quân của Diệm-ma vương.
7.
Có một mùi ma quỷ bốc ra,
Tiếng
ồn khủng khiếp được nghe qua'.
Su-ra
lãnh chúa liền kinh hoảng
Vội
nói như vầy với quản xa:
8.
'Nay chúng ta đang lạc bước đường,
Thật
là lạnh gáy, đáng kinh hoàng,
Mặt
tiền thấy một con đường nọ,
Song
phía sau không thấy có hướng phương.
9.
Nay chúng ta đang lạc bước đường
Ðến
gần quân của Diệm-ma vương,
Một
mùi ma quỷ đang xông khắp,
Khủng
khiếp tai nghe một tiếng ồn!'
10.
Nhà vua đang ngự ở lưng voi
Ngơ
ngác nhìn quanh bốn hướng trời,
Chợt
thấy một cây đa rợp bóng,
Sum
suê cành lá thật xanh tươi.
11.
Cây có màu xanh xám tựa mây,
Ðỉnh
cây có sắc của sương dày,
Nhà
vua hỏi vị quan điều ngự:
'Ta
thấy vật chi lớn thế này,
Như
đám mây xanh màu xám ngắt,
Ðỉnh
cây có sắc tựa sương bay?'.
Quan
điều ngự:
12.
Chúa công, đó chính một cây đa,
Cành
lá sum suê tỏa bóng ra,
Cây
có màu mây xanh xám ngắt,
Ðỉnh
cây có sắc tựa sương sa.
13.
Su-ra chúa tể lại lên đường,
Về
hướng cây cao lớn dị thường,
Sắc
tựa đám mây xanh xám ngắt,
Ðỉnh
cây lại có một màu sương.
14.
Nhà vua bước xuống tự lưng voi,
Ði
đến gần cây nọ một hồi,
Cùng
với quần thần và cận vệ,
Ở
ngay gốc rễ, chúa công ngồi.
15.
Vua thấy bánh và hủ nước trong,
Một
ngươi có dáng điệu Thiên thần,
Ðiểm
tô đủ loại đồ trang sức,
Ði
đến ngỏ lời với chúa công:
16.
'Chúa công! Hân hạnh được chào mừng,
Chư
vị đến đây thế cũng gần,
Chúa
thượng, xin mời ngài uống nước
Và
dùng bánh, hỡi vị anh hùng!'
17-18.
Nhà vua cùng với đám quần thần,
Cận
vệ bên mình uống nước trong,
Ăn
bánh rồi vua cất tiếng hỏi:
'Xin
cho biết, có phải Thiên nhân,
Thác-bà,
hạy chính là Thiên chủ
Pu-rín-dà-da
ấy phải chăng?
Không
biết ngài nên ta muốn hỏi,
Làm
sao ta biết được tôn ông?
Quỷ
thần:
19.
Tôi đây không phải một Thiên nhân,
Chẳng
phải Sak-ka, chẳng Nhạc thần,
Tôi
chính quỷ nhân, tâu chúa thượng,
Từ
Su-ra đến ở ma cung.
Quân
vương:
20.
Ngày trước ngài công đức thế nào,
Ở
Su-ra xử thế ra sao,
Ngài
theo Phạm hạnh nào từ trước,
Nay
hưởng cảnh vinh hiển biết bao?
Quỷ
thần:
21.
Xin hãy lắng nghe, hỡi chúa công,
Là
người khai quốc, vị anh hùng,
Quốc
sư tế lễ nghe tôi nói,
Cùng
các quân nhân, các đại thần.
22.
Chúa công, tôi đến tự Su-ra,
Thuở
trước tính tình thật xấu xa,
Tà
kiến mang đầy cùng ác ý,
Xan
tham, hay mạ ly người ta.
23.
Tôi ngăn lắm kẻ thật nhân từ
Hành
thiện sự nhiều để lợi tha,
Tôi
cản bước chân bao kẻ khác
Sẵn
lòng lấy của cải đem cho.
24.
Bảo: 'Bố thí không tạo phước phần
Ðâu
là kết quả tự điều thân?
Không
hề có đạo sư nào cả,
Ai
sẽ phạt người không hiến dâng?
25.
Giữa các hữu tình đồng đẳng nhau,
Tại
sao kính trọng vị niên cao,
Có
đâu nỗ lực và tinh tấn,
Nói
đến tinh cần bởi cớ sao?
26.
Bố thí không mang quả phước phần,
Cũng
không trừ diệt một cừu nhân;
Mỗi
người được những gì cần có,
Và
nhận những gì phải đến thân.
27.
Chẳng có mẹ cha, huynh đệ đâu,
Không
đời này cũng chẳng đời sau,
Cũng
không bố thí, không dâng cúng,
Không
có gì bền vững được lâu.
28.
Hễ ai đánh đập một người nào,
Hoặc
có đem người khác chặt đầu,
Cũng
chẳng làm gì gây tổn hại
Giữa
muôn loài vật sống bên nhau.
29.
Mỗi mạng sống đều bất khả phân,
Dầu
hình bát giác hoặc cầu lăn,
Nó
cao đến cả năm trăm dặm,
Ai
có thể tiêu diệt nó chăng?
30.
Cũng giống cuộn dây được ném ra
Từ
người thả nó, chạy lăn xa,
Như
vầy là mạng người đang sống
Thoát
được những ai thả nó mà.
31.
Như người từ giã một ngôi làng
Vào
một làng kia, phải thấy đường,
Cũng
vậy, một con người tận số
Bước
vào thân xác mới tha phương.
32.
Như người từ giã một ngôi nhà,
Và
bước vào nơi trú ngụ kia,
Cũng
vậy, là con người tận số
Ði
vào một cảnh giới phương xa.
33.
Sau khi qua hết nẻo luân hồi
Tám
triệu bốn trăm ngàn kiếp trôi,
Tất
cả kẻ ngu cùng bậc trí
Thảy
đều chấm dứt khổ đau rồi.
Lạc,
ưu đo được bằng thùng, giỏ
Người
chiến thắng thông hiểu sự đời,
Kẻ
khác đều là phường xuẩn ngốc',
Tôi
mang tà kiến cả đời tôi.
34.
Xưa kia tôi lầm lạc, lắm mê si,
Tà
kiến, tôi không đạo hạnh gì,
Tôi
lại xan tham, hay phỉ báng,
Không
đầy sáu tháng, sẽ ra đi.
35-36.
Ðọa vào ngục hãi kinh sao,
Có
bốn góc, và bốn cửa vào,
Ngục
được chia phần theo kích thước,
Xung
quanh bao bọc với tường rào,
Làm
bằng sắt nóng và trên mái
Cũng
có sắt che tận đỉnh cao.
37.
Nền sắt ánh lên lửa nóng bừng,
Sáng
ngời mọi phía trăm do-tuần,
Trăm
ngàn năm đã trôi qua mất,
Lập
tức một âm thanh chuyển rung.
Những
kẻ tà tâm và ác tính
Ðã
từng phỉ báng các chân nhân
Bị
hành địa ngục vô lượng kiếp,
Chốn
ấy sẽ đau khổ chẳng ngừng.
38.
Cho nên tôi thống thiết than van
Kết
quả ác hành kia phải mang,
Xin
lắng nghe tôi, tâu chúa thượng,
Anh
hùng khai quốc, chúc an khang!
Nguyên
tôi có một cô con gái,
Tên
gọi Ut-ta-ra thật ngoan.
39.
Nàng hành thiện sự thấy an vui
Giữ
Bát quan trai giới đúng thời,
Nàng
sống điều thân, ham bố thí,
Nhân
từ, khôn khéo lúc trao lời.
40.
Nhất mực tuân theo giáo pháp nhà,
Nàng
làm dâu quý tộc danh gia,
Nàng
là đệ tử Ngài Viên Giác,
Bậc
trí vinh quang, tộc Thích-ca.
41.
Một Tỷ-kheo cao đạo khác thường,
Ra
đi khất thực, bước vào làng,
Mắt
người cúi xuống, thân điều phục,
Chánh
niệm và phòng hộ các căn
Trong
lúc đi từng nhà khất thực,
Dần
dần người đến tận nhà nàng.
42.
Ut-ta-ra lúc ấy nhìn người,
Chúc
chúa công luôn hưởng phước trời!
Nàng
đã dâng người bình nước uống
Cùng
nhiều bánh bột, lại thưa lời:
43.
'Tôn giả, cha con đã mất rồi,
Mong
sao lễ mọn giúp cho người'.
Không
lâu sự việc nàng vừa thấy,
Kết
quả tức thì đến với tôi.
44.
Tôi hưởng thức ăn, lạc thú tràn,
Khác
nào Thiên đế Tỳ-sa-môn,
Hỡi
anh hùng mở mang bờ cõi,
Xin
lắng nghe đây, tấu chúa công.
45.
Phật-đà được gọi đấng siêu nhân
Giữa
các Thiên, nhân ở cõi trần,
Hãy
đến quy y vào đức Phật,
Cùng
đàn thê tử, hỡi anh hùng.
46.
Nhiều người đạt bất tử, vô sanh,
Do
chính Ðạo kia có tám ngành,
Cùng
vợ con đi tìm Giáo pháp
Ðể
quy y, hỡi bậc hùng anh!
47.
Cùng bước đi trên bốn Ðạo này,
Trú
trong bốn Quả quý cao thay,
Chư
Tăng trực hạnh và tu luyện
Giới
đức trang nghiêm, trí tuệ đầy.
48.
Hỡi bậc anh hùng, xin hãy đi
Cùng
đàn thê tử thọ Tam quy,
Mau
mau bỏ giết loài sanh vật,
Không
lấy trộm cho dẫu vật gì,
Không
uống rượu nồng, không nói dối,
Hãy
bằng lòng với vị vương phi.
Quân
vương:
49.
Ngài muốn ta an lạc, Dạ-xoa,
Ngài
mong lợi ích với hoàng gia,
Phần
ta thực hiện lời ngài dạy,
Ngài
chính là sư phụ của ta.
50-51.
Ta đến quy y đấng Phật-đà,
Tối
cao Giáo pháp, với Tăng-già,
Ta
mau bỏ hết điều sanh sát,
Không
lấy vật gì chẳng tặng ta,
Không
uống rượu nồng, không nói dối,
Biết
bằng lòng với vợ trong nhà.
52.
Ta bỏ khoe khoang với xảo ngôn,
Nhanh
như thể đổ xuống dòng sông,
Ta
nôn ra hết bao tà kiến,
Thích
thú tuân lời dạy Thế Tôn.
53.
Nói vầy xong, chúa tể Su-ra
Từ
bỏ ngay quan điểm ác tà,
Ðảnh
lễ Thế Tôn, rồi chúa thượng
Hướng
về đông ngự giá vương xa.
Nhờ
thần lực của vị quỷ nhân, nhà vua về kinh thành kịp ngày
hôm ấy. Về sau, đúng thời, vua tường thuật chuyện ấy
với chư Tỷ-kheo và chư vị này lại trình vấn đề với
chư Trưởng lão biên soạn Giáo pháp để đưa câu chuyện
vào Hội đồng kết tập Kinh tạng thứ ba. (Bổ sung từ Tập
Sớ).
4.
(39) Chuyện Ngạ Quỷ Revatì
(Chuyện
này giống chuyện số 2 Phẩm V của Chuyện Thiên Cung).
5.
(40) Chuyện Cây Mía (Ucchu)
Trong
khi đức Thế Tôn đang trú tại Veluvana (Trúc Lâm), một người
đang chở mía, cầm một khúc mía, vừa đi vừa ăn. Các vần
kệ này kể lại câu chuyện trên.
Một
hôm, Tôn giả Mahà-Moggallàna (Ðại Mục-kiền-liên) đang đi
khất thực vào Vương Xá, gặp một ngạ quỷ thưa trình như
sau:
1.
Một rừng mía lớn hiện bên mình,
Bát
ngát, mùa phong phú tốt lành,
Song
nó không cho tôi chút ít,
Kính
thưa Tôn giả đại uy danh,
Nghiệp
gì gây quả này như vậy,
Tôn
giả cho tôi biết sự tình?
2.
Tôi đang thống khổ, bị hành thân,
Tôi
cố gắng tìm chút để ăn,
Tôi
phấn đấu hoài bên khóm mía,
Sắp
tàn hơi thở, chết kề gần,
Tôi
than khóc tấm thân đày đọa,
Do
nghiệp gì đem quả ấy chăng?
3.
Thất bại, tôi nhào xuống đất ngay,
Lăn
tròn trong lửa đốt thiêu này
Như
con cá nọ, tôi than khóc,
Nước
mắt nhỏ ra cả mặt mày,
Tôn
giả, xin ngài cho biết rõ,
Nghiệp
gì đem kết quả như vầy?
4.
Tôi đói khát và kiệt sức tàn,
Kinh
hoàng, tôi chẳng biết bi hoan,
Chúc
ngài hưởng phước, tôi xin hỏi,
Làm
thế nào tôi được mía ăn?
Tôn
giả Moggallàna:
5.
Khi làm người ở một thời xưa,
Ngươi
đã tạo nên một nghiệp tà,
Ta
nói cho ngươi nghe việc ấy,
Khi
nghe, ngươi biết chuyện vừa qua.
6.
Ngươi bước trên đường, lấy mía ăn,
Một
Tỳ-kheo đến tự sau lưng,
Bảo
ngươi rằng muốn xin đôi chút,
Ngươi
chẳng đáp lời, chẳng hé răng.
7.
Cho dẫu ngươi không muốn nói năng,
Người
kia vẫn nói, giọng xin van:
'Cho
tôi khúc mía, thưa ông chủ',
Sau
đó ngươi cho một ít phần
Từ
phía sau lưng và kết quả
Nghiệp
kia ngươi đã lãnh vào thân.
8.
Nhìn đây! Cầm mía ở sau mình,
Hãy
lấy mía ăn thật thỏa tình,
Do
chính việc này, ngươi sẽ được
Hân
hoan, thích thú, hưởng ân lành!
9.
Nó đi cầm mía tự sau mình,
Khi
đã cầm, ăn thật thỏa tình,
Do
chính cách này, nên nó được
Hân
hoan, thích thú, hưởng ân lành.
Ngạ
quỷ ấy bèn cầm một bó mía cúng dường vị Trưởng lão
và vị này đem dâng đức Phật ở Trúc Lâm. Ðức Thế Tôn
cùng hội chúng Tỷ-kheo dùng mía ấy rồi nói lời tùy hỷ
công đức.
Từ
đó về sau ngạ quỷ ấy có thể ăn mía thỏa thích.
Theo
thời gian, ngạ quỷ được tái sanh giữa hội chúng cõi trời
Ba mươi ba.
6.
(41) Chuyện Các Vương Tử (Kumara)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong khi đang trú tại Jevatana (Kỳ
Viên)
Tương
truyền Ðại Vương nước Kosala (Kiều-tát-la) trị vì tại
Sàvatthi (Xá-vệ) có hai vương tử khả ái đang độ hoa niên.
Trong nỗi đam mê dục vọng của tuổi trẻ không được kềm
chế, hai vị đã phạm tội tà dâm nên sau khi từ trần hai
vị tái sanh làm ngạ quỷ bị đè bẹp trong một ống cống.
Suốt
đêm, ngạ quỷ thường than khóc với những tiếng kêu la khủng
khiếp. Dân chúng nghe vậy rất kinh hãi.
Do
sự việc này, dân chúng cúng dường đại lễ lên Giáo hội
do đức Phật cầm đầu và bảo nhau:
- Ðiềm
xấu này phải chấm dứt.
Sau
đó họ trình lên đức Thế Tôn những việc đang xảy ra.
Ngài bảo:
- Này
chư đệ tử, chư vị không thể chấm dứt tiếng kêu la này
được đâu.
Rồi
Ngài nói rõ nguyên nhân sự việc này cho hội chúng qua các
vần kệ sau:
1.
Có một kinh thành tên Xá-vệ,
Ở
trên sườn núi Tuyết, cao sơn,
Tôi
nghe vầy: Có đôi vương tử
Là
các con trai bậc đế vương.
2.
Phóng dật buông lung các dục tham,
Tìm
nguồn lạc thú ở trần gian,
Chúng
không suy xét tương lai chúng,
Tận
hưởng thú vui hiện tại tràn.
3.
Khi chúng bỏ thân xác thế nhân
Ði
sang thế giới khác người trần,
Dù
không ai thấy, thường kêu khóc
Về
ác nghiệp xưa chúng đã làm
4.
'Quả thật nhiều người đáng cúng dâng
Với
nhiều lễ vật', chúng than van,
'Xưa
ta chẳng tạo nên công đức
Ðem
đến cho mình chỗ trú an'.
5.
'Ác nghiệp nào đời trước tạo ra,
Do
vầy từ giã chốn hoàng gia,
Tái
sanh vào cõi loài ma đói,
Chịu
đói khát giày xéo chúng ta?
6.
Những kẻ làm vua cõi thế nhân
Sẽ
không làm chúa tể âm cung,
Sang,
hèn, hai loại đều quanh quẩn
Bị
đói khát hành hạ khổ thân.
7.
Biết rằng đau khổ có nguồn căn
Vua
chúa buông lung phóng dật tâm,
Nam
tử bỏ vương quyền ngã mạn,
Do
vầy, thành một vị Thiên nhân,
Sau
khi xả báo thân phàm tục,
Bậc
trí tái sanh cõi sáng bừng'.
Như
vậy, bậc Ðạo Sư kể lại số phận của các ngạ quỷ xong,
liền hồi hướng về chúng công đức do đám người này cúng
dường lễ vật và thuyết pháp theo ý Ngài.
7.
(42) Chuyện Vợ Vương Tử (Ràjaputta)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Jevatana (Kỳ Viên).
Thuở
xưa có một nam tử của vua mệnh danh là Kitava làm tổn thương
một vị Ðộc Giác Phật. Chàng phải đọa vào địa ngục
nhiều ngàn năm, và chính vì lỗi lầm kia, chàng bị tái sanh
vào loài ngạ quỷ. Chuyện của chàng đã được kể đầy
đủ chi tiết trong sự tích các ngạ quỷ ở Sànuvàsi (Số
27, phẩm III)
Bấy
giờ trong khi kể cho một vị Trưởng lão nghe số phận đám
quyến thuộc quá vãng của ngạ quỷ kia, bậc Ðạo Sư bảo:
- Quả
thật không phải chỉ quyến thuộc của ông, mà cả ông nữa,
lúc trở thành ngạ quỷ trong đời trước, sau khi từ giã
thế giới này, cũng đã chịu nỗi thống khổ khốc liệt.
Rồi
do lời thỉnh cầu của vị Trưởng lão, Ngài kể chuyện này:
1.
Quả do các nghiệp tạo ngày xưa
Có
thể làm dao động trí ta
Liên
hệ sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Những
gì đem lạc thú say sưa.
2.
Ông hoàng đã hưởng thú cao sang,
Ðàn
địch, ái ân thật ngập tràn,
Sau
lúc nhàn du quanh thượng uyển,
Chàng
đi vào cổ lũy Ða Sơn.
3.
Chốn kia chàng thấy Su-net-ta,
Thanh
tịnh, điều thân, một Phật gia,
Thiểu
dục, khiêm cung và biết đủ
Với
bình khất thực kiếm từng nhà.
4.
Hoàng nam bước xuống tự lưng voi,
Và
đến Hiền nhân ấy, thốt lời:
'Tôn
giả, xin chào!' rồi lập tức
Chàng
cầm bình bát ném lên trời.
5.
Ném vỡ chiếc bình xuống đất kia,
Vừa
cười vừa nói lúc đi xa:
'Ta
là vương tử Ki-ta chúa,
Ðạo
sĩ có làm ích lợi ta?'
6.
Quả báo cho hành động bất nhân
Thật
là khắc nghiệt, khổ muôn phần,
Tương
truyền vương tử về sau đó
Phải
đọa vào trong ngục tối tăm.
7.
Hơn năm mươi vạn năm đày thân
Trong
ngục tối đau khổ tận cùng
Vì
tội lỗi mà chàng đã tạo,
Bị
nhiều hình phạt đến xoay vần.
8.
Chàng cứ nằm, đưa mặt xuống sàn
Xoay
quanh phải, trái, biết bao lần,
Ðôi
chân chổng ngược lên cao mãi;
Rồi
đứng thẳng, người ngốc khổ thân.
9-10.
Qua mấy ngàn năm, mấy vạn năm,
Bị
hành địa ngục khổ vô ngần,
Chính
vì tội lỗi chàng gây tạo,
Quả
khắc nghiệt kia phải lãnh phần
Bởi
những người đưa tay phá hại
Bậc
Hiến trí giải thoát mê lầm.
11.
Sau khi đã trải biết bao năm
Trong
ngục khổ đau thật hãi hùng,
Chàng
phải mạng chung vì đói khát,
Trở
thành một ngạ quỷ mình trần.
12.
Như vầy, khi thấy cảnh đau thương
Do
vị vua buông thả kỷ cương,
Ta
chẳng làm vua buông thả nữa,
Mà
nên hướng đến tính khiêm nhường.
13.
Ngay cả trong đời sống hiện thời,
Người
tôn trọng Phật đáng khen hoài,
Có
đầy trí tuệ, khi thân hoại,
Ðược
tái sanh vào cõi sáng tươi.
8.
(43) Chuyện Những Ngạ Quỷ Ăn Phân (Gùthakhàdaka)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Jetavana (Kỳ
Viên).
Tương
truyền trong một thị trấn nọ không xa Sàvatthi, có một gia
chủ ra lệnh xây một tinh xá cúng dường vị Tỷ-kheo vốn
là bạn thân của mình. Về sau nhiều Tỷ-kheo từ khắp nơi
đến cư trú tại đó.
Khi
thấy chư Tăng, dân chúng liền cung cấp đủ mọi thứ cần
dùng. Bấy giờ vị Tỷ-kheo thân tín của chủ nhà không chịu
được cảnh này và lòng đầy ganh tỵ (như các vần kệ kể
lại).
Về
sau Tôn giả Mahà-Moggallàna thấy vị ấy và hỏi:
1.
Ngươi chính là ai, khốn khổ thân,
Ðứng
kia, vừa đến tự hầm phân,
Nói
cho ta biết hành vi ác
Ngươi
đã làm trong quá khứ chăng?
Ngạ
quỷ:
2.
Tôn giả, tôi là ngạ quỷ nhân,
Thần
dân khốn khổ Dạ-ma quân,
Vì
tôi đã phạm hành vi ác,
Từ
cõi đời, tôi đến cõi âm.
Trưởng
lão:
3.
Thời xưa đã phạm ác hành gì
Do
khẩu, ý, thân đã thực thi?
Vì
nghiệp quả nào ngươi đã tạo
Giờ
ngươi phải chịu cảnh sầu bi?
Ngạ
quỷ:
4.
Nhà tôi thường trú một Tỳ-kheo,
Tật
đố và ganh tỵ đủ điều,
Ở
tại nhà tôi, ham dục lạc,
Vị
này phỉ báng, xan tham nhiều.
5.
Tôi đã nghe lời của ác nhân,
Và
tôi khiển trách các Sa-môn;
Bởi
vì tôi phạm hành vi ấy,
Từ
cõi đời, tôi đến cõi âm.
Trưởng
lão:
6.
Bạn thiết của ngươi chính kẻ thù
Giả
danh bạn đấy, hỡi người ngu,
Ðến
khi thân hoại, đi nơi khác,
Số
phận nào cho kẻ giả tu?
Ngạ
quỷ:
7.
Nay tôi đang đứng ở trên đầu
Của
phạm nhân này tự bấy lâu,
Nó
đã đọa vào miền ngạ quỷ,
Chỉ
mình tôi, nó phải theo hầu
8.
Vật nào người khác trút cho vơi
Liền
trở thành đồ ăn của tôi,
Và
nó, đến phiên mình, kiếm sống
Những
gì tôi tống khứ ra ngoài!
Tôn
giả Mahà-Moggallàna tường thuật sự việc này lên đức Thế
Tôn, Ngài liền giải thích ý nghĩa của nó và nêu rõ mối
nguy hiểm của sự chỉ trích người khác.
9.
(44) Chuyện Thứ Hai Về Các Ngạ Quỷ Ăn Phân (Gùthakhàdaka)
Trong
lúc đang trú tại Jetavana, bậc Ðạo Sư kể chuyện này giống
như chuyện trên. Ở đây, một nữ cư sĩ xây tinh xá và bị
tái sanh làm nữ ngạ quỷ.
Các
vần kệ đều giống nhau.
10.
(45) Chuyện Bầy Ngạ Quỷ (Ganapeta)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Jetavana.