PHẨM
GIỚI.
11. CHUYỆN CON
NAI ÐIỀM LÀNH (Tiền thân Lakkhana)
Con người có giới hạnh...,
Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm,
gần thành Vương Xá, đức Phật kể về Ðề-bà-đạt-đa.
Câu chuyện về Ðề-bà-đạt-đa sẽ được kể cho đến khi
làm tướng cướp trong Tiền thân Khandahala (số 533), cho đến
khi bị đuổi đi khỏi chức vụ người giữ kho bạc trong
Tiền thân Cullapanthaka (số 533), cho đến khi bị quả đất
nuốt sống trong Chương thứ mười sáu ở Tiền thân Samud-davanija
(số 466).
Một thời, Ðề-bà-đạt-đa yêu
cầu năm điều kiện, nhưng không được, bèn phá hòa hợp
Tăng, đem theo năm traêm Tỷ-kheo đến ở tại Gayàsisa. Rồi
khi trí của những Tỷ-kheo ấy được thuần thục, biết vậy,
bậc Ðạo Sư bảo hai đệ tử đầu tay:
- Này Xá-lợi-phất, năm trăm
Tỷ-kheo đệ tử của ông, thích thú sở đắc của Ðề-bà-đạt-đa,
đã đi với kẻ ấy. Nay trí của họ đã được thuần phục.
Ông hãy đi đến đấy với nhiều Tỷ-kheo, thuyết pháp cho
họ làm họ giác ngộ về Ðạo và Quả, và đưa họ về.
- Theo lời Thế Tôn, Tôn giả
Xá-lợi-phất đi đến đó, thuyết pháp cho họ làm họ giác
ngộ về Ðạo và Quả; đến ngày hôm sau, khi trời mới rạng
đông, Tôn giả đem các Tỷ-kheo ấy về Trúc Lâm. Sau khi về,
Trưởng lão Xá-lợi-phất đảnh lễ Thế Tôn. Khi đang đứng
tại đây, các Tỷ-kheo tán thán vị Trưởng lão với Thế
Tôn như sau:
- Bạch Thế Tôn, sáng chói huy
hoàng là Pháp huynh niên trưởng của chúng con, bậc Tướng
quân Chánh pháp, với năm trăm Tỷ-kheo vây quanh đã đi trở
về. Còn Ðề-bà-đạt-đa mất hết những người theo kẻ
lấy.
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Xá-lợi-phất mới sáng chói huy hoàng khi về với
bà con hội chúng vây quanh, nhưng trong thời quá khứ, cũng
sáng chói huy hoàng như vậy!
Các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn
làm sáng tỏ vấn đề này. Thế Tôn trình bày rõ ràng câu
chuyện quá khứ sau đây.
*
Thuở sau, tại nước Ma-kiệt-đà,
trong thành Vương Xá, một vị vua Ma-kiệt-đà đang trị vì.
Lúc ấy, Bồ-tát ra đời làm con nai, lớn lên và ở trong rừng
với đàn nai một ngàn con. Bồ-tát sanh được hai con nai, tên
là Lakkhana (Ðiềm lành) và Kala (Ðen). Khi đã già, Bồ-tát
nói với hai con:
- Này con thân, ta nay đã già, các
con hãy coi sóc đàn nai.
Rồi Bồ-tát giao năm trăm nai cho
mỗi con. Từ đấy về sau, hai con nai ấy chăm sóc đàn nai.
Trong nước Ma-kiệt-đà, vào mùa
lúa chín, khi lúa trổ đầy, có nhiều nguy hiểm cho đàn nai.
Với mục đích giết hại những con thú ăn lúa, dân làng đào
hầm hố, cắm chông, bày bẫy đá, đặt bẫy sộp và các
loại cạm bẫy khác. Nhiều con nai bị nạn phải chết.
Bồ-tát biết là thời lúa chín
trổ đầy, cho gọi hai con lại và nói:
- Này con thân, nay là thời lúa chín
trổ đầy, nhiều con nai đã gặn nạn. Ta nay đã già sẽ dùng
bất cứ phương tiện nào để ở lại một chỗ. Còn các
con hãy đem đàn nai của các con, ẩn vào những con đường
núi đá trong rừng, đợi khi lúa gặt hái xong, sẽ trở về
lại!
Chúng vâng theo lời dạy của cha,
ra đi với đàn nai tùy tùng. Dân làng biết được con đường
của chúng đi. Trong thời này, các con nai leo núi; trong thời
này, chúng xuống núi nên họ ẩn núp tại các chỗ kín, đây
đó dọc đường, để bắn và giết chúng vô số.
Con nai Kala, với sự ngu si của mình,
không biết thời nào nên đi, thời nào không nên đi, cứ đem
đàn nai đi sáng, chiều, khi chạng vạng, khi rạng đông, ngang
qua cửa làng. Và các nông dân hoặc lộ liễu hoaëc ẩn núp
chỗ này chỗ kia giết chúng, khiến nhiều con nai gặp nạn.
Như vậy, với sự ngu si của mình, nai Kala làm cho nhiều con
nai gặp nạn, số còn lại đi vào rừng với nó rất ít.
Còn nai Lakkhana nhờ có trí, thông
minh, thiện xảo, biết thời nào nên đi, thời nào không nên
đi, nó không đi ngang qua cửa làng, không đi ban ngày, không
đi lúc hoàng hôn, khi rạng đông, mà chỉ đem đàn nai đi vào
lúc nửa đêm. Do vậy, không một nai nào gặp nạn, và chuùng
cùng nó đi vào rừng. Chúng sống bốn tháng tại đây khi lúa
đã được gặt hái, mới xuống núi.
Kala, trên đường về, lặp lại
hành động ngu si trước, khiến những con nai còn lại gặp
nạn, một lần nữa, chỉ có một mình nó trở về. Con nai
Lakkhana không làm một nai nào bị nạn, cùng với năm trăm
nai vây quanh, đi về với cha mẹ. Khi Bồ-tát thấy hai con đi
về, nghĩ về đàn nai, liền nói lên bài kệ này:
Con người có giới hạnh
Ðược phần thưởng đón mừng,
Xem Lak-kha-na về,
Cầm đầu chúng bà con,
Hãy xem Ca-la này
Với bà con hủy diệt.
Như vậy, Bồ-tát đón mừng nai con,
sống tại đấy cho hết tuổi thọ rồi đi theo nghiệp của
mình.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Xá-lợi-phất không phải chỉ
hôm nay mới được chói sáng với bà con vây quanh, mà trước
kia cũng đã chói sáng như vậy. Còn Ðề-bà-đạt-đa không
phải chỉ hôm nay mới làm cho quyến thuộc bị hủy diệt,
mà trước kia cũng như vậy.
Sau khi thuyết pháp thoại này
xong, so sánh hai câu chuyện, và kết hợp chúng với nhau, Ngài
kết luận với sự nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, con nai Kala là Ðề-bà-đạt-đa,
đoàn tùy tùng của nó là đàn tùy tùng của Ðề-bà-đạt-đa;
con nai Lakkhana là Xá-lợi-phất; nai mẹ là mẹ của Ràhula
(La-hầu-la) và nai cha là Ta vậy.
-ooOoo-
12. CHUYỆN CON
NAI CÂY ÐA (Tiền thân Nigrodhamiga)
Sống với Nigrodha...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về mẹ của Trưởng lão Cumarakassapa
(Cưu-ma-la Ca-diếp). Tục truyền rằng thuở còn là con gái
một triệu phú giàu có ở thành Vương Xá, nàng đầy thiện
căn để chấm dứt các hành, sống đời cuối cùng như cây
đèn trong ghè, nội tâm nàng sáng chói niềm hy vọng chứng
quả A-la-hán. Từ khi hiểu biết về mình, nàng không vui trong
đời sống gia đình, và muốn xuất gia. Nàng thưa với cha
mẹ:
- Thưa cha mẹ thân, tâm con không
vui với đời sống gia đình, con muốn xuất gia trong Giáo pháp
giải thoát của đức Phật. Hãy cho phép con xuất gia.
- Này con, con nói gì vậy? Gia
đình này rất giàu có. Con là con gái độc nhất của chúng
ta. Con không được xuất gia!
Nàng tiếp tục xin, không được
cha mẹ cho xuất gia, nàng nghĩ: "Thôi, hãy chấp nhận là vậy.
Khi nào về nhà chồng, được chồng bằng lòng, ta sẽ xuất
gia!"
Nàng lớn lên, đi về nhà chồng,
trở thành người vợ trung thành, sống trong gia đình có giới
hạnh và theo thiện pháp. Khi nàng sống trong gia đình, nàng
thụ thai, nhưng không biết mình đã thụ thai.
Một ngày hội lớn được tuyên
bố trong thành ấy và mọi người trong thành phố vui chơi
hội lớn. Thành phố được trang hoàng như thành phố Chư
Thiên. Nhưng trong khi lễ hội lớn đạt đến cao độ, nàng
vẫn không thoa phấn son, không đeo đồ trang sức, ăn mặc
như ngày thường. Chồng nàng nói với nàng:
- Này hiền thê, toàn thành phố
vui chơi hội lớn. Còn em thì không săn sóc gì cho thân mình.
- Thưa hiền phu, thân này của
em đầy ba mươi hai bộ phận của thân xác, trang điểm thân
này làm gì? Thân này không do chư Thiên hóa sanh, không do Phạm
thiên hóa sanh, không làm bằng vàng, không làm bằng châu báu,
không làm bằng gỗ chiên-đàn vàng, không sanh từ đài sen
trắng, sen hồng hay sen xanh, không đựng đầy thuốc trường
sanh. Thân này uế nhiễm do cha mẹ sanh, bị vô thường hủy
diệt, băng hoại tan nát, làm nghĩa trang tăng trưởng, bị
ai chấp thủ, là nhân của sầu ưu, là căn cứ của than khóc,
là kho tàng của mọi bệnh tật, là chỗ dung nạp của nghiệp
lực, nội bộ ô uế, ngoại bộ thường bài tiết. Thật vậy,
như toàn thế giới có thể thấy cứu cánh của nó là chết,
đi đến nghĩa địa, là chỗ tự hội các côn trùng. Và nàng
nói lên lời cảm thán:
Ràng buộc bởi gân xương,
Dính lại với da thịt,
Thân bị da bao trùm,
Không thấy được như thật.
- Kính thưa hiền phu, em trang điểm
thân này làm gì? Có phải chăng trang điểm thân này chẳng
khác gì trang điểm bề ngoài một cái bình đựng đầy phân?
Người triệu phú nghe nàng nói
như vậy bèn hỏi:
- Nếu hiền thê thấy thân này
tội lỗi như vậy, sao hiền thê không xuất gia?
- Thưa hiền phu, nếu em được
phép xuất gia, em sẽ xuất gia ngay hôm nay!
Nói xong, sau khi tổ chức bố
thí lớn và tỏ lòng hết sức kính trọng Giáo hội, người
triệu phú cùng với một số tùy tùng lớn đưa nàng xuất
gia, và nàng được xuất gia với chúng Tỷ-kheo-ni thuộc phái
Ðề-bà-đạt-đa. Sau khi xuất gia, nàng sống hoan hỷ với
tâm tư viên mãn.
Khi cái thai của nàng đã thuần
thục, các Tỷ-kheo-ni nhận thấy các căn của nàng đổi khác,
tay chân và lưng lớn lên, màn da bụng to lên, hỏi nàng:
- Này hiền muội, hình như hiền
muội có thai. Sự việc này thế nào?
- Thưa các hiền tỷ, tôi không
biết sự việc này. Giới hạnh tôi đầy đủ!
Rồi các Tỷ-kheo-ni đưa nàng
đến Ðề-bà-đạt-đa và hỏi Ðề-bà-đạt-đa:
- Thưa Tôn giả, thiện nữ nhân
này, với sự chấp nhận khó khăn của người chồng, đã
được xuất gia. Nay nàng có thai, chúng tôi không biết nàng
thọ thai nhi khi còn là cư sĩ, hay khi đã xuất gia. Nay chúng
tôi phải làm gì?
Ðề-bà-đạt-đa tự mình chưa
phải là bậc Giác ngộ, nên không có lòng kham nhẫn, từ bi,
từ mận và suy nghĩ: "Một Tỷ-kheo-ni thuộc phái Ðề-bà-đạt-đa
nay đã có thai, và Ðề-bà-đạt-đa lại hỷ xả. Ta sẽ bị
chỉ trích như vậy. Ta phải đuổi người này." Rồi không
điều tra, như xô đẩy một tảng đá, Ðề-bà-đạt-đa lập
tức khẳng định và nói:
- Hãy đi ngay và tẩn xuất người
này!
Chúng Tỷ-kheo-ni ấy nghe nói vậy,
đứng dậy đảnh lễ rồi đi về trú xứ. Nàng thiếu phụ
thưa với các Tỷ-kheo-ni ấy:
- Thưa các Nữ Tôn giả, Trưởng
lão Ðề-bà-đạt-đa không phải đức Phật! Con xuất gia không
phải với Ðề-bà-đạt-đa, nhưng con xuất gia với bậc Chánh
Ðẳng Giác, bậc tối thượng ở đời. Chớ làm mất nơi
con điều con đã được một cách khó khăn! Hãy đưa con đi
đến Kỳ Viên, gặp bậc Ðạo Sư!
Chúng Tỷ-kheo-ni ấy đưa nàng
đi, vừa qua con đường dài bốn mươi lăm dặm, từ Vương
Xá dần dần đến Kỳ Viên, đảnh lễ bậc Ðạo Sư và tường
trình sự việc. Bậc Ðạo Sư suy nghĩ: "Dầu thai của nàng
ấy được tượng hình khi còn là gia chủ, đây cũng là một
dịp để ngoại đạo nói rằng Sa-môn Gotama đã nhận lấy
một Tỷ-kheo-ni bị Ðề-bà-đạt-đa loại bỏ. Ðể chấm
dứt câu chuyện, vấn đề này còn được giải quyết trước
mặt vua và tùy tùng của vua".
Ngày hôm sau, Thế Tôn cho mời
vua Pasenadi, (Ba-tư-nặc) nước Kosala, ông Cấp Cô Ðộc lớn,
Cấp Cô độc nhỏ, nữ cư sĩ Visàkhà, và các nhân vật có
tiếng khác. Rồi vào buổi chiều, giữa bốn chúng đã đều
tụ họp, Thế Tôn bảo trưởng lão Upàli.
- Hãy đi làm cho sáng tỏ sự
việc của Tỷ-kheo-ni trẻ này giữa bốn chúng!
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vị trưởng lão đi đến giữa
hội chúng, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cho mình, cho gọi
nữ cư sĩ Visàkhà trước mặt nhà vua, và giao việc điều
tra này:
- Hãy đi, này Visàkhà, trước
hết, hãy xác định ngày xuất gia, tháng xuất gia của người
thiếu phụ này. Sau khi biết rõ rồi, hãy tìm hiểu nàng thụ
thai trước đây hay sau thời gian ấy.
Nữ cư sĩ chấp nhận lời dạy,
cho treo một cái màn. Sau cái màn ấy, nữ cư sĩ quan sát tay,
chân, lỗ rún, bụng, các phần thân khác của Tỷ-kheo-ni trẻ.
Sau khi tính ngày tháng, biết được nàng thụ thai trong thời
kỳ còn là gia chủ, nữ cư sĩ đi đến vị Trưởng lão và
báo cáo kết quả.
Vị trưởng lão, giữa bốn chúng,
tuyên bố Tỷ-kheo-ni ấy là thanh tịnh. Bấy giờ nàng được
xác nhận là thanh tịnh, liền đến đảnh lễ chúng Tỷ-kheo
và bậc Ðạo Sư, rồi đi về trú xứ với các Tỷ-kheo-ni.
Khi bào thai đã thuần phục, nàng sanh được một bé trai có
uy lực lớn, do nàng cầu nguyện dưới chân Ðức Phật Padumuttara
cách đây nhiều kiếp.
Nhà vua, một hôm đi đến gần
trú xứ của Tỷ-kheo-ni, nghe tiếng của đứa trẻ, và hỏi
các đình thần. Các đình thần biết câu chuyện, thưa lại
với vua:
- Tâu Ðại Vương, vị Tỷ-kheo-ni
trẻ ấy sanh được một đứa con trai. Ðây là tiếng khóc
của đứa trẻ.
- Này các khanh, nuôi con là một
chướng ngại cho các Tỷ-kheo-ni. Chúng ta sẽ nuôi dưỡng nó.
Vua giao đứa trẻ cho các thiếu
phụ bà con và bảo nuôi dưỡng nó lớn như một hoàng tử.
Ðến ngày đặt tên, nó được tên là Kassapa, nhưng được
biệt danh là hoàng tử Kassapa, vì được nuôi dưỡng như một
hoàng tử. Khi lên bảy tuổi, Kassapa xuất gia với bậc Ðạo
Sư, và khi đầy đủ tuổi, được thọ Ðại Giới. Thời
gian đi qua, vị ấy trở thành một nhà thuyết pháp tài giỏi
giữa các nhà thuyết pháp. Rồi bậc Ðạo Sư ấn chứng cho
vị ấy:
- Này các Tỷ-kheo, vị này là
đệ nhất trong các đệ tử thuyết pháp của Ta, tức là Hoàng
tử Kassapa. Hoàng tử Kassapa, nhờ kinh Vammika (Kinh Trung Bộ,
số 23) chứng quả A-la-hán. Tỷ-kheo-ni, mẹ vị ấy, nhờ phát
triển Thiền quaùn, chứng quả cao nhất. Trưởng lão Cumarakassapa,
giữa giáo pháp đức Phật, sáng chói như mặt trăng rằm giữa
hư không.
Một hôm, sau buổi ăn, trên con
đường đi khất thực trở về, đức Như Lai khuyến giáo
các Tỷ-kheo xong, đi vào Hương Phòng. Sau khi được lời khuyến
giáo, Tăng chúng sinh hoạt trong các gian phòng ban ngày, hay gian
phòng ban đêm của họ. Vào buổi chiều, họ hội họp tại
Pháp đường, và tán thán đức hạnh của đức Phật:
- Này các Hiền giả, Ðề-bà-đạt-đa
tự mình không phải là Phật, lại không có kham nhẫn, lòng
từ bi, lòng từ mẫn, đã khiến cho Trưởng lão Cumarakassapa
và Trưởng lão ni gần bị hại. Nhưng bậc Chánh Ðẳng giác
tự mình là bậc Pháp Vương, lại thành tựu kham nhẫn, lòng
từ bi, lòng từ mẫn, đã trở thành chỗ nương tựa cho hai
vị ấy.
Bậc Ðạo sư, với uy nghi của
Ðức phật, đi vào Pháp đường, ngồi xuống trên chỗ đã
soạn sẵn, và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đang
ngồi luận bàn chuyện gì?
Các Tỷ-kheo thưa:
- Bạch Thế Tôn, chúng con bàn
đến công đức của Thế Tôn.
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Như Lai mới trở thành chỗ nương tựa cho hai người
ấy, nhưng trong quá khứ cũng vậy.
Các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn
làm sáng tỏ vấn đề này. Thế Tôn trình bày rõ câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahamadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm một con nai. Khi từ bụng
mẹ sanh ra, con nai có màu sắc vàng, mắt của nó giống như
hòn châu báu, sừng màu trắng bạc, miệng đỏ như tấm màn
nhung, móng chân láng trơn như màu sơn mài, đuôi giống như
đuôi con trâu rừng (Yak), thân to lớn bằng con nghé. Nó sống
trong rừng, được vây quanh với năm trăm con nai và được
gọi là nai chúa Nigrodla (Cây Ða). Không xa bao nhiêu, có một
con nai khác, với năm trăm con nai tùy tùng và được gọi là
nai Sakha (Nhành), nai này cũng màu sắc vàng.
Lúc bấy giờ vua Ba-la-nại thường
hay săn bắn nai, không có thịt nai thì không ăn cơm. Hằng
ngày vua triệu tập dân thành dân tỉnh lại, đình chỉ công
việc của mọi người và vua thích đi săn bắn. Mọi người
suy nghĩ: "Vua này đình chỉ công việc của chúng ta; chúng
ta hãy gieo bẫy mồi và đặt nước uống cho các con nai trong
vườn, đuổi nhiều nai vào trong ấy, đóng cửa lại và bắt
dẫn chúng đến vua".
Như vậy, họ gieo cỏ làm bẫy mồi,
đặt nước uống khắp vườn, cho sắp đặt cửa, đem theo
những người trong thành, tay cầm côn, gậy và các loại binh
khí khác đi vào rừng tìm nai, họ bao một vòng vây khoảng
độ một dặm để bắt đàn nai bị vây ở giữa, và như
vậy họ vây quanh chỗ ở của đàn nai Nigrodha và đàn nai
Sakha.
Khi thấy đàn nai, họ bắt đầu
lấy gậy đập cây, đập bụi, đập đất, đuổi đàn nai
ra khỏi chỗ ở của chúng, khua động các loại vũ khí như
gươm, giáo, cung, la hét và đuổi đàn nai vào rừng. Rồi họ
đóng cửa lại, đi đến gặp vua và thưa:
- Thưa Ðại Vương, vì luôn luôn
đi săn nai, Ðại Vương phá hoại công việc của chúng con.
Nay chúng con đã dẫn đàn nai rừng vào đầy cả vườn của
Ðại Vương. Từ nay trở đi, Ðại Vương có thể ăn thịt
chúng.
Sau khi thưa như vậy, dân chúng bỏ
đi. Nhà vua nghe họ nói, đi đến khu vườn, nhìn các con nai,
thấy hai con nai vàng, liền tha chết cho chúng. Từ đấy về
sau, có khi nhà vua tự đi bắn một con nai rồi đem về. Có
khi người đầu bếp đi đến, bắn nai rồi đem về. Các con
nai, thấy cây cung, liền run rẩy vì sợ chết nên bỏ chạy.
Nhưng khi bị hai hay ba vết thương, chúng mệt mỏi, bị bệnh,
và bị giết. Ðàn nai báo cáo sự việc như vậy lên Bồ-tát.
Bồ-tát cho gọi Sakha và nói:
- Này bạn, nhiều con nai bị hại,
dầu thế nào chúng cũng phải chết. Nhưng bắt đầu từ nay
trở đi, chớ để các con nai bị tên bắn một cách vô ích.
Hãy để các con nai thay phiên nhau đi đến chỗ phải chết.
Một ngày là phiên đàn nai của tôi, một ngày là phiên nai
của bạn. Con nai nào đến phiên của mình cứ đi đến, nằm
xuống đặt đầu vào chỗ phải chết. Làm vậy, các con nai
khác khỏi bị thương.
Con nai Sakha chấp thuận. Từ đấy
trở đi, theo phiên mình, một con nai đi đến, nằm xuống,
đặt cổ vào chỗ bị giết. Người đầu bếp đến, bắt
con nai nằm đấy rồi đem đi.
Một hôm đến phiên một con nai
cái có mang ở trong đàn nai Sakha. Con nai cái đến gặt Sakha
và thưa:
- Thưa chúa tể, tôi có thai, sắp
sanh con, như vậy đàn có hai mạng sống đến phiên. Hãy cho
qua phiên của tôi.
Nai Sakha nói:
- Không thể bảo những con nai khác
thế phiên cho ngươi được. Ngươi hãy chịu những gì sẽ
đến với ngươi, hãy đi đi.
Con nai cái ấy không được nai Sakha
chấp thuận, liền đi đến Bồ-tát và trình bày sự việc.
Bồ-tát nghe xong liền nói:
- Ðược, hãy đi đi! Ta sẽ bỏ
qua phiên của người!
Rồi nai chúa tự mình đi đến,
đặt đầu vào chỗ chết nằm chờ. Người đầu bếp thấy
vậy liền nói:
- Con nai chúa đã được tha khỏi
chết, nay lại nằm ở chỗ chết này. Sự việc này là cớ
sao?
Rồi kẻ ấy đi báo cáo cho vua hay.
Nhà vua lập tức ngự lên xe, đi đến với đoàn tùy tùng
đông đảo, thấy Bồ-tát, liền nói:
- Này bạn nai chúa, ta đã tha khỏi
chết cho người. Sao nay ngươi nằm ở đây?
- Thưa Ðại Vương, một con nai cái
đến gặp tôi, yêu cầu một con khác thay phiên cho nó. Tôi
không có thể bắt một con nào khác chịu đau đớn vì bị
chết được. Tôi quyết định cho con nai cái ấy mạng sống
của tôi, nhận lấy cái chết thay cho con nai cái, nên nằm
ở đây, Ðại Vương chớ có nghi ngờ gì khác!
Vua nói:
- Hỡi nai chúa sắc vàng, từ trước,
ta chưa bao giờ thấy giữa loài người, có ai đầy đủ khảm
nhẫn, hòa ái, từ bi như ngươi. Do vậy, ta thật bằng lòng
với ngươi. Hãy đứng dậy, ta sẽ cho ngươi và con nai cái
ấy thoát khỏi sợ hãi!
- Thưa bậc nhân chủ, có hai con
nai được thoát khỏi sợ hãi, đàn nai còn lại thì thế nào?
- Này nai chúa, ta sẽ cho đàn nai
còn lại thoát khỏi sợ hãi.
- Thưa Ðại vương, các con nai được
thoát khỏi sự sợ hãi, nhưng các con sinh vật bốn chân khác
thì sao?
- Này nai chúa, ta cũng cho chúng thoát
khỏi sợ hãi!
- Thưa Ðại Vương, các loài bốn
chân được thoát khỏi sợ hãi, nhưng các đàn chim thì thế
nào?
- Này nai chúa, ta cũng sẽ cho chúng
thoát khỏi sợ hãi!
- Thưa Ðại Vương, các loại chim
như vậy được thoát khỏi sợ hãi, nhưng còn đàn cá sống
ở trong nước thì thế nào?
- Này nai chúa, ta cũng sẽ cho chúng
thoát khỏi sợ hãi!
Như vậy con nai chúa đã xin vua được
thoát khỏi sợ hãi cho tất cả chúng sanh, đứng dậy, khuyên
nhà vua thọ năm giới, và nói:
- Thưa Ðại Vương, hãy sống theo
Chánh pháp! Hãy xử sự đúng Chánh pháp đối với cha mẹ,
đối với con trai, con gái, đối với Bà-la-môn, gia chủ, đối
với dân ở thành phố, dân ở các tỉnh. Hãy tự mình sống
đúng Chánh pháp, khi nhân loại mạng chung, sẽ được sanh
lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này!
Sau khi thuyết pháp cho vua với uy
lực kỳ diệu của Ðức phật, Bồ-tát sống tại khu vườn
trong một vài ngày để khuyến giáo vua, rồi cùng với đàn
nai vây quanh, lên núi đi theo chúng vào rừng. Con nai cái đẻ
ra một con nai đực đẹp như một nụ hoa. Nai con này đi chơi
với đàn nai Sakha. Thấy nai mình đi chơi với đàn nai Sakha,
nai mẹ khuyên con mình, bắt đầu từ nay chớ đi tới Sakha,
nên đi tới Nigrodha và nói lên bài kệ:
Sống với Ni-gro-dha,
Chớ sống với Sa-kha!
Chết với Ni-gro-dha,
Hơn sống với Sa-kha.
Từ đấy trở đi, các con nai thoát
khỏi sợ hãi khi ăn lúa của dân chúng. Và dân chúng nhớ
rằng các con nai được thoát khỏi sợ hãi, nên không dám
đánh đập hay đuổi chúng đi. Họ tụ họp tại sân vua và
báo cáo lên vua biết. Vua nói:
- Do ta bằng lòng, ta đã cho nai Nigrodha
một đặc ân. Ta thà mất nước chớ không bỏ lời đã hứa.
Hãy đi đi, trong quốc độ của ta, không con nai nào bị đánh
cả!
Nai Nigrodha, nghe tin này, liền hợp
đàn nai lại và bảo:
- Bắt đầu từ nay, chớ ăn lúa
của người khác!
Sau khi bảo chúng hứa như vậy,
nai Nigrodha báo tin cho dân chúng biết:
- Bắt đầu từ nay, những người
trồng lúa chớ rào ruộng lại để bảo vệ lúa, chỉ làm
dấu bằng cách cột lá lúa lại.
Bắt đầu từ đấy, theo tin đồn,
khởi lên tục lệ cột lá lúa lại giữa các đồng ruộng.
Bắt đầu từ đấy, các con nai không vượt qua đồng ruộng
có lá lúa cột lại. Ðây là nhờ Bồ-tát khuyến giáo chúng
như vậy. Sau khi khuyến giáo đàn nai, Bồ-tát sống ở đấy
cho hết tuổi thọ, rồi cùng với đàn nai đi theo nghiệp của
mình. Còn nhà vua nghe lời khuyến giáo của Bồ-tát, suốt
đời làm các công đức rồi sau đó đi theo nghiệp của mình.
*
Bậc Ðạo Sư nói sau khi kể pháp
thoại:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Ta mới bảo vệ Trưởng lão ni và Kumarkassapa, mà thuở
trước Ta cũng bảo vệ như vậy.
Rồi Ngài thuyết giảng Bốn Sự
thật, nêu sự liên hệ giữa hai câu chuyện, kết hợp chúng
với nhau, và kết luận bằng cách nhận diện Tiên thân:
- Thời ấy, con nai Sakha là Ðề-bà-đạt-đa,
đàn nai là tùy tùng của Ðề-bà-đạt-đa, nai cái là Trưởng
lão ni, nai con là Kumarakassapa, vua là Ànanda, con nai chúa Nigrodha
là Ta vậy.
-ooOoo-
13. CHUYỆN MŨI
TÊN (Tiền thân Kandina)
Ðáng nguyền rủa mũi tên...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
Thế Tôn đã kể lại sự cám dỗ của những người vợ trước
đối với các Tỷ-kheo. Câu chuyện này sẽ được kể trong
Tiền thân Indriya số 248, Chương tám. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo
- Này Tỷ-kheo, do người đàn
bà này, trước kia mạng ông bị hoại diệt và bị thiêu sống
trong lửa hừng.
Các Tỷ-kheo yêu cầu Thế Tôn
giải thích rõ câu chuyện ấy, và Thế Tôn trình bày rõ câu
chuyện bị tái sanh che lấp.
[Bắt đầu từ nay, chúng tôi sẽ
không nói đến lời yêu cầu giải thích của các Tỷ-kheo,
sự trình bày rõ câu chuyện bị tái sanh che lấp, mà chúng
tôi chỉ nói: Kể câu chuyện quá khứ. Tất cả các phần
còn lại đều được hiểu như ở các chuyện trước.]
*
Thuở xưa, tại nước Ma-kiệt-đà,
vua nước ấy đang trị vì ở thành Vương Xá. Ðến mùa lúa,
các con nai trú ở Ma-kiệt-đà gặp nguy hiểm, vì vậy chúng
đi vào con đường núi trong rừng. Tại đấy, một con nai rừng
lại luyến ái một con nai cái sống ở một làng biên địa.
Khi các con nai từ đường núi về trong thời đi xuống biên
địa của làng, vì tâm luyến ái con nai cái ấy, con nai núi
đi theo nó. Con nai cái nói:
- Chàng là một con nai núi ngu si.
Tại biên địa của làng, có nguy hiểm và có chuyện đáng
sợ hãi. Chớ đi xuống với chúng tôi.
Vì con nai núi có tâm luyến ái,
không chịu trở lui, vẫn đi với con nai cái. Người dân ở
Ma-kiệt-đà biết thời kỳ các con nai từ đường núi đi
xuống, và ẩn núp tại chỗ kín bên đường.
Trên đường hai con nai ấy trở
về, một người thợ săn ẩn núp tại moät chỗ kín. Con nai
cái đánh được hơi người, biết có người thợ săn ẩn
núp, nên bảo con nai ngu si đi trước, còn mình đi sau. Người
thợ săn chỉ với một phát tên, bắn ngã con nai tại chỗ.
Con nai cái biết con nai rừng bị
bắn trúng, liền nhảy lên, chạy như gió. Người thợ săn
ra khỏi chỗ ẩn núp, lột da con nai núi, nhen lửa, và nướng
thịt nai ngon ngọt trên đống than cháy không ngọn. Sau khi
ăn thịt, uống nước xong, với đòn gánh anh ta mang về phần
thịt dư thừa còn máu nhỏ giọt để làm vui lòng mấy đứa
trẻ, và đi về nhà.
Lúc ấy, Bồ-tát được sanh làm
một vị thần ở khu rừng ấy. Thấy sự việc đã xảy ra,
ngài suy nghĩ như sau: "Con nai ngu dại này chết không phải
do meï, không phải do cha, chỉ do lòng dục. Chúng sanh hưởng
lạc thú khi dục mới tượng hình, nhưng rồi sẽ gặp nạn
khổ đau, bị chặt tay, bị năm loại khổ đau, bị trói, bị
đánh. Làm cho những người khác khổ và chết là điều đáng
bị chỉ trích ở trong đời này! Quốc độ nào có nữ nhân
hoành thành, ra mệnh lệnh, quốc độ ấy bị nữ nhân lãnh
đạo là điều đáng chỉ trích! Những chúng sanh nào chịu
để cho nữ nhân chi phối thật đáng bị chỉ trích".
Trong khi các vị thần khác nói lời
tán thán và cúng dường hương, hoa v.v..., Bồ-tát tóm thâu
ba lời chỉ trích trong một bài kệ, khiến toàn khu rừng ấy
vang lên âm thanh dịu ngọt. Ngài thuyết pháp với bài kệ
này:
Ðáng nguyền rủa mũi tên
Bắn người gây thống khổ,
Ðáng nguyền rủa quốc độ
Do nữ thần lãnh đạo!
Ðáng nguyền rủa chúng sanh
Chịu thần phục đàn bà!
Như vậy, với một câu kệ, cả ba
lời chỉ trích được Bồ-tát tóm thâu, và toàn khu rừng
vang dậy lời thuyết pháp khi Bồ-tát thuyết giảng uy lực
của đức Phật.
*
Bậc Ðạo Sư, thuyết pháp thoại
này xong, liền giảng về Bốn Sự thật. Cuối bài thuyết
giảng, vị Tỷ-kheo ái luyến chứng quả Dự Lưu. Bậc Ðạo
sư kể hai câu chuyện, kết hợp chúng với nhau, và kết luận
với sự nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, con nai rừng là vị
Tỷ-kheo luyến ái, con nai cái là vợ trước của Tỷ-kheo,
còn vị thần thuyết pháp nêu rõ tội lỗi dục tham là Ta
vậy.
-ooOoo-
14. CHUYỆN CON
NAI GIÓ (Tiền thân Vàtamiga)
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về Trưởng Lão Cullapindapatika
Tissa. Theo truyền thống, khi bậc Ðạo Sư ở tại Trúc Lâm,
gần Vương Xá, con trai của một gia đình triệu phú giàu có,
tên là Tissakumara, một hôm đi đến Trúc Lâm, nghe bậc đạo
sư thuyết pháp. Tissa về nhà, xin phép xuất gia, nhưng cha mẹ
không bằng lòng. Tissakumara bèn nhịn đói trong bảy ngày như
Ratthapàla (Kinh Trung Bộ số 83) và được cha mẹ chấp thuận
xuất gia với bậc Ðạo Sư.
Ðộ nửa tháng, sau khi truyền
giới xuất gia cho Tissakumara, bậc Ðạo Sư, từ Trúc Lâm đi
đến Kỳ Viên. Tại đấy, vị thiện nam này theo người ba
hạnh đầu đà, dùng thời gian khất thực từng nhà ở Xá-vệ.
Với danh xưng Trưởng lão Cullapindapatika, vị ấy trở thành
sáng chói trong Giáo pháp bậc Ðạo sư như mặt trăng giữa
bầu trời.
Trong khi ấy, tại Vương Xá, nhân
một ngày hội lớn được tổ chức, cha mẹ của Trưởng
lão lấy đồ trang sức, mà con thường dùng trong khi còn ở
nhà, bỏ vào trong một cái hộp bạc đặt lên trên ngực,
vừa khóc vừa nói như sau:
- Trong các ngày hội vui khác,
con chúng ta thường mang những đồ trang sức này. Sa-môn Cồ-đàm
đem đứa con một của chúng ta đi đến thành Xá-vệ. Nay con
chúng ta ngồi ở đâu? đứng ở đâu?
Một kỹ nữ có nhan sắc đi đến
gia đình ấy, thấy vợ nhà triệu phú khóc, liền hỏi vì
sao bà khóc. Bà kể lại câu chuyện. Người Kỹ nữ thưa:
- Thưa bà, con trai bà ưa thích
gì?
- Nó ưa thích thứ này, thứ này!
- Nếu bà cho con chủ quyền hoàn
toàn trong gia đình này, con sẽ đem con trai bà về.
Bà vợ triệu phú chấp thuận
lời đề nghị, cho tiền phí tổn, tiễn kỹ nữ đi với tùy
tùng đông đảo:
- Hãy đi và dùng sức mạnh của
mình đem con ta về.
Người kỹ nữ ấy ngồi trong
xe có màn che đi đến Xá-vệ, tạm trú tại con đường Trưởng
Lão thường đi khất thực. Nàng được vây quanh với đoàn
tùy tùng của mình, và không cho Trưởng lão thấy những người
tùy tùng cùng đến từ gia đình triệu phú. Khi Trưởng lão
bắt đầu đi vào đường này khất thực, nàng dùng thìa,
dùng bát cúng đường đồ ăn, trói buộc Trưởng lão với
lòng tham vị, lần lượt mời Trưởng lão vào ngồi trong nhà
và cúng dường đồ ăn.
Khi biết Trưởng lão đã bị
mình chinh phục, nàng giả đau, nằm ở phòng trong. Trưởng
lão, trong khi đi khất thực từng nhà , đến tại cửa nhà
nàng. Người hầu cầm lấy bình bát của vị ấy và mời
vào ngồi trong nhà. Sau khi ngồi, Trưởng lão hỏi:
- Nữ cư sĩ ở đâu?
- Thưa Tôn giả, nữ cư sĩ bị
đau, và mong muốn được thấy Tôn giả.
Bị trói buộc bởi lòng tham vị
ngon, phá hoại giới cấm mình đã chấp nhận, Trưởng lão
đi vào phòng ngủ của nàng. Sau đó nàng kể lại nguyên do
nàng đến đây cám dỗ vị ấy, trói buộc vị ấy với lòng
tham vị, khiến vị ấy từ bỏ sự xuaát gia, đặt vị ấy
vào trong thế lực của mình, và đưa vị ấy ngồi trong xe
với đoàn tùy tùng đông đảo, đi về Vương Xá. Sự việc
này được lan truyền rộng rãi. Các Tỷ-kheo ngồi trong Pháp
đường nói chuyện này:
- Này chư Hiền giả, một Kỹ
nữ có nhan sắc đã trói buộc Trưởng lão Cullapindaptika Tissa
với lòng tham vị ngon và đã đem Trưởng lão đi!
Bậc Ðạo Sư đi đến Pháp đường
ngồi xuống trên bảo tọa được soạn sẵn, và hỏi chuyện
gì đang được các Tyû-kheo bàn. Các Tỷ-kheo ấy thuật lại
chuyện ấy. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ bây giờ Tỷ-kheo này bị trói buộc bởi lòng tham vị,
đã rơi vào thế lực của nàng, mà thuở trước kẻ ấy cũng
đã rơi vào thế lực của nàng.
Rồi Thế Tôn kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadattha trị
vì ở Ba-la-nại, cón một người giữ vườn tên là Sanjaya.
Một
con nai gió đi đến khu vườn ấy, thấy Sanjaya liền bỏ chạy.
Sanjaya không làm cho nó sợ hãi, cho nó thoát đi. Con nai ấy
tiếp tục đến và thường đi qua lại trong khu vườn. Người
giữ vườn thường hái các loại hoa quả trong vườn, và hàng
ngày dâng vua. Một ngày kia, vua hỏi:
- Này khanh, khanh có thấy sưï việc
gì lạ ở trong khu vườn không?
- Tâu Ðại Vương, con không thấy
gì khác, con chỉ thấy một con nai gió đi đến, đi qua đi
lại trong khu vườn.
- Khanh có bắt nó được không?
- Nếu được một chút mật ong,
con có thể dẫn nó đến ngay trong nội cung.
Vua bảo cho kẻ ấy mật ong.
Người giữ vườn lấy mật, đi
đến khu vườn tại chỗ con nai gió thường đi, kẻ ấy bôi
cỏ với mật và ẩn núp. Con nai đi đến ăn cỏ có dính mật,
bị trói buộc bởi lòng tham vị, không đi chỗ khác, chỉ
đến khu vườn. Người giữ vườn biết được con nai đã
tham đắm cỏ dính mật, liền dần dần xuất đầu lộ diện.
Những ngày đấu thấy người giữ vườn, con nai ấy liền
bỏ chạy, nhưng rồi thấy luôn, nói khởi loøng tin, dần dần
đến ăn cỏ đặt trong tay người giữ vườn.
Người giữ vườn biết đã lấy
được lòng tin của con thú ấy, bèn rải đến đường những
cành lá non dày như tấm thảm cho đến nội cung, quàng bên
nách một hũ đựng mật, giắt một nắm cỏ và thắt lưng,
rải cỏ có dính mật trước mặt con nai, và đưa nó đến
tận nội cung.
Khi con nai đã vào tận nội cung,
họ đóng cửa lại. Con nai thấy người, hoảng hốt, sợ phải
chết, cứ chạy qua chạy lại trong nội cung. Nhà vua từ lâu
đài đi xuống, thấy con nai hoảng sợ, liền nói:
- Con nai gió này, cả một tuần
không đi đến chỗ nó thấy người, trọn đời không đi đến
chỗ nó sợ hãi, con vật sống nơi rừng rậm ấy bị trói
buộc bởi lòng tham vị, nay đã đi đến cảnh ngộ như thế
này! Thật vậy, không có gì ác độc hơn là lòng tham vị
ở đời.
Rồi với bài kệ, vua thuyết pháp:
Không gì ác hại hơn
Truyền thuyết nói là vậy,
Ở nhà hay với bạn,
San-gia-da với vị
Chinh phục con nai gió
Chỉ nương tựa núi rừng.
Sau khi nói vậy, vua liền thả con nai
ấy về rừng.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, người kỹ
nữ có nhan sắc ấy không phải chỉ nay mới trói buộc vị
ấy với lòng tham vị, và chinh phục vị ấy, nhưng trong thời
quá khứ cũng đã làm như vậy.
Sau khi thuyết pháp thoại này,
Thế Tôn kết hợp hai câu chuyện với nhau, rồi kết luận
với sự nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, Sanjaya là người
kỹ nữ có nhan sắc, con nai gió là Cullapindapatika, còn vua Ba-la-nại
là Ta vậy.
-ooOoo-
15. CHUYỆN CON
NAI KHARÀDIYA (Tiền thân Kharàdiya)
Khi con nai có tám móng...,
Câu chuyện này, Khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về một Tỷ-kheo khó bảo. Theo truyền
thuyết, vị Tỷ-kheo khó bảo không chấp nhận lời khuyến
giáo. Vì thế, bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng
ông khó bảo, không chấp nhận lời khuyến giáo?
- Thưa thật vậy, Bạch Thế Tôn!
Thế Tôn nói:
- Thuở xưa, vì khó bảo ông không
chấp nhận lời khuyến giáo của bậc Hiền trí nên bị bắt
trong bẫy sập, và mạng sống bị diệt vong!
Nói vậy xong, Thế Tôn kể câu
chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahamadattta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con nai, với đàn nai vây
quanh sống ở trong rừng. Một con nai chị đưa đến một nai
con và nói:
- Này em, đây là cháu của em. Hãy
dạy nó học những sự khôn ngoan của loài nai.
Bồ-tát nói với con nai cháu:
- Vào giờ ấy, hãy đến học.
Nhưng con nai cháu không đến vào
giờ hẹn. Một ngày như vậy, bảy ngày cũng như vậy, bỏ
qua bảy lời khuyến giáo, nó không đến học sự khôn ngoan
của loài nai, và cuối cùng, khi đi lang thang đây đó, nó bị
bắt trong một cái bẫy.
Mẹ nó đến hỏi Bồ-tát:
- Này em, em có dạy cho cháu những
khôn ngoan của loài nai không?
Bồ-tát nói:
- Ðừng nghĩ đến con nai không chấp
nhận khuyến giáo ấy nữa. Con của chị không học những
sự khôn ngoan của loài nai. Nay em không còn muốn khuyến giáo
nó nữa.
Bồ-tát đọc bài kệ này:
Khi nai có tám móng
Với sừng chĩa nhiều nhánh,
Lại có bảy mưu chước
Ðể tự cứu lấy mình,
Ta không dạy nó nữa,
Hỡi Kha-ra-di-ya.
Rồi người thợ săn giết con nai bị
bắt trong bẫy ấy, và mang thịt về.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ
nay ông mới khó bảo, thuở trước ông cũng khó bảo như vậy.
Thuyết pháp thoại này xong, bậc
Ðạo Sư kết hợp hai câu chuyện và kết luận với sự hiện
diện Tiền thân:
- Thời ấy, con nai cháu là Tỷ-kheo
khó bảo, con nai chị là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc), còn con
nai khuyến giáo là Ta vậy.
-ooOoo-
16. CHUYỆN CON
NAI CÓ BA CỬ CHỈ. (Tiền thân Tipallatthamiga)
Nai với ba cử chỉ...,
Câu chuyện này, khi ở tại tinh
xá Badarika ở Kosambi, bậc Ðạo Sư đã kể về Trưởng lão
Ràhula (La-hầu-la) ham học các học giới. Một thời, bậc
Ðạo Sư trú ở điện Aggàlava, gần thành Àlavi, nhiều nữ
cư sĩ và Tỷ-kheo-ni thường đến tinh xá để nghe pháp. Thuyết
pháp được tổ chức ban ngày. Nhưng sau một thời gian, các
cư sĩ và các Tỷ-kheo-ni không đi nữa, chỉ có Tỷ-kheo và
nam cư sĩ. Từ đấy, thuyết pháp được tổ chức ban đêm.
Sau buổi thuyết pháp, các Tỷ-kheo
trưởng lão đi về chỗ ở của mình, còn các tu sĩ trẻ nằm
tại phòng giảng với các nam giới. Khi họ ngủ, một số
nằm ngáy khò khò và nghiến răng. Một số chỉ nằm một
lát rồi dậy, nhìn thấy sự kiện không thích đáng ấy, và
báo cáo lên Thế Tôn. Thế Tôn chế ra học giới như sau:
- Tỷ-kheo nào nằm ngủ với
người chưa thọ Ðại giới là phạm tội Pàcittiya (Ba-dật-đề:
tội phải thú nhận trước Tăng chúng)
Rồi Ngài đi đến Kosambi. Lúc bấy
giờ, các Tỷ-kheo nói với Tôn giả La-hầu-la:
- Hiền giả La-hầu-la, Thế Tôn
đã đặt ra học giới. Hiền giả nay hãy tìm chỗ ở của
mình
Lúc trước, vì kính trọng Thế
Tôn, vì Tôn giả tha thiết học hỏi các học giới, các Tỷ-kheo
ấy đã tiếp đón La-hầu-la như vào nhà của mình, đã soạn
một chiếc giường nhỏ và cho Tôn giả một cái y lam gối.
Nhưng hôm ấy, các Tỷ-kheo vì sợ vi phạm học giới, nên
không cho La-hầu-la chỗ ở.
Hiền giả La-hầu-la không đi
đến Thế Tôn là phụ thân của mình, cũng không đi đến
Xá-lợi-phất là vị Tướng quân Chánh pháp và là giáo thọ
sư của mình, cũng không đi đến Ðại-mục-kiền-liên là
bậc sư trưởng của mình, lại đi vào phòng vệ sinh của
Thế Tôn, như thể đi vào cung điện Phạm thiên và trú ở
đấy.
Trong phòng vệ sinh của đức
Phật, cửa luôn luôn khéo đóng, nền làm bằng đất thơm.
Hoa và vòng hoa kết thành vòng dọc theo những bức tường.
Suốt đêm có cây đèn thắp sáng. Hiền giả La-hầu-la không
vì cảnh sang trọng này mà trú ở đấy, chỉ vì các Tỷ-kheo
bảo tìm lấy chỗ ở, chỉ vì tôn trọng lời khuyên bảo,
vì muốn học tập nên trú chỗ ấy.
Thỉnh thoảng, các Tỷ-kheo thấy
Tôn giả từ xa đi đến, vì mục đích thử thách, thường
quăng bên ngoài cái cán chổi hay một ít rác, chờ khi La-hầu-la
đi đến, liền hỏi:
- Hiền giả, ai quăng đồ rác
này?
Khi được nghe: Chính La-hầu-la
đi qua đường này, La-hầu-la không nói: - Thưa Tôn giả, tôi
không biết việc này
Trái lại, La-hầu-la thường dọn
rác ấy đi, khiêm tốn xin lỗi, và sau khi được tha lỗi mới
đi. Vì mong muốn học tập như vậy, nên La-hầu-la mới trú
tại chỗ ấy.
Rồi trước khi rạng đông, bậc
Ðạo Sư đứng trước cửa phòng vệ sinh và đắng hắng.
Tôn giả đằng hằng lại.
- Ai đó?
- Con là La-hầu-la.
Rồi Tôn giả đi ra đảnh lễ.
- Này La-hầu-la, sao con nằm ở
đây?
- Vì không có chỗ ở, bạch Thế
Tôn, trước đây các Tỷ-kheo cho con ở chung, nay vì sợ phạm
tội, không cho con chỗ ở. Nghĩ rằng, đây là một chỗ không
va chạm một ai, nên con nằm ở đây!
Thế Tôn xúc động mạnh vì Chánh
pháp, suy nghĩ: "Với La-hầu-la, các Tỷ-kheo còn vất bỏ như
vậy, thì đối với các lớp chúng trẻ mới xuất gia, có
gì họ không làm được".
Buổi sáng sớm, Thế Tôn cho họp
các Tỷ-kheo và hỏi Tướng quân Chánh pháp:
- Này Xá-lợi-phất, ông có biết
nay La-hầu-la trú tại chỗ nào không?
- Bạch Thế Tôn, con không biết.
- Này Xá-lợi-phất, La-hầu-la
đang ở trong nhà vệ sinh! Này Xá-lợi-phất, nếu các ông
vứt bỏ La-hầu-la như vậy, thì đối với các lớp trẻ mới
xuất gia, có gì các ông không làm được? Nếu sự việc là
vậy, những ai xuất gia trong Giáo pháp này sẽ không ở lại.
Bắt đầu từ hôm nay, các ông được phép cho người chưa
thọ Ðại giới ở chung một hay hai ngày. Ðến ngày thứ ba,
cho họ ở ngoài, sau khi biết chỗ ở của họ
Sau khi thêm điều khoản phụ
này, Thế Tôn chế định học giới. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo
ngồi trong pháp đường tán thán đức hạnh của La-hầu-la:
- Thưa các Hiền giả, hãy xem
La-hầu-la tha thiết học tập như thế nào. Khi được hỏi
chỗ ở của mình, La-hầu-la không nói: Ta là con đức Thế
Tôn. La-hầu-la không chống đói một Tỷ-kheo nào, nhưng đã
đến ở phòng vệ sinh!
Khi các Tỷ-kheo đang nói như vậy,
bậc Ðạo Sư đến tại pháp đường, ngồi xuống bảo toạ
có trang hoàng và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông nay
ngồi ở đây đang nói chuyện gì?
- Bạch Thế Tôn, chúng con nói
đến lòng tha thiết học tập của La-hầu-la, không nói chuyện
gì khác.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Không phải chỉ nay La-hầu-la
mới tha thiết học tập, mà trước kia khi làm bàng sanh, cũng
đã tha thiết học tập rồi.
Và Thế Tôn kể câu chuyện quá
khứ.
*
Thuở xưa, một vị vua Ma-kiệt-đà
đang trị vì tại Vương Xá. Lúc ấy Bồ Tát sanh làm một
con nai, với đàn nai vây quanh sống ở trong rừng. Con nai chị
đem con mình đến và nói:
- Này em, hãy dạy cho cháu em sự
khôn ngoan của loài nai.
- Tốt lắm.
Bồ-tát đáp lại và nói:
- Này cháu thân, hãy đi, và vào
giờ ấy, hãy đến học.
Con nai cháu không quên giờ cậu
nói, đúng giờ nó đến và học sự khôn ngoan của loài nai.
Một ngày kia, khi đi qua lại trong rừng, nó bị mắc vào bẫy
sập và thốt tiếng kêu của con thú bị bắt. Ðàn nai bỏ
chạy, về báo cho nai mẹ biết con bị mắc bẫy. Nó đi đến
nai em và hỏi:
- Này em, cháu đã học sự khôn
ngoan của loài nai chưa?
Bồ-tát nói:
- Ðừng sợ những điềm dữ đến
với cháu. Nó đã khéo học được sự khôn ngoan của loài
nai. Nay sẽ đến lượt chị cười rồi đó!
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc bài
kệ này:
Nai với ba cử chỉ,
Với nhiều sự khôn ngoan,
Biết dùng chân tám móng,
Biết nửa đêm uống nước;
Chỉ với một lỗ tai,
Thở theo nhịp độ đất;
Với sáu sự khôn ngoan,
Cháu tôi thắng người thù.
Như vậy, Bồ-tát nêu rõ cháu mình
đã học tốt đẹp sự khôn ngoan của loài nai, và an ủi nai
chị. Còn nai con bị bắt trong bẫy sập, không vùng vẫy, nằm
duỗi châ hết sức thoải mái theo một bên hông, móng chân
cào đất tại chỗ gần chân, hất lên bụi và cỏ, đi tiểu
và đại tiện, đầu gục xuống, le lưỡi, làm thân đẫm
ướt mồ hôi, rồi nó nín thở khiến bụng trướng lên, trợn
mắt, chỉ thuở với một lỗ mũi ở dưới, nín thở vói
lỗ mũi ở trên, khiến toàn thân cứng đờ như con vật đã
chết. Vì thế cho nên các loài ruồi xanh đến bu quanh nó.
Chỗ này, chỗ kia, các con quạ đã đậc xuống. Người thợ
săn đi đến, lấy tay vỗ bụng nó, suy nghĩ: "Con này bị bắt
hồi sáng, nay đaõ bắt đầu thối rồi", kẻ ấy cởi dây
trói cho nai, và nói:
- Nay ta làm thịt nó ở đây và
sẽ mang thịt về.
Không ngờ vực gì cả, người thợ
săn bắt đầu lượm cành cây và lá. Con nai con liềm trỗi
dậy, đứng lên bốn chân, vùng vẫy cái thân, vươn cổ, và
như đám mây bị gió lớn tan, nó chạy rất nhanh về với
mẹ nó.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- La-hầu-la không phải nay mới
ham học, thuở trước cũng đã ham học như vậy.
Thuyết pháp thoại này xong, sau
khi kết hợp hai câu chuyện, Ngài kết luận với sự nhận
diện Tiền thân như sau:
- Khi ấy, con nai cháu là La-hầu-la,
con nai mẹ là Upplavannà và con nai cậu là Ta vậy.
-ooOoo-
17. CHUYỆN GIÓ
THỔI (Tiền thân Màluta)
Nếu là tối hay sáng...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về hai Tỷ-kheo xuất gia đã lớn tuổi.
Truyền thuyết kể rằng, tại quốc độ Kosala, họ sống tại
một khu rừng, một trưởng lão tên Tối, và một trưởng
lão tên là Sáng. Một hôm, Tối hỏi Sáng:
- Thưa Tôn giả, thời nào gọi
là lạnh?
Sáng nói:
- Trong thời tối trăng.
Một hôm, Sáng hỏi Tối:
- Thưa Tôn giả, thời nào gọi
là lạnh?
Tối nói:
- Trong thời sáng trăng.
Cả hai không thể tự giaûi quyết
sự phân vân, bèn đi đến bậc Ðạo Sư, đảnh lễ Ngài rồi
hỏi:
- Bạch Thế Tôn, thời nào gọi
là lạnh?
Bậc Ðạo Sư, lắng nghe câu chuyện
của họ xong, liền nói:
- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa,
Ta đã trả lời câu hỏi này cho các ông. Do nhiều đời sống
chất chứa, nên các ông nhận định không rõ ràng nữa.
Nói xong, bậc Ðạo Sư kể câu
chuyện quá khứ.
*
Một thời dưới chân núi, một
con sư tử và một con hổ làm bạn với nhau, cùng ở trong
một cái hang. Lúc bấy giờ, Bồ-tát xuất gia làm một ẩn
sĩ, cũng ở dưới chân núi ấy. Một hôm, một cuộc tranh
cãi khởi lên giữa hai con vật ấy về vấn đề lạnh. Con
cọp nói trời lạnh trong thời mặt trăng tối. Con suu tử
lại nói trời lạnh trong thời mặt trăng sáng. Chúng không
thể tự giải quyết sự phân vân, bèn đến hỏi Bồ-tát.
Ngài nói lên bài kệ:
Nếu là tối hay sáng
Khi nào có gió thổi,
Có gió thổi, trời lạnh
Cả hai, không ai thua.
Như vậy, Bồ-tát giải hòa đôi bạn.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, thuở trước,
Ta đã trả lời cho các ông câu hỏi này
Thuyết pháp thoại này xong, Ngài
thuyết giảng Bốn Sự thật. Cuối bài giảng ấy, hai vị
Trưởng lão chứng quả Dự lưu. Sau khi kết hợp hai chuyện,
bậc Ðạo Sư kết luận với sự nhận diện Tiền thân:
- Lúc ấy, con cọp là Sáng, con
sư tử là Tối, còn Ta là người khổ hạnh đã trả lời
câu hỏi.
-ooOoo-
18. CHUYỆN ÐỒ
ĂN CÚNG NGƯỜI CHẾT (Tiền thân Matakabhatta)
Nếu chúng sanh biết được...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về đồ ăn cúng người chết.
Trong thời ấy, nhiều người giết hại nhiều dê cừu... để
cúng đồ ăn cho người thân đã mệnh chung. Các Tỷ-kheo thấy
họ làm như vậy, hỏi bậc Ðạo Sư:
- Bạch Thế Tôn, nay nhiều người
giết hại sinh mạng nhiều loài hữu tình để cúng đồ ăn
cho người chết, Bạch Thế Tôn, ở đây có hạnh phúc, lợi
ích nào không?
Thế Tôn nói:
- Cúng đồ ăn như vậy cho người
chết không có lợi ích gì. Khi đã sát sanh, làm sao có lợi
ích được? Thuở xưa, các bậc Hiền trí ngồi giữa hư không
thuyết pháp, nói rõ nguy hại của tập tục này, khiến toàn
thể dân chúng ở cõi Diêm-phù-đề bỏ hành động ấy. Nhưng
nay, bị sanh hữu tích lũy, nên hành động ấy lại khởi lên.
Nói vậy xong, Thế Tôn kể câu
chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta đang
trị vì ở Ba-la-nại, một Bà-la-môn thông hiểu ba tập Vệ-đà,
một danh sư nổi tiếng bốn phương, muốn cúng dường đồ
ăn cho người chết, cho bắt một con dê và bảo các đệ tử.
- Này các con thân, hãy dẫn con dê
này đến sông, tắm cho nó, đeo vòng hoa ở cổ nó, cho nó
ăn lúa độ nửa đấu, chải chuốt cho nó rồi đem nó lại
đây.
Các đệ tử vâng lời, dắt dê
đến sông, tắm cho nó, chải chuốt cho nó, rồi để nó đứng
trên bờ sông. Con đê ấy thấy được việc của mình đã
làm từ đời trước, suy nghĩ: "Hôm nay, ta sẽ được thoát
đau khổ", vì vậy nó cảm thấy sung sướng, cười lớn tiếng
như đập bể cái ghè, lại nghĩ: "Bà-la-môn này, khi giết
ta, sẽ chịu nỗi đau khổ của ta thuở trước", nó khởi
lòng thương hại người Ba-la-môn và khóc lớn tiếng. Các
thanh niên ấy hỏi nó:
- Này bạn, bạn cười lớn tiếng
rồi khóc lớn tiếng. Vì nhân gì bạn cười, vì nhân gì bạn
khóc?
- Hãy hỏi câu hỏi này trước mặt
thầy các ông!
Họ đem con dê ấy đi, và báo cáo
cho thầy biết. Vị thầy nghe câu chuyện, hỏi con dê:
- Này dê, sao ngươi lại cười và
sao ngươi lại khóc?
Con dê nhờ trí biết được đời
trước, nhớ đến việc đã làm của mình, và nói với Bà-la-môn:
- Này Bà-la-môn, thuở trước, giống
như ông, ta là một Bà-la-môn học giỏi các chú thuật, muốn
cúng dường đồ ăn cho người chết, đã giết một con dê
để cúng dường. Vì giết chỉ một con dê, ta bị chém đầu
trong bốn trăm chín mươi chín lần sống chết. Nay là lần
thứ năm trăm sống chết cuối cùng của ta. Hôm nay, ta sẽ
thoát khỏi sự đau khổ ấy. Nghĩ vậy, ta cảm thấy sung sướng,
do nhân duyên này ta cười. Còn ta khóc, vì ta nghĩ rằng chỉ
vì giết moät con dê, ta phải chịu khổ hình chặt đầu đến
năm trăm lần. Hôm nay ta sẽ thoát cái khổ ấy. Nhưng Bà-la-môn
này, vì giết ta, sẽ như ta chịu khổ hình chặt đầu trải
năm trăm đời sống. Vì thương xót ông, nên ta khóc.
- Này dê, chớ sợ, ta sẽ không
giết ngươi!
- Này Bà-la-môn, ông nói gì thế?
Dầu ông có giết ta hay không, hôm nay ta cũng không thể thoát
chết!
- Này dê, chớ sợ, ta sẽ bảo vệ
ngươi, sẽ cùng đi với ngươi!
- Này Bà-la-môn, nhỏ nhoi thay là
sự bảo vệ của ông và mạnh bạo thay là nghiệp ác ta làm!
Vị Bà-la-môn thả con dê ra, nói
với các đệ tử:
Và cùng với các đệ tử, vị Bà-la-môn
đi theo con vật. Con dê vừa được thả, vươn cổ lên, đến
bụi cỏ mọc sau lưng tảng đá ấy, và bắt đầu ăn lá cỏ.
Liền khi ấy, sét đánh trên lưng tảng đá ấy, một mảng
đá bị đánh vỡ, rơi trên cổ con dê đang vươn ra và chặt
đứt đầu. Nhiều người qui tụ lại xem.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát sanh làm vị
thần cây tại chỗ ấy. Với uy lực của vị thần, Bồ-tát
ngồi kiết-già trên hư không, trên đại chúng đang đứng
nhìn, và suy nghĩ: "Những chúng sanh này, nếu biết được
kết quả của việc ác như vậy, sẽ không làm ác nữa!" Rồi
với âm thanh dịu ngọt, Ngài thuyết pháp qua bài kệ:
Nếu chúng sanh biết được
Sự này sanh đau khổ,
Hữu tình sẽ không còn
Giết hại hữu tình nữa,
Vì ai giết hũu tình,
Sẽ phải sầu, phải khổ.
Như vậy, bậc Ðại Sĩ thuyết pháp
khiến cho mọi người sợ hãi địa ngục. Và nhiều người
nghe bài thuyết pháp ấy, biết sợ hãi điạ ngục, nên từ
bỏ sát sanh. Bồ-tát thuyết pháp xong, an trú quần chúng vào
Ngũ giới, rồi về sau đi theo nghiệp của mình. Còn quần
chúng, an trú trong lời khuyên của Bồ-tát, sau khi làm các
phước đức như bố thí v.v... được sanh lên thiên giới,
làm tràn đầy thành phố chư Thiên.
*
Bậc Ðạo Sư thuyết pháp thoại
này xong, kết hợp hai câu chuyện với nhau, và nhận diện
Tiền thân như sau:
- Thời ấy, Ta là vị thần cây.
-ooOoo-
19. CHUYỆN LỄ
CÚNG DO CÓ LỢI (Tiền thân Àyàcitabhatta)
Nếu muốn thoát hiện tại...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về lễ cúng dường do cầu nguyện các
thần linh. Lúc bấy giờ, theo truyền thuyết, quần chúng trong
khi đi buôn, thường hay giết các loài hữu tình, để làm
lễ cúng dường cho các thần với lời cầu nguyện: "Nếu
chúng tôi về được an toàn, có được tiền lời, chúng tôi
dẽ làm lễ cúng dường cho các ngài!". Cầu nguyện như vậy
rồi họ ra đi. Khi trở về được an toàn, có được tiền
lời, họ nghĩ được vậy là nhờ uy lực các vị thần, nên
giết hại nhiều loài hữu tình, làm lễ cúng dường để
giải toả lời cầu nguyện của mình.
Thấy vậy, các Tỷ-kheo hỏi Thế
Tôn việc này có lợi ích gì không, Thế Tôn kể câu chuyện
quá khứ.
-ooOoo-
Thuở xưa, tại nước Kàsi, một
vị gia chủ tại một ngôi làng nhỏ có hứa làm đồ ăn cúng
dường cho thần cây bàng mọc gần cổng làng. Khi đi về được
an toàn, vị ấy giết nhiều loài hữu tình, và đến gốc
cây để xin giải toả lời hứa. Nhưng vị thần cây đứng
giữa hai cành cây nói lên bài kệ này:
Nếu muốn thoát hiện tại,
Hãy nghĩ thoát đời sau,
Thoát hiện tại như vậy,
Là trói buộc thật chặt,
Bậc trí không thoát vậy,
Thoát vậy, buộc kẻ ngu.
Từ đấy về sau, dân chúng từ bỏ
sát sinh, sống theo chánh pháp, sau khi mạng chung được sanh
lên Thiên giới làm tràn đầy thành phố chư Thiên.
*
Bậc Ðạo Sư thuyết pháp thoại
này xong, kết hợp hai câu chuyện, và nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Ta là vị Thần
cây.
-ooOoo-
20. CHUYỆN HỒ
NALAKAPÀNA (Tiền thân Nalakapàna)
Thấy dấu chân đi xuống...,
Trong khi du hành ở Kosala, đi đến
làng Nalakàpàna, sống ở rừng Ketaka, gần hồ Nalakapàna, bậc
Ðạo Sư kể câu chuyện này về cọng lau. Lúc bấy giờ các
Tỷ-kheo, sau khi tắm tại hồ Nalakapàna, bảo các Sa-di đi lấy
những cọng lau để làm ống kim, họ thấy các cọng lau đều
trống rỗng hoàn toàn, liền đến hỏi Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, chúng con cho
lấy các cọng lau để làm ống kim. Nhưng từ gốc cho đến
ngọn, các cọng lau ấy đều trống rỗng hoàn toàn. Vì sao
lại như vậy?
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, đây là do
đại nguyện xưa của Ta vậy.
Nói xong, bậc Ðạo Sư kể câu
chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, theo truyền thuyết, tại
đây có cái hồ trong khu rừng rậm. Trong hồ ấy, có một
con quỷ La-sát ăn thịt những ai xuống nước. Lúc bấy giờ,
Bồ-tát sanh làm khỉ chúa, to lớn như một con nai màu đỏ,
được vây quanh với độ tám mươi ngàn con khỉ, Bồ-tát
che chở đàn khỉ sống ở trong rừng. Bồ-tát thường khuyên
đàn khỉ:
- Này các con thân, trong rừng này
có những cây độc và có những hồ chết, tại đấy các
loài phi nhân đang sống. Khi các con ăn những trái cây trước
kia chưa ăn và uống nước trước kia chưa uống, hãy hỏi
ta đã.
Ðàn khỉ vâng lời. Một hôm, đi
đến một chỗ trước kia chưa từng đến, sau nhiều ngày,
chúng tìm nước uống, và thấy một cái hồ. Nhưng chúng không
uống nước, cứ ngồi chờ Bồ-tát. Ngài đến và nói:
- Các con thân, sao các con không uống
nước?
- Chúng con chờ ngài đến.
- Tốt lắm, các con thân!
Bồ-tát đi vòng hồ thấy có dấu
chân đi xuống, không có đi lên, và suy nghĩ:" Không gì nghi
ngờ nữa, hồ này có phi nhân ẩn trú". Bồ-tát nói với đàn
khỉ:
- Này các con thân, việc các con
làm tốt lắm, vì đã không uống nước. Hồ này có phi nhân
ẩn trú.
Con quỷ La-sát dưới nước biết
được chúng không uống nước, liền hiện ra hình thù ghê
rợn với bụng xanh, mặt trắng vàng, tay chân màu đỏ, rẽ
nước đi lên và nói:
- Sao lại ngồi đây, hãy xuống
uống nước!
Bồ-tát hỏi:
- Có phải ngươi là La-sát sanh ra
ở trong nước không?
- Phải.
- Có phải ngươi bắt những ai xuống
uống nước ở đây?
- Phải. Ta bắt từ con chim nhỏ
xuống nước trở lên, ở tại đây, ta không tha một ai! Ta
sẽ ăn tất cả các ngươi.
- Chúng ta sẽ không để ngươi ăn
chúng ta.
- Nhưng hãy uống nước đi.
- Ðược, chúng ta sẽ uống nước.
Nhưng chúng ta sẽ không rơi vào quyền lực của ngươi.
- Làm sao các ngươi uống nước
được?
- Sao, ngươi nghĩ rằng chúng ta sẽ
đi xuống, rồi uống nước à? Không đi xuống nước, tám
mươi ngàn chúng ta mỗi ngày lấy một cành lau, như uống nước
ngang qua một cành sen xanh, chúng ta sẽ uống nước hồ của
ngươi. Như vậy, ngươi sẽ không thể ăn thịt chúng ta được!
Biết được ý nghĩa này, bậc Ðạo
Sư đọc câu kệ:
Thấy dấu chân đi xuống,
Không thấy dấu chân lên,
Uống nước với cọng lau,
Ngươi không giết ta được!
Nói vậy xong, Bồ-tát cho đem lại
một cọng lau, hồi tưởng lại những hạnh Ba-la-mật, phát
lời chân ngôn, lấy miệng thổi cọng lau. Cọng lau trở thành
trống rỗng hoàn toàn, không một khúc mắt nào còn lại ở
trong. Với cách thức này, Bồ-tát cho đem lại ống lau khác,
rồi ống lau khác và thổi. Nhưng nếu làm vậy, Bồ-tát không
thể thoåi hết được. Do đó, Bồ-tát không làm như vậy
nữa. Rồi Bồ-tát đi vòng quanh hồ và ra lệnh:
- Tất cả cọng lau đều trống
rỗng hết!
Do lợi hành rộng lớn của các
vị Bồ-tát, mệnh lệnh ấy được thành tựu. Từ đấy trở
đi, tất cả cọng lau ở xung quanh hồ trở thành trống rỗng.
Trong kiếp này, có bốn thần thông
tồn tại suốt kiếp. Thế nào là bốn?
1. Tướng con thỏ trong mặt trăng,
sẽ tồn tại trong suốt kiếp này (Tiền thân số 316).
2. Ðiạ đểm mà lửa được dập
tắt, như đã được kể ở Tiền thân Vattaka (số 35), địa
điểm ấy sẽ không bị lửa chạm đến trong suốt kiếp này.
3. Tại chỗ có ngôi nhà của người
làm đồ gốm Ghatikara không bao giờ mưa rơi xuống trong suốt
kiếp này (Kinh Trung Bộ số 81).
4. Các cây lau mọc xung quanh hồ
này sẽ hoàn toàn trống rỗng trong suốt kiếp này.
Ðây là bốn thần thông sẽ tồn tại
trong suốt kiếp này.
Bồ-tát ra lệnh như vậy, và lấy
một cọng lau rồi ngoài xuống. Tám vạn con khỉ ấy, mỗi
con cầm lấy một cọng lau, đều ngồi xuống vòng quanh hồ.
và trong khi Bồ-tát hút nước vào qua ống lau, tất cả chúng
đều ngồi trên bờ uống nước. Chúng uống nước như vậy,
và con quỷ La-sát dưới nước không bắt được một ai nên
không hoan hỷ, bỏ đi về trú xứ của nó. Còn Bồ-tát với
tuỳ tùng vây quanh, trở về sống ở trong rừng.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, những cây
lau này hoàn toàn trống rỗng chính do lời phát nguyện xưa
của ta.
Sau khi thuyết pháp thoại này
xong, Ngài kết hợp hai câu chuyện, và kết luận với sự
nhận diện tiền thân:
- Thời ấy con quỷ La-sát nước
là Ðề-bà-đạt-đa, tám vạn con khỉ là hội chúng của đức
Phật, còn khỉ chúa khéo dùng phương tiện là Ta vậy.
-ooOoo-