PHẨM
KULAVAKA
31. CHUYỆN TỔ
CHIM CON (Tiền thân Kulàvaka)
Hãy để tổ chim con ...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về một Tỷ-kheo uống nước không lọc.
Theo truyền thuyết, hai bạn trẻ Tỷ-kheo từ Xá-vệ đi về
tỉnh, trú tại một địa điểm thoải mái cho đến thỏa
thích, rồi từ đó ra đi, hướng về Kỳ Viên để yết kiến
bậc Chánh Ðẳng Giác.
Một Tỷ-kheo có trong tay một
lọc nước và người kia không có. Hai người thường lọc
nước chung để uống. Một hôm, họ cãi lộn nhau. Người
chủ cái lọc nước không cho người kia dùng lọc nước, tự
mình lọc riêng rồi uống nước. Người kia không có đồ
lọc nước, và không thể nhịn khát, nên uống nước không
lọc. Hai người ấy tuần tự đi đến Kỳ Viên, đảnh lễ
bậc Ðạo Sư, và ngồi xuống.
Sau khi chào đón thân tình, bậc
Ðạo Sư liền hỏi:
- Các ông từ đâu đến?
- Bạch Thế Tôn, chúng con ở
quốc độ Kossala, sống trong một làng, từ đấy ra đi để
yết kiến Ngài.
- Nhưng các ông đi đường có
hoà thuận không?
Người không có lọc nước nói:
- Bạch Thế Tôn, người này giữa
đường cãi lộn với con, không cho con lọc nước.
Người kia nói:
- Bạch Thế Tôn, người này không
lọc nước, tuy biết, vẫn uống nước có loài hữu tình.
- Này Tỷ-kheo có thật chăng,
ông tuy biết, vẫn uống nước loài hữu tình?
- Thưa có vậy, bạch Thế Tôn,
con uống nước không lọc.
Bậc Ðạo Sư:
- Này Tỷ-kheo, trong thời quá
khứ, các bậc Hiền trí trị vì thành phố chư Thiên, trong
khi thua trận, chạy trốn trên mặt biển, quyết không vì vương
quyền giết hại các hữu tình, nên đã từ bỏ danh vọng
lớn để cứu mạng sống cho các loài chim con loài Kim-sí-điểu,
và họ đã cho xe quay lui.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, trong nước Ma-kiệt-đà,
tại thành Vương Xá, có một vị vua Ma-kiệt-đà trị vì.
Cũng như nay, Ðế Thích (Thiên chủ Sakka) trong một đời sống
trước đã sanh ra trong làng macala ở nước Ma-kiệt-đà. Thời
đó, Bồ-tát được sanh làm con trai một đại gia đình quý
tộc cùng ở trong làng Macala ấy. Vào ngày đặt tên, Bồ-tát
được đặt tên là hoàng tử Magha; khi lớn lên có tên là
Maghamanava (thanh niên Magha).
Cha mẹ, cưới cho Bồ-tát một người
vợ từ một gia đình có môn đăng hộ đối. Bồ-tát cùng
với con trai, con gái lớn lên, thường hay bố thí, và giữ
gìn Năm giới, trong làng ấy có ba mươi gia đình. Và những
người trong ba mươi gia đình ấy, một hôm, đứng ở giữa
làng bạn bạc giải quyết những vấn đề ở trong làng.
Bồ-tát, tại chỗ mình đứng, dùng
chân quét sạch bụi làm chỗ ấy trở thành tốt đẹp và
đứng đó. Rồi một người khác đến, đứng thế chỗ ấy.
Bồ-tát lại làm một chỗ khác, một chỗ khác, cho đến khi
chỗ đứng cho tất cả mọi người trở thành tốt đẹp.
Trong một thời khác, Bồ-tát dựng
một cái lều, sau đó dẹp lều, rồi dựng một phòng lớn,
trong ấy có đặt ghế giường và ghè nước.
Trong một thời khác, ba mươi người
ấy do Bồ-tát hướng dẫn trở thành dân tốt như mình. Bồ-tát
thường cùng đi với họ làm các công đức như: sáng sớm
thức dậy, với rìu nhỏ, búa, chùy cầm tay, đến ngã tư
đường, họ đập với cái chùy, làm bật lên những hòn đá,
đẩy đá qua một bên, dọn dẹp những cây va chạm vào trục
xe, san bằng con đường gồ ghề, xây cầu, đào ao hồ, dựng
phòng ốc, bố thí và giữ giới. Như vậy, phần lớn toàn
dân trú trong làng vâng theo lời khuyên dạy của Bồ-tát, giữ
gìn các giới.
Nguời thôn trưởng suy nghĩ về
họ: "Trước đây, khi những người này uống rượu, saùt
sanh v.v..., ta lấy được nhiều tiền, nào tiền rượu, tiền
phạt, tiền cúng. Nay thanh niên Magha khiến họ giữ giới,
nên họ không còn sát sanh nữa, v.v... Nay ta sẽ làm cho họ
từ bỏ Năm giới".
Kẻ ấy phẫn nộ đi đến hầu
vua và thưa:
- Tâu Thiên tử, có một đoàn ăn
cướp, đang phá xóm làng và làm nhiều tội ác!
Vua nghe kẻ ấy nói như vậy, liền
bảo:
- Hãy đi và dẫn chúng đến!
Người thôn trưởng bắt họ trói
lại, dẫn họ đến và báo với vua:
- Thưa Thiên tử, những người ăn
cướp đã được dẫn đến.
Không điều tra việc làm của họ,
vua nói:
- Hãy đem chúng cho voi chà!
Vua bắt tất cả những người ấy
nằm xuống trên sân vua và đem voi lại.
Bồ-tát khuyên bảo họ:
- Các bạn hãy hành trì giới. Hãy
khởi lòng từ đối với kẻ vu cáo, đối với vua, đối với
con voi, đối với tự thân đều giống nhau.
Họ làm như lời khuyên ấy.
Các người của vua đem voi đến
để chà họ chết. Con voi được dắt đến nhưng không lại
gần, chỉ rống to rồi bỏ chạy. Họ lại đem con voi khác
nữa. Tất cả đều bỏ chạy như vậy. Vua nghĩ: "Chắc trong
tay họ có thuốc trường sanh!" và vua ra lệnh soát. Sau khi
soát không thấy gì, họ thưa lên với vua:
- Vậy chắc họ có đọc bùa chú.
- Hãy hỏi họ.
Những người của vua hỏi, Bồ-tát
trả lời:
- Có.
Họ thưa lại với vua.. Vua cho gọi
tất cả bọn họ đến và bảo:
- Hãy đọc bài chú của các người.
Bồ-tát trả lời:
- Thưa Thiên tử, chúng tôi không
biết bùa chú gì khác. Nhưng ba mươi người chúng tôi không
sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không nói
láo, không uống rượu. Chúng tôi khởi lòng từ, chúng tôi
bố thí, chuùng tôi san bằng đường sá, chúng tôi đào ao
hồ, chúng tôi xây phòng ốc. Ðấy là bùa chú của chúng tôi,
là sức mạnh của chúng tôi.
Vua rất bằng lòng với họ, liền
cho họ tất cả gia sản của người vu cáo, bắt người vu
cáo làm nô lệ cho họ, rồi cho họ cả đàn voi và ngôi làng.
Từ đấy trở đi, họ làm các công đức theo sở thích của
họ, họ gọi thợ mộc để xây dựng một phòng họp lớn
tại ngã tư đường. Vì không còn ham muốn đối với nữ
nhÂn, họ không cho nữ nhân tham gia vào công đức làm phòng
họp ấy.
Lúc bấy giờ, tại nhà Bồ-tát
có bốn nữ nhân tên là Thiện Pháp, Tư duy, Hoan hỷ, Thiện
sanh. Một trong bốn nữ nhân là Thiện pháp tự mình đi tìm
người thợ mộc, hối lộ cho người ấy và nói:
- Này anh, hãy cho tôi đóng góp phần
chính trong việc làm phòng họp này.
Người thợ mộc chấp nhận lời
yêu cầu, trước tiên cho phơi khô gỗ làm tháp nhọn, chặt
đẽo, đục lỗ, làm xong cái tháp nhọn, rồi lấy vải cuốn
lại và cất đi. Khi người thợ mộc làm xong phòng họp, đến
thời đặt tháp nhọn, anh ta lại kêu than:
- Ôi, thưa các Tôn giả, có một
vật chúng ta chưa làm.
- Cái gì vậy?
- Cần phải có một cái tháp nhọn.
- Ðược, chúng tôi sẽ đem đến.
- Nay không thể làm với cây mới
chặt được. Chúng ta cần phải có một cái tháp nhọn với
cây đã chặt trước phơi khô một thời gian, rồi cắt đẽo,
và đục lỗ để dành.
- Vậy nay phải làm gì?
- Hãy tìm xem trong nhà của ai có
cất một cái tháp nhọn đã làm xong và để bán.
Họ tìm kiếm, và thấy trong nhà
của Thiện pháp có cái tháp ấy, nhưng không mua được.
- Nếu các ông cho tôi dự phần
công đức làm phòng họp, thì tôi sẽ biếu cái tháp nhọn.
- Không được, chúng tôi không cho
nữ nhân dự phần công đức.
Người thợ mộc nói với họ:
- Sao các Tôn giả lại nói vậy?
Chỉ trừ Phạm thiên giới, không một chỗ nào khác loại
trừ nữ nhân! Hãy lấy tháp nhọn. Có như vậy công việc
của chúng ta mới hoàn thành.
Họ bằng lòng lấy tháp nhọn, và
làm xong phòng họp. Sau đó, họ cho sắp những ghế dài bằng
gỗ, đặt những ghè đựng nước, cung cấp cháo và cơm. Họ
xây một bức tường xung quanh phòng họp, gắn cửa ra vào,
rải cát giữa những bức thành và ngoài bức thành trồng
một dãy cây cọ dừa.
Còn nàng Tư duy xây dựng một công
viên tại chỗ ấy. Tại đó, không có một cây hoa nào, cây
trái nào mà không có tên nàng. Nàng Hoan hỷ đào một hồ
nước đẹp đẽ, tràn đầy hoa sen năm sắc. Còn nàng Thiện
sanh không làm gì cả.
Bồ-tát làm đầy đủ bảy điều
thệ nguyện: Hầu mẹ, hầu hạ cha, kính trọng anh cả, nói
lời chân thật, không noí lời ác, không nói lời vu váo, nhiếp
phục xan tham và tóm tắt trong bài kệ:
Người nuôi dưỡng mẹ cha,
Kính bậc trưởng gia đình,
Nói từ hòa, ái ngữ,
Từ bỏ lời vu cáo,
Nhiếp xan tham nói thật,
Phẫn nộ được chế ngự,
Chư Thiên Ba mươi ba
Gọi là bậc Chân nhân.
Bồ-tát đạt trạng thái đáng được
tán thán nhu vậy, và khi mạng chung, được sanh làm Ðế Thích
Thiên Chủ ở cõi Trời ba mươi ba. Những người bạn của
bồ tát cũng sanh lên đó. Trong thời ấy, tại cõi trở Ba
mươi ba, các Thần Asura (A-tu-la) cũng sống chung. Thiên Chủ
Ðế Thích nói:
- Tốt gì cho chúng ta khi một vương
quốc phải ở chung với kẻ khác?
Rồi ngài cho các A-tu-la uống nước
chư Thiên, khi chúng say, Thiên Chủ Ðế Thích cầm chân chúng
ném xuống vực núi Sineru (Tu-di). Chúng rơi vào lâu đài ở
cảnh giới A-tu-la. Lâu đài của A-tu-la nằm ở tầng thấp
nhất của núi Tu-di, rộng bằng cõi Trời ba mươi ba.
Tại đấy có mọc một cây giống
như cây San hô cũa chư Thiên sống suốt một kiếp và được
gọi là Cây bông kèn. CÂy bông kèn nở hoa, cho chúng biết
đây không phải là cõi trời của chúng vì cõi trời có nở
hoa San hô. Chúng nói:
- Ông già Ðế thích cho chúng ta
uống say, rồi quăng chúng ta trên mặt biển lớn và chiếm
thành chư Thiên của chúng ta. Chúng ta hãy tiến đánh lão ấy
và lấy lại thành chư Thiên của chúng ta!
Rồi chúng leo lên sườn núi Tu-di
như những con kiến leo lên cột. Ðế Thích nghe các Thần A-tu-la
đã leo lên, liền xông ra mặt biển giao tranh, bị chúng đánh
bại, liền chạy trốn trên chiếc xe Vejeyanta dài một trăm
năm mươi dặm, chạy trên những đầu ngọn sóng biển phía
nam. Chiếc xe của Ðế Thích chạy lướt trên mặt biển, đi
đến ngôi rừng cây bông lụa. Trên đường đi của chiếc
xe, rừng cây bông lụa bị chặt đức như những cây cọ dừa
và rơi trên maët biển. Các con chim Kim-sí-điểu (Garula, thim
thần cánh vàng) bay quanh rên mặt biển, kêu gào lớn tiếng.
Ðế Thích hỏi thần lái xe Màtali:
- Này bạn Màtali, tiếng kêu gì
vậy? Nó kêu thật bi thương?
- Thưa Thiên đế, vì rừng cây bông
lụa rơi xuống, do tốc độ cỗ xe ngài nghiền nát, các con
chim Kim-sí-điểu sợ chết đồng thanh kêu gào như vậy.
Bậc Ðạo Sĩ nói:
- Này bạn Màtali, chớ làm chúng
mệt mỏi, vì chúng ta. Chúng ta không vì chủ quyền thiên giới
mà sát sanh. Vì lợi ích của chúng ta sẽ từ bỏ mạng sống
và nộp mình cho loài A-tu-la! Hãy quay xe lại đi!
Nói vậy xong, Ðế Thích đọc bài
kệ:
Hãy để tổ chim con,
Hỡi này Mà-ta-li!
Trong rừng sim-ba-li
Tránh miệng aùc chủ tể,
Ta sẵn sàng nộp mạng
Cho các A-tu-la,
Chớ để các chim này
Bị xé nát khỏi tổ.
Thần đánh xe Màtali nghe lời Ðế
Thích, quay xe lại, đi về hướng thiên giới bằng con đường
khác. Các thần A-tu-la thấy Ðế Thích quay xe lại, tự nghĩ:
"Chắc chắn các Ðế Thích từ những thế giới khác đến,
được sức mạnh tiếp viện, nên mới quay xe lại". Bị dao
động vì sợ chết, chúng liền chạy trốn vào lâu đài A-tu-la.
Còn Ðế Thích đi vào thành chư
Thiên, đứng ở giữa thành, với Thiên chúng của hai thiên
giới vây quanh. Trong thời khắc ấy, đất nứt ra, và lâu
đài Vejayanta (Tối thắng) trồi lên cao một ngàn dặm. Vì
nó trồi lên khi thắng trận, nên được gọi là lâu đài
Vejayanta. Ðể ngăn chận các A-tu-la trở lại, Ðế Thích ra
lệnh cho bảo vệ năm chỗ, liên hệ vấn đề này, Ðế Thích
nói lên bài kệ:
Giữa hai thành bất thắng,
Ðặt năm chỗ bảo vệ,
Bảo vệ bởi Rắn thần,
Bởi chim Kim-sí-điểu,
Kum-bhan-da, Dạ-xoa,
Và bởi bốn thiên vương.
Ðược năm chỗ bảo vệ này, Thiên
chủ Ðế Thích thọ hưởng những vinh quang thiên giới. Nàng
Thiện pháp, sau khi mạng chung, được sanh làm vương hậu một
lần nữa. Do kết quả cúng dường cái tháp nhọn, đã khởi
lên cho nàng một lâu đài tên là Thiện pháp đình với thiên
báu, cao đến năm trăm dăm. Tại đấy, dưới một chiếc lọng
trắng của chư Thiên, Thiên chủ Ðế Thích ngồi trên một
tấm nệm bằng vàng rộng moät dặm và làm những công việc
cần phải làm cho chư Thiên và loài người. còn Tư duy, sau
khi mạng chung, cũng sanh làm vương hậu của Ðế Thích; do
kết quả xây dựng một công viên, đã khởi lên cho nàng một
công viên tên là Cittalatavana (Tư Duy Viên). Hoan hỷ, khi mạng
chung, cũng sanh làm vương hậu của Ðế Thích, do kết quả
cúng dường cái hồ, đã khởi lên cho nàng một cái hồ tên
là Nanda (Hoan hỷ). Còn Thiện sanh, do không làm thiện nghiệp
gì, đươïc sanh làm con chim hạc ở một hang động trong rừng.
Không thấy bóng dáng Thiện sanh
ở đâu, muốn biết nàng tái sanh chỗ nào, Ðế Thích hướng
tâm xem xét và thấy nàng, liền đi đến chỗ ấy thăm nàng
rồi đưa nàng lên thiên giới, chỉ cho thấy thành phố chư
Thiên đẹp đẽ, lâu đài chư Thiên của Thiện pháp, rừng
cây leo của Tư duy, cái hồ của Hoan hỷ, Ðế Thích nói:
- Những nàng này, vì có làm việc
thiện nên được sanh làm vương hậu của ta. Còn nàng, không
làm việc lành, phải sanh làm chim hạc. BẮt đầu từ nay,
hãy giữ giới!
Sau khi khuyến giáo nàng và trao cho
nàng Năm giới, Ðế Thích đưa nàng về lại chỗ cũ và thả
nàng ra. Từ đấy trở đi, nàng giữ giới. Sau một thời gian,
muốn tìm hiểu nàng có giữ giới nữa không, Ðế Thích đi
đến hiện hình làm con cá nằm trước mặt nàng. Nghĩ rằng
cá đã chết, hạc ngậm lấy đầu cá. Cá vẫy đuôi, hạc
liền thả cá ra, và nói:
- Ôi nó còn sống!
Ðế Thích nói:
- Lành thay, nàng có thể giữ giới
được!
Rồi ngài ra đi. Con hạc, sau khi
mạng chung, được sanh vào một gia đình làm đồ gốm ở
Ba-la-nại. Ðế Thích không biết nàng tái sanh ở đâu. Khi
biết chỗ tái sanh của nàng, Ðế Thích liền chở đầy một
xe dưa chuột bằng vàng, giả dạng một ông già, ngồi giữa
làng và la lớn:
- HÃy đến lấy dưa chuột! Hãy
đến lấy dưa chuột!
Nhiều người tự lại nói:
- Này ông bạn thân, hãy cho chúng
tôi!
- Ta chỉ cho những người nào giữ
giới! Các chú có giữ giới không?
- Chúng tôi không biết giới. Chúng
tôi sẽ trả tiền.
- Ta không cần tiền! Ta sẽ cho những
ai giữ giới!
Các người ấy nói:
- Cụ già này thật lẩn thẩn.
Rồi họ bỏ đi.
Thiện sanh nghe thấy, nghĩ rằng
những trái dưa chuột này được mang đến cho nàng, liền
đi đến và nói:
- Này ông bạn thân, hãy cho tôi!
- Nàng có giữ giới không?
- Thưa, tôi có giữ giới!
- Những trái dưa chuột này chính
ta mang đến cho nàng!
Rồi Ðế Thích để xe dưa chuột
trước của nhà nàng và ra đi. Còn nàng giữ giới cho đến
trọn đời. Từ đấy mạng chung, nàng sanh làm con gái của
chúa thần A-tu-la là Vepacittiva, nhờ giữ giới nên nàng rất
đẹp.
Ðến tuổi trưởng thành, cha nàng
cho họp các thần A-tu-la lại để cô con gái tự do chọn lựa
chồng theo sở thích của nàng.
Lúc ấy, Ðế Thích đang tìm xem
Thiện sanh ở đâu, và biết được chỗ nàng tái sanh, tự
nghĩ: "Nàng đang tìm chồng theo sở thích, chắc chắn nàng
sẽ lấy ta!". Ðế Thích liền hóa hiện ra một thần A-tu-la,
và đi đến chỗ ấy. Nàng được trang sức và được đưa
đến chỗ tụ họp để lựa chọn chồng theo ý muốn. Nàng
nhìn Ðế Thích, với tình yêu thưở trước, liền chọn ngay
Ðế Thích:
- Ðây là chồng của tôi!
Ðế Thích đưa nàng về thành chư
Thiên, đặt nàng lên địa vị nữ vương cầm đầu hai mươi
triệu vũ nữ. Nàng sống như vậy cho đến mạng chung rồi
đi theo nghiệp mình.
*
Sau khi kể câu chuuyện, bậc Ðạo
Sư đã khiển trách vị Tỷ-kheo ấy và nói:
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, thuở
trước trong khi các bậc Hiền trí trị vì thiên quốc, dầu
từ bỏ thân mạng của mình, cũng không sát sanh. Còn ông xuất
gia trong Giáo pháp giải thoát như vậy, lại uống nước không
lọc, có các loại hữu tình.
Sau khi khiển trách Tỷ-kheo ấy
và kết hợp hai câu chuyện, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền
thân như sau:
- Thời ấy, thần đánh xe Matali
là Ànanda, còn Ðế Thích là Ta vậy.
-ooOoo-
32. CHUYỆN MÚA
CA (Tiền thân Nacca)
Âm thanh ngươi êm dịu... ,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên
bậc Ðạo Sư đã kể về một Tỷ-kheo có nhiều đồ vật.
Giống như câu chuyện đã được nói đến trong Tiền thân
Devadhamma (số 6), bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng
ông có nhiều đồ vật?
- Thưa phải, bạch Thế Tôn.
- Vì sao ông có nhiều đồ vật?
Nghe đến đây, Tỷ-kheo ấy phẫn
nộ,quăng bỏ y trong, y choàng, đứng trần truồng trước mặt
bậc Ðạo Sư và nói:
- Nay tôi sẽ thoát y như thế
này!
Mọi người đều nói:
- Ôi, xấu hổ thay!
Tỷ-kheo ấy bỏ chạy rồi hoàn
tục. Các Tỷ-kheo ngồi tại Pháp đường, nói về thái độ
bất nhã của Tỷ-kheo ấy đã làm trước mặt bậc Ðạo Sư.
Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, nay các ông
ngồi họp tại đây bàn câu chuyện gì?
- Bạch Thế Tôn, chúng con đang
nói về thái độ bất nhã của Tỷ-kheo ấy, trước mặt Thế
Tôn và giữa bốn chúng, từ bỏ tàm quý đã đứng trần truồng
như một đứa trẻ ở làng, bị quần chúng ghét bỏ, vị
ấy đã hoàn tục, từ bỏ Giáo pháp!
Bậc Ðại Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
nay Tỷ-kheo ấy mới không có tàm quý, từ bỏ Pháp bảo. Trong
đời quá khứ, kẻ ấy đã từ bỏ vợ báu của mình.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện sau đây.
*
Thuở xưa, trong kiếp thứ nhất,
các loài thú bốn chân tôn Sư Tử làm vua, các loài cá tôn
cá thần Ànanda, và các loài chim tôn ngỗng trời Suvanna (Kim
nga). Con gái vua ngỗng trời Suvanna, một ngỗng trời con rất
đẹp, được vua ban cho một ước nguyện. Nàng ước nguyện
được một tấm chồng theo sở thích của mình. Vua ngỗng
trời làm theo ước nguyện của con, cho tập hợp tất cả
loài chim tại núi Tuyết. Từng đàn chim đủ loại như ngỗng
trời, chim công, v.v... lũ lượt bay tới tấp, tập hợp trên
một cao nguyên bằng đá lớn. Vua ngỗng trời cho gọi con gái
đến và nói:
- Con hãy lựa chọn chim chồng mà
theo con thích ý!
Nàng nhìn đàn chim, thấy con chim
công có cổ đẹp với màu sắc châu báu, có lông đuôi nhiều
màu, liền chọn con chim ấy và nói:
- Con chim này sẽ là chồng con!
Ðàn chim vậy quanh chim công nói:
- Này bạn chim công, công chúa này,
giữa những đàn chim, đã chọn bạn làm chồng. Hãy vui sướng
lên bạn!
Con chim công quá sung sướng nói
lớn:
- Cho đến hôm nay, các ngươi chưa
thấy sức mạnh của ta!
Rồi giữa các đàn chim, bỏ mất
tàm quý, chim công xòe cánh ra. bắt đầu múa và khi múa nó
không che thân. Vua ngỗng trời Suvanna xấu hổ nói:
- Con chim này không có tàm khởi
lên từ nội tâm, không có lòng quý khởi lên từ bên ngoài,
ta sẽ không gả con gái ta cho kẻ đã phá hoại tàm quý!
Rồi vua ngỗng trời nói lên bài
kệ giữa đàn chim:
Âm thanh ngươi êm dịu,
Lưng người thật đẹp đẽ,
Cổ ngươi về màu sắc
Chẳng khác ngọc lưu ly,
Lông đuôi người xòe rộng,
Dài rộng đến một tầm,
Nhưng vì ngươi nhảy múa,
Ta không cho con gái.
Trước mặt đàn chim ấy, vua ngỗng
trởi gả công chúa cho ngỗng trời con. Còn con chim công mất
công chúa ngỗng trời, xấu hổ, bay cao, và trốn mất. Vua
ngỗng trời cũng đi về chỗ ở của mình.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo không phải
nay Tỷ-kheo ấy mới bỏ mất tàm quý, từ bỏ Pháp bảo. Trong
thời quá khứ, kẻ ấy đã làm mất vợ báu của mình.
Khi Ngài kể xong pháp thoại này,
Ngài kết hợp hai câu chuyện, và nhân diện Tiền thân như
sau:
- Lúc ấy con chim công là người
có nhiều đồ vật. Còn vua ngỗng trời là Ta vậy.
-ooOoo-
33. CHUYỆN SỐNG
HÒA HỢP (Tiền thân Sammodamàna)
Khi chung sống hòa hợp...,
Câu chuyện này, khi ở tại Vườn
Cây bàng gần Ca-tỳ-la-vệ, bậc Ðạo Sư đã kể về việc
tranh cãi nhau vì cái gối. Câu chuyện sẽ được trình bày
trong Tiền thân kunala (số 536).
Lúc bấy giờ, bậc Ðạo Sư bảo
các bà con:
- Này các Ðại vương, các bà
con không nên tranh cãi nhau. Trong thời quá khứ, các loài thú
khi sống hòa hợp. đã chiến thắng được kẻ thù; còn khi
sống bất hòa, đã bị nạn diệt vong lớn.
Theo yêu cầu của các hoàng tộc,
bà con, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ tát sanh làm con chim cun cút đầu đàn,
được vây quanh với hàng ngàn con chim cun cút, sống ở trong
rừng. Lúc bấy giờ, một thợ săn chim đi đến vùng cun cút,
nhờ bắt chước tiếng kêu của loài cun cút, kẻ ấy biết
được chỗ tụ họp của đàn chim. Người thợ săn liền
quăng lưới lên trên đàn chim, chận lại các đường viền,
tóm tắt cả đàn chim cút thành một mối, bỏ vào giỏ đi
về nhà, đem bán và nuôi sống với số tiền ấy.
Một hôm, Bồ-tát nói với các con
chim cun cút:
- Người thợ săn chim này giết
hại nhiều bà con chúng ta; nay ta có một phương kế khiến
kẻ ấy không thể bắt chúng ta được. Từ nay trở đi, khi
kẻ ấy vừa quăng lưới trên đầu các ngươi, mỗi một chim
cút chui đầu vào một lỗ của lưới, nhấc bổng lưới lên
đến chỗ các ngươi muốm, và hạ xuống trên một bụi gai.
Làm như vậy, chúng ta sẽ trốn thoát khỏi nhiều mẻ lưới!
Tất cả chúng đều vâng theo. Vào
ngày hôm sau, khi lưới được quăng trên đàn chim, chúng liền
nhấc bổng lưới lên như lời Bồ-tát dặn và thả xuống
trên một bụi gai, rồi trốn thoát theo ngã dưới. Người
thợ săn chim đang còn gỡ lưới khỏi bụi gai, thì trời đã
xế chiều, nên đi về với tay không.
Nhiều ngày kế tiếp, các con chim
cun cút đều làm như vậy. Người thợ sănchim cứ loay hoay
cho đến khi mặt trời lặn, chỉ lo gỡ lưới, không bắt
được gì và đi về nhà tay không.
Người vợ tức giận nói:
- Ngày lại ngày, ông về hai tay
không. Tôi nghĩ rằng có lẽ ông có một chỗ nuôi dưỡng
khác!
Thợ săn chim nói:
- Này bà, ta không có chỗ nuôi dưỡng
nào khác. Nhưng các con chim cun cút sống hòa hợp với nhau.
Chúng mang đi lưới ta quăng, và thả xuống một bụi gai rồi
bỏ đi. Nhưng chúng sẽ luôn luôn không sống hòa thuận được.
Bà chớ lo. Khi chúng tranh cãi nhau, lúc ấy, ta sẽ bắt gọn
tất cả chúng, nụ cười sẽ trở lại trên môi bà!
Rồi kẻ ấy nói lên bài kệ với
người vợ:
Khi chung sống hòa hợp,
Các chim mang lưới đi,
Khi chúng tranh cãi nhau,
Chúng rơi vào tay ta.
Vài ngày trôi qua, khi một con chm cun
cút đậu xuống chỗ ăn, vô ý bước trên đầu một con chim
khác. Chim ấy tức giận nói:
- Ai bước trên đầu ta?
- Chính tôi vô ý bước. Ðừng giận
tôi!
Tuy vậy, con chim ấy vẫn giận,
tiếp tục nói:
- Ngươi nghĩ rằng chỉ một mình
ngươi nhấc bổng lưới lên chăng?
Khi chúng tranh cãi nhau, Bồ-tát suy
nghĩ: "Khi tranh cãi nhau thì không có an toàn. Nay bọn chim sẽ
không nhấc bổng lưới lên nữa. Do vậy, bọn cun cút sẽ
gặp nạn, người thợ săn sẽ nắm được cơ hội. Ta sẽ
không sống ở chỗ này nữa!". Rồi Bồ-tát đem đàn chim của
mình đi đến một chỗ khác. Người thợ săn chim lại đến,
sau một vài ngày, bắt chước giọng chim cun cút, và quăng
lưới lên chỗ chúng đang tụ họp. Một con chim cun cút nói:
- Nghe nói, khi ngươi nhấc bổng
lưới lên, lông trên đầu rơi xuống. Vậy nay hãy nhấc bổng
lên!
Một con chim khác nói:
- Nghe nói, khi ngươi nhấc bổng
lưới lên, lông hai cánh của ngươi rơi xuống. vậy nay hãy
nhấc bổng lên!
Như vậy, khi đàn chim cun cút đang
tranh cãi nhau, người thợ săn chim nhấc bổng lưới lên, bắt
tất cả đàn chim nhét đầy vào một cái giỏ, đem về nhà
và hy vọng đẹm lại thật nhiều nụ cười cho bà vợ.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Như vậy, thưa Ðại vương,các
bà con không nên tranh cãi nhau. Tranh cãi là nguồn gốc diệt
vong.
Thuyết pháp thoại này xong, bậc
Ðạo Sư kết hợp hai mẫu chuyện và nhận diện Tiền thân
như sau:
- Thời ấy, con chim cun cút vô
trí là Ðề-bà-đạt-đa, còn con chim cun cút có trí là Ta vậy.
-ooOoo-
34. CHUYỆN CON
CÁ (Tiền thân Maccha)
Ta không vì nóng lạnh ...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về một Tỷ-kheo si mê bà vợ trước
thời xuất gia. Lúc bấy giờ, Bậc Ðạo Sư hỏi Tỷ-kheo ấy:
- Có thật chăng, này Tỷ-kheo,
ông bị ái nhiễm?
- Thật vậy, bạch Thế Tôn!
- Bị ái nhiễm bởi ai?
- Bạch Thế Tôn, vợ trước của
con rất êm dịu khi xúc phạm. Con không thể bỏ nàng được!
Bậc Ðạo Sư nói với vị Tỷ-kheo
ấy:
- Này Tỷ-kheo, chính nữ nhân
ấy đã tạo nên bất hạnh cho ông. Trong thời trước, ông
gần chết vì nữ nhân ấy. Nhờ có Ta đi đến, ông được
thoát chết.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Trong thời quá khứ, khi vua Brahmadatta
trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát làm vị phụ trách về nghi lễ
tôn giáo của vua.
Lúc bấy giờ, các ngươi đánh cá
quăng lưới trên sông. Một con cá lớn đi theo chơi với con
cá mái, vợ của nó một cách rất luyến ái. Con cá mái ấy
đi trước, ngửi mùi hương của lưới, bơi quanh lưới rồi
bỏ đi. Con cá trống bị mù quáng bởi lòng tham luyến, đi
thẳng vào trong mắt lưới. Những người đánh cá biết được
cá đã mắc vào lưới bèn kéo lên, bắt con cá nhưng chưa
giết nó, lại quăng nó trên bãi cát. Họ nói:
- Chuùng ta sẽ nướng con cá này
trên than hừng để ăn.
Rồi họ chất một đống than và
chuốt nhọn cây gậy. Con cá suy nghĩ: "Ta không than khóc vì
bị nướng tren than hồng, hay bị đâm xuyên bởi gậy nhọn,
hay sự đau khổ nào khác. Nhưng chỉ vì con cá mái, vợ ta
sẽ buồn rầu, nghĩ rằng ta đã ra đi với con cá mái khác.
Ðó là điều làm ta đau đớn!".
Vừa than khóc cá nói lên bài kệ:
Ta không vì nóng lạnh,
Không vì bị mắc lưới,
Chỉ sợ vợ ta nghĩ,
Ta say mê nàng khác!
Lúc bấy giờ, vị phụ trách nghi lễ
tôn giáo, cùng với đám nô tỳ vây quanh, đi đế bờ sông
để tắm. Vị ấy biết tiếng mọi loài. Nghe con cá than, vị
ấy suy nghĩ "Con cá này đang khóc tiếng khóc than ai oán. Bị
chết trong trạng thái tâm bệnh như vậy, nó sẽ sanh xuống
địa ngục. Ta sẽ là người giúp đỡ nó!". Vị ấy đi đến
gần những người đánh cá và nói:
- Này các bạn, các bạn không bán
cho chúng ta một con cá mỗi ngày để làm món cà ri đó sao?
Những người đánh cá nói:
- Thưa ngài, sao ngài nói vậy? Ngài
có thể lấy đi mọi thứ cá ngài thích!
- Chúng tôi không cần con cá nào
khác, trừ con cá này.
- Thưa ngài, ngài hãy lấy nó đi.
Bồ-tát, với hai tay bắt lấy con
cá, ngồi trên bờ sông và khuyên:
- Này bạn cá, nếu hôm nay ta không
thấy ngươi, thì ngươi đã chết. Nhưng từ nay trở đi, ngươi
chớ nên đế ái tình chi phối!
Khuyên răn xong, Bồ-tát thả con
cá xuống nước và trở về thành phố.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư thuyết các Sự thật. Cuối bài giảng, vị Tỷ-kheo
bị ái nhiễm chứng quả Dư lưu. Bậc Ðạo Sư kết hợp hai
mẫu chuyện, và nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, con cá mái là người
vợ thời trước, con cá trống là Tỷ- kheo bị ái nhiễm,
còn vị phụ trách lễ nghi tôn giáo là Ta vậy.
-ooOoo-
35.CHUYỆN CON
CHIM CÚT (Tiền thân Vattaka)
Có cánh không bay được ...,
Câu chuyện này, khi đang du hành
ở xứ Ma-kiệt-đà, bậc Ðạo Sư đã kể về lửa rừng bị
dập tắt.. Một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Ma-kiệt-đà.
Khi đang đi khất thực trong một làng nhỏ ở Ma-kiệt-đà,
sau bữa ăn, trên đường trở về với chúng Tỷ-kheo, Thế
Tôn thấy một đám lửa lớn bùng lên. Phía trước và phía
sau ngài có nhiều Tỷ-kheo. Ngọn lửa tràn đến, lan rộng,
tạo thành một màn khói và một màn lửa. Một số Tỷ-kheo
còn là phàm phu, vì sợ chết, liền nói:
- Chúng ta hãy tạo nên một đám
lửa đối nghịch tại chỗ ngọn lửa đang cháy, ngọn lửa
kia sẽ không cháy lan rộng.
Rồi với ý định này, họ lấy
que làm lửa và đốm lửa được nhen lên. Một số Tỷ-kheo
khác nói:
- Này Hiền hỉ, làm gì vậy?
Caùc Hiền giả như những người không thấy mặt trăng đứng
giữa hư không, hay vòng tròn mặt trời với ngàn tia sáng mọc
lên từ thế giới phương Ðông, hoặc đại dương mà chúng
ta đang đứng trên bờ. hoặc các Hiền giả không thấy núi
Tu-di khi các Hiền Giả cùng đi với bậc Thượng nhân ở đời
này và trên thiên giới. Các Hiền giả không nhìn đến bậc
Chánh Ðẳng Giác mà chỉ la: Chúng ta hãy tạo nên một ngọn
lửa đối nghịch! Các Hiền giả không biết Phaät lực. Chúng
ta hãy đi lại gần bậc Ðạo Sư.
Tất cả Tỷ-kheo từ phía trước
phía sau đều đi đến gần bậc Ðạo Sư. đứng thành một
nhóm. Bậc Ðạo Sư cùng với chúng Tỷ-kheo đứng trên một
khoảng đất. Các ngọn lửa rừng ầm ầm lan đến như muốn
muốt sống tất cả, nhưng khi lan đến chỗ Như Lai đứng,
chúng lan xung quanh, không đến gần hơn mười sáu tầm. Nó
không có sức mạnh lan rộng một vùng rộng ba mươi hai tầm
(1 tầm = 1,8 m).
Các Tỷ-kheo nói lên lời tán
thán đức hạnh bậc Ðạo Sư:
- Ôi đức hạnh của chư Phật!
Ngọn lửa vô tri này không có thể cháy lan đến chỗ chư
Phật đứng, mà bị dập tắt như bó đuốc cỏ trong nước.
Ôi, uy lực của chư Phật thật là kỳ diệu!
Bậc Ðạo Sư, nghe câu chuyện
của họ, liền nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Ta có sức mạnh khiến ngọn lửa tắt đi, khi cháy
đến chỗ đất này. Ðây chính là sức mạnh của hạnh chân
thật xưa kia Ta đã làm. Chính tại chỗ này, hoàn toàn trong
suốt một kiếp, lửa sẽ không đốt cháy. Thần thông này
tồn tại suốt một kiếp.
Rồi Tôn giả Ànanda xếp chiếc
áo Tăng-già-lê làm bốn thành tấm nệm cho bậc Ðạo Sư ngồi.
Bậc Ðạo Sư ngồi kiết già. Chúng Tỷ-kheo đảnh lễ Như
Lai, bao vây xung quanh Ngài và ngồi xuống. Các Tỷ-kheo yêu
cầu:
- Bạch Thế Tôn, chúng con chỉ
biết hiện tại, còn quá khứ bị che kín. Mong Thế Tôn làm
sáng tỏ vấn đề cho chúng con.
Theo lời yêu cầu của họ, bậc
Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, ở nước Ma-kiệt-đà,
tại chỗ này, Bồ-tát được tái sanh làm con chim cun cút.
Từ cái trứng, con chim con tự mình mổ vỏ và thoát ra, thân
hình to bằng trái banh. Cha mẹ đặt nó nằm trong tổ chim,
chim mẹ tah đồ ăn về nuôi nó. Tự nó không có sức mạnh
để xòe cánh bay giữa hư không, cũng không có sức mạnh giơ
chân lên để đi trên đất liền.
Tại chỗ ấy, năm này qua năm khác,
lửa rừng thường phát cháy. Trong thời gian này, lửa rừng
đang đốt cháy với tiếng gầm thét to lớn. Các đàn chim
từ trong tổ nay ra, sợ chết, kêu la, và bay trốn. Cha mẹ
Bồ-tát sợ chết, bay trốn bỏ lại Bồ-tát. Bồ-tát nằm
trong tổ, ngóc cổ vươn ra, thấy lửa đang cháy lan tới, liền
suy nghĩ: "Nếu ta có sức mạnh xòe cánh bay lên hư không,và
ta có thể đi đến một chỗ khác; hay nếu ta có sức mạnh
giơ chân lên, ta có thể đi bằng chân đến một chỗ khác.
Cha mẹ ta, vì sơï chết, đã bỏ ta một mình, đã bỏ chạy
để cứu mình. Nay ta không có chỗ nương tựa nào khác. Tự
mình không nơi nương tựa, ta phải làm gì đây!".
Ngài lại suy nghĩ: "Trong thế giới
này, có công đức, thật sự có công đức. Có những vị
trong quá khứ viên mãn thành tựu các hạnh Ba-la-mật, ngồi
dưới gốc Bồ-đề, chứng Chánh Ðẳng Giác, đầy đủ giới
định tuệ, giải thoát, giải thóat tri kiến, thành tựu chân
lý, lân mẫn từ bi, nhẫn nhục tụ tập lòng thân ái, bình
đẳng đối với tất cả chúng sanh, những vị Phật Nhất
thiết trí. Có những công đức Pháp mà các vị ấy đã chứng
đắc. Và ta có được một sự thật: Một tự tánh pháp hiện
hữu. Do vậy, ta cần phải niệm các công đức đã được
các đức Phật quá khứ chứng đắc, nắm giữ tự tánh pháp
về sự thật hiện có nơi ta, làm một hạnh chân đẩy lui
ngọn lửa, đem lại an toàn cho ta và cho các con chim còn lại".
Do vậy, bài kệ này được nói lên:
Ở đời có giới đức,
Chân thật, tịnh, từ bi,
Chính với chân thật ấy
Ta sẽ làm một hạnh,
Hạnh chân thật vô thượng.
Hạy hướng niệm Pháp lực,
Niệm chư Phật quá khứ,
Dựa sức mạnh chân thật,
Ta làm hạnh chân thật.
Rồi Bồ-tát niệm công đức chư Phật
đã nhập Niết-bàn trong quá khứ, nhân danh tánh chân thật
hiện có trên tự thân, làm một hạnh chân thật, và đọc
bài kệ:
Có cánh không bay được,
Có chân không thể đi,
Cha mẹ đã bỏ ta,
Hỡi lửa, hãy đi lui!
Khi Bồ-tát nói sự thật ấy, ngọn
lửa đi trở lui khoảng mười sáu tầm (1 tầm = 1,8 m). Khi
trở lui như vậy, lửa không đất cháy khu rừng nó đi ngang
qua và được dập tắt tại chỗ ấy, như bó đuốc nhúng
vào nước. Do vậy, bài kệ được nói như sau:
Ta làm hạnh chân thật,
Màn lửa lớn lửa ngọn.
Ði lui mười sáu tầm
Như ngọn đuốc gặp nước.
Trong suốt kiếp này, chỗ ấy không
bị lửa đốt chạy, được gọi là thần thông tại trong
một kiếp. Như vậy, Bồ-tát đã làm hạnh chân thật, và
khi mạng chung, ngài đi theo nghiệp của mình.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ
nay Ta có sức mạnh không cho ngọn lửa cháy đến khu rừng
này, mà thời xưa, khi làm chim cun cút con, Ta đã có sức mạnh
của một hạnh chân thật.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, một
số người chứng quả Dự lư, một số người chứng quả
Bất Lai, một số người chứng quả A-la-hán. BẬc Ðạo Sư,
kết hợp hai mẩu chuyện, và nhận diện Tiền thân như sau:
- Thời ấy, cha mẹ của ta hiện
tại là cha mẹ ta trong quá khứ, còn vua loài cun cút là Ta
vậy.
-ooOoo-
36. CHUYỆN CON
CHIM (Tiền thân Sakuna)
Các chim sống ở đời ... ,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư kể về cái chòi lá bị cháy. Truyền thuyết
nói một Tỷ-kheo lấy đề tài Thiền quán bậc Ðạo Sư. Từ
Kỳ Viên đi đến Kosala, vị ấy sống tại moät trú xứ trong
khu rừng, gần một làng ở biên địa. Trong tháng đầu, chòi
lá vị ấy bị cháy. Vị ấy báo cho mọi người biết:
- Chòi lá tôi bị cháy. Tôi sống
khó khăn.
Và các người được báo nói:
- Nay ruộng chúng tôi bị haïn,
tát nước cho ruộng song, chúng tôi sẽ làm.
Khi tát nước xong, họ gieo giống,
gieo giống xong họ làm hàng rào; làm hàng rào xong, họ nhổ
cỏ, họ gặt, họ đập lúa. Như vậy, họ đề cập việc
này sang việc khác, cho đến lúc ba tháng đã trôi qua. Tỷ-kheo
ấy trong ba tháng phải sống khổ sở ngoài trời, đã tăng
trưởng đề tài Thiền quán, nhưng không đạt được như
ý. Vì thế, lễ Tự tứ xong, Tỷ-kheo ấy đi đến bậc Ðạo
Sư, đảnh lễ và ngồi xuống moät bên. Sau khi chào đón thân
tình, bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, ông an cư mùa mưa
có thoải mái không, đề tài Thiền quán của ông có đạt
kết quả không?
Tỷ-kheo ấy báo cáo sự việc
lên, và nói:
- Vì con không được một trú
xứ thích hợp, nên đề tài Thiền quán không có kết quả.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Trong thời trước này Tỷ-kheo,
ngay các loài thú cũng biết trú xứ thích hợp với mình, làm
sao ông không biết?
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Barhmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con chim, với đàm chim vây
quanh sống dựa trên một cây lớn, đầy đủ cành cây trong
một khu rừng. Một ngày kia, khi các cành cây cọ xát nhau,
bụi cây rơi xuống, khói khởi lên. Thấy vậy, Bồ-tát suy
nghĩ: "Hai nhánh cây này cọ xát như vậy sẽ sanh lửa. Lửa
rơi xuống sẽ đốt các lá cũ. Từ đấy, cây này sẽ bị
cháy. Chúng ta không thể ở đây được. Ta phải bỏ đi đến
một chỗ khác".
Rồi Bồ-tát nói bài kệ này với
đàn chim
Các chim sống trên đời,
Dựa vào trú xứ nào,
Chỗ ấy sanh ra lửa,
Hỡi loài chim tránh xa,
Hãy đi các phương khác,
Nếu y tựa chỗ ấy,
Sợ hãi sẽ sanh ra.
Các con chim có trí nghe theo lời Bồ-tát,
lập tức cùng với Bồ-tát bay lên hư không, đi tới chỗ
khác. Các chim không có trí nói:
- Vị ấy như ếch ngồi đáy giếng.
Nên chúng không nghe theo lời Bồ-tát,
vẫn sống ngay tại chỗ ấy.
Từ đấy không bao lâu, như Bồ-tát
đã nghĩ trước, lửa sanh ra và đốt cháy cây ấy. Trong khi
khói và lửa bốc lên, các con chim bị khói làm mù mắt không
thể đi chỗ khác, đã rơi vào biển lửa, hết con này đến
con khác và bị tiêu diệt.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, trong thời trước;
các con vật sống trên cây cao cũng biết được chỗ thích
hợp cho mình, sao ông lại không biết?
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, vị
Tỷ-kheo ấy chứng quả Dự lưu. Bậc Ðạo Sư kết hợp hai
câu chuyện, và nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, các con chim làm theo
lời Bồ-tát là hội chúng đức Phật, và con chim có trí là
Ta vậy.
-ooOoo-
37. CHUYỆN CON
CHIM TRĨ (Tiền thân Tittira)
Ai kính bậc lớn tuổi ... ,
Câu chuyện này, khi đi đến Xá-vệ,
bậc Ðạo Sư kể về trưởng lão Xá-lợi-phất đã bị tước
đoạt trú xứ như thế nào. Khi ông Cấp-cô-độc đã làm
xong ngôi tinh xá và gửi sứ giả báo tin, bậc Ðạo Sư từ
Vương Xá ra đi, đến Tỳ-xá-ly sống tại đấy cho thỏa thích
rồi lên đường đi Xá-vệ. Lúc bấy giờ,các đệ tử của
nhóm Sáu Tỷ-kheo đi phía trước; khi các trú xứ chưa được
các Trưởng lão ở, họ giành lấy:
- Trứ xứ này danh cho giáo thọ
sư chúng tôi, trú xứ này dành cho sư trưởng chúng tôi, trú
xứ này dành cho chúng tôi.
Các trưởng lão đến sau không
được các trú xứ. Các đệ tử của Trưởng lão Xá-lợi-phất
tìm trú xứ cho Trưởng lão, nhưng không được. Trưởng lão
không được trú xứ, đã ngồi hay kinh hành dưới một gốc
cây không xa tú xứ bậc Ðạo Sư bao nhiêu.
Sáng sớm, bậc Ðạo Sư đi ra,
đằng hắng thành tiếng. Trưởng lão đằng hắng lại. Thế
Tôn hỏi:
- Ai đó?
- Bạch Thế Tôn, con là Xá-lợi-phất.
- Này Xá-lợi-phất, vào giờ
này, ông làm gì ở đây?
Trưởng lão kể lại sự việc
ấy. Bậc Ðạo Sư nghe câu chuyện, suy nghĩ: "Nay Ta còn sống,các
Tỷ-kheo còn thiếu tôn trọng, kính nể lẫn nhau. Khi Ta diệt
độ rồi, họ sẽ làm như thế nào nữa?". Nghĩ vậy, bậc
Ðạo Sư khởi lên sự lo âu vì Chánh pháp.
Khi trời vừa sáng, Ngài bảo
tập hợp Ðại chúng, và hỏi các Tỷ-kheo:
- Có thật chăng, này các Tỷ-kheo,
các đệ tử nhóm Sáu Tỷ-kheo đi trước giành hết trú xứ
của các Tỷ-kheo Trưởng lão?
- Thưa thật vậy, bạch Thế Tôn.
Thế Tôn liền chỉ trích nhóm
Sáu Tỷ-kheo. Ngài thuyết pháp, bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, ai xứng đáng
được chỗ ngồi tốt nhất, được nước uống tốt nhất,
được đồ ăn khất thực tốt nhất?
Có người nói:
- Vị xuất gia từ gia đình Sát-đế-ly.
Có người nói:
- Vị xuất gia từ gia đình Bà-la-môn,
tưø gia đình gia chủ.
Những người khác nói:
- Những vị trì luật, những
vị thuyết pháp, những vị đã chứng Thiền thứ nhất, Thiền
thứ hai, Thiền thứ ba, Thiền thứ tư.
Những người khác nữa nói:
- Những vị Dự lưu, Nhất lai,
Bất lai, A-la-hán, những vị chứng Ba Minh, sáu Thắng trí.
Khi các Tỷ-kheo đã nói ý nghĩ
của mình, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, trong Giáo pháp
Ta, xứng đáng được chỗ ngồi tốt nhất, không phải vị
xuất gia từ gia đình Sát-đế-ly, không phải vị xuất gia
từ gia đình Bà-la-môn, từ gia đình gia chủ, không phải vị
trì luật, không phải vị trì kinh, không phải vị trì luận,
không phải những vị đã chứng sơ Thiền v.v... không phải
những vị Dự lưu v.v... Nhưng này các Tỷ-kheo, trong Giáo pháp
này, tùy theo tuổi lớn mà quyết định về sự đảnh lễ,
nghênh tiếp, chắp tay, phục vụ, mà nhận được chỗ ngồi
tốt nhất, nước tốt nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất.
Chính ở đây, tuổi lớn là mức đo lường. Do vậy, Tỷ-kheo
tuổi lớn xứng đáng được những sự ấy. Nhưng nay, này
các Tỷ-kheo, Xá-lợi-phất đệ tử cao nhất của Ta, vị chuyển
Bánh xe Tùy pháp, xứng đáng được trú xứ tiếp theo trú
xứ của Ta, vị ấy lại không được trú xứ, đã trải qua
đêm nay sống dưới gốc cây. Nếu nay các ông không tôn trọng,
không kính nể lẫn nhau, thì với thời gian trôi qua, các ông
sẽ xử sự như thế nào?
Với mục đích khuyến giáo các
Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, trong thời
quá khứ, các loài thú cũng nghĩ: "Thật không thích đáng cho
chúng tôi, nếu chúng tôi sống không tôn trọng, kính nễ lẫn
nhau, sống không tùy thuận nhau. Sau khi biết ai lớn tuổi nhất
trong chúng tôi, chúng tôi sẽ đảnh lễ vị ấy".
Sau khi khéo tìm hiểu, biết được
vị cao niên nhất, chúng đảnh lễ vị ấy, vì vậy khi mạng
chung, chúng được sanh tràn đầy thiên giới.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, trên sườn Hy-mã-lạp-sơn
có ba con vật sống gần một cây bàng lớn: con chim trĩ, con
khỉ và con voi. Chúng sống không tôn trọng, không kính nể,
không tùy thuận lẫn nhau. Rồi chúng suy nghĩ: "Thật không
xứng đáng cho chúng ta sống như thế này. Ai cao niên nhất
giữa chúng ta , chúng ta sẽ đảnh lễ vị ấy!". Trong khi chúng
tìm hiểu vị cao niên nhất giữa chúng, thì một hôm, giữa
chúng, khởi lên phương tiện này khi cả ba con ngồi dưới
gốc cây bàng, chim trĩ và khi hỏi con voi:
- Này bạn voi, bạn có biết, khi
bạn thấy cây bàng này lần đầu tiên, cây ấy to như thế
nào?
Con voi nói:
- Này các bạn, khi tôi còn bé nhỏ,
cây bàng chỉ là một bụi cây, tôi đi ngang qua nó đụng bắp
vế tôi. Khi tôi đứng ngang cây ấy,cành cây cao nhất chỉ
chạm đến lỗ rốn. Như vậy tôi biết cây này từ khi còn
là một bụi cây.
Rồi hai con vật ấy lại hỏi con
khỉ như rên. Con khỉ nói:
- Này các bạn, khi tôi còn là khỉ
con, tôi ngồi trên đất, chỉ vươn cổ ra, có thể ăn được
chồi cao nhất của cây bàng non này. Như vậy tôi biết cây
này từ khi còn nhỏ.
Hai con vật kia lại hỏi con chim
trĩ như trên. Con chim trĩ nói:
- Này các bạn, thuở trước, tại
một chỗ nọ, có một cây bàng lớn. Tôi ăn trái cây, đi
đại tiện ở chỗ này, từ đấy, cây này mọc lên. Như vậy,
tôi biết cây này từ khi cây ấy chưa mọc. Do vậy, tôi cao
niên hơn các bạn.
Ðược nghe nói như vậy, con khỉ
và con voi nói với chim trĩ có trí:
- Này bạn, bạn cao niên hơn chúng
tôi. Từ nay trở đi, chúng tôi sẽ cung kính, tôn trọng, đảnh
lễ, cúng dường bạn. Chúng tôi sẽ đảnh lễ, nghênh tiếp,
chắp tay, phuïc vụ nạn. Chúng tôi sẽ vâng theo lời khuyến
giáo của bạn. Bắt đầu từ nay, bạn sẽ chỉ dạy khuyên
bảo chúng tôi.
Từ hôm ấy trở đi, con chim trĩ
khuyên bảo chúng, an trú chúng trong giới luật, và tự mình
thọ trì giới luật. Cả ba con vật kính trọng, kính nể lẫn
nhau, tùy thuận nhau, sống như vậy cho đến mạng chung, rồi
đi lên thiên giới.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Mục đích của ba con vật này
là sống Phạm hạnh nhờ con chim trĩ. Này các Tỷ-kheo, nếu
những thú vật ấy sống tôn trọng, kính nể lẫn nhau, thì
vì sao,các ông đã xuất gia trong Pháp Luật khéo giảng này,
lại không thể sống tôn trọng, kính nể lẫn nhau? Này các
Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các ông, bắt đầu từ nay trơû đi,
tùy theo tuổi lớn, các ông hãy đảnh lễ, nghênh tiếp, chắp
tay, phục vụ; tùy theo tuổi lớn, hãy dành chỗ ngồi tốt
nhất, đồ ăn khất thực tốt nhất; bắt đầu từ nay trở
đi, không bao giờ một vị lớn tuổi lại bị một vị trẻ
tuổi tranh giành trú xứ. Ai tranh giành sẽ phạm tội.
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Chánh Ðẳng Giác đọc bài kệ:
Ai kính bậc lớn tuổi,
Là thiện xảo trong Pháp,
Ðời này được tán thán,
Ðời sau, sanh cõi lành.
*
Như vậy, bậc Ðạo Sư nói lên
lời tán thán hạnh kính lễ bậc lớn tuổi và kết hợp hai
câu chuyện với nhau, rồi nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, con voi là Mục-kiền-liên,
con khỉ là Xá-lợi-phất và con chim trĩ là Ta vậy.
-ooOoo-
38. CHUYỆN CON
CÒ (Tiền thân Baka)
Kẻ có trí lường gạt ...
,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về một Tỷ-kheo làm thợ may y. Theo
truyền thuyết, có một Tỷ-kheo trú ở Kỳ Viên, rất thiện
xảo về công việc may y, như cắt, ráp, sắp xếp, và may lại
v.v... Do thiện xảo này, vị ấy thường làm y và có tên là
Thợ may y. Vị ấy làm gì? Từ những mảnh vải cũ mòn, với
bàn tay khéo léo, vị ấy làm thành y mềm dịu vừa ý. Sau
khi may xong, vị aáy nhuộm với nước bột, ủi bằng vỏ ốc,
làm cho trơn y láng đẹp đẽ. Những Tỷ-kheo không biết làm
y, đem vải mới đến Tỷ-kheo ấy và nói:
- Này Hiền giả, chúng tôi không
biết làm y, hãy may giúp cho chúng tôi.
Tỷ-kheo ấy nói:
- Này Hiền giả, làm xong một
y cần nhiều thời gian, nhưng nay có một y tôi mới làm xong.
Hãy để vải này lại, lấy y ấy mà dùng.
Vị ấy đem y ra cho họ xem. Những
Tỷ-kheo ấy chỉ thấy màu sắc y tươi đẹp mà không biết
bề trong của y, tưởng rằng y ấy chắc chăn nên đưa cho
Tỷ-kheo Thợ may xấp vải mới, đổi lấy y và ra đi. Khi y
ấy hơi bị nhớp và được giặt trong nước nóng, thực chất
của y hiện rõ. Ðây đó, những chỗ cũ mòn được phơi bày.
Hoï hối tiếc việc trao đổi trước. Như vậy vị ấy lường
gạt những ai đem vải đến may, và khắp mọi nơi đều biết
chuyện ấy.
Giống như vị Tỷ-kheo lừa gạt
ở Kỳ Viên, tại một làng nhỏ nọ, có một Tỷ-kheo khác
may y cũng lừa dối thiên hạ. Những Tỷ-kheo bạn của vị
ấy báo cho biết:
- Này Tôn giả, ở Kỳ Viên có
một thợ may y lừa dối thiên hạ như Tôn giả vậy.
Vị ấy tự bảo: "Ta sẽ lường
gạt thợ may ở thành thị này". Vị ấy làm một cái y với
nhiều tấm vải cũ rất đẹp, nhuộm với màu vàng đậm và
đắp y ấy đi đến Kỳ Viên. Thợ may kia thấy y ấy, khởi
lòng tham và hỏi:
- Thưa Tôn giả, y này có phải
Tôn giả đã may không?
- Này Hiền giả, phải, tôi đã
làm.
- Này Tôn giả, hãy nhường cho
tôi y này, Tôn giả sẽ lấy y khác.
- Này Hiền giả, chúng tôi là
người ở làng, rất khó được các vật dụng. Nếu tôi cho
Hiền giả y này, tôi sẽ đắp cái gì?
- Thưa Tôn giả, tôi có vải mới
chưa may. Tôn giả đã nói như vậy, thì tôi từ chối gì được
? Thôi, Hiền giả hãy lấy đi.
Sau khi đưa cái y gồm nhiều tấm
vải cũ, vị ấy lấy vải mới , lừa dối Tỷ-kheo ấy, rồi
ra đi. Vị Tỷ-kheo ở Kỳ Viên, sau vài ngày đắp y ấy, giaët
y ấy với nước nóng, thấy những miếng vải cũ mòn, và
bị chê cười xấu hổ. Toàn thể chúng Tăng được biết
rõ là người thợ may ở Kỳ Viên đã bị người thợ may
ở làng nhỏ lường gạt.
Một hôm, tại Pháp đường,các
Tỷ-kheo đang ngồi nói về câu chuyện ấy. Bậc Ðạo Sư đến
và hỏi các Tỷ-kheo đang ngồi bàn chuyện gì. Các Tỷ-kheo
đang ngồi bàn chuyện gì. Các Tỷ-kheo trình bày câu chuyện,
bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay người thợ may ở Kỳ Viên mới lường gạt những
người khác. Trong thời quá khứ, vị ấy cũng đã lường
gạt rồi. Và người thợ may ở ngôi làng nhỏ, không phải
chỉ nay mới lường gạt người thợ may ở Kỳ Viên. Trong
thời quá khứ, vị ấy cũng đã lường gạt rồi
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, tại một ngôi rừng,
Bồ-tát sanh làm thần cây. Cây ấy mọc gần một hồ sen.
Lúc bấy giờ, trong một hồ khác không lớn lắm, vào mùa
hạn hán, nước thấp, nhưng tại đấy có cá rất nhiều.
Một con cò thấy đàn cá, suy nghĩ cách lường gạt và ăn
chúng. Cò đi đến hồ, ngồi bên bờ nước suy tư. Ðàn cá
thấy vậy liền hỏi cò:
- Ngài ngồi suy nghĩ gì vậy?
- Tôi ngoài suy nghĩ đến các bạn!
- Ngài suy nghĩ gì đến chúng tôi?
- Trong hồ này, nước cạn, đồ
ăn ít, hạn hán lại lớn. Nay các bạn sẽ làm gì? Chính ta
ngồi đây suy nghĩ như vầy.
- Vậy thưa ngài, chúng tôi sẽ phải
làm gì?
- Này, nếu các bạn làm theo lời
ta, ta sẽ ngậm từng bạn trong mỏ ta, đưa các bạn đến
một hồ lớn tràn đầy hoa sen năm sắc, và thả các bạn
ở đấy.
- Thưa ngài, từ thuở khai thiên
lập địa đến nay, không bao giờ loài cò lại nghĩ đến
loài cá. Ngài chỉ muốn ăn chúng tôi từng con một thôi.
- Ta sẽ không ăn các bạn khi các
bạn có lòng tin ở ta. Nếu các bạn không tin lời ta là đằng
kia có một cái hồ, hãy cử một con cá đi với ta để chính
nó thấy cái hồ ấy.
Ðàn cá tin con cò ấy, liền cử
một con cá lớn, mù một mắt, nghĩ rằng nó có khả năng
đối nghịch với cò dưới nước và trên cạn, và bảo con
cò mang đi. Cò ngậm lấy cá ấy, mang đi, thả trong hồ, chỉ
cho thấm toàn bộ cái hồ, rồi đưa nó về, thả nó lại
với đàn cá trong hồ cũ. Cá này về tán thán sự quyến rũ
của hồ mới cho chúng bạn nghe. Nghe nó taùn thán, đàn cá
đều muốn đi và nói với cò:
- Lành thay, ngài hãy mang chúng tôi
đi.
Con cò trước hết mang con cá lớn
một mắt ấy, đưa nó đến bờ hồ, chỉ cho nó thấy cái
hồ, rồi đậu xuống cây Vanara mọc bên bờ hồ. Cò neùm
con cá vào giữa hai cành cây, lấy mỏ mổ con cá, giết chết
nó và ăn thịt, thả xương xuống gốc cây, rồi trở về
nói:
- Con cá ấy đã được ta thả rồi.
Con khác hãy đi.
Với phương cách ấy, cò mang đi
từng con cá một, ăn hết cả đàn cá, và cuối cùng, không
tìm thấy con cá nào nữa. Tại đấy chỉ có con cua còn ở
lại. Con cò muốn ăn nó nên nói:
- Này bạn cua, tất cả đàn cá
ấy đã được ta mang đi, thả xuống hồ lớn đầy những
bông sen, hãy đến đấy, ta sẽ mang bạn đi!
- Làm thế nào ngài mang tôi đi?
- Ngậm lấy bạn, ta sẽ mang đi.
- Ngậm tôi mang đi như vậy, ngài
sẽ làm rơi tôi xuống. Tôi sẽ không đi với ngài đâu.
- Chớ sợ, ta sẽ ngậm bạn thật
chặt và mang đi.
Con cua suy nghĩ: "Nó mang những con
cá mà không thả cá vào trong hồ. Nếu nó thả ta vào trong
hồ thì tốt. Nếu nó không thả, ta sẽ cắt đứt cổ của
nó và giết nó".
Rồi cua nói với cò:
- Này bạn cò, bạn không thể ngậm
tôi chắc chắn được. Chúng tôi loài cua đã kẹp thì kẹp
chặt. Nếu tôi lấy cái càng kẹp cổ bạn, tôi sẽ kẹp chặt
cổ bạn và sẽ đi với bạn.
Con cò không biết con cua muốn lường
gạt mình bèn bằng lòng. Như với cái kềm của người thợ
rèn, con cua với những cái càng của mình, kẹp rất chặt
cổ cò và nói:
- Nào, chúng ta hãy đi!
Cò đưa cua đi, trước hết chỉ
cho nó thấy cái hồ, rồi đi về phía cây Vanara. Cua nói:
- Này bạn, cái hồ ở phía này,
sao bạn lại đưa tôi đi phía khác?
- Ừ, ta là bạn thân của người,
và ngươi là bạn thân của ta. Ngươi tưởng ta là nô lệ
của ngươi, nhấc bổng và đưa ngươi đi không sao? Hãy nhìn
đống xương này dưới gốc cây Vanara! Và ta đã ăn tất cả
con cá ấy, cũng vậy, nay ta sẽ ăn ngươi!
- Những con cá ấy vì ngu si nên
bị ngươi ăn. Nhưng ta sẽ không để ngươi ăn ta đâu. Cua
nói. Ta sẽ giết ngươi! Ngươi thật là ngu ngốc! Ngươi bị
ta lừa mà không biết. Nếu chết, cả hai cùng chết! ta sẽ
cắt đứt đầu ngươi trước khi ta rơi xuống đất!
Nói xong, cua kẹp chặt cổ cò lại
như gọng kềm. Với miệng há to, nước mắt từ từ chảy,
quá kinh hãi vì sợ chết, cò nói:
- Thưa ngài, tôi sẽ không ăn ngài.
Hãy cho tôi sống!
- Nếu ngươi hạ xuống và thả
ta trong hồ.
Cò bay trở lui, hạ xuống hồ, thả
cua trên mặt bùn bên bờ hồ. nhưng con cua, trước khi đi xuống
nước, cắt đứt cổ cò như con dao cắt một cọng sen.
Vị thần sống ở trên cây thấy
sự lạ lùng này, đã làm cho toàn khu rừng vang dậy lời tán
thán khi nói lên bài kệ này với âm thanh dịu ngọt:
Kẻ có trí lường gạt
Không may bị kẻ gạt,
Con cò có trí gạt
Ðã bị cua gạt lại.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay người thợ may ở Kỳ Viên mới bị người thợ may
ở làng lường gạt. Trong thời quá khứ, vị ấy cũng bị
lường gạt rồi.
Sau khi thuyết pháp thoại này,
bậc Ðạo Sư kết hợp hai mẩu chuyện và nhận diện Tiền
thân:
- Lúc ấy, người thợ may ở
Kỳ Viên là con cò, người thợ may ở làng là con cua, còn
Ta là thần cây.
-ooOoo-
39. CHUYỆN NGƯỜI
NÔ LỆ NANDA (Tiền thân Nanda)
Nghĩ rằng là chỗ chôn...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về một đệ tử của Trưởng lão Xá-lợi-phất.
Tương truyền Tỷ-kheo ấy là người dễ bảo, kham nhẫn, thường
nỗ lực hầu hạ Trưởng lão. Một thời, sau khi xin phép bậc
Ðạo Sư, Trưởng lão đã ra đi, bộ hành đến xứ Dakkhinagiri
ở miền Nam Magadha (Ma-kiệt-đà), Tỷ kheo ấy, đến xứ nầy,
trở thành kiêu ngạo, cứng đầu, không vâng lời Trưởng
lão. Khi Trưởng lão bảo:
- Này Hiền giả, hãy làm điều
này.
Vị ấy liền gây sự chống lại
Trưởng lão.
Trưởng lão không biết tâm tánh
vị ấy vì sao thay đổi như vậy. Sau khi bộ hành tại đấy,
Trưởng lão lại đi về Kỳ Viên. Từ khi theo Trưởng lão
về đến Kỳ Viên, tánh tình Tỷ-kheo ấy trở lại như cũ.
Trưởng lão thưa với đức Như Lai:
- Bạch Thế Tôn, con có một đệ
tử, tại một chỗ, xử sự như một nô lệ được mua với
giá một trăm đồng tiền, nhưng tại một nơi khác, lại trở
thành kiêu mạn, cứng đầu, bảo làm gì cuõng gây sự chống
đối.
Bậc Ðạo sư nói:
- Này Xá-lợi-phất, Tỷ-kheo này
không phải nay mới có tánh tình như vậy. Trước kia, khi đến
chỗ nầy, kẻ ấy xử sự như một nô lệ được mua với
giá một trăm đồng tiền, nhưng khi đi chỗ khác, thì gây
sự, đối nghịch.
Nói vậy xong, theo lời Trưởng
lão yêu cầu, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahamadatta trị
vì ở xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình một địa
chủ. Bạn của Bồ-tát cũng là một điạ chủ lớn tuổi
hơn Bồ-tát, nhưng có một người vợ trẻ sanh được một
con trai. Người địa chủ lớn tuổi suy nghĩ: "Vợ ta còn trẻ,
khi ta chết đi, không biết sẽ lấy ai và tiêu phí tài sản
này, thay vì giao cho con trai của ta? Vậy tốt hơn ta hãy chôn
tài sản dưới đất".
Nghĩ vậy, người địa chủ đem
theo một người nô lệ trong nhà tên Nanda, đi vào rừng, chôn
tài sản ấy vào một chỗ và bảo:
- Này Nanda thân, sau khi ta chết,
hãy báo cho con ta biết tài sản này. Chớ quên khu rừng.
Sau khi khuyên như vậy, người địa
chủ già ấy mạng chung. Ðứa con trai dần dần lớn lên, đến
tuổi thành niên, mẹ nó nói:
- Này con thân, cha con đem theo nô
lệ Nanda, đã chôn giấu tài sản. Hãy bảo nó mang về mà
cai quản gia sản thừa tự.
Một hôm, người thanh niên nói với
Nanda:
- Này cậu, có phải cha ta đã chôn
tài sản?
- Thưa ông chủ, có!
- Chôn tài sản tại đâu?
- Thưa ông chủ, trong rừng.
- Vậy chúng ta hãy đi lấy.
Sau khi đem cuốc và thúng, đi đến
chỗ chôn giấu, người thanh niên hỏi:
- Này cậu, tài sản ở đâu?
Nanda leo lên, đứng trên chỗ đã
chôn tài sản, do vì tài sản ấy, nó khởi lòng kiêu mạn
và mắng nhiếc chàng thanh niên chủ nó:
- Ði đi! Ðứa con hư, đứa con nô
lệ. Từ đâu ngươi có được tài sản này?
Nghe ác ngữ của nó, chàng thanh
niên làm như không nghe gì, chỉ nói:
- Thôi chúng ta đi về.
Rồi hai người cùng về. Sau hai
ba ngày, cả hai lại đi, nhưng Nanda lại mắng chửi như cũ.
Chàng thanh niên không nói ác ngữ với nó, và suy đi nghĩ lại
như sau: "Người nô lệ này, khi đi có ý định báo cho ta biết
tài sản. Nhưng đến đó, lại mắng nhiếc ta, chẳng biết
vì lý do gì? À, cha ta có người bạn địa chủ, hãy đến
hỏi vị ấy".
Thanh niên ấy đi đến gặp Bồ-tát
trình bày tất cả sự việc và hỏi:
- Thưa ngài, vì lý do gì mà tại
chỗ Nanda đứng mắng nhiếc con là chỗ cha con chôn tài sản
thừa tự?
- Này con, Khi Nanda mắng chửi con,
con chỉ nên nói: Này người nô lệ, người mắng chửi ai
vậy? Rồi kéo nó ra, lấy cuốc đào chỗ ấy, lấy tài sản
thừa tự của gia đình, bảo người nô lệ nhấc lên và mang
về nhà.
Nói vậy xong, Bồ-tát đọc bài
kệ này:
Nghĩ rằng là chỗ chôn
Ðống vàng và nữ trang,
Chỗ nô tỳ hạ sanh
Tên là Nan-da-ka
Ðang đứng và la to
Những lời lẽ thô bạo.
Chàng thanh niên liền đảnh lễ Bồ-tát,
về nhà, và đưa Nanda đi đến chỗ chôn giấu tài sản. Làm
đúng theo lời khuyên bảo, Chàng thanh niên cũng vâng theo lời
Bồ-tát khuyên, làm các công đức như bố thí...đến khi mạng
chung đi theo nghiệp của mình.
Bậc Ðạo Sư nói: - Trong thời quá
khứ, tánh tình của kẻ ấy cũng như vậy.
*
Sau khi bậc Ðạo Sư thuyết pháp
thoại này, Ngài kết hợp hai câu chuyện và nhận diện Tiền
thân.
- Lúc bấy giờ, Nanda là đệ
tử của Xá-lợi-phất, và người địa chủ có trí là Ta
vậy.
-ooOoo-
40. CHUYỆN HỐ
THAN LỬA CÂY KEO (Tiền thân Khadirangara)
Ta thà rơi địa ngục...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về ông Cấp Cô Ðộc. Ông Cấp
Cô Ðộc đã tiêu hết cho Giáo pháp đức Phật một số tiền
là năm trăm bốn mươi triệu đồng để xây dựng tinh xá,
và ông không nghĩ đến châu báu nào khác ngoài ba ngôi báu
Phật, Pháp, Tăng. Trong khi bậc Ðạo Sư còn ở Kỳ Viên, mỗi
ngày vị triệu phú đi đến tinh xaù ba lần để cúng dường:
một vào buổi sáng, một vào buổi trưa, một vào buổi chiều.
Ngoài ra, còn nhiều sự giúp đỡ khác.
Ông Cấp Cô Ðộc không bao giờ
đi tay không, ngại các Sa-di hay Tỷ-kheo trẻ xem mình có đem
gì trong tay không. Buổi sáng ông đem theo cháo, sau buổi ăn
sáng đem theo bơ chín, bơ tươi, mật ong, đường mật. Buổi
chiều ông đem theo hương liệu, vòng hoa, vải may y. Ngày này
qua ngày khác, vị ấy tiêu dùng như vậy, không hạn chế.
Ngoài ra, nhiều người sống bằng
nghề buôn bán tự tay trao phiếu nợ, mượn ông tài sản ước
lượng một trăm triệu đồng và vị Ðại triệu phú không
đòi họ trả. Còn những tài sản khác trị giá một trăm
tám mươi triệu đồng được chôn cất trên bờ sông. Khi
bị gió bão, nước phá vỡ bờ sông, gia sản ấy đã trôi
ra biển lớn. Chìm xuống lòng biển là các ghè chậu bằng
đồng còn khoá chặt và đóng dấu nguyên xi.
Trong nhà vị triệu phú luôn luôn
có phần cơm cho năm trăm Tỷ-kheo, nhà vị đại triệu phú
giống như cái giếng trong xanh ở ngã tư đường cho chúng
Tỷ-kheo, như ngôi nhà cha mẹ đối với tất cả đại chúng.
Vì vậy, bậc Chánh Ðẳng Giác thường đi đến nhà vị triệu
phú. Tám mươi đại Trưởng lão cũng đi đến. Các Tỷ-kheo
khác cũng đến và đi không thể kể xiết. Nhà vị đại triệu
phú có đến bảy tầng lầu, được trang hoàng với bảy cửa
gác. Tại cửa gác thứ tư của ngôi nhà ấy, một thần nữ
có tà kiến thường trú. Khi bậc Chánh Ðẳng Giác vào nhà,
thần nữ ấy không ở được trong lầu của mình, đã đem
theo mấy đứa con nhỏ xuống ở tại tầng cuối cùng. Khi
tám mươi đại Trưởng lão và các Trưởng lão khác đến
và đi, thaàn nữ ấy cũng phải làm như vậy. Nàng suy nghĩ:
"Khi Sa-môn Gotama và các đệ tử vào nhà này, ta không được
an lạc; ta không thể luôn luôn xuống tầng trệt được. Ta
phải làm thế nào để những người ấy không đến nhà này
nữa".
Một hôm, khi người tổng quản
đã về phòng an nghỉ, thần nữ ấy đi đến, chói sáng hào
quang và đứng lại. Ðược hỏi:
- Ai dó?
Nàng trả lời:
- Ta là thần nữ thường trú
ở cửa gác thứ tư.
- Vì sao nàng đến đây?
- Ông không thấy việc phải làm
của vị triệu phú, không nghĩ đến đời sau cho mình, tiêu
phí tài sản, làm giàu cho Sa-môn Gotama, không lo buôn bán, không
lo làm việc. Ông hãy khuyên vị triệu phú làm việc của mình,
đừng để Sa-môn Gotama và các đệ tử vào nhà này nữa.
Người tổng quản ấy nói với
thần nữ:
- Này thần nữ ngu si, nếu vị
triệu phú dùng tài sản, vị ấy chỉ dùng cho Giáo pháp chư
Phật đưa đến giải thoát. Dù vị triệu phú nắm búi tóc
ta và bán ta làm nô lệ, ta vẫn sẽ không nói gì. Nàng hãy
đi đi.
Hôm khác, thần nữ ấy đi đến
người conn trai cả của vị triệu phú và khuyên giáo tương
tự. Người con trai cả cũng mắng nàng như trước. Nhưng nàng
không dám nói việc này với vị triệu phú.
Do bố thí không ngừng nghỉ,
do không kinh doanh, tiền thâu vào ít dần, tài sản vị ấy
đi đến khánh tận. Dần dần triệu phú rơi vào cảnh nghèo
thiếu, gia sản, áo quần, sàng tọa, thực phẩm không còn
được như xưa. Dầu ở trong tình trạng như vậy, ông Cấp
Cô Ðộc vẫn cúng dường chúng Tăng, tuy rằng không thể cúng
dường các món tốt đẹp.
Một hôm, sau khi ông Cấp Cô Ðộc
đảnh lễ và ngồi xuống, Thế Tôn hỏi:
- Này Gia Chủ, tại nhà ông còn
có vật bố thí không?
- Bạch Thế Tôn, thưa có vật
bố thí. Ðó là cháo tấm với bột chua để lại từ hôm
qua.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Gia chủ, tâm đừng buồn
phiền khi bố thí đồ vật thô xấu, khi tâm tốt đẹp thì
đồ vật cúng dường chư Phật, Ðộc Giác Phật, đệ tử
chư Phật cũng không trở thành thô xấu. Vì sao? Vì quả dị
thục to lớn. Ai có thể làm tâm tốt đẹp, thì vật bố thí
không thể thô xấu được. Như vậy ông cần phải hiểu biết.
Và đức Thế Tôn đọc bài kệ:
Khi tâm được tịnh tín,
Bố thí không gọi nhỏ,
Cho Như Lai, chư Phật,
Hay cho đệ tử Ngài,
Không có cúng dường nào
Ðược xem là bé nhỏ.
Thế Tôn lại nói thêm:
- Này Gia chủ, ông cuùng dường
món ăn thô xấu, nhưng cúng dường tám bậc Thánh nhân. Trong
thời Velàma, Ta làm náo động cả Diêm-phù-đề với việc
bố thí bảy thứ báu; trong khi đại bố thí, Ta làm chúng
tuôn chảy như làm năm con sông trở thành một dòng thác. Nhưng
Ta không tìm được ai thọ Ba quy y hay giữ Năm giới. Những
người xứng đáng được cúng dường như vậy thật khó kiếm
được. Do vậy, khi bố thí cho ta đồ ăn thô xấu, tâm ông
chớ buồn phiền.
Sau đó, bậc Ðạo Sư nói Kinh
Velàmaka.
Bấy giờ thần nữ ấy không
dám nói với người triệu phú khi vị ấy đang có uy quyền,
lại suy nghĩ: "Nay vị triệu phú này gặp tình cảnh khó khăn,
có thể nghe theo lời ta". Nghĩ vậy, nửa đêm, thần nữ vào
phòng vị ấy chiếu sáng hào quang, đứng giữa hư không. Vị
triệu phú thấy nàng, liền hỏi:
- Ngươi là ai?
- Này đại triệu phú, ta là thần
nữ ở cửa gác thứ tư.
- Ngươi đến có việc gì?
- Ta muốn nói lời khuyên ông.
- Vậy hãy nói đi!
- Này đại triệu phú, ông không
nghĩ đến thời sau, không nhìn đến con trai, con gái. Ông đã
tiêu phí tài sản cho Giáo pháp của Sa-môn Gotama. Do ông đã
phung phí tài sản lâu ngày, do không làm công việc mới, vì
Sa-môn Gotama, ông trở thành nghèo thiếu. Sự việc đã như
vậy, ông vẫn không từ bỏ Sa-môn Gotama. Hôm nay, các Sa-môn
ấy vẫn đi vào nhà ông như trước. Những gì họ đã lấy
đi từ ông, không thể đem về nhà được. Hãy tin chắn là
như vậy. Nhưng bắt đâu từ nay trở đi, ông chớ tự mình
đi đền Sa-môn Gotama. Chớ cho phép những đệ tử của Sa-môn
vào nhà này nữa. Hãy xoay lưng, không nhìn Sa-môn Gotama nữa.
Hãy tự mình kinh doanh buôn bán và xây dựng laïi sản nghiệp.
Vị triệu phú nói với thần
nữ:
- Có phải đấy là lời khuyến
giáo ngươi cần nói với ta?
- Ðúng như vậy.
Vị triệu phú nói:
- Bậc Ðạo Sư đã làm cho ta
không bị dao động bởi trăm, bởi ngàn, bởi trăm ngàn thần
nữ như ngươi. Lòng tin của ta như núi Tu-di không dao động,
được khéo an trú. Tài sản được ta tiêu dùng cho Pháp bảo
đưa đến giải thoát. Lời ngươi nói không thích đáng, là
một đòn do ngươi đánh vào Giáo pháp đức Phật, con quỷ
đen thiếu lễ độ, theo ác giới, không có vấn đề ngươi
sống chung trong nhà của ta. Hãy ra khỏi nhà ta mau, đi ở chỗ
khác.
Thần nữ nghe lời nói của vị
Thánh đệ tử đã chứng quả Dự lưu, không thể ở lại
được, bèn về chỗ ở của mình, tay bồng con ra đi, với
ý nghĩa: "Nếu ta không tìm được chỗ khác, ta sẽ xin lỗi
vị triệu phú và sẽ trú tại đấy". Nghĩ vậy, nàng đi đến
vị Thiên tử hộ trì thành phố, đảnh lễ vị ấy rồi đứng
dậy. Khi được hoûi:
- Nàng đến có chuyện gì?
Nàng trả lời:
- Thưa Thiên Tử, tôi vô ý nói
chuyện với ông Cấp Cô Ðộc, nên vị triệu phú giận tôi,
đuổi tôi ra khỏi nhà ở. Hãy đưa tôi đến vị triệu phú
xin lỗi và xin cho tôi được trú tại nhà như cũ.
- Nhưng nàng đã nói với vị
triệu phú những gì?
- Bắt đầu từ nay, chớ hộ
trì Phật, chớ hộ trì chúng Tăng, chớ để Sa-môn Gotama vào
nhà. Thưa Thiên tử, tôi đã nói như vậy!
- Lời nàng nói không chính đáng,
là một đòn đánh vào Giáo pháp. Ta không thể đưa nàng đến
gặp vị triệu phú được.
Không nhận được sự ủng hộ
từ vị này, thần nữ đi đến bốn Ðại thiên vương, cũng
bị bốn vị ấy bác bỏ. Thần nữ đi đến Thiên chủ Ðế
Thích thuật câu chuyện ấy và yêu cầu giúp đỡ khẩn thiết
hơn:
- Thưa Thiên chủ, con không được
chỗ ở, phải bồng con trên tay, con lang thang không nơi trú
ẩn. Với uy lực của ngài, hãy cho con một chỗ ở!
Thiên chủ trả lời:
- Ngươi làm điều không thích
đáng, đã đánh một đòn vào Giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
Ta không thể nói với vị triệu phú dùm cho ngươi. Nhưng ta
sẽ nói với ngươi một phương pháp làm vị triệu phú tha
thứ ngươi.
- Thưa Thiên chủ, lành thay, xin
nói lên.
- Có nhiều người đã mượn
của vị đại triệu phú một số tài sản trị giá một trăm
tám mươi triệu đồng... Ngươi hãy giả dạng người đại
diện cho vị triệu phú mà không cho ai biết, cầm giấy mắc
nợ ấy, với một số Dạ-xoa trẻ vây quanh, một tay cầm
giấy nợ, một tay cầm biên lai, đi đến nhà họ, đứng ở
giữa nhà, dọa nạt họ với uy lực Dạ-xoa của mình, và
nói: "Ðây là giấy nợ của các ngươi. Khi bậc triệu phú
của chúng ta có uy lực, đã không đò hỏi gì các ngươi.
Nay ngài gặp cơn nghèo túng, hãy trả lại tiền các ngươi
đã mượn".
Với uy lực Dạ-xoa của ngươi,
ngươi sẽ lấy lại được tất cả một trăm tám mươi triệu
đồng vàng ấy, đổ đầy kho bạc trống không của vị triệu
phú. Vị triệu phú còn có tài sản khác chôn giấu ở bờ
sông Aciravati, khi bờ sông bị lở, tài sản ấy bị trôi vào
biển. Với uy lực của ngươi, hãy đem số tài sản ấy về,
để đầy kho bạc. Lại còn có một tài sản khác nữa, trị
giá một trăm tám mươi triệu đồng nằm chôn không chủ tại
một chỗ nào đó, hãy lấy đem về đổ đầy kho bạc trống.
Với năm trăm bốn mươi triệu đồng ấy, ngươi đổ đầy
các kho bạc trống không, laáy đó để đền tội, rồi đến
xin vị đại triệu phú tha tội cho.
Thần nữ đáp:
- Tốt lành thay, thưa thiên chủ.
Thần nữ chấp nhận lời Thiên
chủ, mang lại tất cả tài sản như đã được nói.
Nửa đêm, thần nữ đi vào phòng
rực rỡ của vị triệu phú, chiếu sáng hào quang, đứng giữa
hư không. Ðược hỏi là ai, nàng đáp:
- Thưa bậc đại triệu phú, tôi
là thần nữ mù quáng ngu si ở tại cửa gác thứ tư. Do tôi
quá ngu si, không biết công đức đức Phật, đã nói với
ngài những lời lỗi lầm trong những ngày trước. Hãy tha
thứ lỗi ấy của tôi! Theo lời Thiên chủ Ðế Thích, tôi
đã đòi lại số tiền nợ một trăm tám mươi triệu đồng
cho ngài, đã đem lại số tiền một trăm tám mươi triệu
đồng bị trôi ra biển, và chôn giấu vô chủ tại một chỗ
nọ. Như vậy tôi đã mang lại trăm năm bốn mươi triệu đồng
đổ đầy các kho bạc trống rỗng của ngài để chuộc lại
tội lỗi. Số tiền ngài đã tiêu dùng cho tinh xá Kỳ Viên,
tất cả nay đã được thâu lại. Tôi vì không có trú xứ
nên rất khổ sở. Chớ nghĩ đến những gì tôi đã làm do
sự vô trí của tô. Hãy tha thứ cho tôi, thưa bậc đại triệu
phú.
Ông Cấp Cô Ðộc nghe vậy, tự
nghĩ: "Thần nữ này đang nói đã lập công chuộc tội và
đã nhận tội của mình. Bậc Ðạo Sư sẽ suy xét việc này,
và sẽ cho nó biết những công đức của mình. ta sẽ đem
thần nữ đến gặp bậc Chánh Ðẳng Giác". Vị triệu phú
nói:
- Này thần nữ, nếu người muốn
xin lỗi ta, hãy xin lỗi ta trước mặt bậc Ðạo Sư.
- Lành thay, tôi sẽ làm như vậy.
Hãy đưa tôi đến bậc Ðạo Sư.
Vị triệu phú bằng lòng. Khi
đêm đã tàn, vào buổi sáng, vị triệu phú đem thần nữ
đến bậc Ðạo Sư và báo cáo với đức Như Lai tất cả
việc làm của thần nữ. Bậc Ðạo Sư nghe xong liền nói:
- Ở đây, này Gia chủ, kẻ làm
ác, khi điều ác chưa chín muồi, kẻ ấy thấy là thiện.
Khi điều ác của kẻ ấy chín muồi, chỉ khi ấy kẻ ấy
mới thấy là ác. Kẻ làm thiện, khi điều thiện chưa chín
muồi, kẻ ấy thấy là ác, khi điều thiện của kẻ ấy chín
muồi, chỉ khi ấy kẻ ấy thấy là thiện.
Sau đó, bậc Ðạo Sư nói lên
hai bài kệ này trong Pháp cú số 119 và 120
Người ác thấy là thiện
Khi ác chưa chín muồi,
Khi ác nghiệp chín muồi,
Người ác mới thấy ác.
Người hiền thấy là ác,
Khi thiện chưa chín muồi,
Khi thiện được chín muồi,
Người hiền thấy là thiện".
Cuối bài kệ này, thần nữ chứng
quả Dự lưu. Nàng đảnh lễ chân có tô điểm bánh xe của
bậc Ðạo Sư và nói:
- Bạch Thế Tôn, vì bị nhiễm
tham ái, bị sân kích động, bị si mờ ám, bị vô minh bao
phủ, con không biết những công đức của Thế Tôn, đã nói
những lời ác, xin tha thứ cho con.
Rồi nàng được bậc Ðạo Sư
tha thứ, và được vị đại triệu phú tha thứ.
Lúc bấy giờ ông Cấp Cô Ðộc
ở trước mặt bậc Ðạo Sư, nói lên công đức của mình:
- Bạch Thế Tôn, thần nữ này
đã cố ngăn chận con: Chớ cúng dường đức Phật v.v...!
Nhưng không có thể ngăn chận con được. Nàng đã cố ngăn
chận con: Chớ bố thí! Nhưng con vẫn bố thí. Bạch Thế Tôn,
đấy là công đức của con.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Gia chủ, ông là Thánh đệ
tử đã chứng quả Dự lưu, có lòng tin bất động, có tri
kiến thanh tịnh.
Thật không có gì kỳ diệu là
ông đã không bị ngăn chận bởi thần nữ bất lực này.
Nhưng có điều thật sự kỳ diệu là người Hiền trí thuở
quá khứ, khi đức Phật chưa xuất hiện, khi trí tuệ chưa
chín muồi, dầu ác ma, chủ cõi dục giới, đứng giữa hư
không nói lớn: Nếu ngươi bố thí, ngươi sẽ bị thiêu sống
trong địa ngục này, và chỉ rõ một hố đầy than hừng sâu
đến tám mươi khuỷu tay, dầu bị ngăn: Chớ bố thí, người
Hiền trí vẫn đứng giữa đoá sen bố thí như thường.
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu
của ông Cấp Cô Ðộc, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình một vị triệu
phú ở Ba-la-nại, được nuôi dưỡng trong sự xa hoa như một
hoàng tử. Khi đến tuổi trưởng thành, vừa mới mười sáu
tuổi, Bồ-tát đã đạt đến điêu luyện trong tất cả kỹ
thuật. Sau khi cha chết, được đặt lên địa vị triệu phú,
Bồ-tát cho xây dựng sáu trường bố thí, bốn nhà tại cửa
bốn thành, một nhà tại trung tâm thành, một nhà trước cửa
trú xứ của mình, và tổ chức bố thí lớn, giữ giới, tuân
giữ những ngày Bố-tát.
Một hôm, trong giờ điểm tâm, khi
các món ăn hảo hạng được mang vào cho Bồ-tát, một vị
Ðộc Giác Phật, sau bảy ngày thiền, vừa xuất định và
nhận xét: "Ðã đến giờ đi khuất thực, nay ta phải đến
nhà của vị triệu phú Ba-la-nại". Sau khi chùi răng với que
đánh răng bằng cọng trầu leo, rửa mặt tại hồ Anotatta,
rồi đứng trên cao nguyên Manosila, vị Ðộc Giác Phật mang
y dưới, cột dây lưng, đắp y ngoài lấy bình bát bằng đất
do thần thông hóa hiện, đi ngang qua hư không và đứng trước
cửa nhà, trong khi bữa điểm tâm được mang vào cho Bồ-tát.
Bồ-tát thấy vị Ðộc Giác Phật, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, nhìn người đứng hầu, chỉ rõ cần dâng cúng món ăn.
Người hầu nói:
- Thưa ông chủ, con phải làm gì?
Bồ-tát nói:
- Hãy đem bình bát vị ấy lại
đây.
Ngay trong thời khắc ấy, Ác ma lồng
lộn hiện lên, tự nghĩ: "Vị Ðộc Giác Phật này chỉ được
đồ ăn từ bảy ngày trước, nếu hôm nay không được ăn,
vị ấy sẽ chết. Ta sẽ làm vị ấy chết và làm vị triệu
phú chấm dứt việc bố thí".
Ngay lúc ấy, Ác ma đi đến, hóa
hiện ở trong nhà một hố than lừng sâu tám mươi khuỷu tay
(một khuỷu tay = 45 cm). Hồ ấy đầy những than rừng bằng
cây keo cháy rực, cháy đỏ có ngọn, hiện ra như địa ngục.
Sau khi tạo ra hố than hừng ấy, Ác ma tự mình đứng giữa
hư không. Người hầu đi đến, định mang bình bát lại, thấy
vậy, hoảng sợ quay lui. Bồ-tát hỏi:
- Này con thân, sao con trở lui?
Người ấy nói:
- Thưa ông chủ, trong nhà có một
hố than hừng, cháy đỏ rực, cháy có ngọn.
Những người khác đi đến cũng
hoảng sợ chạy trốn hết.
Bồ-tát suy nghĩ: "Hôm nay, Ác ma
có uy lực, đang nỗ lực ngăn chận ta bố thí. Ta cần phải
cho nó biết dù trăm Ma, ngàn Ma, trăm ngàn Ma cũng không làm
cho ta dao động. Hôm nay chúng ta sẽ làm cho chúng thấy ai mạnh
hơn ai, ai có uy lực hơn ai".
Bồ-tát tự mình cầm lấy bát cơm
đã sẵn sàng, đi ra khỏi nhà, đứng ngay trên bờ hồ than
hừng, nhìn lên trời, thấy Ác ma, liền hỏi:
- Ngươi là ai?
- Ta là Ác ma.
- Có phải ngươi hóa hiện hố than
hừng này?
- Phải, chính ta hóa hiện.
- Vì mục đích gì?
- Vì mục đích ngăn chận ngươi
bố thí, vì mục đích giết mạng sống của vị Ðộc Giác
Phật.
Bồ-tát nói:
- Ta sẽ không cho ngươi ngăn chận
ta bố thí. Ta cũng không cho ngươi giết mạng sống của vị
Ðộc Giác Phật. Hôm nay, ta sẽ làm cho ngươi biết giữa ta
và ngươi, ai có sức mạnh lớn hơn.
Vẫn đứng trên bờ hố than hừng,
Bồ-tát nói:
- Bạch Thế Tôn, Ðộc Giác Phật,
dầu con có rơi đầu lộn ngược vào hố than hừng này, con
vẫn không trở lui. Mong Thế Tôn chấp nhận món ăn do con cúng
dường.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ này:
Ta thà rơi địa ngục,
Chân trên, đầu phía dưới,
Ta sẽ làm việc Thánh,
Hãy nhận lấy món ăn.
Rồi với quyết tâm vững chắc, Bồ-tát
cầm bát cơm bước lên mặt hố than hừng! Khi Bồ-tát làm
như vậy, từ mặt hố than hừng sâu đến tám mươi khuỷu
tay, mọc lên một hoa sen tuyệt đẹp đỡ lấy chân Bồ-tát.
Từ hoa sen ấy, nhụy sen khoảng chừng một đấu lớn phun
lên, rơi trên đầu bậc Ðại Sĩ, phủ khắp toàn thân như
rắc hột vàng. Bồ-tát đứng trên đóa hoa sen, đặt vào trong
bát vị Ðộc Giác Phật những món ăn thượng vị khác nhau.
Vị Ðộc Giác Phật nhận đồ ăn, nói lên lời tùy hỷ, rồi
quăng bình bát lên trên hư không, và ngay trước mắt của
đại chúng, tự mình bay lên hư không về phía Hy-mã-lạp Sơn,
để lại một đường mây gồm nhiều hình thù kỳ diệu đặc
biệt. Còn Ác ma bị thất bại và sầu muộn đi về trú xứ
của mình. Bồ-tát vẫn đứng trên tòa sen, thuyết pháp cho
đại chúng, tán thán bố thí, giới đức, và cùng với đại
chúng vây quanh, bước vào trú xứ của mình. Bồ-tát trọn
đời làm công đưùc, rồi khi mạng chung đi theo nghiệp của
mình.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này gia chủ, việc này không
có gì kỳ diệu khi một người đầy đủ tri kiến như ông
không để cho thần nữ làm dao động. Thật sự kỳ diệu
là những gì bậc Hiền trí đã làm trong thời quá khứ.
Thuyết pháp thoại này xong, bậc
Ðạo Sư kết hợp hai câu chuyện, và nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, vị Ðộc Giác Phật
tại chỗ ấy nhập Niết-bàn, còn Ta chính là người triệu
phú Ba-la-nại, sau khi đánh bại Ác-ma, đứng trên đóa sen,
cúng dường thức ăn khất thực vào bát của vị Ðộc Giác
Phật.