PHẨM
LỢI ÁI
41. CHUYỆN TRƯỞNG
LÃO LOSAKA (Tiền thân Losaka)
Với người muốn mình lợi...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên
bậc Ðạo Sư đã kể về Trưởng lão Losaka. Ai là Trưởng
lão Losaka? Một người ở xứ Kosala, con của người đánh
cá, một tai ương cho gia đình. Khi làm Tỷ-kheo, vị ấy không
bao giờ nhận được gì cả.
Từ chỗ được sanh ở đời
trước và khi mạng chung, vị ấy đã đầu thai vào bụng vợ
một người đánh cá, trong một làng đánh cá gồm một ngàn
gia đình ở Kosala. Trong ngày vị ấy đầu thai, ngàn gia đình
ấy, với lưới cầm tay, đi đánh cá trên sông, trên hồ không
bắt được một con cá nhỏ nào. Từ ngày đó trở đi, những
người đánh cá gặp những điều tổn hại. Khi vị ấy còn
ở trong thai, làng của họ bị lửa đốt cháy bảy lần và
bị vua xử phạt bảy lần. Như vậy, dần dần họ rơi vào
túng thiếu. Họ suy nghĩ: "Trước kia, chúng ta không như vậy.
Nay chúng ta gặp nhiều tổn hại. Giữa chúng ta phải có một
người có số đen. Chúng ta hãy chia thành hai nhóm mỗi nhóm
năm trăm gia đình. Và nhóm nào có người có số đen, nhóm
ấy bị tổn hai, nhóm kia được tăng thịnh.
Và cứ thế họ chia nhóm ấy
làm hai, chia làm hai, chia làm hai nữa. Như vậy, họ chia cho
đến khi chỉ còn lại một gia đình ấy, và khi tìm được
kẻ số đen ở trong gia đình ấy, họ liền đánh đuổi đi.
Người mẹ phải tìm sống một cách khó nhọc, với bụng
mang thai; khi thai đến kỳ, bà sanh được đứa con trai. Ðứa
bé ấy được sanh trong đời sống cuối cùng, do đó không
thể bị giết hại. Như ngọn đèn trong chieác ghè, điều
kiện để thành A-la-hán cháy đỏ trong tim của nó.
Người mẹ nuôi dưỡng nó, tập
nó chạy tới, chạy vòng, và khi nó đã đi được, bà đặt
trong tay nó một bát đi xin, bảo nó đi vào một nhà kia, rồi
bà bỏ trốn. Từ đó, đứa bé sống một mình, tìm đồ ăn
tại chỗ này, nằm ngủ tại chỗ khác, không tắm, không săn
sóc thân mình, tìm sống một cách cực khổ chẳng khác con
quỷ ăn bùn. Nó dần dần lớn lên được bảy tuổi, lượm
từng miếng cơm một mà ăn như con quạ, tại một cửa nhà
nọ có đồ ăn còn lại từ các nồi cơm đưọc rửa.
Một hôm, Tướng quân Chánh pháp
Xá-lợi-phất đang đi khất thực ở Xá-vệ, thấy đứa bé,
suy nghĩ không biết đứa bé đáng thương này ở làng nào,
khởi lòng từ bi đối với nó và gọi:
- Hãy đến đây!
Ðứa bé đến đảnh lễ Trưởng
lão và đứng lại. Trưởng lão hỏi:
- Con sống ở làng nào? Cha mẹ
ở đâu?
- Thưa Tôn giả, con sống không
nơi nương tựa. Cha mẹ vì con, sống quá mệt mỏi nên bỏ
rơi con mà trốn đi!
- Con có muốn xuất gia không?
- Thưa Tôn giả, con muốn xuất
gia. Nhưng ai sẽ truyền giới xuất gia cho kẻ khốn nạn như
con?
- Ta sẽ truyền giới xuất gia
cho con.
- Lành thay, Tôn giả hãy truyền
giới xuất gia cho con.
Trưởng lão cho nó ăn các món
ăn loại cứng và loại mềm, dắt nó đến tinh xá, tự tay
tắm rửa nó, truyền giới xuất gia cho nó làm Sa-di, và khi
tuổi đầy đủ, liền trao Ðại giới cho nó. Khi nó trưởng
thành, nó được gọi là Trưởng lão Losakatissa.
Trưởng lão Losakatissa ít được
phước đức, nên ít nhận được đồ cúng dường. Truỵền
thuyết nói, dầu có lễ bố thí to lớn không gì sánh được,
bụng Trưởng lão cũng không no, mà chỉ được ăn vừa đủ
để nuôi mạng sống. Một muỗng cháo đổ vào bát của Trưởng
lão hình như làm tràn đầy nên đem cháo cho người sau. Khi
cháo được đổ vào bình bát Trưởng lão, người ta nói cháo
trong đĩa của người cúng như biến mất. Các đồ ăn cứng
khác cũng như vậy.
Trưởng lão sau một thời gian,
thiền quán được tăng trưởng, chứng quả A-la-hán tối thượng,
nhưng vẫn được đồ cúng dường ít oi. Thọ hành trưởng
lão dần dần giảm thiểu, và ngày nhập Niết-bàn đã đến.
Tướng quân Chánh pháp hướng tâm đến, biết ngày trưởng
lão đắc Niết-bàn vô dư y, tự nghĩ: "Trưởng lão Losakatissa
hôm nay sẽ nhập Niết-bàn. Ta sẽ khuyên người ta cúng dường
Trưởng laõo đồ ăn như ý muốn". Tôn giả Xá-lợi-phất
đưa Trưởng lão vào thành Xá-vệ khất thực. Tôn giả Xá-lợi-phất
và Losakatissa, dầu đưa tay cho nhiều người ở Xá-vệ, cũng
không nhận được ngay cả một tô cháo, Tôn giả Xá-lợi-phất
bảo Losakatissa về trước, ngồi tại phòng họp, rồi giữ
đồ ăn nhận được đem về cho Losakatissa. Những ai được
Xá-lợi-phất giao đồ ăn đem về, đều quên trao cho Losakatissa
và tự mình ăn đồ ăn ấy.
Khi Trưởng lão Xá-lợi-phất
đứng dậy và đi về tinh xá, Losakatissa đi đến đảnh lễ,
Trưởng lão dừng bước, quay lại hỏi:
- Này Hiền giả, Hiền giả có
được đồ ăn không?
- Thưa Tôn giả, chúng con dẽ
nhận được đúng thời.
Trưởng lão xá-lợi-phất hoảng
hốt nhìn giờ. Thời giờ đã quá rồi. Trưởng lão nói:
- Này Hiền giả, hãy ngồi ở
đây.
Trưởng lão bảo Losakatissa ngồi
xuống trong phòng họp, rồi đi đến trú xứ Kosala. Nhà vua
cho người lấy bát Trưởng lão, bỏ đầy bát với bốn loại
bánh ngọt và nói:
- Ðây là đồ ăn phi thời.
Trưởng lão cầm bát, đi về
và nói:
- Này Hiền giả Tissa, hãy ăn
bốn loại bánh ngọt này.
Nói xong, Tôn giả cầm bát và
đứng chờ. Nhưng Losakatissa hổ thẹn vì lòng kính trọng đối
với Tôn giả Xá-lợi-phất nên không dám ăn. Trưởng lão
Xá-lợi-phất nói với Losakatissa:
- Này Hiền giả, hãy đến. Ta
đứng cầm bình bát này, còn Hiền giả ngồi và ăn. Nếu
tay ta rời bình bát này, thì không còn vật gì nữa.
Rồi trong khi bậc Tối thượng
Tướng quân Chánh pháp đứng cầm bát, Tôn giả Losakatissa
ăn bốn loại bánh ngọt. Do thần thông lực thuộc bậc Thánh
của Tôn giả Xá-lợi-phất, bánh ấy không biến mất. Khi
ấy, Trưởng lão Losakatissa được ăn như ý muốn, đầy đủ,
no bụng. Ngày hôm ấy, Trưởng lão Losakatissa đắc Niết-bàn
không có dư y. Bậc Chánh Ðẳng Giác đứng một bên và chứng
kiến thân vị ấy được hoả táng. Các Xá-lợi được thâu
thập và điện tháp được dựng lên trên.
Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo đang
ngồi họp tại Pháp đường nói:
- Này các Hiền giả, Losakatissa
ít phước đức, ít nhận đồ cúng dường. Do ít phước đức,
ít được cúng dường như vậy, làm sao lại được Thánh
pháp?
Bậc Ðạo Sư đến pháp đường
hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông này
ngồi họp tại đây, đang bàn câu chuyện gì?
Chúng Tỷ-kheo báo cáo câu chuyện
ấy lên Thế Tôn. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy
do nghiệp mình làm, nêm không được cúng dường và đồng
thời chứng được Thánh pháp. Vị ấy thuở trước do làm
chướng ngại người khác cúng dường nên ít được cúng
dường; nhưng do chú tâm thiền quán vô thường, voâ ngã nên
được Thánh quả, chứng được các thắng pháp.
Nói vậy xong bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở ấy, trong thời bậc Chánh
Ðẳng Giác Ca-diếp, có một Tỷ-kheo sống ở một ngôi làng
nhỏ, được một vị điền chủ hộ trì. Tỷ-kheo ấy tính
tình bộc trực, hồn nhiên, giữ giới, chuyên tu tập thiền
quán. Lại cũng có một trưởng lão A-la-hán đã đoạn tận
các lậu hoặc, sống bình đẳng với các bậc đồng Phạm
hạnh. Vị này trước kia chưa bao giờ đeán ngôi làng có người
điền chủ đã ủng hộ Tỷ-kheo ấy, nay mới đến lần đầu.
Người điền chủ hoan hỷ với cử chỉ của Trưởng lão,
cầm lấy bình bát, mời vào nhà, cung kính mời ăn. Rồi vị
ấy nghe thuyết bài pháp ngắn, đảnh lễ Trưởng lão và thưa:
- Thưa Tôn giả, hãy đi đến ngôi
tinh xá gần đây của chúng tôi. Chúng tôi vào buổi chiều
sẽ đến yết kiến ngài.
Trưởng lão đi đến ngôi tinh xá,
đảnh lễ Trưởng lão trụ trì và sau khi xin phép, ngồi xuống
một bên. Vị trụ trì thân mật hỏi thăm Trưởng lão:
- Thưa Hiền giả, Hiền giả được
đồ ăn chưa?
- Thưa được rồi.
- Ðược tại đâu?
- Tại nhà điền chủ trong làng
của Tôn giả gần đây.
Sau khi nói vậy, trưởng lão hỏi
chỗ sàng tọa của mình, sửa soạn cất đặt y bát, rồi
ngồi xuống thọ hưởng lạc về thiên, lạc về quả. Vào
buổi chiều, người điền chủ ấy đem theo hương, vòng hoa,
đèn và dầu đi đến tinh xá, đảnh lễ vị trụ trì và hỏi:
- Thưa Tôn giả, vị trưởng lão
khách đã đến chưa?
Sau khi được biết vị ấy đã
đến rồi, người điền chủ đi đến vị trưởng lão khách,
đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nghe thuyết pháp. Vào
buổi chiều mát, người điền chủ đảnh lễ điện Phật,
cây Bồ-đề, thắp đèn, mời hai vị đến nhà rồi ra đi.
Trưởng lão trụ trì suy nghĩ: "Ðiền
chủ này đã bị phân tâm. Nếu Tỷ-kheo này trú ở đây, điền
chủ ấy không còn đếm xỉa đến ta một chút nào nữa".
Trưởng lão trụ trì, với tâm tư
không được vui, suy nghĩ: "Ta phải làm thế nào để vị ấy
không ở được trong tinh xá này". Ðến giờ hầu thăm, khi
Trưởng lão khách đến, Trưởng lão trụ trì không nói gì.
Vị Trưởng lão khách đoạn tận các lậu hoặc, biết được
ý định của trưởng lão trụ trì, tự nghĩ: "Trưởng lão
này không biết ta không bao giờ gây trở ngại cho gia đình,
cúng dường vị ấy hay đồ chúng vị ấy", liền đi về trú
xứ của mình, hưởng thọ lạc về Thiền và lạc về quả.
Trưởng lão trụ trì, ngày hôm sau,
đánh nhẹ cái chuông phòng vị khách trọ, rồi lấy móng tay
gõ nhẹ vào cửa và đi đến nhà người điền chủ. Người
điền chủ cầm lấy bát vị ấy, mời ngồi trên chỗ đã
soạn sẵn và hỏi:
- Trưởng lão khách ở đâu?
- Tôi không biết tin tức của bạn
ngài. Tôi đã đánh chuông gõ cửa, nhưng không thể đánh thức
vị ấy dậy. Tôi chắc là bữa qua, sau khi ăn thượng vị
ở nhà của ngài, vị ấy có thể tiêu hoá được, do vậy,
nay đang còn ngủ. Rất có thể, ngài hoan hỷ với những sự
kiện như vậy.
Trong khi ấy, vị Trưởng lão đã
đoạn tận các lậu hoặc nghĩ rằng thời gian đi khất thực
của mình đã đến, liền sửa soạn thân mình tử tế, cầm
y bát, bay lên hư không và đi đến một chỗ khác.
Còn người điền chủ ấy cúng
dường vị Trưởng lão trụ trì cơm và sữa với bơ tươi,
mật ong và đường. Rồi ông bảo chùi bát với bột thơm,
đổ thức ăn đầy bát lần nữa và thưa:
- Thưa Tôn giả, trưởng lão ấy
đi đường mệt, hãy đem đồ ăn này về cho vị ấy.
Rồi đưa bát cho Trưởng lão trụ
trì. Vị này không thể từ chối, cầm bát đi và suy nghĩ:
"Nếu Tỷ-kheo ấy uống cơm sữa này, có ai nắm cổ đuổi
đi, vị ấy cũng không đi. Nhưng nếu ta cho người khác cơm
sữa này, việc ta làm sẽ bị bại lộ. Nếu ta đổ xuống
nước, bơ tươi sẽ nổi lên trên mặt nước và bị lộ.
Nếu ta quăng trên đất, loài qụa sẽ tụ họp lại và sẽ
bị thấy. Nay ta quăng món ăn này ở đâu?"
Ðang phân vân suy tính như vậy,
vị ấy thấy một đám ruộng vừa bị đốt. Tỷ-kheo ấy
bới các than đỏ lên, quăng đồ ăn tại đấy, lấy than đỏ
che đậy lên trên, rồi đi về tinh xá. Không thấy Tỷ-kheo
khách ở đâu, Tỷ-kheo trụ trì suy nghĩ: "Chắc Tỷ-kheo ấy
đã đoạn tận các lậu hoặc, biết được ý định của
ta, và đã đi chỗ khác. Ôi, ta vì nhân duyên cái bụng, đã
làm một việc không thích đáng". Do vậy, sầu ưu khơûi lên,
và từ đấy, vị Tỷ-kheo trụ trì như một con ma trên đất,
không bao lâu mệnh chung, tái sinh vào địa ngục.
Trong hàng trăm ngàn năm, nó bị
nấu ở địa ngục. Do ác nghiệp chín muồi, nó bị sanh năm
trăm năm liên tục làm quỷ Dạ-xoa, không được ăn đầy
bụng, dầu chỉ một ngày. Chỉ trừ một ngày, nó được
ăn no bụng với đồ uế nhiễm của bào thai. Rồi trong năm
trăm đời, nó sanh làm cho. Khi ấy, chỉ có một ngày nó được
ăn no bụng với cơm được nôn ra. Trong thời gian còn lại,
nó không bao giờ được đồ ăn đầy bụng.
Từ thai tạng chó mạng chung, nó
sanh trong một gia đình nghèo đói, trong một làng ở Kàsi.
Từ khi nó sanh ra, gia đình trở thành nghèo đói cùng cực.
Nó không bao giờ được một nửa tô nước cháo chua vào bụng.
Nó được đặt tên là Mittavindaka. Cha mẹ nó không thể chịu
khổ vì đói, đánh đuổi nó đi.
- Hãy đi, con số đen bất hạnh
kia.
Không nơi nương tựa, nó đi lang
thang và đến tại Ba-la-nại.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát được sanh
làm vị giáo sư có tiếng khắp bốn phương và đang dạy nghề
cho năm trăm thanh niên Bà-la-môn. Lúc ấy, dân ở ba-la-nại
thường cho tiền những người nghèo đói và cho họ học nghề.
Mittavindaka học nghề không tiền với Bồ-tát. Nhưng tánh nó
độc ác khó dạy, hay đánh lộn và hay đi lang thang. Ðược
Bồ-tát khuyên dạy, nó vẫn không nghe theo. Vì có nó, tiền
dạy của Bồ-tát trở thành ít ỏi. Nó gây lộn với thanh
niên khác, không nghe lời khuyên, cuối cùng trốn đi lang thang
đây đó, đến một làng biên địa và làm thuê sinh sống.
Tại đấy, nó lấy một người
đàn bà nghèo khổ và sinh được hai đứa con. Người trong
làng thuê nó dạy cho họ biết thế nào là thiện, thế nào
là ác, và cho nó một cái chòi để sống tại cửa làng. Do
Mittavindaka đến đây sống, dân chúng ở làng biên địa ấy
bị vua xử phạt bảy lần, nhà của họ bị cháy bảy lần,
và hồ chưùa nước bị cạn bảy lần. Họ suy nghĩ: "Trước
khi Mittavindaka đến đây, chúng ta không có như vậy. Từ khi
nó đến, chúng ta bị tổn hại". Vì thế họ đánh đuổi
nó đi.
Nó đem vợ con ra đi, đến một
chỗ khác, vào một khu rừng do phi nhân ngự trị. Tại đấy,
các phi nhân giết ăn thịt vợ con nó. Nó chạy trốn khỏi
chỗ ấy, đi lang thang chỗ này chỗ kia, đến một bến tàu
tên là Gambhira, đúng vào ngày một chiếc tàu mới được
hạ thủy, nó trở thành người làm thuê trên tàu.
Khi chiếc tàu đi trên mặt biển
được bảy ngày, đến ngày thứ bảy, tàu đứng lại như
bị mắc cạn. Họ rút thăm ai là con số đn bất hạnh. Bảy
lần thẻ rơi vào Mittavindaka. Họ cho nó một cái bè tre, bắt
tay nó quăng xuống biển, rồi tàu lại ra đi. Mittavindaka leo
lên bè tre, và trôi trên mặt biển.
Do quả nó đã giữ giới trong thời
đức Phật Ca-diếp Chánh Ðẳng Giác, trên mặt biển, nó gặp
bốn tiên nữ trong một lâu đài bằng pha lê. Với chúng, nó
sống trong bảy ngày hưởng hạnh phúc. Bấy giờ, các loài
quỷ ở lâu đài ấy hưởng hạnh phúc trong bảy ngày. Sau
bảy ngày, chúng phải ra đi để chịu đau khổ. Lúc ra đi,
chúng bảo nó đợi ở đây cho đến khi chúng trở về.
Chúng đi rồi, Mittavindaka lại leo
lên bè tre, đi chỗ khác, và gặp được tám tiên nữ ở trong
lâu đài bằng ngọc. Từ đấy, nó đi nữa, và gặp được
ba mươi hai tiên nữ ở trong mười sáu lâu đài bằng vàng.
Không nói gì với chúng, nó lại bỏ đi,và thấy một thành
Dạ-xoa ở giữa hòn đảo.
Tại đấy, có một nữ Dạ-xoa sống
dưới hình dạng con dê. Mittavindaka không biết nó là nữ Dạ-xoa,
nắm lấy chân con dê để ăn thịt. Con Dạ-xoa nữ aáy, với
uy lực của mình, nhấc bổng nó lên và quăng nó ra xa. Nó
bị quăng ngang qua biển, rơi xuống một bụi gai, tại một
cái hào khô nước, lăn tròn rồi đứng dậy.
Lúc bấy giờ, tại cái hào ấy,
bọn trộm thường đến giết dê của vua. Các người chăn
dê đứng núp rình bắt ăn trộm. Mittavindaka, sau khi lăn tròn,
đứng dậy trên đất, thấy các con dê liền nghĩ: "Ta đã
bắt chân con dê trên hòn đảo ở biển, và bị nó quăng rơi
tại đây. Nếu nay ta lại bắt tay chân một con dê, thì nó
sẽ quăng ta đến chỗ các tiên nữ ở trong lâu đài trên
mặt biển, tại bờ bên kia." Khi tác ý bất chánh như vậy,
nó liền nắm chân một con dê. lập tức con dê bị nắm kêu
lên. Các người chaên dê từ nhiều chỗ núp chạy đến, bắt
nó và nói:
- Ðây là đứa ăn trộm đã bắt
các con dê của nhà vua từ trước đến nay.
Chúng đánh nó, trói nó và dẫn
nó đến trước mặt vua. Lúc bấy giờ, Bồ-tát với năm trăm
thanh niên Bà-la-môn vây quanh, ra khỏi thành để đi tắm. Thấy
Mittavindaka, nhận được nó, Bồ-tát nói với các người ấy:
- Này các bạn thân, đây là đệ
tử của tôi. Sao lại bắt nó?
Các người ấy nói:
- Thưa Tôn giả, đây là đứa ăn
trộm dê, nó bắt chân một con dê, nên chúng tôi bắt nó.
- Hãy giao nó cho chúng tôi để làm
nô lệ. Nó sẽ dựa vào chúng tôi để sống.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Rồi họ thả nó và ra đi. Bồ-tát
hỏi nó:
- Này Mittavindaka, từ trước cho
đến nay ngươi sống ở đâu?
Nó kể lại tất cả công việc
nó làm. Bồ-tát nói:
- Vì không nghe lời những người
muốn nó hạnh phúc, nên nó phải chịu mọi sự bất hạnh
như vậy.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ này:
Với người muốn mình tốt,
Với người thương tưởng mình,
Cứng đầu không theo lời,
Sẽ gặp điều sầu muộn.
Chẳng khác Mitaka
Nắm chặt chân con dê.
Lúc bấy giờ, khi cả vị giáo sư
và Mittavindaka mạng chung, họ đi theo nghiệp của mình.
*
Bậc Ðạo sư nói:
- Này các Tỷ-kheo chính Losaka
này đã tự làm cho mình được ít đồ cúng dường và đồng
thời được Thánh Pháp.
Sau khi nói pháp thoại này xong,
bậc Ðạo sư kết hợp hai câu chuyện và nhận diện Tiền
thân như sau:
- Lúc bấy giờ, Mittavindaka và
Trưởng lão Losakatissa, vị giáo sư được danh bốn phương
là Ta vậy.
-ooOoo-
42. CHUYỆN CHIM
BỒ CÂU (Tiền thân Kopata)
Với người muốn mình lợi...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo sư đã kể về một Tỷ-kheo có lòng tham. lòng tham
của vị này sẽ được kể trong chương sáu, Tiền thân Kaka
(số 395). Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo báo cho bậc Ðạo Sư
biết:
- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này
có lòng tham.
Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật như vậy
chăng?
- Bạch Thế Tôn, có thật.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Thuở trước, này Tỷ-kheo, ông
cũng có lòng tham. Vì lòng tham, ông đã mất mạng, và các
vị Hiền trí cũng vì ông đã mất trú xứ của họ.
Nói xong, bậc đạo sư kể câu
chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta (Phạm
Thọ) trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con chim bồ câu.
Lúc bấy giờ, dân chúng ở Ba-la-nại ưa thích làm công đức,
thường treo những ổ rơm chỗ này chỗ kia để các chú chim
có nơi ẩn náu thuận tiện an ổn. Người đầu bếp của
vị triệu phú Ba-la-nại cũng treo một ổ rơm tại nhà bếp.
Bồ-tát sống tại đấy, buổi sáng bay đi tìm mồi ăn và
chiều lại về.
Một hôm, một con quạ bay ngang qua
mái nhà bếp, ngửi mùi thơm của cá muối, cá tươi, thịt
chua, thịt tươi, tại chỗ ấy, nó khởi lòng tham, tự nghĩ:
"Ta phải tìm cách ăn cho được cá thịt này". Nghĩ vậy nó
đậu cách đó không xa, dò xét xung quanh, nó thấy buổi chiều
Bồ-tát bay về và đi vào bếp, nghĩ rằng nhờ con chim bồ
câu này nó sẽ được ăn cá và thịt.
Ngày hôm sau, vào buổi sáng, nó
bay lên. Khi Bồ-tát bay ra đi kiếm đồ ăn, nó bay sát theo
sau khắp nơi như cái bóng. Bồ-tát nói với nó:
- Này bạn, vì sao bạn đi theo tôi?
- Thưa ngài, cử chỉ của ngài khiến
tôi ưa thích. Bắt đầu từ nay, tôi xin hầu hạ ngài.
- Này bạn, món ăn của bạn khác,
món ăn của tôi khác. Bạn hầu hạ tôi cũng gặp khó khăn.
- Thưa ngài, khi ngài tìm đồ ăn,
tôi cũng tìm đồ ăn và tôi sẽ theo ngài.
- Thôi được, nhưng bạn phải hết
sức siêng năng.
Như vậy, Bồ-tát khuyên con quạ
đi tìm đồ ăn, các loại hột cỏ, hột giống. Trong khi Boà-tát
đi tìm đồ ăn, con quạ cũng đi, lật lên các miếng phấn,
ăn các loại trùng, nhét cho đầy bụng, rồi đi đến Bồ-tát
và nói:
- Thưa ngài, ngài dùng quá nhiều
thì giờ cho việc tìm đồ ăn thật không tốt.
Khi Bồ-tát tìm đồ ăn xong, buổi
chiều bay về, con quạ cũng bay theo vào nhà bếp. Người nấu
bếp nói:
- Con bồ câu của chúng ta có đem
một con chim khác về.
Anh ta liền treo mộ tổ rơm nữa
cho con quạ. Từ đấy hai con chim câu và quạ sống với nhau.
Một hôm, người ta đem đến nhiều cá và thịt cho người
triệu phú. Người đầu bếp lấy cá và thịt ấy đem treo
chỗ này chỗ kia trong bếp. Con quạ thấy vậy, lòng tham khởi
lên: "Ta sẽ không đi tìm đồ ăn ngày mai; ta phải aên món
này!" đêm đến, nó nằm ngủ, vừa ngủ, vừa rên. Ngày hôm
sau, Bồ-tát đi tìm mồi nói:
- Hãy đi, này bạn quạ!
- Thưa ngài, ngài hãy đi một mình.
Tôi bị đau bụng!
- Này bạn, từ trước đến nay,
chưa bao giờ loài quạ đau bụng. Ban đêm, trong ba canh, bốn
canh, cứ mỗi canh loài quạ có bất tỉnh, nhưng khi chúng nuốt
tim đèn, chúng được thỏa mãn ngay lúc ấy. Có thể bạn
muốn ăn thịt và cá. Hãy đi nào, món ăn của người không
thích hợp với các bạn đâu. Chớ làm như vậy, hãy đi kiếm
ăn với ta.
- Thưa ngài, tôi không thể đi.
- Hành động của bạn sẽ lộ rõ,
chớ để lòng tham chi phối, chớ phóng dật.
Khuyên nó xong, Bồ-tát đi kiếm
ăn. Người đầu bếp cố gắng làm nhiều món thịt cá khác
nhau. Lúc giở các nắp chảo để hơi nóng thoát ra, người
đầu bếp đặt trên mặt chảo một cái rá lọc rồi đi ra
ngoài, đứng lau mồ hôi.
Trong khi ấy, con quạ từ ổ rơm
ló đầu ra, nhìn nhà bếp, biết người đầu bếp đã ra đi,
tự nghĩ: "Nay ta sẽ được thỏa mãn tham vọng, sẽ được
ăn thịt. Nhưng ta nên ăn miếng thịt lớn hay miếng thịt
nhỏ? Với miếng thịt nhỏ, khó có thể đầy bụng mau được.
Vậy ta hãy mau chóng mang miếng thịt lớn, bỏ vào ổ rơm
rồi nằm ăn!.
Quạ bay ra khỏi ổ, đậu trên cái
rá lọc. Rá lọc ấy phát ra tiếng động "kil li". Người đầu
bếp nghe tiếng động, không biết cái gì, đi vào, thấy con
quạ, liền nói:
- Ðây là con quạ ranh con! Mày muốn
ăn thịt nấu cho vị triệu phú của ta. Ta sống làm việc
gì người chủ triệu phú, chớ không vì đồ ngu như mày.
Ðồ như mày có gì liên hệ với ta?
Kẻ ấy đóng cửa, bắt con quạ,
nhổ sạch lông, đem củ gừng giã nhỏ với muoái và cây thì
là trộn với nước sữa chua, thoa lên toàn thân con quạ, rồi
ném con quạ vào ổ rơm. con quạ chịu đau khổ nằm rên. Bồ-tát,
buổi chiều về, thấy quạ gặp nạn như vậy liền nói:
- Ôi con quạ tham lam, vì không làm
theo lời ta, vì lòng tham của ngươi, ngươi bị đau đớn lớn.
Rồi Bồ-tát đọc bài kệ này:
Với người muốn mình lợi,
Với người thương tưởng mình
Có những lời khuyên bảo,
Nhưng không làm theo lời,
Như con quạ tham lam
Không làm theo lời khuyên
Của con chim bồ câu,
Nó bị ngã rơi vào
Như rơi vào tay địch.
Bồ-tát nói xong, tự nghĩ: "Nay ta không
thể nơi này nữa", bèn đi một chỗ khác. Còn con quạ mạng
chung ngay lúc ấy. Người đầu bếp nhặt nó từ ổ rơm và
quăng nó vào đống rác.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo không phải nay ông
mới tham, trước kia ông cũng đã tham, do lòng tham của ông,
các bậc Hiền trí đã mất trú xứ của họ.
Sau khi thuyết pháp thoại, bậc
Ðạo Sư thuyết giảng các sự thật. Cuối bài giảng, Tỷ-kheo
ấy chứng được quả Nhất lai. Bậc Ðạo sư kết hợp hai
câu chuyện với nhau, và nhận diện Tiền thân như sau:
- Lúc ấy, con quạ là Tỷ-kheo
tham lam, còn con bồ câu là Ta vậy.
-ooOoo-
43. CHUYỆN CON
RẮN TRE (Tiền thân Veluka)
Với người muốn mình lợi...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về một Tỷ-kheo khó bảo. Thế Tôn
hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng
ông là người khó bảo.
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ
nay ông mới khó bảo. Thuở trước, ông cũng đã khó bảo
rồi. Vì tánh ông khó bảo, không nghe lời các bậc Hiền trí,
ông mạng chung vì miệng con rắn.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình giàu có
ở nước Kàsi. Khi lớn lên, thấy nguy hiểm của dục vọng,
thấy lợi ích khi xa lìa nó, Bồ-tát từ bỏ các dục, đi
vào Tuyết Sơn, xuất gia làm vị ẩn sĩ, chuẩn bị tốt đẹp
đề tài thiền quán, đạt được năm Thắng trí, và tám Thiền
chứng, sống hưởng thọ thiền lạc. Sau một thời gian, Bồ-tát
có một hội chúng lớn, với năm trăm ẩn sĩ khổ hạnh vây
quanh. Ngài sống làm bậc Ðạo sư của hội chúng.
Bấy giờ một con rắn độc con,
theo bản tánh của mình, đi đến am thất của một vị tu
khổ hạnh. Vị tư khổ hạnh khởi lòng thương con rắn như
con mình, cho nó nằm trong một ống tre, và nuôi dưỡng nó.
Vì nằm ở trong ống tre, nên nó được gọi là Veluka (Rắn
tre). Vì vị tu khổ hạnh nuôi dưỡng con rắn với tình thương
như con mình, nên vị ấy được gọi là "Cha của Veluka".
Lúc bấy giờ, Bồ-tát nghe có vị
tu khổ hạnh nuôi dưỡng con rắn độc, bèn cho gọi vị ấy
lên và hỏi:
- Có thật chăng ông đã nuôi dưỡng
con rắn độc?
Khi được biết là có thật, Bồ-tát
nói:
- Chớ tin con rắn độc. Chớ nuôi
dưỡng nó như vậy.
Vị tu khổ hạnh nói:
- Con rắn ấy đối với tôi như
đệ tử đối với thầy. Không có nó, tôi không thể sống
được.
- Vậy ông sẽ bị mệnh chung vì
sống gần con rắn độc này.
Vị tu khổ hạnh không nghe lời
Bồ-tát, không chịu từ bỏ con rắn độc. Nhiều ngày sau,
tất cả vị tu khổ hạnh đi hái quả, đến một chỗ được
nhiều trái cây và ở tại đấy hai ba ngày. Trước đó, Cha
của rắn tre cũng đi với họ, đã đặt con rắn độc nằm
trong ống tre, đóng cửa lại rồi ra đi. Sau hai ba ngày, vị
ấy cùng về với các vị tu khổ hạnh, định đến cho Veluka
ăn, vị ấy mở ống tre, vừa đưa tay vừa nói:
- Này con, hãy đến đây. Chắc con
đói lắm.
Con rắn độc nổi giận vì hai ba
ngày không có đồ ăn, liền mổ vào tay vị tu khổ hạnh,
khiến vị này chết ngay tại chỗ, rồi rắn bỏ vào rừng.
Các vị tu khổ hạnh thấy vậy thưa với Bồ-tát. Ngài bảo
hỏa táng người chết. Rồi ngồi giữa chúng ẩn sĩ, ngài
nói lên bài kệ này:
Với người muốn mình lợi,
Với người thương tưởng mình,
Nếu cứng đầu không nghe
Không theo lời khuyên dạy,
Sẽ bị hại đến chết,
Như Cha Ve-lu-ka.
Như vậy, Bồ-tát khuyến cáo chúng
ẩn sĩ. Rồi ngài tu tập từ, bi, hỷ, xả, và khi mạng chung,
ngài sanh lên cõi trời Phạm thiên.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ
nay ông mới khó bảo. Trước kia do khó bảo, ông đi đến
hoại diệt vì miệng con rắn độc.
Sau khi thuyết pháp thoại, bậc
Ðạo Sư kết hợp hai mẩu chuyện, và nhận diện Tiền thân
như sau:
- Khi ấy, Cha của Veluka là Tỷ-kheo
khó bảo, hội chúng còn lại là hội chúng đức Phật, và
bậc Ðạo Sư có hội chúng là Ta vậy.
-ooOoo-
44. CHUYỆN CON
MUỖI (Tiền thân Makasa)
Tốt hơn là kẻ thù...,
Câu chuyện này, khi bộ hành ở
xứ Ma-kiệt-đà, bậc Ðạo Sư đã kể về những người ngu
si trong một ngôi làng. Theo truyền thuyết, một thời đức
Như Lai từ Xá-vệ đi đến xứ Ma-kiệt-đà. Tại đấy, Ngài
đi bộ đến một ngôi làng. Người trong làng ấy phần lớn
là những người ngu. Một hôm, các người ngu hội họp lại
và nói:
- Này các bạn, khi chúng ta vào
rừng làm việc, các con muỗi cắn chúng ta, do duyên cớ ấy,
việc làm của chúng ta bị trở ngại. Tất cả chúng ta hãy
đi, cầm theo cung và các vũ khí, gây chiến với các con muỗi,
bắn giết tất cả chúng nó.
Nghĩ vậy, họ đi vào rừng với
ý định bắn các con muỗi, nhưng họ bắn lẫn nhau, đánh
lẫn nhau, làm đau khổ lẫn nhau, rồi đi về, nằm xuống ở
cổng làng, giữa làng và cuối làng.
Bậc Ðạo Sư, được chúng Tỷ-kheo
vây quanh, đi vào làng ấy khất thực. Các bậc Hiền trí trong
làng thấy Thế Tôn, liền dựng một cái rạp tại cổng làng,
tổ chức cúng dường trai phạn cho chúng Tỷ-kheo, đứng đầu
là đức Phật. Họ đảnh lễ bậc Ðạo Sư rồi ngồi xuống.
Bậc Ðạo Sư thấy chỗ này chỗ kia có những người bị
thương, liền hỏi các nam cư sĩ:
- Sao có nhiều người bị bệnh
thế? Họ đã làm gì vậy?
- Bạch Thế Tôn, những người
này đi đánh các con muỗi, nhưng lại bắn lẫn nhau, nên bị
bệnh tình như vậy.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Không phải chỉ nay các người
ngu si đi đánh các con muỗi, rồi trở lại đánh mình. Trước
kia, cũng có những người đi đánh các con muỗi, rồi trở
lại đánh những người khác.
Sau đó, theo lời yêu cầu của
những nam cư sĩ ấy, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sống làm nghề đi buôn. Lúc bấy
giờ, trong một làng biên địa ở nước Kàsi, nhiều người
thợ mộc sống tại đây. Có một thợ mộc đầu sói đang
đẻo một thân cây. Một con muỗi đậu trên đầu của kẻ
ấy, cái đầu sáng chói như một cái bát đồng. Với cái
miệng như mũi tên, muỗi đốt vào đầu như kiếm đâm. Kẻ
ấy gọi đứa con đang ngồi gần và nói:
- Này con thân, con muỗi đốt vào
đầu ta như bị kiếm đâm. Hãy đuổi nó đi.
- Thưa cha thân, hãy ngồi im. Với
một cái đánh, con sẽ giết nó.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát đi tìm hàng
hoá cho mình, đến tại làng ấy, đang ngồi tại cửa quán
người thợ mộc. Người thợ mộc ấy nói với đứa con:
- Này con, hãy đuổi con muỗi này.
Ðứa con nói:
- Này cha thân, con sẽ đuổi.
Nó giơ cao một cái búa lớn sắc
bén, đứng một bên lưng người cha nói:
- Con sẽ đánh muỗi!
Nó lại chém vỡ đôi đầu người
cha. Người thợ mộc chết ngay tại chỗ. Bồ-tát thấy sự
việc đã xảy ra cho người thợ mộc, suy nghĩ: "Một kẻ tù
có trí con tốt hơn, vì nó sợ hình phạt, sẽ không giết
người".
Rồi ngài nói lên bài kệ này:
Tốt hơn là kẻ thù,
Nhưng có trí sáng suốt,
Còn hơn là người bạn
Thiếu trí tuệ thông minh.
Ðứa con ngu và điếc,
Ðịnh giết chết con muỗi,
Lại chém đầu người cha
Vỡ ra thành hai mảnh.
Nói vậy xong, Bồ-tát đứng dậy ra
đi, rồi về sau mạng chung theo nghiệp của mình. Còn bà con
của người thợ mộc lo việc thiêu xác của người thợ mộc.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các nam cư sĩ, trong thời
quá khứ, cũng có những người muốn đánh con muỗi lại đánh
ngã các người khác.
Sau khi kể pháp thoại này xong,
bậc Ðạo Sư kết hợp hai câu chuyện và nhận diện Tiền
thân như sau:
- Lúc ấy, người đi buôn hiền
trí nói xong bài kệ rồi đi chính là Ta vậy.
-ooOoo-
45. CHUYỆN NỮ
TỲ ROHINI (Tiền thân Rohini)
Tốt hơn là kẻ thù...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về người nữ tỳ của vị triệu
phú Cấp Cô Ðộc. Theo truyền thuyết, ông Cấp Cô Ðộc có
một người nữ tỳ tên là Rohinì. Người mẹ già của nó
đi đến nhà giã gạo và nằm xuống. Những con ruồi bu quanh
cắn bà như đâm với mũi kim. Bà kêu đứa con gái:
- Này con thân, các con ruồi cắn
ta. Hãy đuổi chúng đi.
Ðứa con gái nói:
- Thưa mẹ, con sẽ đuổi.
Nó giơ cái chày lên, với ý định
giết các con ruồi trên thân bà mẹ, nó nói:
- Con sẽ giết chúng.
Rồi nó lấy cái chày đập vào
bà mẹ khiến bà chết tại chỗ.
Thấy vậy, nó khóc:
- Mẹ ôi!
Người ta báo cho vị triệu phú
biết tin ấy. Sau khi bảo hoả táng bà mẹ, vị trieäu phú
đi đến tinh xá, báo cho bậc Ðạo Sư biết toàn thể câu
chuyện. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Gia chủ, đây không phải
lần đầu tiên với ý định giết các con ruồi trên thân
bà mẹ mà nó đập với cái chày và giết bà mẹ. Thuở trước,
nó cũng đã làm như vậy.
Sau khi nói như vậy, bậc Ðạo
sư theo lời yêu cầu của ông Cấp Cô Ðộc, kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong gia đình người triệu
phuù, sau khi cha mất, lên thay địa vị của cha. Vị triệu
phú có người nữ tỳ tên là Rohinì. Nữ tỳ ấy đi đến
chỗ giã gạo, nghe người mẹ đang nằm bảo:
- Hãy đuỗi những con ruồi trên
thân ta, này con thân.
Nó lấy cái chày đánh con ruồi
và giết luôn bà mẹ rồi khóc. Bồ-tát nghe kể chuyện ấy,
tự nghĩ: "Trên đời này, một kẻ thù có trí còn tốt hơn".
Rồi để tán thán người có trí,
Bồ-tát đọc bài kệ này:
Tốt hơn là kẻ thù
Có trí tuệ thông minh,
Hơn kẻ thương hại minh,
Nhưng ngu si vô trí,
Hãy xem Rô-hi-ni,
Giết bà me khốn khổ,
Rồi than khóc hoài công.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Gia chủ, đây không phải
lần đầu tiên với ý định sẽ giết các con ruồi mà nó
giết bà mẹ. Lúc trước, nó cũng đã làm như vậy.
Sau khi kể lại pháp thoại này,
bậc Ðạo Sư kết hợp lại hai câu chuyện và nhận diện
Tiền thân như sau:
- Lúc bấy giờ, bà mẹ và người
con gái là bà mẹ và con gái ngày nay, con vị đại triệu phú
là Ta vậy.
-ooOoo-
46. CHUYỆN KẺ
LÀM HẠI VƯỜN (Tiền thân Àràmadùsaka)
Bậc thiện không làm hại...,
Câu chuyện này, tại một làng
nhỏ ở Kosala, bậc Ðạo Sư đã kể về người làm hại vườn.
Theo truyền thuyết, bậc Ðạo Sư đang bộ hành giữ dân chúng
nước Kosala, đến một ngôi làng nhỏ. Tại đây, một người
điền chủ thỉnh đức Như Lai, vào ngồi trong vườn của
mình, cúng dường chúng Tăng với đức Phật là vị dẫn đầu,
và thưa:
- Bạch Thế Tôn, chư vị có thể
đi kinh hành ở trong vườn này tùy theo sở thích.
Các Tỷ-kheo đứng dậy, cùng
với người giữ vườn đi dạo trong vườn, thấy một khoảng
đất trống, liền hỏi người giữ vườn:
- Này nam cư sĩ, trong vườn này,
các chỗ khác có cây cối rậm rạp, nhưng tại chỗ này không
có cây, cũng không có bụi cây. Vì lý do gì vậy?
- Thưa các Tôn giả, khi vườn
này được trồng cây, một đứa trẻ ở làng tưới cây tại
chỗ này, nhổ rễ các cây non lên, rồi tùy theo lượng rễ
cây mà tưới nước nhiều hay ít. Các cây non ấy bị héo
và chết. Vì lý do ấy, chỗ này thành trống không.
Các Tỷ-kheo đi đến bậc Ðạo
Sư, báo cáo câu chuyện. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, đưùa trẻ
ở làng không phải chỉ nay mới là kẻ làm hư vườn. Thuở
trước, nó cũng là kẻ làm hư vườn.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở trước, khi vua Brahmadatta trị
vì tại Ba-la-nại, một ngày hội lễ được tổ chức ở
Ba-la-nại. Bắt đầu từ khi nghe tiếng trống lễ hội, toàn
thể dân chúng trong thành ào ra tham dự. Lúc bấy giờ, trong
vườn nhà vua có nuôi rất nhiều khỉ. Người giữ vườn
suy nghĩ: "Thành phố vui chơi lễ hội, ta sẽ bảo những con
khỉ này tưới nước, còn ta sẽ đi chơi lễ hội". Anh ta
đến con khỉ đầu đàn và hỏi:
- Này bạn khỉ chúa, vườn này
đã giúp đỡ các bạn nhiều. Các bạn ở đây ăn hoa, trái
và đọt non. Thành phố hôm nay đang vui chơi lễ hội. Ta sẽ
đi dự hội. Cho đến khi ta về các bạn có thể tưới nước
giúp các cây non trong vườn này không?
- Lành thay, chúng tôi sẽ tưới.
- Vậy các bạn hãy cẩn thận.
Ðể chúng có thể tưới nước,
người giữ vườn đưa cho chúng những bao da chứa nước và
các thùng gỗ, rồi ra đi.
Các con khỉ cầm bao da chứa nước
và các thùng gỗ, bắt đầu tưới nước cho các cây non. Con
khỉ chúa nói với chúng:
- Này các bạn khỉ, hãy gìn giữ
nước. Khi các bạn tưới nước trên các cây non, trước hết
hãy kéo những cây ấy lên, xem rễ của chúng như thế nào.
Những rễ nào đâm sâu thì tưới nhiều nước vào rễ. Rễ
nào không đâm sâu, hãy tưới ít nước. Nếu tưới nhiều
nước, chúng ta thật khó tìm thêm nước.
Chúng vâng theo và làm đúng như
vậy. Lúc bấy giờ, một người hiền trí thấy các con khỉ
ấy làm như vậy trong vườn của vua, liền hỏi:
- Này các bạn khỉ, sao các bạn
lại kéo các cây non lên và tươùi nước tùy theo lượng của
rễ?
Chúng trả lời:
- Chúa khỉ đầu đàn của chúng
tôi khuyên như vậy!
Nghe chúng nói, người hiền trí
ấy suy nghĩ: "Ôi! Những kẻ ngu si vô trí, dầu muốn làm điều
tốt, lại làm điều có hại!"
Rồi vị ấy đọc bài kệ này:
Bậc thiện không làm hại,
Làm lành đem đến lạc;
Người ngu hại điều lành,
Như khi giết hại trong vườn.
Người hiền trí ấy chỉ trích con
khỉ đầu đàn như vậy rồi đem đoàn tùy tùng của mình
ra đi.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, đứa trẻ
ở làng không phải chỉ nay mới là kẻ làm hại vườn. Thuở
trước nó cũng đã là kẻ làm hại vườn.
Sau khi bậc Ðạo Sư kể pháp
thoại này, Ngài kết hợp hai câu chuyện và nhận diện Tiền
thân:
- Khi ấy, con khỉ đầu đàn là
đứa trẻ ở làng làm hại vườn. Con người hiền trí là
Ta vậy!
47. CHUYỆN RƯỢU
MẠNH (Tiền thân Vàruni)
Bậc thiện không làm hại...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư đã kể về một người phá hư rượu.
Tương truyền bạn của ông Cấp Cô Ðộc là một người bán
rượu. Kẻ ấy dự trữ một số rượu cay mạnh để bán
cho quần chúng và họ trả bằng vàng và bạc. Quần chúng
tụ họp đông đảo trong quán rượu. Kẻ ấy bảo người
đệ tử học việc:
- Này con thân, hãy lấy tiền
trước khi giao rượu.
Sau khi ra lệnh như vậy, kẻ ấy
đi tắm. Người đệ tử bán rượu cho quần chúng. Khách uống
bảo nó đem cho họ muối và đường cục để vừa ăn vừa
uống rượu. Thấy vậy, nó liền nghĩ: "Rượu chắc thiếu
muối. Ta sẽ bỏ muối vào rượu".
Nó liền bỏ độ một cân muối
vào hủ rượu rồi rót rượu cho họ. Khi họ vừa uống một
ngụm đầy miệng, họ liền nhổ ra và hỏi:
- Anh đã làm gì vậy?
- Các anh uống rượu đòi tôi
đem muối lại. Thấy vậy, tôi bỏ thêm muối vào.
- Này kẻ ngu kia, chú mày đã
làm hư rượu ngon như vậy rồi.
Khách hàng chỉ trích người ấy,
rồi lần lượt đứng dậy và bỏ đi. Người buôn rượu
đi về, không thấy một người khách nào, liền hỏi những
người uống rượu đã đi đâu rồi. Nó tường thuật lại
sự việc. Người thầy của nó mắng nó:
- Này kẻ ngu kia, mày đã phá
hư rượu rồi!
Và ông đi báo cáo với ông Cấp
Cô Ðộc. Ông Cấp Cô Ðộc nghĩ: "Ðây là một câu chuyện
hay nên nói", liền đi đến Kỳ Viên đảnh lễ bậc Ðạo
Sư, và thưa lại câu chuyện. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Gia chủ, không phải nay
kẻ học việc ấy mới là người phá hư rượu. Thuở trước,
nó cũng là người phá hư rượu rồi.
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu
của ông Cấp Cô Ðộc, bậc Ðạo Sư kể chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm người triệu phú ở Ba-la-nại.
Nương tựa vào Bồ-tát là một người sống với nghề buôn
rượu. Sau khi tích trữ một số rượu mạnh, kẻ ấy bảo
người đệ tử tên là Kondanna bán rượu rồi đi tắm. Trong
khi người buôn rượu đi khỏi, người đệ tử đổ muối
vào rượu, và vì vậy, liền đã phá hư rượu. Thầy của
nó về, biết được nguyên nhân, liền báo cho người triệu
phú rõ. Người triệu phú nói:
- Người thiện không làm hại, còn
người ngu, dầu muốn làm điều tốt, lại làm điều có hại.
Và đọc thêm bài kệ này:
Bậc thiên không làm hại,
Làm lành đem đến lạc,
Người ngu hại điều lành
Thật giống Kon-dan-na
Ðổ muối vào bình rượu.
Bồ-tát thuyết pháp với bài kệ này.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Gia chủ, không phải nay
nó mới là người phá rượu. Thuở trước, nó cũng là người
phá hư rượu.
Sau khi nói xong, bậc Ðạo Sư
kết hợp hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân như sau:
- Thuở ấy, kẻ làm hư rượu
là kẻ làm hư rượu bây giờ còn vị triệu phú Ba-la-nại
là Ta vậy
-ooOoo-
48. CHUYỆN BÀ-LA-MÔN
VEDABBHA (Tiền thân Vedabbha)
Dùng phương tiện không tốt...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về một Tỷ-kheo khó bảo. Bậc Ðạo
Sư nói với Tỷ-kheo ấy:
- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ
nay ông mới khó bảo. Thuở trước ông cũng đã khó bảo!
Do lời nói của ông, do không làm theo lời các bậc hiền trí,
ông bị gươm chém đứt đôi và bị quăng trên đường. Chính
do nhân duyên độc nhất ấy, khiến một ngàn người mạng
chung.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì Ba-la-nại, trong một ngôi làng nhỏ, có một Ba-la-môn biết
được bùa chú tên là Vedabbha. Bấy giờ người ta nói, bùa
chú ấy có giá trị rất lớn. Khi có sự giao hội các hành
tinh, nếu ai đọc chú ấy và nhìn lên trời, thì từ trời
mưa xuống bảy vật báu (vàng, bạc, san hô, hổ phách, ngọc
đỏ và kim cương).
Lúc bấy giờ, Bồ-tát đi học nghề
với Bà-la-môn ấy. Một hôm, vị Bà-la-môn đem Bồ-tát đi
theo, vì một vài công việc đi ra khỏi làng của mình và đến
nước Ceti. Giữa đường, tại một khu rừng, có năm trăm
kẻ cướp, được gọi là kẻ cướp Sứ giả, chúng làm cho
con đường không thể đi được, chúng bắt Bồ-tát và Bà-la-môn
Vedabbha.
Vì sao chúng được gọi là những
kẻ cướp sứ giả? Người ta nói, khi chúng bắt được hai
người, chúng cử một người đi lấy tiền chuộc, do vậy,
chúng được gọi là những kẻ cướp sứ giả. Nếu chúng
bắt đượv hai cha con, chúng cử người cha đi, đem tiền chuộc
cho chúng để dắt người con về.
Với phương tiện này, nếu chúng
bắt được mẹ và con gái, chúng cử người mẹ đi, chúng
bắt được hai anh em cả và út, chúng cử người anh cả đi;
nếu chúng bắt được thầy và trò, chúng cử người học
trò đi. Lúc ấy, chúng giữ lại Bà-la-môn Vedabbha và cử Bồ-tát
đi. Bồ-tát đảnh lễ thầy và nói:
- Con sẽ về trong một hai ngày.
Thầy chớ sợ hãi. Nhưng thầy hãy làm theo lời con. Hôm nay
sẽ có giao hội các hành tinh để mưa châu báu xuống, chớ
vì chịu khổ cực không nổi mà đọc thần chú và làm mưa
châu báu xuống. Nêu mưa xuống, thầy sẽ bị diệt vong, cả
năm trăm tên cướp này cũng vậy.
Sau khi khuyên thầy như vậy, Bồ-tát
đi lấy tiền chuộc. Khi mặt trời lặn, các tên cướp trói
vị Bà-là-môn lại bắt nằm xuống. Ðúng thời khắc ấy,
mặt trăng tròn ngày rằm từ chân trời phương đông mọc
lên. Vị Bà-la-môn nhìn các vì sao, biết sự giao hội các
hành tinh để mưa châu báu đã thành hình. Vị ấy tự nghĩ:
"Sao ta lại chịu khổ như thế này, ta hãy đọc thần chú,
làm mưa châu báu xuống, cho các tên cướp tài sản và sẽ
sung sướng ra đi". Vì vậy vị Bà-la-môn nói với các tên
cướp:
- Này các bạn, vì mục đích gì
các bạn bắt tôi?
- Vì mục đích tài sản.
- Nếu các bạn muốn có tài sản,
lập tức hãy cởi trói cho tôi, rửa đầu cho tôi mang áo mới
thoa hương thơm và trang điểm bông hoa. Rồi để tôi ở một
mình.
Các tên cướp nghe nói, liền làm
theo như vậy. Vị Bà-la-môn biết được sự giao hội các
hành tinh, đọc thần chú và mắt nhìn lên trời. Từ trên
trời, các châu báu rơi xuống. Các tên cướp thâu lượm tài
sản ấy, gói lại thành từng bọc với áo khoác ngoài, rồi
ra đi cả đoàn. Vị Bà-la-môn theo chúng đi sau cùng. Các tên
cướp ấy bị năm trăm tên cướp khác bắt. Chúng hỏi bọn
kia:
- Các anh bắt chúng tôi vì mục
đích gì?
- Vì mục đích tài sản.
- Nếu các anh muốn tài sản, hãy
bắt Bà-la-môn này. Nó nhìn lên trời, làm mưa tài sản rơi
xuống. Chính nó cho chúng tôi tài sản này.
Các tên cướp sau thả các tên cướp
trước, rồi bắt vị Bà-la-môn và nói:
- Hãy cho chúng tôi tài sản như
vậy.
Bà-la-môn nói:
- Tôi không thể cho các anh tài sản.
Từ nay cho đến một năm, sự giao hội các hành tinh để mưa
tài sản mới thành hình. Nếu các anh muốn có tài sản, hãy
chờ đợi. Khi ấy, tôi sẽ làm mưa tài sản xuống.
Các tên cướp tức giận nói:
- Ðồ xảo quyệt Bà-la-môn, ngươi
làm mưa tài sản ngay cho bọn kia, lại bắt chúng ta đợi một
năm nữa.
Chúng nó lấy gươm sắc bén chém
vị Bà-la-môn làm hai, vất bỏ trên đường. Rồi chúng đuổi
theo gấp, giao chiến với bọn cướp kia, giết chết bọn chúng,
và lấy tài sản. Rồi chúng chia thành hai nhóm, giao chiến
lẫn nhau cho đến khi giết hai trăm năm mươi tên. Với cách
thức ấy, chúng chém giết lẫn nhau cho đến khi chỉ còn lại
hai tên. Như vậy cả ngàn người ấy đi đến diệt vong.
Hai tên còn lại mang tài sản ấy
chôn giấu tại một khu rừng gần làng, một tên cầm gươm
ngồi giữ, một tên lấy gạo đi vào làng để nấu cơm. Tên
ngồi gần tài sản suy nghĩ: "lòng tham là cội gốc của diệt
vong. Nếu tên kia về, tài sản sẽ phải chia làm hai. Khi tên
kia vừa về, ta sẽ lấy gươm chém giết nó." Nghĩ vậy, nó
rút gươm ra, ngồi chờ tên kia về. Tên kia cũng suy nghĩ: "Tài
sản kia phải được chia làm hai. Ta hãy bỏ thuốc độc vào
cơm cho tên kia ăn, khiến nó mạng chung, như vậy, chỉ một
mình ta được tài sản".
Khi cơm nấu chín, nó ăn phần của
nó, rồi bỏ thuốc độc phần còn lại, đem theo đi đến
chỗ ấy. Khi nó đặt cơm ấy xuống, vừa đứng dậy, tên
kia lấy kiếm chém nó đứt đôi, ném xác nó vào chỗ kín.
Rồi nó ăn phần cơm ấy và chết ngay tại chỗ. Như vậy,
vì tài sản toàn thể bị diệt vong.
Sau hai ba ngày, Bồ-tát mang tiền
chuộc đi đến chỗ ấy, không thấy thầy mình, thấy tài
sản rơi vãi, tự nghĩ: "Thầy ta không làm theo lời ta, làm
mưa tài sản xuống, khiến tất cả phải chịu nạn diệt
vong".
Rồi Bồ-tát theo con đường lớn
đi tới. Trong khi đang đi, thấy thầy mình bị chặt đứt
làm hai ở trên đường lơùn, lại nghĩ: "Vì không theo lời
ta, nên thầy đã bị giết". Bồ-tát chất củi, làm một giàn
thiêu đốt xác thầy, và cúng dường với hoa trong rừng. Ði
nữa, Bồ-tát gặp năm trăm người mạng chung, tiếp tục đi
tới nữa, thấy hai trăm năm mươi người, tiếp tục đến
chỗ các người mạng chung, chỉ thiếu có hai. Thấy vậy,
Bồ-tát suy nghĩ: "Một ngàn người, trừ hai người, đi đến
diệt vong. Thế nào cũng còn lại hai tên cướp nữa. Chúng
không thể không đánh nhau, không biết chúng đã đi đâu?"
Tiếp tục đi nữa, Bồ-tát thấy
con đường mà hai người mang tài sản đi vào trong khu rừng;
đi nữa, Bồ-tát thấy đống tài sản được gói thành từng
bọc và một tên cướp nằm chết với bát cơm bị rơi vãi.
Ðây là việc làm của chúng! Bồ-tát biết tất cả, tự hỏi:
"Người kia ở đâu?" Tìm thấy nó bị quăng xác tại chỗ
đầu kia, Bồ-tát suy nghĩ: "Thầy chúng ta không làm theo lời
ta, do tánh khó bảo của thầy, tự mình đaõ bị diệt vong,
còn làm cho một ngàn người khác cũng vì mình bị diệt vong.
Ai dùng phương tiện không chánh đáng, vì lý do sai lạc, đem
lại sự giàu sang cho chính mình rồi cũng bị diệt vong như
thầy chúng ta vậy".
Suy nghĩ vậy, Boà-tát đọc bài
kệ này:
Dùng phương tiện không tốt,
Mong lợi sẽ bị hại,
Cướp giết Ve-dab-bha,
Tất cả bị diệt vong.
Rồi Bồ-tát nói thêm:
- Như thầy ta, do ý nghĩ không tốt
đẹp, do cố gắng sai chỗ, làm mưa tài sản xuống, tự mình
bị mạng chung, còn làm cho những người khác cũng bị diệt
vong. Cũng vậy, với ai ý nghĩ không chánh đáng, nỗ lực cố
gắng muốn lợi cho mình, tự mình diệt vong hoàn toàn, lại
còn làm cho những người khác cũng bị diệt vong nữa.
Bồ-tát làm vang động cả khu rừng
vì tiếng nói của mình khiến chư Thần cây đáp ứng tán
đồng. Với bài kệ này, Bồ-tát thuyết pháp. Sau đó ngài
dùng phương tiện đem tài sản ấy về nhà, làm các công đức
như bố thí và nhiều thiện sự khác v.v... rồi sống cho đến
hềt tuổi thọ. Khi mạng chung, Bồ-tát đi lên con đường
thiên giới.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, không phải chỉ
nay ông là người khó bảo. Thuở trước ông cũng đã là ngươøi
khó bảo. Vì khó bảo, ông đi đến diệt vong hoàn toàn.
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư kết hợp hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân
như sau:
- Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Vedabbha
là Tỷ-kheo khó bảo, còn người đệ tử là Ta vậy.
-ooOoo-
49. CHUYỆN CÁC
VÌ SAO (Tiền thân Nakkhatta)
Chờ đợi các vì sao...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc đạo Sư đã kể về một tà mạng ngoại đạo.
Theo truyền thuyết, một thiện nam nữ ở thôn quê hỏi cưới
cho con trai mình cô con gái một gia đình ở Xá vệ, và hẹn
ngày cưới. Khi đến ngày ấy, ông hỏi một kẻ tà mạng
ngoại đạo thân tín với gia đình:
- Thưa Tôn giả, hôm nay chúng
tôi sẽ làm một lễ phù hợp ngày lành, vậy các vì sao có
tốt không?
Vị này tức giận suy nghĩ: "Người
này không hỏi ta trước, đã quyết định ngày, nay mới hỏi
ta. Ta hãy cho nó một bài học". Vị ấy nói:
- Hôm nay, các vì sao không tốt.
Chớ nên làm lễ hôm nay. Nếu làm lễ, sẽ có nạn diệt vong
lớn.
Các người trong gia đình ở thôn
quê tin vị ấy, và không đi rước dâu trong ngày ấy. Trong
khi ấy, những người thuộc gia đình nhà gái ở thành thị
đã sửa soạn tất cả để làm lễ cưới. Thấy các người
kia không đến, họ nói:
- Chính họ quyết định ngày
hôm nay, và họ không đến, chúng ta đã phí tổn rất nhiều.
Họ là hạng người gì? Chúng ta sẽ gả con gái chúng ta cho
một người khác.
Rồi họ gả con gái cho một người
khác và làm lễ cưới như đã sửa sọan. Vào ngày sau, đám
người thôn quê đi đến và xin rước dâu. Những người ở
thành Xá vệ nói:
- Các ông gia chủ sống ở thôn
quê là những người độc ác. Chính các ông đã quyết định
ngày, lại khinh thường chúng tôi không đến. Các ông hãy
về lại theo con đường các ông đã đến. Chúng tôi đã gả
con gái cho người khác rồi.
Họ mắng những người kia như
vậy. Những người kia cũng mắng lại, rồi cuối cùng đi
về theo con đường họ đã đến.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo biết được
toàn bộ câu chuyện ấy và thầm trách kẻ tà mạng ngoại
đạo ấy đã làm trở ngại lễ ngày lành của những người
kia. Các Tỷ-kheo ngồi hội họp trong Pháp đường nói:
- Này các hiền giả, kẻ tà mạng
ngoại đạo kia đã làm trở ngại ngày lành của gia đình
ấy.
Bậc Ðạo Sư đi đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo hôm nay, ở
đây các ông ngồi hội họp bàn chuyện gì?
Khi được biết câu chuyện ấy,
baäc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay kẻ tà mạng ngoại đạo ấy mới làm trở ngại ngày
lành của gia đình kia. Thuở trước, kẻ ấy tức giận họ
và cũng làm trở ngại ngày lành.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở trước, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, những người dân ở thành phố xin cưới
cô con gái ở thôn quê, đã định ngày cưới và hỏi một
kẻ tà mạng ngoại đạo, bạn của gia đình:
- Thưa Tôn giả, hôm nay chúng tôi
định làm lễ ngày lành. Vậy các vì sao có tốt đẹp không?
Người tà mạng ngoại đạo tức
giận suy nghĩ: "Những người này đã quyết định ngày theo
sở thích của mình, nay mới hỏi ta. Vậy ta sẽ làm trở ngại
ngày lành của họ". Kẻ ấy nói:
- Hôm nay các vì sao không tốt. Nếu
các ông làm lễ, các ông sẽ gặp nạn diệt vong lớn.
Họ tin kẻ ấy, nên không đi đến.
Những người ở thôn quê biết được họ không đến liền
nói với nhau:
- Nay họ đã định ngày, nhưng lại
không đến. Họ là hạng người gì đối với chúng ta?
Và họ gả con gái cho người khác.
Những người ở thành phố đến vào ngày sau và xin đón con
dâu. Những người ở thôn quê nói:
- Các ông, những người ở thành
phố, là những gia chủ không có liêm sỉ. Chính các ông đã
định ngày, nhưng không đón con dâu. Vì các ông không đến,
chúng tôi đem gả con cho người khác rồi.
- Chúng tôi hỏi nột vị đạo sĩ,
biết được các vì sao không tốt, nên chúng tôi không đến.
Hãy cho chúng tôi rước dâu.
- Vì các ông không đến, chúng tôi
đã gả nó cho người khác rồi! Nay làm sao lại có thể dắt
nó về được?
Trong khi họ đang cãi nhau như vậy,
một người hiền trí ở thành phố đi đến thôn quê vì một
công việc gì đó, nghe kể lại câu chuyện ấy, liền nói:
- Có nghĩa lý gì là các vì sao?
Ðược người con gái đâu có phải nhờ các vì sao?
Rồi người hiền trí đọc bài
kệ này:
Chờ đợi các vì sao
Kẻ ngu hỏng điều lành,
Ðiều lành chiếu điều lành,
Sao trời làm được gì?
Các người ở thành phố cãi lộn
xong, không rước dâu được, đành ra về.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay kẻ tà mạng ngoại đạo này mới làm trở ngại ngày
lành của gia đình ấy, thuở trước cũng đã làm rồi.
Sau khi kể pháp thoại, bậc Ðạo
Sư kết hợp hai mẩu chuyện và nhận diện Tiền thân như
sau:
- Thời ấy, kẻ tà mạng ngoại
đạo là kẻ tà mạng ngoại đạo hôm nay, các gia đình ấy
là một. Nguời hiền trí nói kệ là Ta vậy.
-ooOoo-
50. CHUYỆN NHỮNG
KẺ VÔ TRÍ (Tiền thân Dummedha)
Với ngàn kẻ vô trí...
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư đã kể về các hành vi đem lại lợi ích cho
đời. Câu chuyện này được kể ở Chương mười hai, Tiền
thân Mahakanha số 469.
*
Thuở trước, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại. Bồ-tát nhập thai vị hoàng hậu của vua
ấy. Từ bào thai sanh ra, trong ngày đặt tên, Bồ-tát được
gọi là hoàng tử Brahmadatta (Phạm thọ). Khi đến mười sáu
tuổi, ngài được khéo giáo dục ở Takkasila, đã học thành
thục ba tập Vệ đà, và đã hiểu biết thông suốt mười
tám ngành học thuật. Vua cha phong cho hoàng tử chức Phó Vương.
Lúc bấy giờ, các người dân ở
Ba-la-nại thường hành lễ ngày lành cúng chư thần, họ đảnh
lễ chư thần. Họ giết hại nhiều dê, cừu, gà... và không
chỉ làm lễ vật cúng dường với nhiều loại hương hoa,
mà cả với thịt tươi đầy máu nữa. Bồ-tát suy nghĩ: "Nay
quần chúng thường hành lễ ngày lành cúng chư thần và giết
hại nhiều sinh vật. Phần lớn quần chúng theo phi pháp. Sau
khi cha mất, ta sẽ được cả quốc độ, ta sẽ tìm một phương
tiện không làm phiền não một ai, và chấm dứt sự giết
hại các sinh vật".
Một hôm, Bồ-tát lên xe, từ thành
đi ra, thấy một số quần chúng lớn tụ họp tại một cây
thần lớn, cầu xin vị thần cây ban cho con trai, con gái, danh
vọng, tài sản... muốn gì thì phát nguyện như vậy. Bồ-tát
xuống xe, đi đến cây ấy, cúng dường với hương hoa, rưới
cây với nước, đi quanh cây ấy về hướng phải, thành kính
lễ bái thần cây. Sau đó Bồ-tát leo lên xe, rồi đi vào thành.
Từ đấy trở đi, với phương tiện
này, Bồ-tát thỉnh thoảng đi đến cây ấy, đảnh lễ như
người tôn thờ thần cây. Sau một thời gian phụ vương qua
đời, Bồ-tát được đặt lên ngôi vua. Ngài từ bỏ Bốn
con đường ác, thực hành Mười đức tính của một vị vua,
và trị vì quốc độ đúng pháp. Ngài suy nghĩ: "Nay ý ta đã
đạt được ý định cao tột, và được đặt lên ngôi vua.
Trước kia, sở nguyện của ta như thến nào, nay ta phải thực
hành cho kỳ được".
Bồ-tát hội họp các đại thần,
các Bà-la-môn, qúy tộc, gia chủ và nói:
- Các khanh có biết ý muốn của
ta trước khi ta đạt được vương vị chăng?
- Thưa thiên tử, chúng thần không
biết.
- Các khanh có thaáy trước đây
ta đảnh lễ thần cây ấy với hương hoa và chấp ta cúi lạy
cây ấy hay không?
- Thưa thiên tử, có.
- Lúc ấy,ta phát nguyện: "Nếu ta
được làm vua, ta sẽ hiến vật cúng cho thần cây ấy. Ta
nhờ uy lực thần cây ấy, nên đã được quốc độ. Nay ta
sẽ hiến cúng cho thần cây, các khanh chớ làm trở ngại.
Hãy mau sửa soạn hiến vật cúng thần.
- Chúng thần lấy gì cúng dường
thần cây?
- Này các khanh, ta có nguyện với
thần ấy như sau: Tất cả những ai trong quốc độ của tôi
chấp nhận và thực hành năm ác giới như sát sanh... và mười
hạnh bất thiện, tôi sẽ giết những người ấy, và với
nội tạng, thịt và máu của chúng, tôi sẽ hiến vật cùng
thần! Lời nguyeän của ta là vậy. Các khanh hãy đánh trống
bá cáo như sau: Ðại vương của chúng ta, khi còn làm phó vương,
có phát nguyện: "Nếu ta đạt được quốc độ, những ai
là kẻ theo ác giới trong nước ta, ta sẽ giết tất cả chúng
làm vaät hiến cúng thần! Vậy nay ta sẵn sàng bảo giết một
ngàn người nào chấp nhận và thực hành năm ác giới và
mười ác hạnh, cho lầy tim và thịt của chúng để làm vật
hiến cúng thần. Như vậy, nay ta tuyên bố cho các thị dân
được biết."
Vua lại tuyên bố như sau:
- Chỉ những ai, bắt đầu từ hôm
nay, còn phạm các giới ác hạnh, một ngàn người như vậy
sẽ bị giết để làm lễ tế đàn và ta sẽ giải tỏa hạnh
nguyện của ta.
Ðể ý nghĩa này được rõ ràng,
Bồ-tát đọc bài kệ:
Với ngàn kẻ vô trí,
Ta nguyện giết tế lễ,
Nay ta sẽ làm lễ,
Giết những kẻ phi pháp.
Các bậc đại thần vâng theo lời
Bồ-tát, cho đánh trống bá cáo trong thành Ba-la-nại, khắp
cả mười hai dặm. Khi nghe lời bá cáo, không có đến một
người dám đứng lên làm ác giới ác hạnh.
Suốt thời gian Bồ-tát trị vì
quốc độ như vậy, không một ai phạm pháp. Bồ tát không
làm phiền não một ai, khiến toàn thể nhân dân trong nước
gìn giữ giới luật, tự mình làm các công đức như bố thí...
cho đến khi mạng chung, ngài mang theo hội chúng của mình đi
đến và tràn ngập cả thành phố chư Thiên.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Như Lai sống đem lại lợi ích cho đời, thuở trước
Như Lai cũng đã làm như vậy.
Sau khi thuyết pháp thoại này
xong, và kết hợp hai câu chuyện, bậc Ðạo Sư nhận diện
Tiền thân như sau:
- Thời ấy, quần thần là hội
chứng đức Phật và vua Ba-la-nại là Ta vậy.