PHẨM
ASAMPADÀNA
131. CHUYỆN
KẺ VONG ÂN (Tiền thân Asampadàna)
Nếu người này người kia
...
Câu chuyện này, khi ở tại Trúc
Lâm, bậc Đạo sư kể về Đề-bà-đạt-đa. Lúc bấy giờ,
các Tỳ kheo tại Chánh pháp đường, khởi lên câu chuyện
:
- Thứa các Hiền giả, Đề-bà-đạt-đa
không biết ơn, không biết công đức của Như Lai.
Bậc Đạo Sư đi đến và hỏi
:
- Này các Tỷ kheo, nay các ông
ngồi họp ở đây bàn vấn đề gì ?
Khi được nghe vấn đề ấy,
bấc Đạo Sư nói :
- Này các Tỷ kheo, không phải
chỉ nay Đề-bà-đạt-đa mới vô ơn. Trong qúa khứ, kẻ ấy
cũng đã vô ơn như vậy rồi.
Nói xong bậc Đạo Sư kể câu
chuyện qúa khứ.
*
Thuở xưa, trong nước Ma-kiệt-đà
ở Vương Xá, khi một vị vua Ma-kiệt-đà đang trị vì, Bồ-tát
là một vị triệu phú có gia sản trị giá tám trăm triệu,
tên là Sankha. Tại Ba-la-nại, một triệu phú tên là Piliya
cũng có gia sản trị giá tám trăm triệu. Hai vị ấy là bạn
thân với nhau. Trong thời ấy, vì một lý do nào đó, triệu
phú Piliya gặp đại nạn và tất cả gia sản đều bị mất
sạch. Trở thành nghèo túng, không nơi nương tựa, Piliya đoán
biết triệu phú Sankha là chỗ có thể nhờ cậy được liền
đem vợ ra khỏi Ba-la-nại, đi bộ đến Vương Xá tận trú
xứ của triệu phú Sankha. Khi triệu phú Sankha thấy Piliya,
liền ra đón và nói:
- OÀ bạn thân của tôi đã đến.
- Và ông đối xử với bạn rất
kính trọng. Sau khi để cho bạn ở vài ngày, một hôm ông
hỏi:
- Này bạn, bạn đến có mục đích
gì?
- Này bạn, đại nạn đã xảy đến
cho tôi. Tất cả tài sản đều mất sạch. Hãy giúp đỡ tôi!
- Lành thay này bạn, chớ sợ hãi.
Sankha mở kho bạc, cho bạn bốn
trăm triệu đồng tiền vàng, rồi chia tất cả gia sản còn
lại của mình, kể cả vật nổi, vật chìm, động sản, bất
động sản, thành hai phần và cho bạn một nửa. Piliya đem
tài sản ấy đi về Ba-la-nại và sống tại đấy.
Sau một thời gian, một tai nạn
tương tự đến với triệu phú Sankha. Ông tìm chỗ để nương
tựa và suy nghĩ: "Ta đã giúp đỡ rất nhiều cho bạn ta. Ta
cho bạn nửa gia sản. Thấy ta, bạn sẽ không từ chối. Ta
hãy đi đến bạn của ta". Nghĩ vậy, hai vợ chồng ông đi
đến Ba-la-nại, rồi Sankha nói với vợ:
- Này hiền thê, thật không thích
hợp nếu bà đi bộ với tôi giữa đường xa thế này. Bà
hãy đi đến sau. Tối nay tôi sẽ cho xe đến với một người
tùy tùng để đưa bà vào thành cho đúng phép, hãy chờ tại
đây.
Sau đó, Sankha để người vợ ở
trong một nhà trọ, tự mình đi vào thành, đến nhà triệu
phú và báo tin cho biết:
- Bạn của ngài tên là triệu phú
Sankha đã từ Vương Xá đến.
Khi thấy Sankha, Piliya từ ghế đứng
dậy, không đón mừng thân mật, chỉ hỏi:
- Bạn đến đây có mục đích gì?
- Tôi đến để thăm bạn.
- Hiện nay bạn ở đâu?
- Cho đến nay, tôi chưa có chỗ
ở. Tôi để vợ tôi tại nhà trọ và đến đây.
- Ở đây, không có chỗ ở cho bạn.
Hãy lấy một ít gạo, nấu tại một chỗ nào đó, ăn xong
rồi đi. Ðừng để tôi thấy mặt bạn nữa.
Rồi ông sai một người nô lệ:
- Hãy cho bạn ta một lon gạo có
nhiều trấu và gói vào một góc vải.
Người ta nghe rằng ngày trước
đó nó đã có được gạo đỏ tốt chở đầy một ngàn cỗ
xe và sau khi cho sàng gạo, đã chất đầy kho. Tên Piliya ngày
trước đã được bạn cho bốn trăm triệu đồng tài sản
và đi về không biết ơn, nay tên đại cướp chỉ cho bạn
ân nhân một lon gạo nhiều trấu! Theo lệnh chủ, người nô
lệ đong một lon gạo trấu trong một cái giỏ rồi đi đến
Bồ-tát. Bồ-tát suy nghĩ: "Con người phi nhân nghĩa này, được
ta cho bốn trăm triệu đồng, nay chỉ cho ta một lon gạo trấu,
không biết ta có nên nhận hay không?". Rồi Bồ-tát suy nghĩ:
"Người bạn ác vô ơn này đã phá vỡ tình bạn với ta, khi
ta gặp nạn. Nếu ta không nhận lon gạo trấu quá ít, ta sẽ
phá vỡ tình bạn. Kẻ mù loà ngu si không nhận vật cho ít
ỏi, sẽ phá hoại tình bạn. Nhưng ta, nhờ chế ngự được
cơn giận vì lon gạo trấu do nó cho, sẽ duy trì được tình
bạn".
Do vậy Sankha cột vào vạt áo lon
gạo được cho và từ lâu đài bước xuống đi đến nhà
trọ. Vợ Sankha hỏi:
- Này ông, ông nhận được gì?
- Này hiền thê, triệu phú Piliya,
bạn của chúng ta, đã cho một lon gạo trấu và đuổi chúng
ta đi.
Bà vợ nói:
- Vì sao ông lại nhận ? Và nào
có xứng đáng gì với bốn trăm triệu đồng tài sản?
Rồi bà vợ khóc, Bồ-tát nói:
- Này hiền thê, chớ khóc. Vì sợ
phá vỡ tình bạn nên ta nhận để duy trì tình bạn. Sao bà
lại sầu muộn?
Nói xong Bồ-tát đọc bài kệ này:
Nếu người này người kia
Không có cho chút gì.
Với kẻ ngu si, tình bạn
Ði đến chỗ tối đen
Do vậy ta vẫn nhận
Lượng được nửa phần trấu.
Ta không để tình bạn
Vì ta bị hủy diệt,
Ta muốn tình bạn này
Mãi mãi được trường cửu.
Tuy nghe nói vậy, bà vợ triệu phú
vẫn khóc. Trong lúc ấy, một người nô lệ do triệu phú Sankha
đã cho triệu phú Piliya, đi ngang qua cửa trọ, nghe tiếng khóc
của bà triệu phú, liền đi vào nhà trọ. Thấy ông bà chủ
của mình, anh ta đảnh lễ dưới chân họ, khóc than và hỏi:
- Thưa ông bà chủ, ông chủ đến
đây có việc gì?
Triệu phú kể lại tất cả sự
việc. Người nô lệ nói:
- Thưa ông bà chủ, hãy để sự
việc như vậy. Chớ lo nghĩ.
Sau khi an ủi cả hai người, anh
ta đưa họ về nhà mình dùng nước thơm để hai người tắm
rửa, mời họ ăn cơm và tin cho các người nô lệ khác biết:
- Ông chủ bà chủ cũ của các bạn
đã đến.
Và anh ta bảo họ đến thăm. Một
vài ngày sau, anh ta họp toàn thể nô lệ cùng đi đến sân
chầu vua, tạo ra tiếng vang lớn. Vua cho gọi họ vào và hỏi
có việc gì. Họ trình lên vua hết tất cả sự việc. Vua
nghe lời của họ xong, liền cho mời hai vợ chồng triệu phú
đến và hỏi triệu phú Sankha:
- Có đúng sự thật chăng, này đại
triệu phú, khanh đã cho triệu phú Piliya bốn trăm triệu đồng
tiền vàng?
- Thưa Ðại vương, khi bạn tôi
đi đến Vương Xá, và đặt lòng tin vào tôi, tôi không cho
toàn thể tài sản của tôi, nhưng tôi chia tất cả động
sản và bất động sản của tôi thành hai phần đồng đều
và cho bạn tôi một nửa.
Vua hỏi triệu phú Piliya:
- Có đúng sự thật chăng?
Piliya trả lời:
- Thưa Ðại vương, đúng sự thật.
- Còn khi bạn của ngươi đến đặt
lòng tin vào ngươi, ngươi có lòng cung kính tôn trọng bạn
ngươi không?
Piliya im lặng.
- Có phải ngươi bảo đổ một
lon gạo trấu vào một góc áo và cho bạn của ngươi chăng?
Nghe nói vậy Piliya vẫn giữ im lặng.
Sau đó, nhà vua hỏi ý kiến các đình thần nên xử trí thế
nào. Cuối cùng, khi quyết định xong, vua ra lệnh:
- Hãy đi lấy tất cả tài sản
trong nhà của triệu phú Piliya giao cho triệu phú Sankha.
Bồ-tát thưa:
- Tâu Ðại vương, tôi không muốn
gia sản của người khác, tôi chỉ xin nhận tài sản trước
đây tôi đã cho.
Nhà vua giao gia sản theo yêu cầu
của Bồ-tát. Sau khi nhận lại gia sản mình đã cho, Bồ-tát
cùng với đoàn nô lệ vây quanh đi về Vương Xá, gầy dựng
cơ nghiệp, và trọn đời làm các công đức như bố thí v.v...,
rồi đi theo nghiệp của mình.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, triệu phú Piliya
là Ðề-bà-đạt-đa, còn triệu phú Sankha là Ta vậy.
-ooOoo-
132- CHUYỆN
NGŨ DỤC LẠC (Tiền thân Pancagaru)
Nghe theo lời khuyên tốt ...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư kể về sự cám dỗ của các cô gái của
Ma vương (Màra) tại cây bàng Ajapàla của Người chăn dê.
Bậc Ðạo Sư đọc bài kinh bắt
đầu với những lời này:
Rực rỡ sáng, chúng đến,
Ái, bất lạc và tham,
Ngay tại đấy, Ðạo Sư
Thổi chúng bay tán loạn,
Chẳng khác bay tán loạn,
Chẳng khác gì bông rơi,
Tan tác trước gió thổi!
Sau khi Thế Tôn đọc xong bài kinh,
các Tỷ-kheo họp tại Chánh pháp đường, bắt đầu câu chuyện:
- Thưa các Hiền giả, trong khi
các con gái của Màra tự tạo ra hàng trăm thiên sắc đi đến
với mục đích, cám dỗ, bậc Chánh đẳng giác vẫn không
thèm mở mắt để nhìn. Ôi, Phật lực thật là vi diệu!
Bậc Ðạo Sư đi đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông ngồi
họp ở đây và bàn vấn đề gì?
Khi nghe vấn đề ấy, bậc Ðạo
Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, thật không
có gì vi diệu nếu Ta không nhìn các con gái của Màra, khi
Ta đã chứng được Toàn Giác và đoạn tận tất cả các
lậu hoặc. Trong thời quá khứ, khi Ta đang tìm đạo Bồ-đề,
khi đang còn các kiết sử, Ta đã cương quyết không nhìn các
thiên sắc hóa hiện đến như vậy và do sự chế ngự ấy,
Ta đã đạt được đại vương quốc.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là em trai út của một gia đình có
một trăm anh em. Tất cả câu chuyện mạo hiểm của ngài cần
được diễn tả đầy đủ ở đây cũng như ở Tiền thân
Telapatta (số 96). Lúc bấy giờ dân chúng trú ở thành Takkasilà
dâng vương quốc cho Bồ-tát đang ở nhà trọ ngoài thành.
và sau khi ngài được làm lễ quán đảnh phong vương, dân
chúng trang hoàng thành phố như thành phố chư Thiên và trang
hoàng cung điện của vua như cung điện của Thiên chủ Indra
(tức là Sakka hay Ðế Thích).
Khi ấy Bồ-tát vào thành, đi ngang
qua hành lang lớn trong cung vua, ngự lên vương tọa làm bằng
châu báu vi diệu, dưới một lọng trắng được giương cao,
và ngồi xuống với vẻ đẹp siêu phàm của vị Thiên chủ.
Các đại thần, Bà-la-môn, gia chủ
v.v... các hoàng tử trong vương tộc, tất cả đều trang sức
lộng lẫy, đứng bao vây xung quanh. Trong khi ấy mười sáu
ngàn vũ nữ, đẹp như các Thiên nữ, rất giỏi về đàn múa,
hát, đầy đủ sắc đẹp tuyệt trần, biễu diễn các điệu
múa, các bài hát và các loại đàn, cho đến khi toàn cung điện
vang dội tiếng hát, tiếng đàn, giống như lòng đại dương
vang dội tiếng sấm sét. Bồ-tát ngồi nhìn cảnh huy hoàng
lộng lẫy của mình, và suy nghĩ: "Nếu ta nhìn thiên sắc huyễn
hóa của các nữ Dạ-xoa ấy, thì ta đã mệnh chung rồi. Nhờ
ta không nhìn chúng, nên mới có cảnh huy hoàng lộng lẫy này.
Nhờ nghe theo lời khuyên của các vị Ðộc Giác Phật, nên
ta mới đạt được kết quả này". Sau khi suy nghĩ như vậy,
ngài nói lên lời cảm hứng với bài kệ:
Nghe theo lời khuyên tốt,
Kiên trì, không lay động,
Tiếp tục con đường,
Không có gì sợ hãi.
Ta không muốn đi vào
Chỗ cám dỗ Dạ-xoa,
Nên ta được an toàn,
Khỏi sự sợ hãi lớn.
Như vậy, bậc Ðại Sĩ thuyết pháp
với bài kệ này, rồi ngài trị vì quốc độ đúng pháp,
và trọn đời làm các công đức như bố thí v.v... cho đến
khi mạng chung, ngài đi theo nghiệp của mình.
*
Sau khi kể pháp thoại này xong,
bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Ta là hoàng tử
đi đến Takkasilà và đạt được vương quốc.
-ooOoo-
133. CHUYỆN
LỬA CHÁY (Tiền thân Ghatàsana)
Tại chỗ được an ổn ...,
Câu chuyện này, khi tại Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một vị Tỷ-kheo. Tỷ-kheo này lấy một
đề tài thiền quán từ bậc Ðạo Sư, đi đến biên địa
an cư mùa mưa tại một trú xứ trong rừng gần một ngôi làng
nhỏ. Trong tháng đầu, khi đi vào làng khất thực, cái chòi
lá bị cháy, bị mệt mỏi vì không có chỗ trú ẩn, Tỷ-kheo
nói cho các vị hộ trì biết, họ đáp:
- Thưa Tôn giả, hãy yên tâm.
Chúng tôi sẽ làm chòi lá lại cho Tôn giả.
Ban đầu họ đến nói vậy, nhưng
ba tháng đã trôi qua, họ vẫn chưa làm. Vì không có trú xứ
thích hợp, Tỷ-kheo ấy không đạt được kết quả đề tài
thiền quán. Ngay cả một tia ánh sáng cũng không khởi lên
cho vị ấy.
Khi an cư mùa mưa xong, vị ấy
đi đến Kỳ Viên đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một
bên. Bậc Ðạo Sư tiếp đón Tỷ-kheo ấy thân mật và hỏi:
- Này Tỷ-kheo, đề tài thiền
quán của ông có thích hợp không?
Tỷ-kheo ấy trình lên Thế Tôn
biết về trú xứ của mình. Bậc Ðạo Sư nói:
- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo,
ngay các loài bàng sanh cũng đã biết được trú xứ của mình,
khi thích hợp thì chúng sống, khi không thích hợp thì chúng
từ bỏ trú xứ ấy đi đến chỗ khác trước khi trú xứ
an lạc của chúng trở thành nguy hiểm. Và nếu loại bàng
sanh cũng đã biết như vậy, vì sao ông lại không biết trú
xứ thích hợp hay không thích hợp cho mình?
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu,
bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh làm con chim. Khi đến tuổi trưởng
thành, đạt được dung sắc tối thượng, làm vua các loài
chim, ở lại trong rừng, sống với đàn chim tùy tùng, nương
tựa một cây lớn. Cây ấy có nhiều lá sum suê, với các
cành lá vươn ra trên một hồ nước, và nhiều con chim sống
trên các cành cây làm cho phân rơi trong nước.
Bấy giờ có con rắn chúa tên Canada
sống trong hồ nước ấy. Nó suy nghĩ: "Những con chim này làm
rơi phân trong hồ nước của ta. Vậy ta hãy làm cho lửa từ
trong nước cháy lên thiêu rụi cây và đuổi chúng đi". Trong
cơn nóng giận, con rắn chúa đợi ban đêm trong khi tất cả
đàn chim đang nằm ngủ. đầu tiên nó làm cho nước hồ sôi;
kế đó làm cho khói bốc lên và phun cao hơn cây thốt nốt.
Bồ-tát thấy lửa từ nước phun lên, liền gọi bầy chim:
- Này các bạn chim, nước thường
hay dập tắt lửa. Nay chính nước đốt cháy. Chúng ta không
thể ở đây được. Chúng ta sẽ đi tìm chỗ khác.
Nói xong, Bồ-tát đọc bài kệ:
Nơi chốn được an ổn,
Tại đấy, rắn nổi lên,
Chính ở giữa lòng nước,
Lửa từ đấy cháy lên,
Nay không nên trú ở
Tại cây mọc trên đất,
Hãy bay tản các phương,
Hồ này rất đáng sợ.
Sau đó, Bồ-tát đem các con chim nghe
theo mình bay đi tìm chỗ khác. Còn những con chim không nghe
lời Bồ-tát vẫn ở lại, đều bị thiêu cháy.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư giảng Bốn sự thật. Cuối bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo
chứng đắc quả A-la-hán và Ngài nhận diện tiền thân:
- Lúc bấy giờ mấy con chim nghe
theo lời Bồ-tát là hội chúng của Ðức Phật, còn vua loài
chim là Ta vậy.
-ooOoo-
134. CHUYỆN
THIỀN QUÁN (Tiền thân Thànasodhana)
Những ai còn có tưởng ...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư kể về lời giải thích rộng rãi của
vị Tướng quân Chánh pháp Xá-lợi-phất (Sariputta), tại cửa
thành Sankassa liên hệ đến một vấn đề do bậc Ðại Sư
thuyết giảng vắn tắt. Câu chuyện quá khứ được kể như
sau:
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát mệnh chung ở trong rừng đã nói:
- Phi tưởng phi phi tưởng.
Các vị tu khổ hạnh không tin lời
giải thích của vị đệ tử đầu tay về lời dạy của vị
Ðạo Sư. Vì vậy Bồ-tát từ cõi trời Quang âm trở về,
và đứng trên hư không đọc lên bài kệ này:
Những ai còn có tưởng,
Chúng cũng đi ác thú;
Những ai không có tưởng,
Chúng cũng đi ác thú,
Hãy từ bỏ cả hai,
Ðạt được lạc thiền chứng,
Không còn các uế nhiễm.
Như vậy Bồ-tát thuyết pháp, tán
thán vị đệ tử của ngài và đi lên cõi Phạm Thiên. Khi
ấy, các vị tu hành khổ hạnh còn lại đã tin vị đệ tử
đầu tay.
*
Sau khi kể pháp thoại, bậc Ðạo
Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ vị đệ tử đầu
tiên là Xá-lợi-phất, còn vị đại Phạm Thiên là Ta vậy.
-ooOoo-
135. CHUYỆN
NGUYỆT QUANG (Tiền thân Candàbha)
Nguyệt quang và nhật quang ...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về lời giải thích một vấn đề của
trưởng lão Xá-lợi-phất tại cửa thành Sankassa.
*
Thuở trước, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát vào lúc mệnh chung ở trong rừng,
đã trả lời các câu hỏi của các đệ tử với các chữ:
"ánh sáng của mặt trăng, ánh sáng của mặt trời", nói xong,
ngài sanh lên Quang âm thiên.
Bấy giờ vị đệ tử đầu tay
giải thích lời của bậc Ðạo Sư, các vị khổ hạnh không
tin tưởng vị ấy. Cho nên sau đó, Bồ-tát từ Quang âm thiên
xuất hiện xuống, đứng trên hư không và đọc lên bài kệ:
Nguyệt quang và nhật quang,
Ai tu với trí tuệ
Với thiền không tầm này,
Ðược sanh Quang âm thiên.
Như vậy, Bồ-tát dạy cho các vị
tu khổ hạnh hiểu và tán thán đức hạnh của vị đệ tử
đầu tay, rồi trở lại cõi Phạm Thiên.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vị đệ tử
đầu tay là Xá-lợi-phất, còn đại Phạm Thiên là Ta vậy.
-ooOoo-
136. CHUYỆN
THIÊN NGA VÀNG (Tiền thân Suvannahamsa)
Ðược gì, hãy biết là đủ
...,
Câu chuyện này, khi trú ở Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư kể về Tỷ-kheo-ni Thhullanandà (Nandà Mập).
Một nam cư sĩ ở Xá Vệ muốn cúng dường tỏi cho chúng Tỷ-kheo-ni
bảo người giữ ruộng:
- Khi nào các Tỷ-kheo-ni đến,
hãy cho mỗi Tỷ-kheo-ni hai hay ba nhánh tỏi.
Từ khi ấy trở đi, các Tỷ-kheo-ni
thường đi đến nhà người ấy, hay ra đồng ruộng để lấy
tỏi, Một hôm, vào một ngày lễ, trong nhà người ấy tỏi
không còn nữa. Tỷ-kheo-ni Thullanandà đến nhà người ấy
với một số tùy tùng và hỏi:
- Thưa ông có tỏi không?
- Thưa ni sư, tôi không có. Tỏi
đem về đủ dùng hết rồi. Ni sư hãy đi ra ngoài đồng.
Nghe nói vậy, Thullanandà đi ra
ngoài đồng, không chế ngự được lòng tham, đã mang tỏi
về quá nhiều. Ngưòi giữ ruộng tức giận:
- Vì sao các Tỷ-kheo-ni không biết
vừa đủ, đem tỏi đi quá nhiều vậy?
Nghe nói vậy, các Tỷ-kheo-ni thiểu
dục cũng bực bội phiền muộn; và các Tỷ-kheo ở nhà nghe
các Tỷ-kheo-ni ấy nói cũng bực bội và phiền muộn không
kém. Sự phiền muộn của chư Ni được các Tỷ-kheo trình
lên Thế Tôn rõ. Thế Tôn phê bình Tỷ-kheo-ni Thullanandà và
nói:
- Này các Tỷ-kheo, một người
có lòng dục lớn xử sự không thân ái, không làm vừa ý
ngay cả mẹ sanh ra mình, không gây được lòng tin đối với
những người chưa tin, không thể làm tăng trưởng lòng tin
của những người đã có lòng tin; không tạo nên các lợi
dưỡng chưa được tạo nên. Và đối với lợi dưỡng đã
có rồi, cũng không thể duy trì được. Còn người ít dục
có thể làm khởi lên lòng tin ở người chưa có lòng tin,
có thể làm tăng trưởng lòng tin với những người đã có
lòng tin, tạo nên các lợi dưỡng chưa được tạo nên, và
đối với lợi dưỡng đã có rồi vẫn có thể duy trì được.
Với phương pháp ấy, bậc Ðạo
Sư thuyết giáo thích hợp cho các Tỷ-kheo ấy và nói:
- Này các Tỷ-kheo không phải
chỉ nay Thullanada mới có tham dục lớn, trong quá khứ Thullanandà
cũng đã có lòng dục lớn như vậy rồi.
Nói vây xong, bậc Ðạo Sư kể
chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn.
Khi đến tuổi trưởng thành, họ cưới cho Bồ-tát một người
vợ từ một gia đình ngang hàng. Với người vợ ấy, Bồ-tát
có được ba con gái đều tên là Nandà. Khi Bồ-tát mệnh chung,
vợ và các con gái phải đi đến ở với các gia đình khác.
Bồ-tát tái sanh làm con ngỗng trời
vàng có trí nhớ được các đời trước. Khi con ngỗng trời
vàng đến tuổi trưởng thành, thấy thân thể to lớn của
mình, với lông vàng che thân, với sắc đẹp tuyệt trần,
nó hướng tâm tìm hiểu: "Ta từ đâu mạng chung mà đến đây?"
Biết được mình từ loài người
đến, Bồ-tát hiểu: "Nay nữ Bà-la-môn và các con gái ta ở
đâu?". Ðược biết họ đang làm thuê cho người khác và sống
một cách khó khăn, Bồ-tát suy nghĩ: "Trong các lông bằng vàng
trên thân ta hiện nay, nếu ta cho họ một cái lông bằng vàng
của ta, thì với lông vàng ấy, vợ và các con gái ta sẽ sống
hạnh phúc". Vì vậy, Bồ-tát đi đến chỗ họ ở và đậu
trên cây xà ngang chính. Nữ Bà-la-môn và các con gái thấy
Bồ-tát, liền hỏi:
- Thưa ngài, ngài từ đâu đến?
Bồ-tát trả lời:
- Ta là cha các con. Ta mệnh chung
được sanh làm con ngỗng trời vàng. Ta đến để thăm các
con. Bắt đầu từ nay các con không còn phải làm thuê cho người
khác và sống một cách khổ sở như vậy nữa. Ta sẽ cho các
con mỗi lần môt cái lông vàng của ta. Các con bán lông ấy
và sống hạnh phúc.
Nói xong, Bồ-tát cho họ một cái
lông vàng và bay đi. Từ đó với cách thức này, Bồ-tát tiếp
tục đi đến và mỗi lần cho họ một cái lông vàng. Và các
nữ Bà-la-môn được sống sung túc và hạnh phúc. Một hôm,
nữ Bà-la-môn nói với các con gái:
- Này các con, tâm của loài súc
sanh khó mà tin được. Một ngày nào đó, cha các con có thể
không đến đây, vậy khi nào cha các con đến, chúng ta hãy
nhổ tất cả lông vàng và lấy các lông ấy để dành.
Các cô gái không chịu, liền nói:
- Làm như vậy cha chúng con sẽ đau
đớn.
Tuy vậy nữ Bà-la-môn, vì lòng ham
muốn quá lớn, một hôm, thấy con ngỗng trời vàng đến,
bà kêu con ngỗng đến gần bà, với hai tay bắt giữ ngỗng
và nhổ tất cả lông. Nhưng các lông của Bồ-tát có đặc
điểm là nếu bị nhổ lên bằng sức mạnh ngoài ý muốn
của mình, thì chúng trở thành như lông con cò thường. Bấy
giờ Bồ-tát xòe hai cánh ra, nhưng không có thể bay được.
Nữ Bà-la-môn quăng Bồ-tát vào một cái thùng lớn và cho
Bồ-tát ăn ở đấy. Theo thời gian, các lông của Bồ-tát
được mọc lên, nhưng chúng toàn màu trắng. Với cánh được
mọc lại, Bồ-tát về chỗ ở của mình, và không bao giờ
trở lại nữa.
*
Sau khi kể câu chuyện quá khứ
này, bậc Ðạo Sư lại nói:
- Này các Tỷ-kheo, Thullanandà
không phải nay mới có ham muốn lớn. Thuở trước nàng cũng
có ham muốn lớn rồi. Lòng ham muốn lớn của nàng lúc ấy
làm cho nàng mất vàng, cũng như lòng ham muốn lớn của nàng
hôm nay làm cho nàng mất tỏi. Cũng như Thullanandà, chính vì
nàng, chúng Tỷ-kheo còn lại không được tỏi. Do vậy, nếu
được nhiều, phải biết lượng vừa đủ; nếu được ít,
phải bằng lòng với đồ nhận được. Chớ mong mỏi nhiều
hơn.
Rồi bậc Ðạo Sư đọc bài kệ:
Ðược gì, hãy biết đủ,
Quá tham là ác pháp,
Do bắt chúa ngỗng trời,
Bao nhiêu vàng tiêu hết.
Nói xong, bậc Ðạo Sư dùng nhiều
phương tiện chỉ trích rồi đặt ra học giới: "Tỷ-kheo-ni
nào ăn tỏi, phải bị tội đọa địa ngục".
Nói xong pháp thoại, bậc Ðạo
Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn
là Thullanandà, ba người con gái ấy là ba chị em của nàng,
và con ngỗng trời vàng là Ta vậy. (Câu chuyện này được
nói đến trong Luật tạng, tập IV).
-ooOoo-
137. CHUYỆN
CON MÈO (Tiền thân Babbu)
Tại chỗ, cho một mèo...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư kể về một học giới liên hệ đến
mẹ của Kànà. Ở Xá-vệ có một nữ cư sĩ, được biết
qua người con gái, tên là Kànàmata (mẹ của Kànà). Nữ cư
sĩ này đã chứng quả Dự lưu, một Thánh đệ tử. Bà gả
con gái cho một người đàn ông đồng giai cấp thọ sanh tại
một ngôi làng khác. Vì một vài công việc, Kànà đi đến
nhà mẹ. Chồng của Kànà, sau một vài ngày, sai một người
đưa tin rằng chàng muốn Kànà hãy về. Kànà nghe lời đưa
tin, hỏi mẹ:
- Thưa mẹ, con có nên đi về
ngay không?
Bà mẹ nói:
- Con ở đây lâu như vậy, sao
con có thể về tay không?
Rồi bà mẹ bắt đầu làm bánh.
Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo khất thực đi đến nhà nữ cư
sĩ ấy. Bà mời vị ấy ngồi, và cúng dường bánh đầy bát.
Vị ấy ra đi, lại nói với một người khác đến khất thực,
và bà mẹ cũng cúng dường người ấy như vậy. Vị ấy ra
đi lại nói với một người khác nữa, và bà mẹ cúng dường,
cho đến bốn người cùng được cúng dường như vậy. Vì
vậy, bánh được làm ra đều hết sạch. Và Kànà gửi người
đưa tin thứ hai, rồi thứ ba. Ðến lần gửi người đưa
tin thứ ba, người chồng nhắn: Nếu nàng không về, ta sẽ
lấy vợ khác.
Lần thứ ba cũng vì lý do ấy,
Kànà không đi về được. Chồng Kànà lấy một người vợ
khác. Kànà nghe tin ấy liền đứng khóc.
Bậc Ðạo Sư biết được nguyên
do, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nhà mẹ của
Kànà, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn và hỏi mẹ của Kànà:
- Vì sao, Kànà này lại khóc?
Khi được nghe nói lý do, bậc
Ðạo Sư an ủi mẹ của Kànà, thuyết pháp thoại xong, từ
chỗ đứng dậy và đi về tinh xá. Câu chuyện bốn Tỷ-kheo,
ba lần nhận lấy bánh ở nhà mẹ Kànà vô tình ngăn chận
việc Kànà đi về, được chúng Tỷ-kheo biết đến. Một
hôm, các Tỷ-kheo, họp tại Chánh pháp đường, bắt đầu
nói chuyện:
- Này các Hiền giả, bốn Tỷ-kheo
trong ba lần ăn bánh do mẹ của Kànà nấu đã làm trở ngại
việc Kànà đi về, do nguyên nhân ấy, người con gái bị chồng
ruồng bỏ, khiến cho đại nữ cư sĩ sầu muộn.
Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, nay các ông
ngồi họp tại đây đang bàn vấn đề gì?
Khi được nghe vấn đề trên,
bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay bốn Tỷ-kheo mới ăn tài vật của mẹ Kànà, khiến
bà ấy sinh sầu muộn. Thuở trước, họ cũng đã làm như
vậy rồi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình một người
thợ đẽo đá và khi đến tuổi trưởng thành, trở thành
tinh xảo trong nghề. Trong nước Kàsi, tại một thị trấn,
có một nhà triệu phú rất giàu. Số tiền cất giữ lên đến
bốn trăm triệu đồng tiên vàng. Vợ vị triệu phú mệnh
chung, và vì quá luyến ái tài sản nên tái sanh làm con chuột
sống trên đống tài sản. Như vậy, dần dần tất cả gia
đình đi đến hủy diệt. Người chồng cũng chết. Ngôi làng
trở thành hoang phế và vắng người.
Lúc ấy Bồ-tát đang đào và đẻo
dá tại ngôi làng cũ. Rồi con chuột ấy đi tìm đồ ăn, thấy
Bồ-tát nhiều lần, khởi lên tâm luyến ái, nghĩ như sau:
"Tài sản lớn của ta vô cớ bị hủy diệt. Ta sẽ ăn tiêu
tài sản cùng chung với người nầy!". Nghĩ vậy, một hôm
nó ngậm trong miệng một đồng tiền vàng và đi đến Bồ-tát,
Bồ-tát thấy nó, liền nói lên lời thân ái:
- Này bạn, có gì khiến bạn đến
đây với đồng tiền vàng?
- Này ông chủ, tiền này để ông
chủ tiêu dùng cho mình và đem thịt cho ta.
Bồ-tát chấp nhận nói:
- Tốt lắm!
Rối lấy đồng tiền vàng đi về
nhà, dùng một nửa mua thịt và đem đến cho con chuột. Con
chuột lấy thịt đem về hang của mình và ăn thật thỏa thích.
Từ đấy trở đi, với cách thức này, hằng ngày nó đem đến
cho Bồ-tát một đồng tiền vàng, và Bồ-tát lại cung cấp
thịt cho nó. Một hôm con chuột bị một con mèo bắt được.
Nó nói:
- Này bạn, chớ giết ta.
- Vì sao? Ta nay đang đói muốn ăn
thịt. Ta không thể không giết mầy được.
- Trước hết hãy nói cho ta biết
ngày nào bạn cũng đói hay chỉ đói hôm nay thôi.
- Ồ ngày nào ta cũng đói cả.
- Vậy nếu bạn muốn ăn thịt hằng
ngày, xin hãy thả ta ra.
Con mèo nói:
- Mầy nhớ đấy.
Và nó thả con chuột ra. Từ đấy
trở đi, con chuột chia thành hai phần thịt, một phần cho
nó, một phần cho con mèo. Một ngày kia, nó bị một con mèo
khác bắt, nó cũng hứa tương tự và được thả ra. Từ đấy
trở đi chúng chia thịt thành bốn phần, và chúng ăn. Rồi
một con mèo khác bắt nó, nó cũng hứa tương tự và được
thả ra. Giữ lời hứa, chúng chia thịt thành năm phần và
ăn. Con chuột, vì ăn ít, bị mệt mỏi và trở thành ốm yếu,
gầy còm. Bồ-tát thấy con chuột như vậy, bèn hỏi: - Này
bạn, sao bạn ốm yếu thế?
Khi được biết lý do, Bồ-tát nói:
- Lâu nay sao bạn không nói với
tôi? Ở đây, tôi sẽ biết việc gì nên làm.
Bồ-tát an ủi con chuột, rồi làm
một cái hang bằng đá pha lê trong suốt, đem đến và nói
với con chuột:
_ Này bạn, hãy vào trong hang này
mà nằm. Với những ai đến đấy, hãy dọa nạt chúng với
những lời thật là ác độc.
Con chuột vào trong hang nằm. Rồi
một con mèo đến và nói:
- Hãy đem thịt cho ta.
Con chuột nói với nó:
- Ôi con mèo độc ác kia, sao ta lại
đem thịt cho mầy? Hãy về ăn thịt các con mèo con của mầy
đi!
Con mèo không biết con chuột nằm
trong hang bằng pha lê, quá tức giận, liền dùng sức mạnh
nhảy đến để bắt con chuột, quả tim nó đập mạnh vào
cái hang bằng pha lê, bị vỡ khiến hai con mắt lồi ra. Như
vậy, con mèo chết và rơi xuống tại một chỗ kín. Cũng với
cách thức ấy, bốn con mèo đều chết.
Từ đấy trở đi, con chuột không
còn sợ hãi nữa và hằng ngày đem cho Bồ-tát hai ba đồng
tiền vàng. Như vậy dần dần nó cho Bồ-tát tất cả tài
sản. Cả hai sống với nhau cho đến trọn đời với tình
thân ái không chia rẽ, rồi khi mạng chung đi theo nghiệp của
mình.
Khi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ này xong, với danh nghĩa bậc Chánh Ðẳng Giác, Ngài
nói lên bài kệ:
Tại chỗ cho một mèo,
Mèo thứ hai hiện ra,
Rồi mèo thứ ba, bốn,
Tất cả con mèo chết,
Vì chạm hang gương này.
*
Sau khi bậc Ðạo Sư kể pháp
thoại này, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, bốn con mèo là
bốn Tỷ-kheo ấy, con chuột là mẹ của Kànà, và người thợ
đẽo đá là Ta vậy.
-ooOoo-
138. CHUYỆN
CON CẮC KÈ (Tiền thân Godha)
Kẻ ngu có ích gì...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
viên, bậc Ðạo Sư kể về một người lừa đảo. Các chi
tiết câu chuyện cũng giống như Tiền thân Bilàra số 128.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con cắc kè. Lúc bấy giờ
một vị tu khổ hạnh chứng được năm Thắng trí, sống trong
một chòi lá tại một khu rừng, gần một ngôi làng ở biên
địa. Những người làng hầu hạ vị tu khổ hạnh rất kính
trọng vị ấy. Bồ-tát sống trong một gò mối tại cuối
con đường đi kinh hành của vị tu hành. Sống tại đây, Bồ-tát
hằng ngày hai ba lần đi đến vị tu khổ hạnh, nghe những
lời liên hệ đến pháp, liên hệ đến nghĩa, và đảnh lễ
vị tu khổ hạnh rồi đi về trú xứ của mình.
Sau một thời gian, vị tu khổ hạnh
ấy báo tin cho những người trong làng biết mình sẽ ra đi.
Khi vị tu khổ hạnh có giới đức này ra đi, một vị tu khổ
hạnh giả dối đến ở tại am thất ấy. Bồ-tát suy nghĩ:
"Ðây là vị có giới hạnh" và cũng đi đến vị ấy với
cách thức như trước. Một hôm, trong mùa nắng hạn, một
cơn dông trái mùa khởi lên, những con kiến mối từ những
gò mối bò ra; và các con cắc kè cũng bò ra để ăn chúng.
Những người trong làng đi ra bắt nhiều con cắc kè, nấu
chúng, xào trộn chua ngọt rồi cúng đường cho vị tu khổ
hạnh. Vị tu khổ hạnh ăn thịt cắc kè, tham đắm vị ngon,
liền hỏi:
- Món thịt thật là ngon ngọt, đó
là thịt gì vậy?
Khi được trả lời là thịt cắc
kè, vị ấy suy nghĩ: "Có con cắc kè lớn thường đến với
ta. Ta sẽ giết nó để ăn thịt". Nghĩ vậy vị ấy đem lại
son chảo để nấu, bơ chín, muối... các món gia vị, để
chúng một bên, cầm một cái vồ lấy áo che lại, rồi ngồi
tại cửa chòi lá để chờ Bồ-tát đến với một dáng điệu
hết sức an tịnh.
Bồ-tát đi ra, suy nghĩ: "Vào buổi
chiều, ta sẽ đi đến vị tu khổ hạnh". Khi đang đi đến,
Bồ-tát thấy sắc diện của người tu khổ hạnh này đổi
khác, liền suy nghĩ: "Người tu khổ hạnh này ngồi với dáng
điệu khác với ngày trước. Hôm nay, vị ấy đang nhìn ta
với cặp mắt như muốn nuốt sống ta và suy nghĩ: ta sẽ bắt
nó".
Con cắc kè là hiện thân của Bồ-tát,
vì đứng trong gió dưới vị tu khổ hạnh, ngửi được mùi
thịt cắc kè, suy nghĩ: "Người tu khổ hạnh dối trá này
hôm qua đã được ăn thịt cắc kè, bị trói buộc bởi lòng
tham vị, hôm nay nó chờ ta đến gần để lấy vồ đánh ta,
nấu và ăn ta". Nghĩ vậy, Bồ-tát không đi đến gần nó nữa,
và trở lui chỗ khác.
Người tu khổ hạnh biết rằng
Bồ-tát không tới nữa, liền nghĩ: "Chắc con cắc kè này
biết ta muốn giết nó nên nó không đến, nhưng dầu nó không
đến, làm sao nó thoát được?". Nghĩ vậy, vị ấy rút vồ
và ném vào con cắc kè nhưng chỉ trúng cái chóp đuôi của
con cắc kè, Bồ-tát chạy mau vào gò mối, thò đầu ra từ
một lỗ khác, và nói:
- Này kẻ bện tóc giả dối kia,
ta đi đến gần ngươi vì ta nghĩ ngươi là kẻ có giới hạnh.
Nay ta đã biết ngươi là kẻ giả dối. Một kẻ đại ăn
cướp như ngươi thì xuất gia để làm gì?
Sau khi chỉ trích người tu khổ
hạnh ấy, Bồ-tát đọc bài kệ trong Pháp cú (394):
Kẻ ngu có ích gì,
Bện tóc với da dê,
Nội tâm đầy phiền não,
Ngoài mặt đánh bóng suông?
Như vậy, sau khi lên án kẻ tu khổ
hạnh giả dối, Bồ-tát liền đi vào gò mối. Còn người
tu khổ hạnh ác độc bỏ đi chỗ khác.
*
Sau khi kể lại pháp thoại này,
bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, người tu khổ
hạnh giả dối là kẻ lừa đảo này, người tu khổ hạnh
có giới đức trước là Xá-lợi-phất và con cắc kè là Ta
vậy.
-ooOoo-
139. CHUYỆN
CẢ HAI MẶT THẤT BẠI (Tiền thân Ubhatobhattha)
Mắt hư, áo bị mất...
Câu chuyện này khi ở Trúc Lâm,
bậc Ðạo Sư kể về Ðề-bà-đạt-đa. Lúc bấy giờ, người
ta nghe nói các Tỷ-kheo tại Chánh Pháp đường bắt đầu nói
chuyện:
- Thưa các Hiền giả, như một
que củi từ nghĩa địa, bị cháy hai đầu, ở giữa bị dính
phân, không thể dùng làm củi rừng, cũng không thể dùng làm
củi làng, cũng vậy, Ðề-bà-đạt-đa được xuất gia trong
Giáo pháp dẫn đến giải thoát nhưng cả hai mặt đều thất
bại, cả hai mặt bị vứt bỏ, đó là tài sản tại gia bị
đoạn tận, và Sa-môn hạnh không viên mãn.
Trong lúc ấy bậc Ðạo Sư đi
đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông nay
đang ngồi họp và thảo luận vấn đề gì?
Khi được nghe vấn đề trên,
bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, Ðề-bà-đạt-đa
không phải chỉ nay mới gặp thất bại cả hai mặt, thuở
xưa, cũng đã thất bại như vậy rồi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm một thần cây. Lúc bấy
giờ, tại một ngôi làng những người câu cá đang sống,
có một người câu cá mang theo lưỡi câu, cùng với đứa
con trai đến một đầm nước mà các người chài lưới thường
bắt cá. Anh ta đi chỗ này chỗ kia quăng lưỡi câu. Lưỡi
câu mắc vào một khúc cây đang ẩn kín trong nước. Người
đánh cá không thể kéo lưỡi câu lên. Anh ta suy nghĩ: "Lưỡi
câu này chắc mắc vào con cá lớn. Ta hãy bảo đứa con trai
đi về nhà, báo cho mẹ nó biết". Nghĩ vậy anh ta nói với
đứa con:
- Con thân, hãy đi tin cho mẹ biết
chúng ta câu được con cá lớn, và nói với mẹ hãy tìm cách
gây sự với hàng xóm để giữ họ ở nhà, vì thế sẽ không
ai đến đòi chia phần cá của ta cả.
Ðứa con ra đi, còn anh ta ở lại,
kéo lưỡi câu nhưng vì sợ đứt dây, bèn để áo ngoài trên
bờ, đi xuống nước. Vì say mê tìm bắt con cá nên anh ta va
chạm vào khúc cây, bị hư hai con mắt. Một tên ăn trộm lấy
cắp cái áo anh ta để trên bờ. Trong cơn đau đớn, anh ta
lấy tay bịt hai con mắt mù từ nước đi lên, run rẩy đi
tìm cái áo.
Trong lúc ấy, vợ anh ta huênh hoang
với ý định: "Ta sẽ làm cho không một ai đến đòi chia phần".
Nghĩ vậy, chị đeo một lá thốt nốt trên một tai, lấy lọ
nồi bôi một con mắt, ôm trong nách một con chó, và đi đến
gọi người hàng xòm. Một người bạn nói với chị:
- Chao ôi! Ðeo lá thốt nốt vào
tai của bạn, bôi một con mắt, ôm một con chó như đứa con
thân yêu, bạn đi từ nhà mình đến nhà người ta, bạn điên
rồi sao?
- Ta không điên. Ngươi không có
lý do gì lại mắng ta, nhiếc ta? Nay hãy đi đến thôn trưởng,
ta sẽ làm cho ngươi bị phạt tám đồng tiền vì tội mắng
nhiếc ta.
Sau khi cãi vã như vậy, cả hai cùng
đi đến gặp người thôn trưởng. Nhưng sau khi cuộc cãi vã
được giải quyết thì chính vợ người đánh cá bị phạt.
Người ta trói và đánh chị để đòi chị trả tiền phạt.
Khi vị thần cây thấy sự việc xảy ra cho vợ người đánh
cá ở làng, và sự bất hạnh xảy ra cho người đánh cá ở
trong rừng, vừa đứng ở trên nhánh chĩa ba của thân cây,
vị thần cây vừa nói:
- Này bạn câu cá ơi, việc ác bạn
làm dưới nước và trên cạn, cả hai đều thất bại.
Nói vậy xong, vị thần đọc bài
kệ:
Mắt mù, áo bị mất,
Cãi vã, vợ bị đánh,
Hai việc đều hư hỏng,
Dưới nước và trên cạn.
*
Sau khi kể pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Thuở ấy, người câu cá là
Ðề-bà-đạt-đa, còn vị thần là Ta vậy.
-ooOoo-
140. CHUYỆN
CON QUẠ (Tiền thân Kàka).
Tâm thường bị chấn động...,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư kể về một vị Sư Trưởng có danh. Các
chi tiết của chuyện sẽ được kể trong Chương mười một,
ở Tiền thân Bhaddasàla (số 465).
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con quạ. Một hôm, vị cố
vấn tế tự của vua đi tắm trong một con sông ở ngoại thành,
sau đó thoa nước thơm, đeo vòng hoa, mặc áo đẹp rồi đi
vào thành. Có hai con quạ đang đậu trên lầu cạnh cửa thành,
một con nói với con kia:
- Này bạn, tôi sẽ đi đại tiện
trên đầu người Bà-la-môn này.
Con kia can:
- Chớ làm như vậy, vị Bà-la-môn
này có quyền thế, chúng ta không nên gây hận thù với người
có quyền thế. Người này phẫn nộ có thể sát hại tất
cả loài quạ.
Nhưng nó cương quyết:
- Tôi không thể không làm được.
- Nếu không nghe tôi, rồi bạn sẽ
được nếm mùi.
Nói vậy xong con quạ kia bay đi.
Khi người Bà-la-môn đi đến dưới lầu canh, con quạ làm
rơi phân trên đầu ông như làm rơi một tràng hoa. Vị Bà-la-môn
phẫn nộ và nuôi lòng hận thù với loài quạ.
Lúc bấy giờ, một nữ tỳ được
thuê để đập và phơi lúa giữa nắng. Tại cửa này nó ngồi
để giữ lúa rồi ngủ gật. Biết nó không để ý, một con
dê lông dài đi đến ăn lúa. Người nữ tỳ thức dậy, thấy
con dê bèn đuổi đi. Lần thứ hai, lần thứ ba, khi người
nữ tỳ đang ngủ như vậy, con dê lại đến ăn lúa. Người
nữ tỳ, sau ba lần đuổi con dê, suy nghĩ: "Con vật này tiếp
tục ăn, ăn hết nửa phần lúa, sẽ thiệt hại nhiều cho
ta, nay ta sẽ chận con dê đến ăn lúa". Nó đứng dậy lấy
que lửa đánh con dê. Lông con dê bắt lửa. Con vật với thân
bị cháy, chạy thật mau đến một kho chứa cỏ gần một
chuồng voi để dập tắt lửa, và chà thân vào kho chứa cỏ
làm cho kho cỏ cháy lên, và từ đó, bắt cháy qua chuồng voi.
Khi chuồng voi bị cháy, lưng voi bị cháy, và nhiều con voi
bị vết thương ở thân. Các thầy thuốc voi không thể nào
chữa các con voi lành bệnh, báo cho vua biết. Vua hỏi vị cố
vấn tế tự:
- Này Sư trưởng, các thầy thuốc
không thể chữa trị các con voi lành bệnh. Khanh có biết thứ
thuốc nào không?
- Thưa Ðại Vương, thần biết.
- Cần lấy thuốc gì?
- Thưa Ðại Vương, cần lấy mỡ
quạ.
Vua nói:
- Vậy hãy giết quạ và đem mỡ
quạ lại.
Từ đấy trở đi họ giết các
con quạ nhưng không tìm được mỡ. Tại chỗ này chỗ khác,
họ chất thây quạ thành đống. Một nỗi sợ hãi lớn khởi
lên trong loài quạ. Lúc bấy giờ Bồ-tát sống với tám mươi
ngàn con quạ vây quanh tại một khu rừng lớn dùng làm bãi
tha ma. Một con quạ đến, báo cho Bồ-tát biết về sự sợ
hãi khởi lên cho loài quạ. Bồ-tát suy nghĩ: "Ngoài ta ra, không
có một ai có thể giải tỏa sự sợ hãi khởi lên cho bà
con ta. Ta sẽ giải tỏa sự sợ hãi khủng khiếp ấy". Rồi
Bồ-tát hướng niệm mười Ba-la-mật, đề cao lòng từ Bà-la-mật,
bay một mạch đến cung vua, vào cửa sổ mở lớn, và đến
núp dưới chiếc ngai của vua. Lúc bấy giờ một người muốn
bắt con quạ, nhưng vua vừa đi vào cung ngăn anh ta lại. Bậc
Ðại Sĩ nghỉ mệt một lát, rồi niệm lòng từ Ba-la-mật,
và từ dưới chiếc ngai đi ra, thưa với vua:
- Tâu Ðại Vương, một vị vua trị
vì quốc độ không nên đi theo các dục v.v... Khi cần làm
việc gì, phải quan sát, và rõ biết toàn bộ vấn đề, rồi
mới làm. Nếu vị vua làm một việc không có kết quả thì
không nên làm, vì công việc ấy đưa đến sợ hãi hoặc chết
chóc cho mọi loài. Vị cố vấn tế tự bị hận thù xúi giục
đã nói láo: Vì các con quạ không có mỡ.
Khi nghe nói vậy, vua rất bằng lòng
với Bồ-tát, cho Bồ-tát ngồi trên ghế bằng vàng, tại đấy
Bồ-tát được xoa đôi cánh với những loại dầu được
nấu trăm lần ngàn lần, rồi cho Bồ-tát ăn các món thịt
ngon dành cho vua, được đựng trong các bát đĩa bằng vàng.
Sau khi cho Bồ-tát uống nước để được an lạc, vua nói
với bậc Ðại Sĩ:
- Thưa bậc Hiền trí, ngài nói các
loài quạ không có mỡ? Vì lý do gì chúng không có mỡ?
Bồ-tát nói:
- Vì lý do sau đây:
Với tiếng nói lớn vang dậy cả
cung điện, Bồ-tát thuyết pháp qua bài kệ này:
Tâm thường bị chấn động,
Bị thế giới làm hại,
Do vậy không có mỡ,
Bà con quạ chúng tôi.
Như vậy, sau khi nói lên lý do này,
bậc Ðại Sĩ dạy vua như sau:
- Thưa Ðại Vương, các vị vua chớ
làm những việc gì mà không quan sát, không biết rõ toàn bộ
vấn đề.
Nhà vua với tâm tư thỏa mãn, cúng
dường Bồ-tát cả vương quốc. Nhưng Bồ-tát không nhận
vương quốc của vua, dạy vua giữ Năm giới, và xin vua chớ
làm cho mọi loài chúng sanh sợ hãi.
Vua xúc động trước những lời
này nên ban lệnh tha chết cho mọi loài, và đặc biệt vua
thường xuyên bố thí cho các loài quạ. Mỗi ngày vua bảo
nấu sáu đấu gạo rồi nêm gia vị thơm ngon và bố thí cho
bầy quạ. Riêng bậc Ðại Sĩ được ban các thứ đồ ăn
chỉ mình vua dùng.
*
Sau khi kể pháp thoại này xong
bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vua Ba-la-nại
là Ànandà, và vua loài quạ là Ta vậy.