PHẨM
RUHAKA
191. CHUYỆN
TẾ SƯ RUHAKA (Tiền thân Ruhaka)
Dây cung, dù bị đứt...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về sự luyến ái người vợ cũ. Hoàn cảnh
câu chuyện sẽ được đề cập ở Chương tám, Tiền thân
Indriya (số 423). Bậc Ðạo Sư nói với Tỷ-kheo ấy:
- Này Tỷ-kheo, nữ nhân ấy đã
làm hại ông. Thuở xưa, cô ta đã làm nhục ông trước mặt
vua và triều đình. Ngay sau đó, ông đã đuổi cô ta ra khỏi
nhà.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con của hoàng hậu chánh
cung. Khi đến tuổi trưởng thành, phụ vương mệnh chung, Bồ-tát
được đặt trên vương vị và trị nước theo Chánh pháp.
Bồ-tát có một cố vấn tế tự
tên là Ruhaka. Ông ta có bà vợ già là một nữ Bà-la-môn.
Vua cho vị Bà-la-môn một con ngựa với đầy đủ đồ trang
sức, leo lên ngựa đi đến chầu vua. Khi ông ngồi trên lưng
ngựa được trang sức như vậy, dân chúng đứng khắp nơi
đều khen con ngựa ấy:
- Ôi chói sáng thay con ngựa! Nó
đẹp làm sao!
Người Bà-la-môn đi về nhà, lên
lầu và nói với bà vợ:
- Này hiền thê, con ngựa của chúng
ta tuyệt đẹp. Người đứng hai bên đường đều khen nó.
Nữ Bà-la-môn là người có chút
ác tánh, và hay lừa phỉnh, liền nói với chồng:
- Ông có biết nguyên nhân nào làm
cho con ngựa này đẹp không? Con ngựa này đẹp là nhờ các
thứ trang hoàng cho loài ngựa. Nếu ông muốn đẹp như con
ngựa, hãy trang sức như con ngựa, rồi đi xuống giữa đường,
vừa đi vừa nhún chân như con ngựa. Khi ông đến yết kiến
vua, vua sẽ tán thán ông, và mọi người ai cũng đều khen
ông cả.
Vị Bà-la-môn ấy bản tánh ngu ngốc,
nghe lời bà vợ, không biết ý đồ của vợ, cứ làm đúng
như vậy. Những ai thấy người Bà-la-môn ấy đều cười
lớn và nói:
- Ðẹp thay là bậc Sư trưởng!
Vua nói với người Bà-la-môn:
- Này Sư trưởng, có phải ông nổi
giận rồi sao? Ông có điên không?
Câu nói của vua chê vậy khiến
ông sanh hổ thẹn. Lúc bấy giờ, vị Bà-la-môn biết: "Ta làm
một việc không thích đáng", liền sinh lòng căm tức nữ Bà-la-môn:
- Nó đã làm ta xấu hổ trước
mặt vua và quân đội. Ta sẽ đánh nó và đuổi nó ra khỏi
nhà.
Ông đi về nhà với ý nghĩ trả
thù như vậy. Nữ Bà-la-môn ác tánh biết chồng trở về với
lòng căm giận mình, liền trốn ra khỏi nhà bằng một cửa
nhỏ, đi đến cung điện của vua, và ở tại đấy bốn, năm
ngày. Vua biết được tin ấy, cho gọi vị cố vấn tế tự,
khuyên ông tha thứ:
- Này Sư trưởng, đàn bà đầy
lỗi lầm, ông nên tha thứ cho nữ Bà-la-môn.
Rồi với mục đích khuyến giáo
vị ấy tha thứ, vua nói lên bài kệ đầu:
Dây cung dù bị đứt,
Cũng có thể nối liền,
Hãy giảng hòa với vợ,
Chớ để tâm hận hiềm.
Nghe xong, Ruhaka đọc bài kệ thứ hai:
Có vỏ, làm dây khác,
Lại có thợ biết làm.
Tôi sẽ tìm vợ mới,
Vợ cũ, tôi chán nhàm!
Nói vậy xong, ông đuổi nữ Bà-la-môn
ấy và cưới một nữ Bà-la-môn khác.
*
Sau khi bậc Ðạo Sư kể Pháp
thoại này, Ngài trình bày các Sự thật. Cuối bài giảng,
vị Tỷ-kheo có tâm luyến ái đã đắc quả Dự lưu.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, người vợ cũ
là nữ Bà-la-môn, Ruhaka là Tỷ-kheo có tâm luyến ái, còn vua
Ba-la-nại là Ta vậy.
-ooOoo-
192. CHUYỆN
THIÊN NỮ SIRIKÀLAKANNI (Tiền thân Sirikàlakanni)
Nữ nhân có thể đẹp...,
Tiền thân Sirikàlakanni sẽ được
trình bày ở Tiền thân Mahà-Ùmmagga (số 538).
-ooOoo-
193. CHUYỆN
HOÀNG TỬ LIÊN HOA (Tiền thân Cullapaduma)
Nàng chính là người ấy...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Hoàn
cảnh chuyện này sẽ được trình bày trong Tiền thân Ummadanti
(số 527). Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng
ông thối thất tinh tấn?
Vị ấy trả lời:
- Bạch Thế Tôn, con thấy một
nữ nhân mặc áo quần rất đẹp, nên bị ái nhiễm và thối
thất tinh tấn.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, các nữ nhân đều
vô ơn, phản bội tình bạn. Các bậc hiền trí thuở xưa,
với tâm tư điên cuồng đến độ cho họ uống máu đầu
gối phải của mình, trọn đời mang tặng phẩm hiến dâng
cho họ, nhưng vẫn không chinh phục được tâm của nữ nhân.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con trai của bà hoàng hậu
chánh cung, khi đến ngày đặt tên, được gọi là hoàng tử
Paduma (Liên Hoa). Sau Bồ-tát, còn có sáu người em trai nữa.
Bảy người ấy tiếp tục lớn lên, lập gia đình sống bên
cạnh nhà vua. Một hôm vua đứng nhìn xuống sân thấy họ
đi đến hầu vua với một tùy tùng đông đảo, vua sinh lòng
nghi ngờ: "Những người này có thể giết ta và cướp lấy
quốc độ". Nghĩ vậy, vua cho gọi họ đến và nói:
- Này các con thân, các con không
thể sống trong thành này. Hãy đi đến một chỗ khác, và
sau khi ta băng hà, hãy trở về cai trị vương quốc, vì vương
quốc là sở hữu của gia đình.
Các con vâng theo lời cha.
Họ khóc than, đi về nhà, đem theo
vợ con mình và nói:
- Chúng ta hãy đi bất cứ nơi nào
và sống tại đấy.
Họ ra khỏi thành, lên đường,
đi đến một chỗ hoang vu, không có đồ ăn nước uống, chịu
đựng đói khát không nổi, và nghĩ: "Chúng ta còn sống sẽ
được nữ nhân khác".
Họ giết vợ của người em út,
chia thành mười ba phần, rồi ăn thịt. Bồ-tát và vợ lấy
phần mình chia làm ba, để lại một phần và ăn hai phần.
Như vậy trong sáu ngày, họ giết sáu nữ thân để ăn thịt.
Mỗi ngày kế tiếp Bồ-tát để lại một phần, vì vậy có
được sáu phần. Ðến ngày thứ bảy, họ có ý định giết
vợ của Bồ-tát. Nghe vậy, Bồ-tát cho họ ăn sáu phần còn
lại, và nói:
- Hãy ăn sáu phần này, ngày mai
sẽ tính.
Cho họ ăn thịt xong, khi họ nằm
ngủ, Bồ-tát đem vợ chạy trốn. Người vợ đi một lát,
rồi nói:
- Thưa chàng, em không thể đi được.
Bồ-tát cõng vợ lên vai, đi đến
rạng đông, ra khỏi được cảnh hoang vu. Khi mặt trời mọc,
người vợ nói:
- Thưa chàng, em khát.
Bồ-tát nói:
- Này hiền thê, không có nước.
Nghe nàng nói đi lại, Bồ-tát lấy
gươm đâm đầu gối chân phải của mình và nói:
- Này hiền thê, không có nước
uống. Ðây là máu đầu gối phải của ta. Hãy ngồi xuống
và uống nó đi.
Người vợ làm như vậy. Họ tiếp
tục đi, đến sông Hằng Hà hùng vĩ, họ uống nước, tắm,
ăn các loại trái và rau v.v... rồi nghỉ ngơi tại một chỗ
thoải mái. Gần một khúc quanh của sông Hằng, họ dựng lên
một am thất và sống tại đấy.
Một hôm, một tên cướp ở thượng
lưu sông Hằng, phạm tội phản nghịch vua nên tay chân, tai
mũi đều bị cắt đứt, bị quăng nằm trong chiếc xuồng
nhỏ và thả trôi trên sông Hằng Hà rộng lớn, rên la vì
đau đớn, và trôi đến chỗ ấy. Bồ-tát nghe tiếng than đau
thương bi ai của nó, liền đi đến bờ sông Hằng, kéo nó
lên bờ, dắt nó đến am thất, và xức thuốc chữa trị vết
thương. Người vợ nói:
- Một đứa què lười biếng như
thế này mà chồng ta lại mang từ sông Hằng về để săn
sóc và cứu sống!
Nói vậy xong, nàng khinh bỉ nhổ
vào mặt người què ấy. Khi các vết thương của nó được
lành mạnh, Bồ-tát cho nó ở tại am thất với vợ mình, rồi
đem trái cây và các loại khác từ rừng về, nuôi nó và người
vợ. Trong khi họ chung sống như vậy, nữ nhân ấy sanh ái
luyến người què, thông dâm với nó và muốn giết Bồ-tát
với phương tiện ác độc, liền nói với chồng:
- Thưa chàng, khi em ngồi trên lưng
chàng ra đi khỏi khu vực hoang vu, em nhìn hòn núi này, và cầu
xin như sau: Thưa vị thần núi, nếu con được sống an lành
với chồng, con sẽ làm lễ cúng tạ ngài! Nay thần ấy làm
em hoảng sợ. Em phải làm lễ cúng tạ thần ấy.
Bồ-tát không biết vợ mình lừa
đảo liền bằng lòng, sửa soạn lễ cúng, giao cho vợ dĩa
đựng đồ cúng, rồi leo lên chóp núi. Người vợ nói với
chồng:
- Thưa chàng, không phải vị thần
mà chính chàng mới là vị thần tối thượng. Trước hết,
em sẽ cúng dường chàng hoa rừng, đi nhiễu xung quanh chàng,
đảnh lễ chàng, rồi sau đó em cúng lễ cho vị thần núi.
Nói vậy xong, nàng đặt Bồ-tát
đứng trên bờ vực thẳm, cúng dường Bồ-tát hoa rừng, đi
nhiễu xung quanh, và làm như muốn đảnh lễ chồng, nàng đứng
phía sau đánh Bồ-tát trên lưng, rồi xô Bồ-tát rơi xuống
vực thẳm, và la lên vì thỏa mãn:
- Ta đã thấy cái lưng kẻ thù ta
rồi!
Và nàng xuống núi đi với người
què ấy.
Bồ-tát rơi từ trên núi xuống
vực thẳm nhưng bị mắc vào một chùm lá không có gai trên
chóp cây sung nên không thể xuống núi được. Bồ-tát ăn
trái cây sung và sống giữa các cành cây.
Một con kỳ-đà chúa có thân to
lớn, từ chân núi thường leo lên ăn trái của cây sung ấy.
Nó thấy Bồ-tát và chạy trốn. Ngày sau nó lại đến, ăn
những trái ở một bên cây rồi bỏ đi. Nó đến nhiều lần
như vậy cho đến khi nó kết thân với Bồ-tát và hỏi:
- Làm thế nào anh đến được chỗ
này?
Khi được Bồ-tát nói cho biết
lý do, nó nói:
- Thôi được, anh chớ sợ.
Rồi nó bảo Bồ-tát ngồi trên
lưng mình, sau đó nó bò xuống núi, ra khỏi khu rừng, đặt
Bồ-tát trên con đường lớn và nói:
- Hãy đi theo con đường này.
Bồ-tát đi đến một ngôi làng
nhỏ và sống tại đấy. Khi nghe tin phụ vương đã mệnh chung,
Bồ-tát đi đến Ba-la-nại, lên ngôi kế vị trong vương quốc
thuộc quyền sở hữu của gia đình và trở thành vua Paduma.
Nguyện theo Mười vương pháp trị nước đúng luật, Bồ-tát
cho xây sáu hội trường bố thí tại bốn cửa thành, tại
chính giữa thành, tại trước cửa cung điện và mỗi ngày
bố thí sáu trăm ngàn đồng tiền.
Trong lúc ấy, nữ nhân độc ác
kia cõng người què trên lưng, đi ra khỏi rừng, xin ăn giữa
con đường có người qua kẻ lại, thâu lượm cháo cơm để
nuôi dưỡng người tình. Có người hỏi:
- Người này là ai đối với cô?
Nàng nói dối:
- Mẹ người này là chị của cha
tôi. Người này là anh họ tôi. Người ta cho tôi người này.
Dầu cho chàng bị đọa đầy đến chết, tôi cũng sẽ mang
chồng tôi trên vai đi khất thực, và nuôi dưỡng chàng.
Mọi người khen:
- Thật là người vợ trung tín với
chồng!
Từ đấy trở đi, người ta cho
nàng cháo và cơm nhiều hơn trước. Những người khác nói
với nàng:
- Chớ sống như thế này. Vua Paduma
trị vì ở Ba-la-nại, công đức bố thí của ngài vang dội
toàn cõi Diêm-phù-đề. Vua thấy nàng sẽ hoan hỷ, và sẽ
cho nàng nhiều tài sản. Hãy để chồng nàng ngồi trong cái
giỏ này và cõng đi.
Họ cổ võ nàng và cho nàng một
cái giỏ tre. Người đàn bà ác hạnh kia đặt người què
ngồi trên lưng mình, rồi đi đến Ba-la-nại, xin ăn tại các
nhà bố thí và sống như vậy.
Bấy giờ Bồ-tát thường hay ngồi
trên lưng voi với trang sức lộng lẫy, đi đến nhà bố thí
và sau khi tự tay bố thí cho tám hay mười người, ngài lại
đi về cung. Nữ nhân ác hạnh ấy đặt người què ngồi trong
cái giỏ, mang nó trên lưng và đứng trên đường vua đi qua.
Vua thấy họ bèn hỏi:
- Người này là ai vậy?
- Thưa Ðại vương, một người
vợ trung tín.
Vua cho gọi nàng đến, nhận diện
nàng, liền bảo đưa người què ra khỏi cái giỏ, và hỏi:
- Người này là gì của nàng?
Nàng trả lời:
- Người này là con của người
chị cha tôi. Gia đình đó cho tôi và tôi nhận người này
làm chồng tôi.
Các người không biết nội dung
câu chuyện liền nói to:
- Ôi, thật là người vợ trung tín!
Và họ tán thán nữ nhân ác hạnh
ấy. Vua hỏi thêm:
- Có phải người què này do gia
đình cho nàng làm chồng không?
Nữ nhân ấy không nhận diện được
vua nên mạnh dạn nói:
- Thưa Ðại vương, đúng vậy.
- Và đây có phải là con vua Ba-la-nại
không? Nàng có phải là con gái của một vị vua, là vợ của
hoàng tử Paduma?
Sau khi dằn mặt nàng, vua vạch mặt
nàng:
- Chính nàng uống máu từ đầu
gối của ta và vì luyến ái với người què này, nàng đã
xô ta xuống vực thẳm. Nàng nghĩ rằng ta đã chết, nhưng
ta vẫn còn sống! Nay nàng đến đây với dấu hiệu tử thần
in trên trán đấy!
Rồi vua nói với các triều thần:
- Hỡi các triều thần, trước kia
các khanh hỏi trẫm và trẫm đã trả lời như sau: Sáu người
em trai trẫm đã giết vợ họ và đã ăn thịt vợ họ. Nhưng
trẫm đã bảo vệ vợ mình an toàn, đưa nàng đến bờ sông
Hằng, và sống tại một am thất. Ở đấy trẫm cứu một
kẻ què bị xử tội chết và nuôi dưỡng nó. Còn nữ nhân
đã sanh tâm luyến ái nó, và xô trẫm xuống vực sâu, không
ai khác mà chính là nữ nhân ác hạnh này. Nhưng trẫm đã
tự cứu mình nhờ tỏ bày tình thân ái. Còn người què bị
xử tội chết không ai khác mà chính là tên này!
Rồi Bồ-tát đọc những bài kệ
này:
Nàng chính là người ấy,
Còn ta không ai khác,
Người què chính là nó,
Bị chặt tay, chính nó.
Tuy vậy nàng vẫn nói:
- Là chồng tôi lúc trẻ.
Ðàn bà thật đáng chết,
Chúng không có sự thật!
Hãy lấy một cái chày.
Ðánh chết tên khốn nạn,
Kẻ độc ác rình rập
Ðể cướp lấp vợ người.
Sau đó bắt người vợ
Ác độc, tà hạnh này,
Chấm dứt mạng sống nó,
Cắt cả mũi lẫn tai!
Bồ-tát không có thể dẹp được
cơn phẫn nộ và ra lệnh trừng phạt chúng, nhưng rồi không
thi hành như đã ra lệnh. Ðể làm nguôi giận, Bồ-tát bảo
cột cái giỏ vào đầu nàng thật chặt, để nàng không cởi
nó ra được rồi quăng kẻ què vào giỏ và đuổi cả hai
ra ngoài quốc độ của mình.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật và cuối bài giảng, vị
Tỷ-kheo thối thất đã đắc quả Dự lưu.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
- Sáu anh em thời ấy là sáu vị
Trưởng lão, người vợ là thiếu nữ Cinca, người què phạm
tội là Ðề-bà-đạt-đa, con kỳ đà chúa là Ànanda còn vua
Paduma là Ta vậy.
-ooOoo-
194. CHUYỆN
KẺ TRỘM NGỌC (Tiền thân Manicora)
Không có Thiên thần nào...,
Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm,
bậc Ðạo Sư kể về Ðề-bà-đạt-đa muốn sát hại mình.
Khi nghe Ðề-bà-đạt-đa đang
âm mưu sát hại mình, bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay mà thuở xưa cũng vậy, Ðề-bà-đạt-đa đã âm mưu
sát hại ta. Nhưng kẻ ấy cũng không có thể làm như vậy
được.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình của một gia
chủ tại một ngôi làng nhỏ không xa Ba-la-nại bao nhiêu. Khi
Bồ-tát đến tuổi trưởng thành, người ta đi cưới con gái
của một gia đình từ Ba-la-nại về gả cho Bồ-tát. Nàng
dễ thương, xinh đẹp, mỹ lệ giống như Thiên nữ, yểu điệu
giống như cây leo nở hoa, yêu kiều như con chim thần Kinnàri,
có tên là Sujàta. Nàng thủy chung, có giới hạnh, luôn luôn
làm tròn bổn phận đối với chồng. Nàng được Bồ-tát
thương mến và quý trọng, vì vậy cả hai sống với nhau hoan
hỷ, đồng tâm, và thuận hòa.
Một hôm Sujàtà thưa với Bồ-tát:
- Em muốn về thăm cha mẹ em.
- Lành thay, hiền thê. Hãy chuẩn
bị thật đầy đủ lương thực đi đường.
Rồi Bồ-tát bảo nấu đủ loại
đồ ăn và sắp đặt các lương thực đi đường. Chuẩn bị
xong, Bồ-tát ngồi phía trước đánh xe, còn vợ ngồi phía
sau. Cả hai đi đến gần thành Ba-la-nại, tháo đôi bò khỏi
xe, tắm rửa và ăn uống. Rồi Bồ-tát cột bò vào xe lại
và ngồi phía trước, còn Sujàtà đã thay áo, trang điểm,
và ngồi phía sau.
Khi cỗ xe đi vào thành, vua Ba-la-nại
ngồi trên lưng con voi đẹp, đang đi xung quanh thành và đến
chỗ ấy. Sujàtà vừa xuống xe và đi bộ sau xe. Vua thấy nàng,
sanh tâm luyến ái, bảo một vị cận thần đi theo dò hỏi
nàng đã có chồng, và về tâu với vua:
- Thần nghe nàng ấy đã có chồng,
và chồng nàng đang ngồi phía trước xe.
Vua không thể chế ngự tâm ái luyến
của mình, và tham dục đã tràn ngập trong lòng, vua suy nghĩ:
"Với mọi phương tiện, ta sẽ giết tên này và lấy nữ nhân".
Vua gọi một người và bảo:
- Này người kia, hãy cầm lấy viên
ngọc này, giả bộ đang đi trên đường, rồi bỏ rơi hòn
ngọc trong xe của người ấy.
Nói vậy xong, vua giao cho anh ta một
hòn ngọc, và thúc giục anh ta đi. Người ấy vâng lời lấy
hòn ngọc, đi đến thả nó vào trong xe rồi trở về thưa:
- Thưa Thiên tử, tôi đã thả hòn
ngọc xong.
Vua la lớn:
- Ta đã mất một hòn ngọc!
Mọi người làm ầm ĩ lên và vua
ra lệnh:
- Hãy đóng tất cả, cắt đứt
mọi đường đi ra, và bắt tên ăn trộm.
Các người hầu vua làm theo đúng
lệnh. Còn người kia đem theo một số người, đi gần đến
Bồ-tát và nói:
- Này ông, hãy để xe lại. Vua mất
hòn ngọc trên vương miện. Chúng tôi phải khám xe của ông.
Anh ta khám xe, lấy hòn ngọc mà
chính anh ta đã bỏ rơi vào, rồi bảo Bồ-tát là kẻ ăn cắp
hòn ngọc, lấy tay chân đánh đá ngài, cột ngài ra đàng sau,
dẫn đến trình vua và thưa:
- Hãy xem đây là tên trộm hòn ngọc!
Vua ra lệnh:
- Hãy chặt đầu nó!
Các người của vua tại các ngã
tư đường, đánh Bồ-tát bằng roi, rồi dẫn ngài ra ngoại
thành qua cửa phía nam.
Bấy giờ Sujàtà bỏ xe, giơ tay
lên trời than khóc chạy theo chồng:
- Ôi chồng tôi! Vì tôi mà chồng
tôi phải chịu cảnh đau khổ này!
Nàng đi theo và khóc than như vậy.
Các người hầu của vua bắt Bồ-tát nằm ngửa với ý định
chặt đầu ngài. Thấy vậy, Sujàtà nghĩ đến công đức giới
hạnh của mình và nói thầm: "Ta chắc rằng trong đời này
không vị Thiên thần nào có khả năng chận đứng bàn tay
những người độc ác dã man làm hại những người có giới
hạnh".
Rồi nàng than khóc và đọc bài
kệ đầu:
Không có Thiên thần nào,
Chắc các ngài đi vắng,
Có lẽ không một ai.
Bảo vệ cõi đời này
Kẻ bạo ngược hung hãn
Muốn làm gì thì làm,
Có lẽ không một ai
Chận đứng được bọn chúng!
Vì nàng là người có giới hạnh than
khóc như vậy nên chiếc ngai của Thiên chủ Ðế Thích trở
thành nóng. Ðế Thích nghĩ: "Ai lại muốn ta rời khỏi ngôi
vị Thiên chủ của ta đây?". Rồi Ðế Thích xem xét địa
giới, biết sự việc đã xảy ra và nói:
- Vua Ba-la-nại đang làm một điều
thật ác độc, khiến cho Sujàtà có giới hạnh phải đau đớn.
Nay ta cần phải đi xuống đó!
Ðế Thích từ thiên giới đi xuống,
với thần lực của mình bắt ông vua độc ác đang ngồi trên
lưng voi phải rời khỏi voi và đặt vua nằm ngửa tại chỗ
hành quyết thay Bồ-tát. Rồi Ðế Thích đỡ Bồ-tát dậy,
trang điểm ngài với mọi thứ đồ trang sức, rồi mặc áo
mũ của vua, và đặt ngài ngồi trên lưng voi của vua.
Quân hầu của vua giơ cao búa lên
chém đầu. Khi chém xong, họ mới biết là đầu của vua! Thiên
chủ Ðế Thích hiện hình có thể thấy được, đi đến Bồ-tát,
làm lễ quán đảnh cho ngài và đặt Sujàtà lên ngôi hoàng
hậu. Các vị đại thần và các Bà-la-môn gia chủ v.v... thấy
Thiên chủ Ðế Thích, sung sướng nói:
- Vua phi pháp đã bị giết, chúng
ta nay được vua đúng pháp do Ðế Thích ban cho chúng ta!
Ðế Thích đứng giữa hư không
nói:
- Ðây là vua của các ngươi do Ðế
Thích ban cho. Bắt đầu từ nay, vua ấy sẽ trị vì quốc độ
đúng pháp. Nếu vua làm việc phi pháp, trời sẽ mưa phi thời,
đúng thời trời không mưa, và có ba tai nạn về đói, về
bệnh, về chiến tranh. Ba tai nạn này sẽ đến cho dân chúng
vì vua ác.
Rồi Ðế Thích thuyết giáo họ
với bài kệ thứ hai:
Với nó, mưa phi thời,
Ðúng thời, trời không mưa,
Từ trời, vua xuống đất,
Hãy nhìn rõ nguyên nhân
Kẻ này đã bị giết.
Như vậy, Ðế Thích thuyết giáo đại
quần chúng xong, liền trở về cõi thiên của mình. Còn Bồ-tát
trị nước đúng pháp và về sau đi lên thiên giới làm đông
đảo hội chúng chư Thiên.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, vua phi thời là Ðề-bà-lạt-đa.
Ðế Thích là A-na-luật-đà, Sujàtà là mẹ của La-hầu-la
(Ràhulamàtà), còn vị vua do Ðế Thích đặt lên ngôi là Ta
vậy.
-ooOoo-
195. CHUYỆN
HÒN NÚI ÐẸP (Tiền thân Pabbatupatthara)
Trải dài hòn núi đẹp...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về vua Kosala.
Có tiếng đồn một vị đại
thần thông dâm trong nội cung. Vua cho điều tra, biết được
sự việc ấy có thật, liền đi đến Kỳ Viên, đảnh lễ
bậc Ðạo Sư và thưa:
- Bạch Thế Tôn, nay trẫm phải
làm gì với nó?
Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Thưa Ðại vương, đại thần
ấy có giúp ích Ðại vương không, và Ðại vương có thương
nữ nhân ấy không?
Vua đáp:
- Bạch Thế Tôn, đại thần ấy
đã giúp ích nhiều cho trẫm, vị ấy cai quản toàn bộ triều
đình, và trẫm yêu nữ nhân ấy.
Khi nghe nói vậy, bậc Ðạo Sư
nói:
- Thưa Ðại vương, khi các người
hầu cận có lợi ích cho mình và khi các nữ nhân được thương
yêu thì không có thể hại họ được. Thuở xưa, các vua nghe
theo lời các bậc hiền trí đã giữ một thái độ thản nhiên
đối với các việc như vậy.
Rồi theo lời yêu cầu của vua,
bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình vị đại thần,
khi trưởng thành trở thành vị cố vấn cho vua trong các vấn
đề thế sự và thánh sự. Bấy giờ có một đại thần thông
dâm trong nội cung. Khi biết được sự việc này, vua suy nghĩ:
"Viên đại thần giúp ích nhiều cho ta, và ta yêu nữ nhân
ấy, nên ta không thể làm hại hai người này được. Ta hãy
hỏi vị đại thần hiền trí. Nếu cần phải kham khẫn, ta
sẽ kham nhẫn; nếu không cần, ta sẽ không kham nhẫn". Vua
truyền mời Bồ-tát đến, rồi hỏi:
- Thưa bậc Hiền trí, trẫm muốn
hỏi một câu.
- Thưa Ðại vương, xin hãy nói đi
và thần sẽ trả lời.
Vua liền hỏi qua bài kệ đầu:
Trải dài hòn núi đẹp,
Có hồ nước trong xanh,
Biết sư tử bảo vệ,
Chó rừng uống nước lành.
Nghe bài kệ, Bồ-tát suy nghĩ: "Chắc
hẳn có đại thần thông dâm trong nội cung"; và đọc bài
kệ thứ hai:
Tất cả loài có chân,
Ðều uống nước sông lớn.
Sông vẫn là con sông,
Nếu quý, hãy kham nhẫn.
Bậc Ðại Sĩ khuyên bảo vua như vậy.
Vua vâng theo lời chỉ dạy của Bồ-tát và nói:
- Chớ làm tội lỗi như vậy nữa.
Rồi vua tha thứ cho hai người. Từ
đấy về sau họ không làm như vậy nữa. Còn vua trọn đời
làm các công đức như bố thí v.v..., và khi mạng chung, vua
đi lên thiên giới làm đông đảo hội chúng chư Thiên.
Sau khi nghe pháp thoại này, vua Kosala
đã tha thứ cho cả hai người ấy, và giữ thái độ thản
nhiên.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vua là Ànanda,
còn vị đại thần hiền trí là Ta vậy.
-ooOoo-
196. CHUYỆN
CON NGỰA BAY (Tiền thân Valàhassa)
Những ai không làm theo...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Bậc
Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo có thật chăng ông
thối thất tinh tấn?
Tỷ-kheo ấy đáp:
- Thưa có thật.
Ngài lại hỏi:
- Vì nguyên nhân gì?
Vị ấy đáp:
- Vì thấy một nữ nhân trang
sức xinh đẹp, nên con bị phiền não chinh phục.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, các nữ nhân
này, với sắc, tiếng, hương, vị, xúc của mình, với mưu
chước cám dỗ của mình, đã làm đàn ông tham đắm, khiến
đối phương rơi vào thế lực của mình, và khi đã bị chi
phối, các nữ nhân ấy phá hoại giới đức, tài sản của
kẻ si tình bằng các ác hạnh. Do vậy, nữ nhân được gọi
là nữ Dạ-xoa.
Thuở xưa, các nữ Dạ-xoa đi
đến một đoàn lữ hành, với mưu chước nữ nhân, làm các
thương nhân tham đắm, khiến họ rơi vào thế lực của chúng
rồi khi chúng thấy những người đàn ông khác, chúng liền
giết và ăn thịt những người trước, chúng gặm xương nghe
rạo rạo, với máu thịt chảy dài hai bên má.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
chuyện quá khứ
*
Thuở xưa, tại đảo Tambapanni thuộc
xứ Tích Lan, có một thành phố Dạ-xoa trú ẩn. Khi các tàu
đắm, chúng ra sức trang điểm, đem theo các đồ ăn loại
cứng loại mềm, với nữ tỳ vây quanh, với trẻ con ôm bên
nách, và đi đến gần các người lái buôn. Nhằm mục đích
làm cho các người ấy tưởng đó là thành phố có loài người
ở, chúng tạo ra khắp nơi những người đang cày bừa chăn
bò, những đàn bò đang ăn cỏ và đàn chó chạy qua lại v.v...
Rồi chúng đi đến gần các người lái buôn và nói:
- Hãy uống cháo này, hãy ăn cơm
này, hãy chia đồ ăn này, hỡi các vị khách phương xa.
Các người lái buôn không biết,
nên cứ thọ hưởng các món ăn do chúng cho. Khi các người
lái buôn ăn xong, và trong lúc họ nghỉ ngơi, các nữ Dạ-xoa
thân mật hỏi:
- Các người ở đâu? Các người
từ đâu lại? Các người sẽ đi đâu? Các người đến đây
để làm gì?
Họ trả lời:
- Chúng tôi bị vỡ tàu nên đến
đây.
Các nữ Dạ-xoa nói:
- Tốt lắm, thưa các ông. Chồng
của chúng tôi lên tàu ra đi đã quá ba năm. Chắc họ đã
chết rồi. Các ông là những lái buôn, chúng tôi sẽ là những
người hầu hạ các ông.
Sau khi nói vậy, chúng dùng mưu chước
của đàn bà cám dỗ, làm các người lái buôn say đắm rồi
đưa họ đến thành Dạ-xoa. Nếu những người bị bắt trước
còn xót lại, chúng trói họ với những sợi dây chuyền thần
bí, và quăng họ vào nhà cực hình. Nếu chúng không tìm được
những người đắm tàu để ăn thịt, chúng thường sục sạo
dọc theo bờ biển xa cho đến tận sông Kalyàni phía bên kia
và đảo Nàga phía bên này. Ðây là việc làm hàng ngày của
chúng.
Một hôm, năm trăm người lái buôn
bị đắm tàu, lên được bờ gần thành của nữ Dạ-xoa này.
Các nữ Dạ-xoa đi đến và làm cho họ say đắm, rồi đưa
họ đến thành Dạ-xoa. Chúng trói những người đã bị bắt
trước kia với những sợi dây chuyền thần bí và quăng họ
vào nhà cực hình. Nữ chúa Dạ-xoa lấy người thuyền trưởng,
và các nữ Dạ-xoa còn lại lấy những người kia, như vậy
năm trăm nữ Dạ-xoa lấy năm trăm người đi buôn ấy làm
chồng.
Rồi ban đêm, khi các thương nhân
đã ngủ say, nữ chúa Dạ-xoa liền dậy, đi đến nhà cực
hình giết những người tại đấy, ăn thịt rồi trở về.
Các nữ Dạ-xoa còn lại cũng làm như vậy. Sau khi ăn thịt
người, nữ chúa Dạ-xoa trở về, thân thể trở thành lạnh.
Người lái buôn trưởng ôm nàng là nữ Dạ-xoa, liền nghĩ:
"Năm trăm nàng này là nữ Dạ-xoa. Chúng ta phải chạy trốn".
Sáng sớm hôm sau, khi đi rửa mặt,
anh ta nói với các người đi buôn kia:
- Những nàng này là nữ Dạ-xoa,
không phải là người. Khi có các người bị đắm tàu khác
đến, chúng sẽ lấy những người ấy làm chồng và ăn thịt
chúng ta. Vậy chúng ta hãy chạy trốn.
Hai trăm năm mươi người trong bọn
nói:
- Chúng tôi không thể bỏ các nữ
Dạ-xoa này được. Nếu các ông muốn, thì hãy đi đi. Nhưng
chúng tôi sẽ không chạy trốn đâu.
Sau đó, người lái buôn trưởng
đem theo hai trăm năm mươi người nghe lời của mình chạy
trốn.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát sanh làm con
ngựa toàn trắng, với đầu như con quạ, với tóc như cỏ
munja, có thần thông, có thể bay trên hư không. Bồ-tát từ
Tuyết Sơn bay lên hư không, đến hòn đảo Tambapanni, trên
các ao, hồ ở Tambapanni và ăn các loại lúa mọc tại đấy.
Trong khi bay qua như vậy, vì lòng từ bi, ba lần Bồ-tát nói
lớn tiếng với giọng người:
- Có người nào muốn trở về tổ
quốc không?
Các người đi buôn nghe lời Bồ-tát,
đi đến chấp tay và thưa:
- Thưa ngài, chúng con muốn trở
về.
- Vậy hãy leo lên lưng ta.
Một số người leo lên thân ngựa,
một số người nắm đuôi ngựa, một số người chấp tay
và đứng im lặng kính cẩn. Bồ-tát dùng thần lực đem hai
trăm năm mươi người ấy về tổ quốc của họ, rồi sau
đó trở lại trú xứ của mình.
Và khi có những người khác đến
đấy, các nữ Dạ-xoa liền giết hai trăm năm mươi người
còn lại tại chỗ để ăn thịt.
*
Bậc Ðạo Sư nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, giống như
những người lái buôn bị rơi vào thế lực của các nữ
Dạ-xoa, và đã mạng chung, nhưng những người khác làm theo
lời của con ngựa thần biết bay đều trở về trú xứ của
mình; cũng vậy, những ai không làm theo lời khuyên dạy của
các đức Phật, dù là Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni, các nam, nữ
cư sĩ, đều bị đau khổ lớn trong bốn địa ngục và chịu
các hình phạt trong năm loại xiềng xích. Còn những ai biết
vâng lời khuyên đều đạt được ba sanh loại tốt đẹp,
sáu cõi trời dục giới, hai mươi Phạm thiên giới và đạt
trạng thái Niết-bàn bất tử, cực lạc.
Sau khi nói vậy, bậc Chánh Ðẳng
đọc các bài kệ:
Những ai không làm theo
Lời dạy của đức Phật,
Họ sẽ gặp tai nạn,
Họ giống các lái buôn
Bị các nữ Dạ-xoa
Ăn thịt và mạng chung.
Còn những ai làm theo
Lời dạy của đức Phật,
Họ sẽ được an toàn,
Họ giống các lái buôn
Ðược ngựa bay cứu giúp,
Ðưa về tận trú xứ.
Sau khi bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại
này, Ngài thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy,
vị Tỷ-kheo thối thất đã đắc quả Dự-lưu và nhiều vị
khác đắc quả Dự-lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán và Ngài
nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, hai trăm năm mươi
người lái buôn làm theo lời con ngựa bay là hội chúng đức
Phật, còn con ngựa bay là Ta vậy.
-ooOoo-
197. CHUYỆN
BẠN-THÙ (Tiền thân Mittàmitta)
Khi thấy, nó không cười...,
Câu chuyện này, khi ở Xá-vệ,
bậc Ðạo Sư kể về một Tỷ-kheo.
Vị ấy nghĩ: "Nếu ta lấy cái
này, vị giáo thọ sư của ta sẽ không tức giận". Vì vậy,
Tỷ-kheo ấy lấy một miếng vải do giáo sư để dành và làm
thành một cái túi đựng dép, rồi sau mới xin phép thầy mình.
Vị giáo thọ sư hỏi:
- Vì lý do gì ông lấy vật ấy?
- Con tin tưởng rằng khi con lấy
vật này, thầy sẽ không tức giận.
Sau khi nghe Tỷ-kheo nói vậy, vị
giáo thọ sư nổi nóng, đứng dậy đánh Tỷ-kheo ấy và nói:
- Có sự tin tưởng gì giữa ông
và ta được chứ?
Việc ấy làm được các Tỷ-kheo
biết.
Một hôm, các Tỷ-kheo họp tại
Chánh pháp đường nói chuyện ấy với nhau:
- Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo
trẻ tuổi có tên này với lòng tin tưởng vị giáo thọ sư,
đã lấy tấm vải làm thành cái túi đựng dép. Sau đó vị
giáo thọ sư đã nổi nóng và đứng dậy đánh Tỷ-kheo ấy.
Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông ngồi
họp ở đây và đang bàn chuyện gì?
Khi được kể chuyện ấy, bậc
Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Tỷ-kheo này mới mất tin tưởng đối với vị đồng
trú của mình. Thuở xưa, vị ấy cũng đã như vậy rồi.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra tại nước Kàsi trong một
gia đình Bà-la-môn. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát xuất
gia làm vị đạo sĩ, đạt được các Thắng trí và các Thiền
chứng, rồi làm vị sư trưởng tại khu vực Tuyết Sơn.
Trong chúng đạo sĩ ấy, có một
vị tu khổ hạnh không nghe lời Bồ-tát, nuôi dưỡng con voi
đã mất mẹ. Khi con voi lớn lên, nó giết vị tu khổ hạnh
ấy và đi vào rừng. Chúng đạo sĩ chôn cất vị tu khổ hạnh
ấy, rồi đến vây quanh Bồ-tát và hỏi:
- Thưa Tôn giả, vì lý do gì, Tôn
giả có thể biết thế nào là bạn, thế nào không phải là
bạn?
Bồ-tát trình bày lý do qua các bài
kệ:
Khi thấy, nó không cười,
Không hoan hỷ tiếp đón,
Không đưa cặp mắt nhìn,
Và làm điều trái nghịch.
Với những hình tướng này,
Biết nó không phải bạn,
Bậc trí thấy nghe vậy,
Biết nó là kẻ thù.
Như vậy, Bồ-tát nói lên ý nghĩa
thế nào là bạn và không phải là bạn. Sau đó, ngài tu tập
bốn Vô lượng tâm, rồi đi lên Phạm thiên giới.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vị tu khổ hạnh
nuôi con voi là vị Tỷ-kheo đồng trú, con voi là vị giáo thọ
sư, hội chúng đạo sĩ là hội chúng đức Phật và Sư trưởng
hội chúng là Ta vậy.
-ooOoo-
198. CHUYỆN CON VẸT RÀDHA (Tiền
thân Ràdha)
Này con, ta đi xa...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn. Nghe
nói, bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng
ông thối thất tinh tấn.
Vị ấy đáp:
- Bạch Thế Tôn, thật vậy.
Khi được hỏi vì lý do gì, vị
ấy đáp:
- Vì con thấy một nữ nhân trang
sức đẹp đẽ nên phiền não khởi lên.
Bậc Ðạo Sư nói với Tỷ-kheo
ấy:
- Này Tỷ-kheo, không thể canh
giữ đàn bà được. Thuở xưa, có người đã sắp đặt việc
canh cửa nhưng không có thể giữ được. Dầu ông có chiếm
được đàn bà đi nữa, ông cũng không thể canh giữ họ được.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con vẹt, tên Ràdha, và
con vẹt em tên là Potthapàda. Khi còn trẻ, hai con vẹt bị một
người thợ săn bắt được và đem cho một vị Bà-la-môn
ở Ba-la-nại. Chúng được Bà-la-môn ấy săn sóc như con đẻ.
Nhưng người vợ vị ấy theo ác giới, không ai canh giữ bà
ta được.
Vị Bà-la-môn ấy có công việc
phải đi xa và nói với hai con vẹt:
- Này các con thân, ta có công việc
phải đi, dầu ban ngày hay ban đêm, các con hãy xem mẹ con làm
gì. Hãy xem kỹ có người đàn ông nào khác đến thăm mẹ
không.
Sau khi giao cho hai vẹt con coi sóc
nữ Bà-la-môn, người cha ra đi. Nữ Bà-la-môn ở nhà liền
hành động bất chánh, đêm ngày đều có vô số người đến
và đi. Thấy vậy Potthapàda nói với Ràdha:
- Vị Bà-la-môn ra đi đã giao nữ
Bà-la-môn cho chúng ta canh giữ. Nay bà đang làm ác hạnh, em
sẽ nói với bà ấy.
Ràdha bảo đừng, nhưng vẹt em không
nghe. Rồi Potthapàda nói với nữ Bà-la-môn:
- Thưa mẹ, vì sao mẹ làm ác hạnh?
Nữ Bà-la-môn ấy rất muốn giết
Potthapàda, nhưng làm bộ vỗ về nó và hỏi:
- Này con thân, con là con của ta,
từ nay về sau, ta sẽ không làm như vậy nữa. Vậy này con
thân, hãy đến đây.
Nữ Bà-la-môn làm bộ thương yêu
gọi Potthapàda lại gần. Khi nó lại gần, nữ Bà-la-môn bắt
nó và thét:
- Sao, mày lại khuyên dạy ta à!
Mày không biết lượng sức mình!
Nữ Bà-la-môn nắm cổ con vẹt,
giết nó và quăng xác vào lò.
Khi vị Bà-la-môn trở về, nghỉ
ngơi xong, ông liền hỏi Bồ-tát:
- Này Ràdha thân, mẹ của chúng
con như thế nào? Bà có làm tà hạnh hay không?
Hỏi vậy xong, vị Bà-la-môn đọc
bài kệ đầu:
Này con, ta đi xa,
Nay ta mới về nhà,
Mẹ con như thế nào,
Có theo người khác không?
Ràdha trả lời:
- Thưa cha thân, bậc hiền trí không
nói điều gì không đưa đến hạnh phúc, dầu sự việc ấy
có xảy ra hay không.
Ràdha giải thích việc này với
bài kệ thứ hai:
Ðây không phải khéo nói,
Dù nói đúng sự thật,
Như Pot-tha-pà-da
Nay đã phải nằm chết
Bị cháy dưới than hồng,
Con sợ chung số phận.
Như vậy Bồ-tát thuyết pháp cho vị
Bà-la-môn, và nói:
- Nay con cũng không thể sống trong
nhà này.
Sau khi xin phép vị Bà-la-môn, Bồ-tát
bay đi vào rừng.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, vị
Tỷ-kheo thối thất đã đắc quả Dự lưu và Ngài nhận diện
Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Potthapàda là
Ànanda, còn Ràdha là Ta vậy.
-ooOoo-
199. CHUYỆN
NGƯỜI GIA CHỦ (Tiền thân Gahapati)
Cả hai, ta không nhẫn...,
Câu chuyện này khi ở tại Kỳ
Viên, bậc Ðạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn.
Trong lúc nói chuyện, bậc Ðạo Sư bảo:
- Không bao giờ có thể canh giữ
nữ nhân được. Sau khi làm ác, chúng dùng mọi cách lừa dối
chồng.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát được sanh ra làm con một người
gia chủ ở nước Kàsi. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát
lập gia đình. Người vợ mới cưới theo ác giới, thông gian
với một người thôn trưởng. Bồ-tát biết được, tìm cách
bắt quả tang.
Lúc bấy giờ, tất cả thóc lúa
đều bị trôi mất trong mùa mưa, vì thế có nạn đói. Nhưng
đó cũng là thời các cây lúa bắt đầu mọc. Tất cả dân
làng cùng đi đến vị thôn trưởng và thưa:
- Chúng tôi đang đói, hãy cho chúng
tôi mượn cái gì để ăn. Hai tháng nữa, khi chúng tôi gặt
hái, chúng tôi sẽ trả lúa.
Họ nhận được từ tay thôn trưởng
một con bò già và ăn thịt con bò ấy. Một hôm người thôn
trưởng chờ Bồ-tát đi ra ngoài, liền đi vào nhà. Trong khi
chúng đang hưởng hoan lạc với nhau thì Bồ-tát từ cổng
làng đi về nhà. Người đàn bà ấy hướng mặt về phía
cổng làng, thấy Bồ-tát đi về, liền báo cho thôn trưởng
biết. Thôn trưởng hoảng hốt run sợ. Nữ nhân ấy nói:
- Chớ sợ, em đã có cách và bày
mưu. Hãy làm như ông đang đến đòi tiền thịt. Em sẽ leo
lên vựa lúa đứng trước cửa và nói: Không có lúa! Còn
ông đứng giữa nhà đòi nằng nặc: Nhà chúng tôi có trẻ
con. Hãy trả tiền thịt đây!
Nói vậy xong, nữ nhân ấy leo lên
vựa lúa, ngồi trước cửa vựa lúa. Người kia đứng giữa
nhà và la to:
- Hãy trả tiền thịt đi!
Nữ nhân ấy nói:
- Trong vựa không có lúa. Khi nào
gặt lúa, tôi sẽ trả. Hãy đi đi!
Khi vào nhà, Bồ-tát thấy chúng
làm như vậy, liền suy nghĩ: "Ðây là mưu mô do ác nữ nhân
này bày ra", liền gọi người thôn trưởng và nói:
- Này ông thôn trưởng, chúng tôi
ăn thịt con bò già của ông, có hứa đến hai tháng nữa chúng
tôi mới trả lúa. Nửa tháng chưa qua, sao nay ông lại đến
đòi? Ông đến đây phải vì lý do khác. Tôi không ưa hành
động của ông làm. Nữ nhân vô hạnh ác giới này biết rằng
trong vựa không có lúa, nay lại leo lên vựa lúa và nói to:
Không có lúa! Còn ông lại bảo: Hãy đưa đây! Ta không ưa
hành động của hai người!
Ðể nêu rõ ý nghĩa này, Bồ-tát
đọc những bài kệ:
Cả hai, ta không nhẫn,
Cả hai, ta không ưa.
Nữ nhân này leo lên
Ðứng một bên vựa lúa,
Lại nói lớn lên rằng:
Tôi không thể trả được!
Nghe đây, ông thôn trưởng,
Ta sống cực khổ thay,
Mượn con bò già, gầy,
Sau hai tháng mới trả,
Thời chưa đến, đòi nợ,
Ta không thích chuyện đó!
Nói vậy xong, Bồ-tát nằm lấy cái
búi tóc người thôn trưởng, kéo ra sân quăng gã xuống và
nói:
- Mày là thôn trưởng lại vi phạm
của cải trong nhà người khác!
Bồ-tát nói lên những lời mỉa
mai, đánh gã cho đến kiệt sức, nắm cổ gã và tống ra ngoài
nhà. Còn nữ nhân ác hạnh kia, Bồ-tát nắm lấy tóc, lôi
nó từ vựa lúa xuống, đánh ngã nhào và dọa:
- Nếu ngươi còn làm như vậy nữa,
ngươi sẽ biết tay ta!
Từ đấy trở đi tên thôn trưởng
không dám nhìn ngôi nhà ấy nữa, còn người vợ không dám
phạm tội, cho đến ý nghĩ cũng không!
*
Sau khi nói lên Pháp thoại này,
bậc Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng,
vị Tỷ-kheo thối thất đắc quả Dự-lưu. Và Ngài nhận diện
Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, người gia chủ
trừng phạt tên thôn trưởng là Ta vậy.
-ooOoo-
200. CHUYỆN
GIỚI HẠNH TỐT LÀNH (Tiền thân Sàdhusìla)
Một người trẻ đẹp trai...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một vị Bà-la-môn.
Vị ấy có bốn con gái và cũng
có bốn người đàn ông đến cầu hôn. Một người trai trẻ,
thân hình đẹp. Một người tuổi đã già. Một người sanh
trong gia đình quý phái. Một người có đức độ. Vị Bà-la-môn
suy nghĩ: "Khi con gái có nhiều người cầu hôn, không biết
nên gả cho người nào?". Vị Bà-la-môn suy nghĩ không thể
quyết đoán được, nên tự bảo: "Sự việc này cần phải
trình bậc Chánh Giác Ðẳng biết! Ta sẽ hỏi Ngài và ta sẽ
gả cho ai là người xứng đáng trong những người ấy". Nghĩ
vậy xong, vị Bà-la-môn đem theo hương liệu và vòng hoa đi
đến tịnh xá. Ðảnh lễ bậc Ðạo Sư xong, vị ấy ngồi
xuống một bên, bắt đầu kể lại việc và thưa:
- Bạch Thế Tôn, giữa bốn người
này, con không biết chọn ai.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Thuở trước cũng vậy, các
bậc hiền trí đã hỏi câu này, nhưng tái sanh nhiều lần,
ông không nhớ được.
Rồi theo lời Bà-la-môn yêu cầu,
bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Bà-la-nại, Bồ-tát được sanh ra trong một gia đình
Bà-la-môn. Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát đi học các
tài nghệ ở Takkasilà, và khi về, trở thành vị sư trưởng
nổi tiếng nhiều phương.
Bấy giờ, một vị Bà-la-môn có
bốn con gái. Và bốn người cầu hôn các cô gái ấy như trên
đã nêu. Vị Bà-la-môn không biết nên gả cho người nào,
tự nghĩ: "Sau khi hỏi sư trưởng, ta sẽ gả chúng cho người
nào xứng đáng nhất. Người Bà-la-môn đi đến sư trưởng,
hỏi việc ấy và đọc bài kệ đầu:
Một người trẻ đẹp trai,
Một người tuổi lại lớn,
Một người sanh quý phái,
Một người có giới hạnh,
Tôi hỏi bậc Sư trưởng,
Chúng tôi nên chọn ai?
Nghe nói vậy, vị sư trưởng trả
lời:
- Một người đẹp trai và các đức
tánh khác, nhưng nếu không có đạo hạnh thì cũng đáng chê
trách. Chúng tôi chỉ thích những người có đạo hạnh.
Ðể nêu lên ý nghĩ này, Bồ-tát
đọc bài kệ thứ hai:
Thật tốt, người đẹp xinh,
Người lớn tuổi nên trọng,
Cũng tốt, người thiện sanh,
Nhưng ta thích đức hạnh.
Vì Bà-la-môn nghe theo lời của sư
trưởng, và gả tất cả các con gái cho người đức hạnh.
*
Bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại
này xong, liền thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng,
vị Bà-la-môn đắc quả Dự-lưu và Ngài nhận diện Tiền
thân:
- Lúc bấy giờ người này là
vị Bà-la-môn, còn vị Sư trưởng có danh tiếng nhiều phương
là Ta vậy.