PHẨM BIRANATTHAMBHAKA
(Ðám cỏ thơm)
211. CHUYỆN
CHÀNG TRAI SOMADATTA (Tiền thân Somadatta)
Thường xuyên học thuộc lòng...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về Trưởng lão Làludàyi (Udàyì khờ dại).Tương
truyền khi ở trước mặt hai ba người, vị ấy không thể
nói được một lời. Vị ấy nhút nhát đến độ nghĩ thế
này, lại nói thế khác.
Các Tỷ-kheo ngồi trong Chánh pháp
đường, bàn luận về vấn đề này của Trưởng lão. Bậc
Ðạo Sư đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông ngồi
họp tại đây đang bàn luận vấn đề gì?
Khi nghe vấn đề trên, bậc Ðạo
Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Làludàyi mới nhút nhát quá đáng. Thuở trước, vị
ấy cũng đã như vậy.Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá
khứ
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn
ở xứ Kàsi. Khi lớn lên, Bồ-tát học nghề ở Takkasilà xong
đi về nhà, biết được cha mẹ nghèo khổ, và quyết định:"Ta
sẽ xây dựng lại gia đình bị sa sút".
Bồ-tát xin phép cha mẹ đi đến
Ba-la-nại và trở thành người hầu hạ vua, được vua thương
mến.
Bấy giờ người cha Bồ-tát làm
nghề cày ruộng với hai con bò, nhưng một con vừa chết. Ông
đi đến gặp Bồ-tát và nói:
- Này con thân, một con bò chết
rồi, không thể cày ruộng được nữa. Hãy xin vua một con
bò khác.
- Thưa cha thân, con mới hầu vua
không lâu. Nay con xin bò không thích hợp. Cha hãy xin đi.
- Con thân, con không biết cha nhút
nhát quá đáng. Trước mặt hai ba người, cha không thể nói
lên một lời. Nếu cha đi đến xin vua một con bò, cuối cùng
cha sẽ cho vua con bò còn lại này.
- Thưa cha thân, cha đừng giận con.
Con không thể xin vua nên con phải tập cho cha xin.
- Vậy thì hay lắm! Hãy tập cho
cha xin đi.
Bồ-tát đem cha đến một nghiã
địa có đám cỏ thơm, cột từng nắm cỏ lại, rải cỏ
chỗ này chỗ kia, và lần lượt chỉ cho cha:
- Ðây là vua, đây là phó vương,
đây là tướng quân. Và rồi Bồ-tát nói:
- Thưa cha thân, khi đi đến gặo
vua, trước tiên cha nhớ nói: Ðại vương muôn năm, và đọc
bài kệ này, rồi xin con bò.
Và Bồ-tát dạy cha học thuộc lòng
bài kệ này:
Thưa Ðại vương, thần có
Hai con bò cày ruộng,
Một con bị chết đi,
Thưa bậc Sát-đế-ly,
Hãy cho con bò khác!
Vị Bà-la-môn cần một năm để học
thuộc lòng câu kệ này, rồi nói với Bồ-tát:
-Này con thân ! Cha đã thuộc lòng
những bài kệ này, cha có thể nói lên bài kệ ấy với bất
cứ ai. Hãy đưa cha đến hầu vua.
- Lành thay, thưa cha thân,
Vì vậy Bồ-tát đem theo quà tặng
thích hợp, đưa cha đến yết kiến vua. Vị Bà-la-môn nói:
- Ðại vương muôn năm!
Và ông dâng vua tặng phẩm. Vua hỏi:
- Này Somadatta, vị Bà-la-môn là
gì đối với khanh?
- Thưa Ðại vương đó là cha thần.
- Ông đến đây có việc gì?
Lúc bấy giờ vị Bà-la-môn đọc
bài kệ để xin bò:
Thưa Ðại vương, thần có Hai con
bò cày ruộng, Một con bị chết đi. Thưa bậc Sát-đế-ly,
Hãy lấy con bò kia!
Vua biết vị Bà-la-môn nói sai, liền
cười và nói:
- Này Somadatta, hình như ở nhà khanh
có nhiều bò lắm ư?
- Tâu Ðại vương, nếu có vậy
là do Ðại vương ban cho.
Vua bằng lòng với câu trả lời
Bồ tát, liền cho vị Bà-la-môn mười sáu con bò với các
dây đai trang sức, một ngôi làng để ở và bảo đưa người
cha về với nhiều nghi lễ long trọng. Vị Bà-la-môn leo lên
cỗ xe do ngựa Sindh toàn trắng kéo đi về làng với một số
tùy tùng đông đảo trong cảnh huy hoàng. Bồ tát ngồi trong
xe cùng với cha và nói:
- Thưa cha thân, cả năm con đã dạy
cha học thuộc lòng. Khi thời cơ đến, cha lại cho vua con bò!
Rồi Bồ tát đọc bài kệ đầu:
Thường xuyên học thuộc lòng,
Không bao giờ phóng dật.
Cả năm trường như vậy,
Học với chùm cỏ thơm,
Khi đứng trước triều thần,
Trả lời sai ý nghĩa,
Thực hành không ích lợi
Vì trí tuệ ít ỏi.
Nghe Bồ tát nói vậy, vị Bà-la-môn
đọc bài kệ thứ hai:
Sô-ma-đát-ta thân,
Người yêu cần điều gì,
Giữa hai điều được một.
Hoặc không được gì cả,
Hoặc có được tài sản,
Pháp yêu cầu là vậy.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ
nay Udàyi mới nhút nhát quá đáng. Thuở xưa vị ấy cũng nhút
nhát quá đáng như vậy rồi.
*
Sau khi thuyết Pháp thoại này,
bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, cha của Somadatta
là Làludàyi, còn Somadatta là Ta vậy.
-ooOoo-
212. CHUYỆN
THỨC ĂN THỪA (Tiền thân Uchitthabhatta)
Trên đầu sắc lại khác...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về sự luyến ái người vợ cũ.
Tỷ-kheo ấy được bậc Ðạo
Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, nghe nói ông bị
ái nhiễm?
Vị ấy đã trả lời:
- Có thực vậy.
- Ông luyến ái ai?
- Con luyến ái người vợ cũ.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, nữ nhân này thuở
trước đã làm hại ông và khiến ông ăn đồ ăn thừa của
nhân tình nó.
Nói xong, bậc Ðạo Sư kể câu
chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ tát sanh ra trong gia đình một người
nhào lộn nghèo khổ, sống bằng cách ăn xin. Khi đến tuổi
trưởng thành, Bồ tát nghèo khổ, thiếu thốn, và xin ăn để
sống.
Lúc bấy giờ trong nước Kàsi, tại
làng nhỏ, người vợ của một Bà-la-môn có tà hạnh, theo
ác pháp, thường hành động tội lỗi. Một hôm, vì một vài
công việc, vị Bà-la-môn đi ra ngoài, và người tình của
nữ nhân ấy được cơ hội liền lẻn vào nhà. Sau khi hành
lạc với nữ nhân ấy xong, gã nói:
- Ta muốn ăn một chút gì rồi sẽ
đi.
Bà ta liền sửa soạn đồ ăn, dọn
cơm, hâm canh và cho người tình ăn, còn mình đứng ở cửa
canh chồng đi về.
Tại chỗ người tình ấy đang ăn,
Bồ tát đứng chờ xin cơm, và chứng kiến câu chuyện. Khi
vị Bà-la-môn xong việc, ông trở về nhà. Nữ Bà-la-môn thấy
chồng về, liền đi nhanh vào nhà nói:
- Hãy đứng dậy, vị Bà-la-môn
đang đi về!
Người vợ bảo tình nhân đi trốn
vào kho chứa đồ, và đón vị Bà-la-môn vào nhà. Khi vị Bà-la-môn
ngồi xuống, bà vợ sửa soạn chỗ ngồi, đưa nước rửa
tay, và trên phần cơm nguội lạnh do người kia ăn thừa, bà
thêm phần cơm nóng và mời ông ăn. Vị Bà-la-môn đặt tay
xuống cơm, thấy cơm dưới nguội trên nóng suy nghĩ: "Cơm
này có thể là cơm thừa của một người khác đã ăn rồi".
Ông liền hỏi nữ Bà-la-môn với bài kệ đầu:
Trên đầu sắc lại khác,
Phía dưới sắc lại khác,
Ta hỏi nữ Phạm chí,
Sao dưới vậy, trên vậy?
Nữ Bà-la-môn sợ việc làm của mình
bị bại lộ, dầu vị Bà-la-môn hỏi đi hỏi lại, vẫn giữ
im lặng. Lúc bấy giờ, con người nhào lộn đang đứng xin
ăn ở ngoài cửa suy nghĩ: "Người đàn ông núp trong kho chứa
đồ chắc là tình nhân. Người này chắc là chủ nhà. Nữ
Bà-la-môn sợ việc làm của mình bị bại lộ nên không nói
gì. Vậy ta hãy phô bày việc làm của nữ Bà-la-môn ấy, nói
cho vị Bà-la-môn biết chỗ nấp của người tình trong kho
chứa đồ".
Bồ-tát liền đem toàn bộ câu chuyện
nói cho vị Bà-la-môn biết, từ khi ông đi ra khỏi nhà, người
kia đi vào nhà, hành lạc, ăn cơm ngon, và nữ Bà-la-môn đứng
ở cửa nhìn ra đường bảo người kia núp xuống trong kho
chứa đồ. Người nhào lộn nói như vậy cho ông chủ nhà
biết và đọc bài kệ thứ hai.
Kính thưa bậc Tôn giả
Tôi là người nhào lộn
Tôi đã đi đến đây,
Chỉ là để xin ăn,
Người núp trong kho chứa
Là người Tôn giả tìm.
Bồ-tát nắm búi tóc người tình địch,
kéo gã ra khỏi kho chứa, dặn nó chớ có làm việc ác như
vậy nữa, rồi ra đi. Còn vị Bà-la-môn, đánh và dạy cả
hai người chớ làm ác như vậy nữa.
Rồi về sau ông mang chung và đi
theo nghiệp của mình.
*
Sau khi thuyết Pháp thoại này
xong, bậc Ðạo Sư giảng các Sự thật. Cuối bài giảng, vị
Tỷ-kheo ấy đắc quả Dư lưu. Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn
là người vợ trước, vị Bà-la-môn là vị Tỷ-kheo bị ái
nhiễm, còn người nhào lộn là Ta vậy.
-ooOoo-
213.CHUYỆN VUA
BHARU (Tiền thân Bharu)
Ta nghe vua Bharu...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về vua Kosala.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn được
vua Kosala cung kính tôn trọng đảnh lễ, cúng dường, nhận
các tặng vật dồi dào như đồ ăn khất thực, sàng toạ,
dược phẩm trị bệnh. Chúng Tỷ-kheo cũng được cúng dường.
Hội chúng ngoại đạo thấy lợi
dưỡng, danh vọng của họ bị giảm thiểu bèn hội họp bí
mật, ngày đêm thảo luận như sau:
- Từ khi Sa-môn Gotama xuất hiện,
các lợi dưỡng danh vọng của chúng ta bị tổn giảm. Sa-môn
Gotama được lợi dưỡng và danh vọng tối thượng. Vì nhân
duyên gì, Sa-môn ấy được thành công như vậy ?
Một người trong hội chúng nói:
- Sa-môn Gotama có một trú xứ
tối thượng, an toàn nhất ở cõi Diêm-phù-đề (Ấn Ðộ).
Do vậy, Sa-môn Gotama được lợi dưỡng cung kính. Ðể có
lợi dưỡng, chúng ta cũng xây dựng một tịnh thất ngoại
đạo ở bên cạnh Kỳ Viên, như vậy chúng ta sẽ được cúng
dường nhiều tặng vật.
Tất cả đi đến kết luận chung
là như vậy.
Nhưng rồi họ nghĩ:"Nếu chúng
ta không báo tin cho vua biết việc xây tịnh thất này, thì
các Tỷ-kheo sẽ ngăn chận chúng ta. Còn nếu vua nhận được
quà tặng, vua sẽ không ngần ngại phá trú xứ của họ. Do
vậy chúng ta phải hối lộ vua, và chúng ta sẽ lấy được
chỗ làm tịnh thất.
Họ thỏa thuận yêu cầu các
cận thần đem dâng vua một trăm ngàn đồng và thưa:
- Thưa Ðại vương, chúng tôi
muốn làm một tịnh thất ngoại đạo ở bên cạnh Kỳ Viên.
Nếu các Tỷ-kheo nói với Ðại vương: Chúng tôi không cho
phép làm, thì Ðại vương chớ trả lời họ.
Vì tham của hối lộ, vua chấp
thuận việc ấy.
Hội chúng ngoại đạo được
vua chấp thuận, liền mời một kiến trúc sư bắt đầu công
trình xây dựng, và gây tiếng ồn ào. Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Ànanda, tiếng ồn ào ầm
ĩ này là tiếng gì?
- Bạch Thế Tôn, các người ngoại
đạo đang xây dựng tịnh thất bên cạnh Kỳ Viên. Tiếng
ồn ào nổi lên từ đấy.
- Này Ànanda, chỗ ấy không thích
hợp cho tịnh thất ngoại đạo. Các phái ngoại đạo ưa lớn
tiếng ồn ào. Không thể sống với họ được.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư họp
chúng Tỷ-kheo lại và nói:
- Này các Tỷ-kheo, hãy đi báo
cho vua biết, yêu cầu vua ngăn chận việc làm tịnh thất ngoại
đạo.
Chúng Tỷ-kheo đi đến và đứng
tại cửa hoàng cung. Vua nghe chúng Tỷ-kheo đến, biết rằng
họ đến để ngăn việc xây tịnh thất ngoại đạo. Nhưng
tự mình đã nhận tiền hối lộ, nên vua bảo người hầu
cận ra nói rằng vua không có ở nhà. Các Tỷ-kheo trở về
trình bậc Ðạo Sư. Ngài biết vua nhận hối lộ nên làm vậy.
Ngài cử hai vị đại đệ tử ra đi. Vua nghe hai vị đại
đệ tử đến, cũng bảo người trả lời như trước. Hai
vị đại đệ tử ấy trở về trình bậc Ðạo Sư. Ngài nói:
- Này Xá-lợi phất, chắc chắn
hôm nay vua không ở trong nhà. Có lẽ vua đi ra ngoài.
Vào sáng hôm sau, bậc Ðạo Sư
đắp y, cầm bát, cùng với năm trăm Tỷ-kheo, đi đến cửa
cung. Vua nghe chư vị đến, liền từ trên lầu bước xuống
cầm lấy bình bát của bậc Ðạo Sư. Vua cúng dường các
món cơm cháo lên chúng Tăng với đức Phật là vị lãnh đạo,
và đảnh lễ bậc Ðạo Sư, rồi vua ngồi xuống một bên.
Bậc Ðạo Sư bắt đầu thuyết
giảng cho vua:
- Thưa Ðại vương, các vua thuở
trước đã nhận của hối lộ, do đó gây ra sự đấu tranh
giữa các vị có giới đức, nên đã mất chủ quyền nước
mình và gặp đại nạn.
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu
của vua, bậc Ðạo Sư kể lại câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, tại nước Bharu, vua Bharu
trị vì quốc độ. Lúc bấy giờ, Bồ-tát là vị khổ hạnh,
đã đạt được năm Thắng trí và tám Thiền chứng, là bậc
sư trưởng một hội chúng, cư trú lâu ngày tại khu vực Tuyết
Sơn.
Vì cần dùng muối và giấm, Bồ-tát
cùng năm trăm vị tu khổ hạnh từ Tuyết Sơn theo thứ tự
đi đến thành Bharu. Tại đấy hội chúng khất thực xong,
đi ra khỏi thành, ngồi xuống gần cổng phương bắc, dưới
gốc một cây bàng đầy cành lá. Họ dùng cơm và trú ở đấy.
Bấy giờ, khi chúng đạo sĩ ấy
sống tại đấy khoảng nửa tháng, một vị sư trưởng hội
chúng khác với năm trăm đạo sĩ cùng đi đến khất thực
trong thành xong, đi ra khỏi thành, ngồi xuống tại cổng phiá
nam, dưới một gốc cây bàng tương tự. Sau khi ăn uống xong,
họ cũng trú tại đấy. Như vậy hai hội chúng đạo sĩ ăn
uống ở đấy cho đến thỏa thích, rồi đi về Tuyết Sơn.
Khi hội chúng đi rồi, cây bàng
ở cổng phía nam bị khô héo. Lần sau, hai hội chúng ấy lại
đến. Những vị trú ở cây bàng tại cổng nam đến trước,
và thấy cây bàng của mình bị khô héo. Sau khi đi khất thực,
họ ra khỏi thành đến gốc cây bàng tại cổng phía bắc.
Ăn uống xong, họ sống ở tại đấy. Các đạo sĩ của hội
chúng kia đến sau, khất thực trong thành xong, đi đến gốc
cây của mình, ngồi ăn uống và cũng muốn trú tại đấy.
Họ nói:
- Cây này không phải là cây của
các ông. Chính là cây của chúng tôi.
Như vậy, vì cái cây họ bắt đầu
tranh cãi nhau. Cuộc tranh cãi trở thành lớn chuyện. Một số
đạo sĩ này nói:
- Các ông không được lấy chỗ
của chúng tôi ở trước kia.
Một số đạo sĩ khác nói:
- Lần này chúng tôi đến đây trước.
Các ông không được lấy chỗ này. Như vậy chúng tôi là
chủ.
Và vì vấn đề gốc cây, cả hai
hội chúng đi đến hoàng cung. Vua quyết định cho hội chúng
đạo sĩ đến ở trước tiên là chủ nhân của gốc cây ấy.
Nhóm kia nói với nhau:
- Nay chúng ta không thể nhịn thua
những người này.
Với thiên nhãn họ nhìn xung quanh,
thấy một hòm xe xứng đáng là sở hữu của một vị đại
vương, liền mang xe báu ấy hối lộ cho nhà vua và thưa:
- Thưa Ðại vương, hãy làm cho chúng
tôi thành người chủ cái cây.
Nhà vua nhận hối lộ và quyết
định cả hai hội chúng ở đây đều là chủ nhân. Nhóm đạo
sĩ kia đem lại những bánh xe bằng bạc của chính hòm xe ấy,
hối lộ vua và thưa:
- Thưa Ðại vương, hãy làm chúng
tôi trở thành người chủ độc nhất.
Vua làm đúng như vậy. Sau đó hai
hội chúng đạo sĩ suy nghĩ: "Chúng ta là những người đã
đoạn tận dục về sở hữu và các dục gây phiền não, xuất
gia tu hành, nay lại vì một gốc cây mà sanh ra đấu tranh,
rồi đem của hối lộ. Ðây là việc không xứng đáng."
Họ ăn năn hối lỗi, và vội vã
đi về Tuyết Sơn.
Chư thần trú trong toàn nước Bharu
đều nhất trí phẫn nộ đối với vua Bharu vì vua đã làm
các vị có đức hạnh tranh đấu với nhau, một việc làm
không thích đáng. Họ liền dâng nước lên tràn ngập xứ
Bharu đến ba trăm dặm khiến cả nước ấy không còn nữa.
Như vậy, chỉ vì vua Bharu toàn dân trong nước Bharu gặp nạn
diệt vong.
Sau khi kể câu chuyện quá khứ,
bậc Ðạo sư nhân danh bậc Chánh Ðẳng Giác, nói lên những
bài kệ này:
Ta nghe vua Bha-ru,
Làm đạo sĩ đấu tranh,
Tự mình gặp đại nạn,
Cùng với cả quốc độ,
Như vậy vì tội ấy,
Vua đi đến diệt vong.
Vậy bậc trí không khen,
Dục chinh phục nội tâm,
Vị có tâm không nhiễm,
Nói toàn lời chân thật.
Khi bậc Ðạo sư thuyết Pháp thoại
này xong, Ngài nói với đức vua:
- Thưa Ðại vương, chớ để lòng
dục ngự trị, làm cho hai hội chúng xuất gia đấu tranh với
nhau là việc không nên.
*
Rồi bậc đạo sư nhận diện
Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Ta là người
lãnh đạo nhóm các vị hiền trí.
Khi cúng dường đức Như lai xong,
và bậc Ðạo sư đã ra về, vua sai người đến phá hủy tịnh
thất ngoại đạo, khiến các phái ngoại đạo không có trú
xứ.
-ooOoo-
214. CHUYỆN
CON SÔNG ÐẦY (Tiền thân Punna-Nadi)
Vật gì người ta nói...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo sư kể về trí tuệ Ba-la-mật.
Một thời đại chánh pháp đường,
các Tỷ-kheo nói chuyện liên hệ đến trí tuệ của Như lai:
- Thưa các Hiền giả, bậc Chanh
đẳng giác có trí tuệ vĩ đại, trí tuệ rộng rãi, minh trí,
mẫn tiệp, trí tuệ sắc bén, trí tuệ thấu triệt, và đầy
đủ phương tiện.
Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông hội
họp ở đây đang bàn luận vấn đề gì?
Khi nghe vấn đề trên, bậc Ðạo
Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay, mà thuở trước cũng vậy, Như Lai đã có trí tuệ
và thiện xảo phương tiện.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình của vị cố
vấn tế tự. Khi trưởng thành, vị ấy đi học tất cả các
nghề ở Takkasilà. Sau khi phụ thân mất, vị ấy nhận được
chức vụ cố vấn tế tự cho vua về thánh sự và tục sự.
Sau một thời gian, vua nghe theo lời
gièm pha của các nịnh thần, phẫn nộ không cho Bồ-tát ở
gần, và tẩn xuất vị ấy ra khỏi thành Ba-la-nại. Bồ-tát
đem vợ con đi, và sống tại một làng nhỏ ở Kàsi.
Sau một thời gian, vua nhớ lại
công đức của Bồ-tát, suy nghĩ: "Nếu ta cử một sứ giả
đi mời sư trưởng về, như vậy không thích hợp. Ta hãy làm
một bài kệ, viết trên lá cây, cho nấu thịt quạ, gói cả
lá và thịt trong miếng vải trắng, đóng dấu ấn của vua
rồi gửi đi. Nếu sư trưởng là bậc hiền trí, sau khi đọc
tấm lá, và biết là thịt quạ, sư trưởng sẽ đến. Nếu
không, vị ấy sẽ không đến".
Vì vậy, nhà vua viết bài kệ này
trên tấm lá:
Vật gì người ta nói
Uống được nước sông đầy?
Vật gì người ta nói
Ðược lúa mì che lấp?
Vật gì người ta nói
Người lữ hành đi xa?
Vật ấy, nay đã đến,
Hãy ăn, Bà-la-môn!
Như vậy vua viết bài kệ này trên
lá, rồi gửi cho Bồ tát. Bồ tát đọc thư tự nghĩ: "Vua
muốn gặp ta" và đọc bài kệ thứ hai:
Vì vua còn nhớ ta,
Nên mới gởi cho quạ,
Ngỗng trời, hạc, chim công,
Vua cũng sẽ gửi thôi,
Nếu vua không gửi gì
Ấy là điều đáng ngại
Bồ tát cho thắng bò vào xe và đi
đến yết kiến vua. Vì thế vua thoả mãn, đặt Bồ tát vào
chức vụ cố vấn tế tự như cũ.
*
Bậc Ðạo Sư kể Pháp thoại
này xong, liền nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vua là Ànanda,
còn vị tế tự là Ta vậy.
-ooOoo-
215. CHUYỆN
CON RÙA (Tiền thân Kachapa)
Con rùa nói lên lời...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về Kokàlika. Câu chuyện sẽ được kể
trong Tiền thân Mahàtakkàra (số 481). Bấy giờ, bậc Ðạo
Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Kokàlika mới bị hại vì lời nói. Thuở trước, kẻ
ấy cũng đã bị hại như vậy.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong đình một đại thần,
khi lớn lên, trở thành vị cố vấn của vua về thánh sự
và thế sự. Nhưng vua có tánh hay nói nhiều. Khi vua nói, không
cho ai cơ hội xen vào. Và Bồ tát muốn ngăn chận vua nói nhiều,
nên cố tìm một cơ hội.
Lúc bấy giờ, trong khu vực Tuyết
Sơn, một con rùa sống ở một hồ nước. Hai con ngỗng trời
trẻ đi tìm mồi, đến kết thân với con rùa ấy. Dần dần,
chúng trở thành rất thân thiết. Một hôm ngỗng trời con
nói với rùa:
- Này bác rùa, chỗ chúng tôi ở
tại Tuyết Sơn, trên cao nguyên núi Cittakùta, trong một cái
hang bằng vàng, trú xứ rất đẹp. Hãy đi với chúng tôi nhé!
- -, làm sao tôi đi được?
- Chúng tôi sẽ đưa bác đi, nếu
bác có thể giữ gìn cái miệng của bác và đừng nói một
điều gì hết.
- Ðược, tôi sẽ giữ gìn. Hãy
đem tôi đi.
Chúng chấp thuận, bảo con rùa ngậm
một cây gậy, còn chúng cắn vào hai đầu gậy, rồi bay lên
hư không.
Bọn trẻ con trong làng thấy con
rùa được các con ngỗng trời trẻ đưa đi như vậy, liền
la lên:
- Hai con ngỗng trời mang con rùa
lên cái gậy!
Con rùa muốn nói lên: Nếu bạn
ta đưa ta đi thì có can hệ gì đến các ngươi, đồ bọn
vô loại kia?
Trong khi ấy, hai con ngỗng trời
đã bay mau đến khoảng trên cung điện vua trong thành Ba-la-nại.
Con rùa vừa nhả cây gậy định nói, liền rơi xuống trong
sân trống và bị vỡ làm hai. Khi ấy tiếng ồn ào nổi lên:
- Con rùa rơi trên sân trống đã
bị vỡ làm hai rồi!
Vua đem theo lời Bồ tát, cùng với
các đại thần vây quanh, đi đến chỗ ấy, thấy con rùa,
hỏi Bồ tát:
- Này bậc Hiền trí, vì sao con rùa
này rơi xuống?
Bồ tát suy nghĩ: "Chờ đợi đã
lâu, ta muốn giáo huấn vua và đang tìm một phương tiện.
Nay thời cơ đã đến. Chắc con rùa này kết thân với những
con thiên nga, được chúng đưa đi đến Tuyết Sơn. Chúng bảo
rùa ngậm cây gậy và đưa nó đi giữa hư không, rồi có lẽ
con rùa nghe lời ai đó nói, không thể giữ gìn cái miệng,
nó muốn nói nên nhả cái gậy ra, liền rơi từ hư không xuống
như vậy, và đi đến chỗ chết". Và Bồ tát thưa với vua:
- Thưa Ðại Vương, những ai lắm
mồm miệng, nói không dừng nghỉ, đều phải gặp tai họa
như vậy.
Rồi Bồ-tát đọc các bài kệ này:
Con rùa nói lên lời,
Lời nói tự hại mình,
Tuy khéo ngậm cái gậy,
Mở miệng tự sát hại.
Hãy thấy rõ điều này,
Bậc Nhân chủ vĩ đại,
Hãy nói lên vừa phải,
Cẩn thận nói đúng thời.
Kẻ nào nói nhiều lời,
Như con rùa gặp nạn.
Vua biết Bồ-tát kể chuyện này vì
mình liền nói:
- Thưa bậc Hiền trí, có phải vì
trẫm mà bậc Hiền trí nói vậy?
Bồ-tát trình bày rõ ràng và trả
lời:
- Dù Ðại vương hay người khác,
nếu nói quá lượng đều gặp nạn như vậy.
Từ đấy trở đi, vua bỏ tánh nói
nhiều và trở thành nguời ít nói.
*
Sau khi thuyết Pháp thoại này,
bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con rùa là Kokàlika,
hai con ngỗng trời là hai vị Trưởng lão lừng danh, vua là
Ànanda, cò vị đại thần hiền trí là Ta vậy.
-ooOoo-
216. CHUYỆN
CON CÁ (Tiền thân Maccha)
Không vì lửa này đốt...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một người luyến ái với vợ cũ. Thế
Tôn hỏi Tỷ-kheo ấy:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng
ông bị ái nhiễm?
Tỷ-kheo đáp:
- Bạch Thế Tôn, có thật vậy.
Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Vì ai?
- Bạch Thế Tôn, vì người vợ
cũ.
Bậc Ðạo Sư nói với vị ấy:
- Này Tỷ-kheo, nữ nhân này đã
đem tai hoạ cho ông. Thuở xưa, vì nữ nhân này, ông gần bị
cây cọc đâm và bị nướng trên lửa để làm đồ ăn. Nhờ
các bậc Hiền trí, ông được cứu mạng.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát là vị cố vấn tế tự cho vua ấy.
Một hôm, các người đánh cá kéo lên một con cá bị mắc
trong lưới, liền quăng con cá trên mặt cát nóng.
Họ đẽo nhọn một cái que và nghĩ:"Chúng
ta sẽ nướng con cá này trên than đỏ và ăn".Con cá nghĩ đến
con cá cái, khóc than và đọc hai bài kệ này:
Không vì lửa này đốt,
Không vì dùi nhọn đâm,
Vì cá cái nghi tôi
Vui chơi với cá khác!
Chính lửa tình đốt tôi!
Làm khổ tâm tư tôi.
Các ngài hãy thả tôi,
Ái dục không đáng chết!
Lúc bấy giờ Bồ-tát đi đến bờ
sông nghe con cá ấy than khóc, liền đi đến gặp các người
thợ săn và can thiệp để họ thả con cá ấy.
*
Sau khi thuyết Pháp thoại này,
bậc Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng
ấy, vị Tỷ-kheo bị ái nhiễm đã đắc quả Dự lưu.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, con cá cái là
người vợ thuở trước, Tỷ-kheo bị ái nhiễm là con cá,
còn vị cố vấn tế tụ là Ta vậy.
-ooOoo-
217. CHUYỆN
NGƯỜI BÁN RAU (Tiền thân Seggu)
Thế giới thích hoan lạc...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một nam cư sĩ bán rau trái. Câu chuyện
này đã được nói đến trong Chương một (số 102). Tại đây,
bậc Ðạo Sư hỏi nam cư sĩ ấy:
- Này nam cư sĩ, sao lâu ngày ông
không đến?
- Bạch Thế Tôn, con gái của
con thường hay cười. Sau khi thử thách nó, con đã gả nó
cho con trai một gia đình quý tộc. Vì phải làm việc này,
con không có dịp đến yết kiến Ngài.
Rồi bậc Ðạo Sư nói với nam
cư sĩ ấy:
- Này nam cư sĩ, không phải chỉ
nay con gái ông có giới hạnh. Thuở trước, nàng cũng có giới
hạnh rồi. Không phải chỉ nay ông mới thử thách nàng. Thuở
trước, ông cũng đã thử thách nàng.
Rồi theo lời nam cư sĩ yêu cầu,
bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát làm một vị thần cây.
Lúc bấy giờ, người nam cư sĩ
buôn bán rau trái này nghĩ: "Ta sẽ thử con gái của ta". Rồi
ông đem cô vào rừng, cầm tay cô làm như thể ông có ham muốn
tội lỗi với cô. Sau đó người cư sĩ đọc bài kệ đầu
với con gái đang than khóc:
Thế giới thích hoan lạc,
Còn con gái của ta
Lại không khéo hiểu biết
Ðối với chuyện hạ liệt.
Nay con còn được gọi
Thiếu nữ đồng trinh chăng?
Bị ta bắt trong rừng,
Thôi con đừng khóc nữa!
Nghe vậy, cô con gái nói:
- Thưa cha thân, con vẫn là con gái!
Con không biết gì về dâm dục cả.
Rồi vừa khóc, cô vừa đọc bài
kệ thứ hai:
Người đáng bảo vệ con
Khỏi buồn phiền đau khổ,
Người ấy là cha con,
Lại ác ý trong rừng,
Nay con khóc với ai,
Giữa núi rừng thanh vắng,
Người đáng bảo vệ con,
Lại muốn dùng sức mạnh?
Như vậy, người bán rau trái ấy thử
con gái mình xong, liền đưa cô về nhà, và gả cô cho một
chàng trai tốt. Về sau, ông mạng chung và đi theo nghiệp của
mình.
*
Khi bậc Ðạo sư kể Pháp thoại
này xong, Ngài thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng,
người bán rau chứng quả Dự lưu và Ngài nhận diện Tiền
thân:
- Lúc bây giờ người cha và cô
con gái là hai người hiện tại, còn vị thần cây chứng kiến
câu chuyện ấy là Ta vậy.
-ooOoo-
218. CHUYỆN
NGƯỜI LÁI BUÔN LỪA ÐẢO (Tiền thân Kùtavànija)
Man trá trị man trá...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một người đi buôn lừa đảo.
Có hai người lái buôn ở Xá-vệ,
một người lừa đảo và một người lương thiện. Hai người
này hùn vốn với nhau, chất đầy hàng hóa trên năm trăm cỗ
xe, di chuyển từ đông sang tây, buôn bán thâu hoạch lợi tức
nhiều, rồi đi trở về Xá-vệ.
Người lái buôn lương thiện
nói với người lái buôn lừa đảo:
- Thưa bạn, chúng ta sẽ chia hàng
hoá.
Người lái buôn lừa đảo suy
nghĩ:"Người này lâu ngày mệt mỏi vì thiếu ăn thiếu ngủ.
Nay về nhà, được ăn uống đầy đủ các món ngon đặc biệt
khác nhau sẽ chết vì không tiêu hóa được. Khi ấy tất cả
hàng hóa thuộc về ta".Vì vậy, anh ta nói:
- Sao các trời hôm nay không được
tốt. Ngày cũng không được lành. Mai mốt chúng ta sẽ tính
việc ấy.
Anh ta cố tìm cớ trì hoãn.Nhưng
người lương thiện cứ thúc bách mãi nên họ cũng chia hàng
hoá. Sau đó, vị ấy đem theo hương và vòng hoa đi đến cúng
dường bậc Ðạo Sư, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một
bên. Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Ông về từ bao giờ?
- Bạch Thế Tôn, con về khoảng
nửa tháng.
Ngài lại hỏi:
- Tại sao ông chậm đến thăm
Như Lai?
Vị ấy trình câu chuyện trên.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này nam cư sĩ, không phải chỉ
nay kẻ ấy lừa đảo như vậy. Thuở xua, đó cũng là người
lái buôn lừa đảo.
Rồi theo lời yêu cầu của vị
ấy, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại. Bồ-tát sanh ra trong gia đình của một đại
thần. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài đuợc cử làm quan
tư pháp.
Lúc bấy giờ có hai người lái
buôn, một người ở làng, một người ở thành phố làm bạn
với nhau. Người ở làng giao cho người ở thành phố năm
trăm lưỡi cày. Người ở thành bán những lưỡi cày ấy
giữ lấy tiền, và tại chỗ cất những luỡi cày ấy, anh
ta rải phân chuột.
Sau một thời gian, người ở làng
đến và nói:
- Hãy trả các lưỡi cày cho ta.
Người lái buôn lừa đảo nói:
- Các lưỡi cày của bạn đã bị
chuột ăn hết!
Và anh ta chỉ những đống phân
chuột. Người kia nói:
- Ôi !Những con chuột! Chúng mày
đã ăn thì ta còn làm gì được nữa?
Khi đi tắm, anh ta đem theo con trai
của người lái buôn lừa đảo, gưỉ nó trong nhà một người
bạn và dặn không cho dứa bé đi đâu cả, cứ bắt nó ngồi
trong phòng. Sau khi tắm xong, anh ta đến nhà người lái buôn
lừa đảo. Người này hỏi:
- Con tôi đâu?
- Thưa bạn, tôi để con bạn trên
bờ sông. Trong khi tôi lặn dưới nước, thì một con diều
hâu đến, giơ móng vuốt bắt con bạn và bay lên không rồi.
Tôi cố gắng đập nước, la lớn tiếng, nhưng không thể
cứu nó được.
- Bạn nói láo con diều hâu không
thể bắt đứa trẻ đem đi được!
- Này bạn sự thật là vậy. Việc
không đáng xảy ra lại xảy ra, thì tôi làm gì được ? Con
bạn đã bị con diều hâu bắt đi mất rồi!
Người kia mắng nhiếc:
- Ôi tên lừa đảo độc ác! Ôi
kẻ giết người! Nay ta sẽ đi đến quan tòa và kéo mày đến
đấy!
Rồi anh ta ra đi. Người lái buôn
ở làng nói:
- Hãy làm như ý bạn muốn.
Và anh ta đi đến pháp đường trình
quan. Người lái buôn lừa đảo nói với Bồ-tát:
- Thưa quan lớn, người này dắt
con tôi đi tắm. Khi tôi hỏi con tôi đâu rồi, anh ta nói nó
đã bị con diều hâu bắt đi rồi. Xin ngài xử vụ kiện này
cho tôi.
Bồ-tát nói với người kia:
- Này ông, hãy khai sự thật.
- Thưa quan lớn, vâng đúng vậy.
Tôi dẫn con nó đi, con nó bị diều hâu tha rồi. Sự thật
là như vậy, thưa ngài.
- Nhưng ở đời làm sao diều hâu
lại tha đứa trẻ đi được.
- Thưa quan lớn, tôi có một câu
muốn hỏi ngài: Nếu các con diều hâu không thể bắt đứa
trẻ và bay lên không được, thì làm sao các con chuột lại
ăn những lưỡi cày?
- Ông muốn nói gì thế?
- Thưa quan toà, tôi có cất tại
nhà người này năm trăm lưỡi cày. Khi tôi hỏi, anh ta nói
những lưỡi cày ấy đã bị chuột ăn. Rồi anh ta chỉ cho
tôi đống phân của các con chuột đã ăn các lưỡi cày. Thưa
quan lớn, nếu các con chuột ăn được lưỡi cày thì các
con diều hâu cũng có thể mang đi các đứa trẻ. Nếu các
con chuột không ăn được thì các con diều hâu cũng sẽ không
mang đứa trẻ đi được. Anh ta nói các con chuột đã ăn các
lưỡi cày, xin ngài hãy phán xét chúng có thể bị ăn hay không
thể bị ăn. Hãy xử vụ kiện này cho tôi.
Bồ-tát biết anh ta nghĩ ra cách
man trá để đối trị với cách man trá của tên kia, nên ngài
nói:
- Thật là một sự suy nghĩ khôn
ngoan!
Rồi Bồ-tát đọc hai bài kệ này:
Man trá trị man trá,
Ðây thật suy tính hay,
Dùng lừa đảo phản công
Ðối trị kẻ lừa đảo
Nếu cho rằng loài chuột
Có thể ăn lưỡi cày,
Thì sao các diều hâu
Lại không mang đứa trẻ?
Có những kẻ lừa đảo,
Lừa đảo kẻ lừa đảo,
Có những kẻ lường gạt
Lường gạt kẻ lường gạt!
Mất con, ông hãy cho
Lưỡi cày kẻ đã mất.
Người đã mất lưỡi cày,
Hãy trả con người khác!
Như vậy kẻ mất con nhận lại con,
và kẻ mất lưỡi cày nhận lại lưỡi cày. Và về sau, cả
hai đi theo nghiệp chủa mình khi mạng chung.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Người lái buôn lừa đảo thời
bấy giờ và người ngày nay là một, người lái buôn lương
thiện cũng là người hiện tại. Và vị quan tư pháp là Ta
vậy.
-ooOoo-
219. CHUYỆN
ÐÁNG CHỈ TRÍCH (Tiền thân Garahita)
Vàng ròng là của tôi...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ viên,
bậc Ðạo sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn và
không hoan hỷ.
Vị này không thể tập trung tư
tưởng vào một đối tượng độc nhất, và sống với tâm
luôn luôn bất mãn. Tăng chúng đưa Ty-kheo ấy đến bậc Ðạo
Sư. Ngài hỏi:
- Có thật chăng ông thối thất
tinh tấn ?
Vị ấy trả lời:
- Thật vậy, vì con bị phiền
não chi phối !
Bậc Ðạo Sư nói với Tỷ-kheo
ấy:
- Này Tỷ-kheo, phiền não này,
thuở trước, đã bị ngay các loài bàng sanh khinh miệt. Ông
đã xuất gia trong Giáo pháp này, sao lại thối thất tinh tấn,
vì bị chi phối bởi thứ phiền não mà ngay các loài bàng
sanh cũng khinh miệt?
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con khỉ ở khu vực Tuyết
Sơn. Bồ-tát bị một người đi rừng bắt đem về dâng vua.
Sống lâu ngày trong cung vua, làm đầy đủ các bổn phận,
Bồ-tát rõ biết việc làm, nếp sống trong thế giới loài
người. Vua bằng lòng với sự phục vụ của khỉ chúa, liền
cho gọi người thợ rừng và ra lệnh thả khỉ chúa tại chỗ
trước kia nó đã bị bắt. Người đi rừng làm đúng như
lệnh truyền. Khi đàn khỉ biết được Bồ-tát đã về, chúng
đến thăm, và hội họp trên một tảng đá lớn. Sau khi chào
đón hỏi thăm Bồ-tát, chúng nói:
- Thưa chúa khỉ, trong thời gian
dài như vậy, ngài sống ở đâu ?
- Trong cung vua tại Ba-la-nại, vua
dùng ta như con khỉ làm trò mua vui và bằng lòng vì sự phục
vụ của ta, nên đã thả ta.
Các con khỉ ấy hỏi:
- Chắc ngài biết cách sống của
loài ngưởi. Hãy nói cho chúng tôi biết. Chúng tôi muốn nghe
chuyện ấy.
- Chớ có hỏi ta về nếp sống
của loài ngừơi.
- Hãy nói đi, chúng tôi muốn nghe
Bồ-tát nói:
- Loài người dầu là Sát-đế-ly
hay Bà-la-môn đều nói: Ðây là tài sản của tôi!. Họ không
hiểu tánh vô thường làm cho mọi vật biến hoại. Các bạn
hãy nghe những hành động của những kẻ mù lòa ngu si ấy.
Rồi Bồ-tát đọc những bài kệ
này:
Vàng ròng là của tôi,
Vàng quý là của tôi !
Như vậy suốt ngày đêm,
Chúng rêu rao lớn tiếng,
Những người ngu si ấy
Không nhìn đến Chánh pháp.
Trong nhà, có hai chủ,
Một chủ không có râu,
Vú dài, có tóc bện,
Hai tai có đâm lỗ,
Ðược mùa với nhiều tiền,
Làm khổ đau mọi người.
Nghe vậy, tất cả đều nói:
- Chớ nói, chớ nói nữa chúng tôi
vừa nghe điều không đáng nghe !
Chúng bịt chặt tai với hai tay.
Và chúng không ưa chỗ ấy vì chúng nói:
- Tại chỗ này chúng ta đã nghe
một điều không xứng đáng nghe!
Vì vậy chúng đi chỗ khác. Tảng
đá chúng ngồi được gọi là tảng đá bị chỉ trích, người
ta nói như vậy.
*
Khi bậc Ðạo sư kể Pháp thoại
xong, Ngài thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy,
vị Tỷ-kheo đắc quả Dự lưu và ngài nhận diện tiền thân:
- Lúc bấy giờ, đàn khỉ là
hội chúng đức Phật, cón khỉ chúa là Ta vậy.
-ooOoo-
220. CHUYỆN
TẾ SƯ DHAMMADHAJA (Tiền thân Dhammadhaja)
Ngài sống vẻ an lạc...,
Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm,
bậc Ðạo Sư kể về những âm mưu sát hại Ngài, Lúc bấy
giờ Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay, mà thuở trước cũng vậy, Ðề-bà-đạt-đa đã âm
mưu sát hại ta, nhưng dù chỉ làm Ta sợ hãi cũng không thành.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể
câu chuyện quá khứ.
*
Thuở trước, vua Yasapàni trị vì
ở Ba-la-nại, vua có một vị tướng quân tên là Kàlaka (Hắc
nhân). Lúc bấy giờ, Bồ-tát là vị cố vấn tế tự tên
là Dhammaddahaja (Ngọn cờ Chánh pháp). Vua có một người thợ
hớt tóc và làm đồ trang sức đầu tóc cho vua tên là Chattapànì
(Người cầm dù).
Vua trị vì theo Chánh pháp. Nhưng
vị tướng quân lo việc xử kiện thường ăn hối lộ và
hay gièm pha. Khi đã lấy hối lộ, ông lừa đảo và chiếm
đoạt tài sản của những người sở hữu chủ chính đáng.
Một hôm, một người bị thua trong
một vụ kiện, hoa tay khóc lóc, khi đi ra khỏi pháp đình,
thấy Bồ-tát đang hầu vua, liền gieo mình xuống chân Bồ-tát
và thưa:
- Thưa ngài,trong khi ngài khuyến
giáo vua về thánh sự và tục sự, thì tướng quân Kàlaka
lấy hối lộ, làm các người sở hữu chủ phải mất tài
sản.
Và ông ta thuật lại vụ kiện của
mình. Bồ-tát động mối bi tâm nói:
- Này bạn, hãy đi theo ta, ta sẽ
xử vụ kiện cho bạn.
Bồ-tát đưa người ấy đến pháp
đường. Một số đông quần chúng tụ họp lại. Bồ-tát
xử vụ kiện của người ấy, và khiến người sở hữu chủ
được lấy lại tài sản. Quần chúng đều hoan hô. Tiếng
hoan hô làm thành tiếng ồn ào lớn. Vua nghe tiếng ồn ào
liền hỏi:
- Tiếng ồn ào gì vậy?
- Thưa Ðại vương, một vụ kiện
xử sai đã được bậc trí Dhammaaddhaja xử lại đúng pháp,
vì vậy đó là tiếng ồn ào do quần chúng hoan hô.
Vua bằng lòng, bảo mời Bồ-tát
đến và hỏi:
- Thưa Sư trưởng, trẫm nghe nói
Sư trưởng mới xử kiện?
- Thưa Ðại vương, phải. Thần
vừa xử xong một vụ kiện mà tướng quân Kàlaka đã xử
sai.
Vua nói:
- Bắt đầu từ nay, Sư trưởng
hãy xử các vụ kiện. Ðôi tai trẫm sẽ sung sướng, và thế
giới sẽ tăng thịnh.
Bổ-tát không muốn xử kiện. Nhưng
vua yêu cầu:
- Vì thương xót mọi loài hữu tình,
Sư trưởng hãy ngồi xử kiện.
Vì vậy Bồ-tát nhận lời.
Từ đấy trở đi Bồ-tát ngồi
xử kiện, và xử cho người sở hữu chủ chính đáng được
thắng kiện. Còn Kàlaka không được tiền hối lộ, lợi dưỡng
bị hao hụt nên bắt đầu gièm pha Bồ-tát trước mặt vua.
Ông ta tâu với vua:
- Thưa Ðại vương, Dhammaddhaja muốn
đoạt quốc độ của ngài.
Vua không tin và bảo ông ta đừng
nói như vậy nữa. Kàlaka nói:
- Nếu Ðại vương không tin thần,
khi nào Dhammaddhaja đi đến hầu, Ðại vương hãy nhìn qua cửa
sổ, rồi Ðại vương sẽ thấy Dhammaddhaja đã làm cho toàn
thành phố nằm trong tay của ông ta.
Vua thấy đám người được Bồ-tát
xử kiện, tưởng rằng đấy là hội chúng của Bồ-tát. Vua
sinh lòng nghi ngờ Bồ-tát và hỏi:
- Này tướng quân, nay chúng ta phải
làm gì?
- Thưa thiên tử, hãy giết nó.
- Chúng ta không thấy nó phạm trọng
tội nào,làm sao ta giết nó được?
- Ðã có một cách.
- Cách gì vậy?
- Hãy bảo nó làm một việc không
thể làm được. Khi nó làm không được, ta lấy tội ấy,
và ta sẽ giết nó.
- Nhưng việc gì không thể làm được?
- Thưa Ðại vương, một khu vườn
có đất tốt, được trồng cây và chăm sóc phải cần từ
hai đến bốn năm mới sanh trái được. Ðại vương hãy cho
gọi nó đến và bảo: "Ngày mai, trẫm muốn đến chơi tại
một khu vườn. Hãy làm cho trẫm một khu vườn". Nó sẽ không
thể làm được. Chúng ta nhân tội ấy sẽ giết nó.
Vua mời Bồ-tát đến nói:
- Thưa bậc Hiền trí, Trẫm đến
chơi tại khu vườn cũ lâu ngày đã chán. Nay trẫm muốn đến
chơi ở một khu vườn mới. Hãy xây dựng cho trẫm một khu
vườn mới. Nếu khanh không làm được việc ấy, khanh sẽ
mất mạng.
Bồ-tát biết: "Có lẽ vì Kàlaka
không nhận được tiền hối lộ, nên nó làm cho vua chống
đối ta". Bồ-tát nói với vua:
- Thưa Ðại vương, thần biết thần
sẽ lo việc ấy.
Rồi đi về nhà, sau bữa ăn, Bồ-tát
nằm trên giường suy nghĩ.
Lúc ấy chiếc ngai của Ðế Thích
(Thiên chủ Sakka) trở thành nóng. Ðế Thích hướng tâm suy
nghĩ, biết rằng Bồ-tát đang gặp khó khăn, liền vội vàng
hiện đến phòng ngủ của ngài, đứng trên không và hỏi:
- Thưa bậc Hiền trí, ngài đang
suy nghĩ gì?
- Người là ai?
- Ta là Ðế Thích.
- Vua bảo ta làm một khu vườn,
nên ta suy nghĩ về vấn đề ấy.
- Thưa bậc Hiền trí, chớ lo âu,
tôi sẽ làm cho ngài một khu vườn như rừng Nandana, như rừng
Cittalata ở thiên giới. Ta sẽ làm tại chỗ nào?
- Hãy làm tại chỗ ấy.
Ðế Thích làm khu vườn xong, đi
về thành chư Thiên.
Ngày hôm sau, tận mắt thấy khu
vườn, Bồ-tát đi bảo cho vua:
- Thưa Ðại vương, khu vườn đã
làm xong cho ngài, xin hãy đi đến tiêu khiển.
Vua đi đến, thấy khu vườn có
thành bao vây, rộng mười tám khuỷu tay, có sắc đỏ, có
các cửa và vọng lâu, được tô điểm với nhiều loại cây
nặng trĩu hoa và trái! Vì vậy vua nói với Kàlaka:
- Bậc hiền trí đã làm như lời
ta nói. Nay chúng ta phải làm gì?
- Thưa Ðại vương, nếu nó có thể
làm một ngôi vườn trong đêm, thời sao nó không thể cướp
đoạt vương quốc?
- Nay chúng ta phải làm cái gì?
- Chúng ta có thể bảo nó làm một
việc khác không thể làm đưọc.
- Việc gì vậy?
- Chúng ta bảo nó làm một cái hồ
bằng bảy báu.
Vua nói:
- Tốt lắm,
Và vua cho gọi Bồ-tát đến và
bảo:
- Thưa Sư trưởng, Sư trưởng đã
làm xong khu vườn. Sư trưởng hãy làm một cái hồ bảy báu
tương xứng với khu vườn này. Nếu không thể làm được,
mạng sống của khanh không còn nữa.
Bồ-tát thưa:
- Tốt lắm, thưa Ðại vương, có
thể thần sẽ làm được.
Rồi Ðế Thích làm một cái hồ
tuyệt đẹp, có một trăm cái bến, có một ngàn khúc cong,
trên che kín với sen năm sắc, giống như hồ trong vườn Nandana
ở thiên giới.
Hôm sau, Bồ-tát tận mắt thấy
cái hồ ấy liền báo cho vua biết:
- Thưa thiên tử, cái hồ đã làm
xong cho ngài.
Vua thấy cái hồ, lại bảo Kàlaka:
- Nay chúng ta phải làm gì?
- Thưa Ðại vương, hãy bảo nó
làm một cái nhà tương xứng với khu vườn.
Vua bảo Bồ-tát:
- Thưa Sư trưởng, nay hãy làm một
ngôi nhà toàn bằng ngà tương ứng với khu vườn và cái hồ
này! Nếu khanh không làm đưọc, mạng sống của khanh sẽ
không còn.
Và Ðế Thích làm một ngôi nhà
đúng như vậy.
Hôm sau, Bồ-tát tận mắt thấy
ngôi nhà liền báo cho vua biết. Vua thây ngôi nhà ấy hỏi
Kàlaka:
- Nay chúng ta phải làm gì?
Thưa Ðại vương, hãy bảo nó làm
một hòn ngọc tương xứng với ngôi nhà.
Vua bảo Bồ-tát:
- Này bậc hiền trí, hãy làm một
hòn ngọc tương xứng với ngôi nhà bằng ngà này. Với ánh
sáng hòn ngọc, trẫm sẽ đi dạo chơi trong nhà. Nếu khanh
không làm đưọc, khanh sẽ không còn mạng sống nữa.
Rồi Ðế thích làm xong hòn ngọc.
Hôm sau Bồ-tát tận mắt thấy hòn ngọc, liền trình vua. Vua
hỏi Kàlaka nên làm gì, Kàlaka thưa:
- Thưa Ðại vương, thần nghĩ có
một vị thần nào đó đã làm theo ý muốn của Bà-la-môn
Dhammaddhaja, nay hãy bảo nó làm một cái gì mà ngay các vị
thần cũng không làm được. Các vị thần không thể làm được
một con người đầy đủ bốn đức tánh. do vậy, Ðại vương
hãy bảo nó làm một con người giữ vườn đầy đủ bốn
đức tính.
Vua bảo Bồ-tát:
- Này Sư trưởng, Sư trưởng đã
làm xong cho chúng ta một khu vườn, một cái hồ, một cung
điện bằng ngà, một hòn ngọc chiếu tỏa ánh sáng. Nay khanh
hãy làm một người giữ vườn đầy đủ bốn đức tánh
để bảo vệ khu vườn của ta. Nếu khanh không thể làm được,
khanh sẽ mất mạng.
Bồ-tát đáp:
- Thưa vâng, nếu có thể, sẽ lo
làm việc ấy.
Rồi ngài đi về nhà. Sau buổi ăn
ngon, ngài nằm nghỉ. Sáng sớm, ngài thức dậy ngồi trên
mặt giường suy nghĩ: "Thiên chủ Ðế Thích đã làm những
gì có thể làm được, nhưng Ðế Thích không có thể làm
con người giữ vườn đầy đủ bốn đức tánh. Sự việc
là như vậy, thà chết cô độc trong rừng tốt hơn là chết
trong tay người khác"
Vì vậy, không nói với một ai,
Bồ-tát từ lầu đi xuống, ra khỏi thành bằng cổng chính,
vào rừng và ngồi dưới một gốc cây suy tư về thiện pháp.
Ðế Thích biết sự việc ấy, hóa làm một người thợ rừng,
đến gặp Bồ-tát và thưa:
- Thưa ngài Bà-la-môn, ngài được
nuôi dưỡng tế nhị, sao lại đi vào rừng này ngồi làm gì?
Ðể hỏi ý nghĩa này, Ðế thích
đọc bài kệ đầu:
Ngài sống vẻ an lạc,
Sao bỏ nước vào rừng?
Như một người khốn khổ
Một mình dưới gốc cây,
Ngồi thẫn thờ sầu muộn?
Nghe vậy, Bồ-tát đọc bài kệ thứ
hai:
Ta sống vẻ an lạc
Nhưng bỏ nước vào rừng,
Như một người khốn khổ
Cô độc ngồi gốc cây
Suy tư về Thánh pháp.
Rồi Ðế Thích thưa:
- Thưa ngài Bà-la-môn, sự việc
là như vậy, sao ngài ngồi tại chỗ này?
- Vua bảo làm một người giữ vườn
đầy đủ bốn đức tánh và vì không có thể làm được
một người như vậy, nên ta suy nghĩ: Sao ta lại chết trong
tay người khác? Ta sẽ vào rừng, và chết cô độc ở đó.
Vì vậy nên ta đến đây.
- Thưa ngài Bà-la-môn, tôi là thiên
chủ Ðế Thích, tôi đã làm ngôi vườn v.v... cho ngài. Tôi
không thể làm một người đầy đủ bốn đức tánh, nhưng
trong nước của vua có một thợ hớt tóc tên là Chattapàni
đầy đủ bốn đức tánh. Nếu phải có một người giữ
vườn, hãy giới thiệu người hớt tóc này là người giữ
vườn.
Ðế Thích khuyên nhủ Bồ-tát, an
ủi Bồ-tát chớ sợ gì nữa, rồi đi về thành phố chư Thiện.
Bồ-tát về nhà, ăn sáng xong đi
đến cửa cung, thấy Chattapàni tại đấy. Ngài cầm tay anh
ta và hỏi:
- Thưa bạn Chattapaàni, nghe nói bạn
có đủ bốn đức tánh phải không?
Chattapàni nói:
- Ai bảo ngài tôi có đầy đủ
bốn đức tánh?
- Chính thiên chủ Ðế Thích!
- Vì nguyên nhân gì Ðế Thích nói
vậy?
Bồ-tát kể lại tất cả câu chuyện
và nói lý do ấy.
Anh ta đáp:
- Thưa vâng, tôi có bốn đức tánh.
Bồ-tát liền cầm tay Chattapàni
đi đến yến kiến vua và thưa:
- Thưa Ðại vương, Chattapàni nầy
có đủ bốn đức tánh. Nếu cần một người giữ vườn,
Ðại vương hãy bảo người này giữ vườn.
Vua hỏi Chattapàni:
- Có thật là khanh đầy đủ bốn
đức tánh?
- Thưa vâng, tâu Ðại vương.
- Khanh có bốn đức tánh nào?
Vị ấy đọc bài kệ này:
Tôi không có ganh tị,
Tôi cũng không uống rượu,
Tôi không có ái nhiễm,
An trú không phẫn nộ,
Thiên tử, tôi là vậy.
Vua hỏi:
- Này Chattapàni, có phải khanh nói:
Tôi không có ganh tỵ?
- Ðúng vậy, thưa Thiên tử.
- Thấy những duyên cớ gì, khanh
không có ganh tỵ?
- Thưa Ðại vương, hãy nghe đây.
Chattapàni đọc bài kệ này, nói
lên tính không ganh tỵ của mình:
Xưa vì một nữ nhân,
Là vua, tôi ra lệnh
Bắt trói vị tế sư,
Nhưng vị ấy dạy tôi
An trú vào Thánh pháp,
Do vậy tôi không ganh.
Rồi vua hỏi Chattapàni:
- Này Chattapàni, do thấy tác hại
gì, khanh là người không uống rượu?
Chattapàni đọc bài kệ này:
Kính thưa bậc Ðại vương,
Xưa tôi uống rượu say,
Tôi đã ăn cả thịt
Chính đứa con trai tôi,
Tôi khổ đau sầu muộn,
Thề từ bỏ uống rượu.
Rồi vua lại hỏi:
- Này bạn, do thấy duyên cớ gì
bạn không còn ái nhiễm?
Chattapàni nói lên duyên cớ ấy
với một bài kệ này:
Xưa tôi chính Ðại vương
Tên Kì-ta-và-sa,
Con tôi đã làm vỡ
Bình bát Ðộc Giác Phật,
Và nó phải mệnh chung.
Do vậy, không ái nhiễm.
Vua tiếp tục hỏi Chattapàni:
- Do duyên cớ gì, bạn trở thành
người không phẫn nộ?
Chattapàni nói lên duyên cớ ấy
với một bài kệ này:
Tôi là A-ra-ka,
Bảy năm tu từ tâm,
Bảy kiếp sống Phạm thiên,
Do vậy, không phẫn nộ.
Khi Chattapàni đã nói lên bốn đức
tánh của mình, vua khen ngợi Bồ-tát trước hội chúng. Ngay
lúc ấy, các vị đại thần, Bà-la-môn, gia chủ v.v... đều
đứng dậy, và la lớn:
- Ôi, đồ ăn hối lộ! Ôi kẻ ăn
trộm ác độc! Ngươi không được của hối lộ, nên nói
xấu bậc hiền trí và muốn giết vị ấy.
Họ bắt giữ Kàlaka, kéo ông ta
ra khỏi cung vua, rồi chụp lấy bất cứ vật gì, kẻ lấy
đá, người lấy côn, họ đánh ông ta vỡ đầu và chết ngay.
Xong họ nắm chân ông ta lôi đi và quăng xác trên đống phân.
Từ đó về sau, vua trị nước thật
đúng pháp, rồi đi theo nghuệp của mình lúc mệnh chung.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
đạo sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, tướng Kàlaka
là Ðề-bà-đạt-đa, người thợ hớt tóc Chattapàni là Xá-lợi-phất,
còn Dhammaddaja là Ta vậy.