CHƯƠNG
BA
PHẨM
SANKAPPA
251. CHUYỆN
DỤC TẦM (Tiền thân Sankappa)
Không có người bắn cung...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một Tỷ-kheo thối thất tinh tấn.
Nghe nói, một thiện nam tử trú
ở thành Xá-vệ, do lòng tin Pháp nên đã xuất gia. Một hôm
đi vào thành Xá-vệ để khất thực, vị ấy thấy một nữ
nhân trang điểm đẹp đẽ, ái dục khởi lên trong tâm và
vị ấy không còn hoan hỷ trong nếp sống xuất gia.
Các vị sư trưởng, giáo thọ
thấy vậy, liền hỏi nguyên nhân vì sao vị ấy không được
hoan hỷ. Khi được biết ái dục của vị ấy khởi lên và
tâm dao động khiến vị ấy có ý muốn hoàn tục, họ liền
nói với nhau:
- Thưa các Hiền giả, bậc Ðạo
Sư có khả năng đoạn diệt các phiền não của những ai bị
ái dục bức bách. Ngài thuyết giảng các Sự thật, và đem
lại cho họ các kết quả tu chứng. Chúng ta hãy dẫn Tỷ-kheo
ấy đến bậc Ðạo Sư.
Ngài hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, vì sao các
ông lại đưa đến đây một Tỷ-kheo ngoài ý muốn của vị
ấy?
Các Tỷ-kheo tường thuật rõ
sự việc ấy. Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, có thật chăng
ông thối thất tinh tấn?
Vị ấy trả lời:
- Bạch Thế Tôn, sự thật là
như vậy.
Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Do nguyên nhân gì?
Tỷ-kheo ấy kể lại những sự
việc đã xảy ra. Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, các nữ nhân này
thuở trước đã làm uế nhiễm tâm của những bậc thanh tịnh,
những người đã nhiếp phục ái dục bằng thiền lực. Còn
đối với những hạng người trống rỗng như các ông, khi
bị nữ sắc chinh phục thì làm sao không bị ái dục xâm chiếm?
Các người thanh tịnh vẫn còn bị uế nhiễm, những vị có
danh vọng tối thượng vẫn còn bị ô nhục, thì nói gì đến
các người không thanh tịnh? Khi một ngọn gió làm rung chuyển
núi Tu-di thì sá gì mà không rung chuyển đống lá già cỗi
được sao? Ái dục này đã thử thách tâm bất động của
bậc Chánh Giác ngồi dưới cây Bồ-đề thì sao lại không
làm dao động tâm mới tu tập của một người như ông được?
Nói vậy xong, theo lời yêu cầu
của các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình Bà-la-môn đại
phú, tài sản lên đến tám trăm triệu đồng tiền vàng. Khi
lớn lên, Bồ-tát học hết tất cả các tài nghệ ở Takkasilà
rồi trở về Ba-la-nại lấy vợ.
Khi cha mẹ mất, Bồ-tát làm tất
cả các hiếu sự đối với song thân xong, Bồ-tát quan sát
gia sản và nghĩ: "Tài sản cha mẹ tạo vẫn còn đây. Nhưng
than ôi, những ai tạo ra gia sản này đâu còn nữa!". Vì vậy,
ngài cảm thấy xúc động mạnh và mồ hôi chảy ra từ thân.
Bồ-tát sống trong gia đình một thời gian, rồi bố thí tài
sản lớn, ngài bỏ các dục, từ giã bà con thân thuộc và
đi vào Tuyết Sơn để làm ẩn sĩ.
Tại đấy Bồ-tát sống theo hạnh
lượm rễ củ, trái cây rừng và những loại thực phẩm khác.
Không bao lâu ngài đạt được các Thắng trí và các Thiền
chứng, vui thích trong thiền lạc và sống một thời gian dài
như vậy.
Sau đó ngài suy nghĩ: "Ta sẽ đi
vào con đường của dân chúng, dùng muối giấm, như vậy thân
ta sẽ trở thành mạnh mẽ. Ta sẽ đi bộ, và những người
cúng dường đồ ăn sẽ đảnh lễ một người giữ giới
như ta. Sau khi mạng chung, họ sẽ tràn đầy thiên giới". Vì
vậy, Bồ-tát từ núi đi xuống, tiếp tục đi bộ đến thành
Ba-la-nại, và vào lúc hoàng hôn, Bồ-tát tìm chỗ trú ẩn.
Khi thấy khu vườn của vua, ngài nghĩ: "Chỗ này rất thích
hợp vì yên tịnh, ta sẽ sống tại đây". Rồi Bồ-tát đi
vào khu vườn, ngồi dưới một gốc cây, trải qua một đêm
trong thiền lạc.
Ngày hôm sau, khi làm vệ sinh thân
thể xong, vào buổi sáng ngài sửa soạn bện tóc, áo da và
áo vỏ cây, cầm bát đi khất thực. Với các căn yên tịnh,
với ý tịch tịnh, đầy đủ uy nghi, Bồ-tát chỉ nhìn trước
mặt khoảng một tầm, viên mãn đủ mọi mặt, với dung sắc
sáng chói, ngài lôi cuốn cái nhìn của người đời, Bồ-tát
đi vào khất thực và đến cửa cung vua. Bấy giờ vua đang
đi qua lại trên sân điện rộng lớn, nhìn ngang qua cửa sổ,
thấy Bồ-tát, vua hoan hỷ với uy nghi đức độ của ngài,
nghĩ: "Nếu thực sự có pháp an tịnh viên mãn thì pháp ấy
phải có trong người này". Vì vậy, vua ra lệnh cho một đại
thần:
- Hãy đi mời vị khổ hạnh ấy.
Vị đại thần đến đảnh lễ,
cầm bình bát khất thực của ngài và thưa:
- Thưa Tôn giả, vua cho mời Tôn
giả.
Bồ-tát nói:
- Thưa bậc đại phúc, vua không
biết chúng tôi.
- Vậy thưa Tôn giả, xin hãy chờ
ở đây cho đến khi tôi trở về.
Nói xong, vị đại thần tâu vua
lời của vị ẩn sĩ. Vua nói:
- Chúng ta không có vị khổ hạnh
thân tín trong gia đình. Hãy đi mời vị ấy về.
Và từ cửa sổ, vua duỗi tay ra
vẫy gọi:
- Thưa Tôn giả, hãy đến đây.
Bồ-tát đưa bình bát cho vị đại
thần và bước lên sân bằng con đường lớn của cung điện.
Rồi vua đảnh lễ Bồ-tát, và mời Bồ-tát ngồi trên long
sàng. Sau đó vua mời Bồ-tát ăn cơm cháo và các món đã được
sửa soạn cho mình. Khi ngài ăn xong, vua hỏi chuyện và nghe
trả lời, vua rất hoan hỷ, đảnh lễ và thưa:
- Thưa Tôn giả, ngài ở đâu? Từ
đâu ngài đến đây?
Bồ-tát thưa:
- Tôi sống ở Tuyết Sơn, thưa Ðại
vương. Từ Tuyết Sơn, tôi đến đây.
Vua lại hỏi:
- Vì nhân duyên gì ngài đến đây?
Bồ-tát trả lời:
- Thưa Ðại vương, trong mùa mưa,
tôi cần có một chỗ nhất định.
Vua nói:
- Thưa Tôn giả, hãy sống trong vườn
ngự uyển của trẫm. Tôn giả khỏi lo về bốn vật dụng
cần thiết. Trẫm sẽ tạo công đức đưa đường lên thiên
giới.
Bồ-tát nhận lời vua. Sau khi ăn
sáng xong, vua cùng Bồ-tát đi đến khu vườn. Vua ra lệnh cho
dựng đặt chỗ ở ban đêm và ban ngày cho Bồ-tát cũng như
các vật cần thiết của một vị xuất gia, rồi nhà vua nói:
- Thưa Tôn giả, hãy sống an lạc
ở đây.
Và vua gởi gắm Bồ-tát cho người
giữ vườn. Bồ-tát bắt đầu từ đấy sống tự tại suốt
mười hai năm.
Một hôm, có cuộc nội loạn xảy
ra ở biên địa. Vua muốn đi dẹp cuộc nổi loạn ấy, liền
gọi hoàng hậu và nói:
- Này Hoàng hậu, hoặc khanh hoặc
trẫm phải ở lại thành này.
- Thưa Thiên tử, vì sao Thiên tử
nói vậy?
- Này hiền thê, vì vị khổ hạnh
giữ giới ấy.
- Thưa Thiên tử, thần thiếp sẽ
không xao lãng việc săn sóc Tôn giả của chúng ta. Ðại vương
hãy đi dẹp loạn, chớ lo lắng gì.
Vì vậy vua ra đi, hoàng hậu hầu
hạ Bồ-tát rất chu đáo. Kể từ khi vua ra đi, hàng ngày đến
thời đã định, Bồ-tát đi đến cung vua và ăn uống tại
đấy.
Một hôm, Bồ-tát đi đến quá trễ,
hoàng hậu sửa soạn các món ăn xong, tắm rửa, trang điểm
và soạn một chỗ nằm thấp. Trong khi chờ đợi Bồ-tát đến,
bà đắp sơ sài một tấm áo trên thân rồi nằm nghỉ. Bố
Tát xem giờ, liền cầm bình bát, đi ngang qua hư không và đến
cửa sổ.
Nghe tiếng áo vỏ cây sột soạt
của Bồ-tát, hoàng hậu hấp tấp đứng dậy, và áo vàng
của bà rơi xuống. Bồ-tát để các căn bị chi phối bởi
đối tượng đặc biệt khác thường này và đứng nhìn bà
như bị thôi miên. Ác dục phiền não đã được chế ngự
nhờ Thiền lực trước kia, nay lại khởi lên giống như con
rắn hổ phồng mang, ngóc đầu lên từ cái giỏ nó bị cầm
giữ, giống như cây vú sữa bị búa chém. Do phiền não khởi
lên, thiền định thối thất, các căn trở nên không thanh
tịnh, khi ấy Bồ-tát giống như con quạ bị gãy cánh. Bồ-tát
không thể ngồi xuống như trước nữa và không thể ăn uống
gì được. Dầu được hoàng hậu mời ngồi, Bồ-tát không
thể ngồi yên.
Rồi hoàng hậu đặt các món ăn
đủ loại cứng loại mềm vào trong bình bát, nhưng Bồ-tát
không thể ăn như trước được, và cũng không thể đi ra
cửa sổ rồi bay ngang qua hư không. Cầm lấy các thức ăn,
Bồ-tát đi xuống bằng thang lầu lớn và đi về khu vườn.
Nhưng hoàng hậu biết được tâm của Bồ-tát đã say đắm
đối với mình.
Bồ-tát đi về vườn, không ăn
được, liền quăng thức ăn dưới chân giường, suốt một
tuần, Bồ-tát nằm dài, miệng nói mê sảng:
- Ôi hoàng hậu diễm kiều! Tay hoàng
hậu đẹp làm sao! Chân đẹp làm sao! Thân thể đẹp làm sao!
Bắp vế đẹp làm sao!
Trong khi bị chi phối bởi sắc đẹp
ấy, Bồ-tát để đồ ăn thối và ruồi xanh đậu tràn trên
mặt bàn.
Sau khi dẹp loạn về, vua đi vòng
quanh thành phố được trang hoàng lộng lẫy, luôn hướng về
phía hữu rồi vua tiến về cung điện.
Sau đó vua quyết định sẽ yết
kiến Bồ-tát, liền đi đến khu vườn. Khi thấy am thất đầy
rác dơ bẩn, nghĩ rằng Bồ-tát đã đi khỏi, vua mở cửa
chòi lá và đi vào. Thấy Bồ-tát đang nằm, vua nghĩ: "Chắc
Tôn giả có gì không ổn", liền bảo người hầu quăng các
đồ ăn thối, dọn dẹp chòi lá và hỏi:
- Thưa Tôn giả, ngài có việc gì
không ổn?
- Thưa Ðại vương, tôi đã bị
trúng tên.
Vua nghĩ: "Chắc kẻ thù của ta không
tìm được cơ hội hại ta, nên chúng quyết định làm hại
người mà ta yêu mến! Chúng đến và gây ra vết thương này".
Rồi vua lật ngửa thân Bồ-tát, tìm kiếm chỗ bị thương,
nhưng không thấy vết thương liền hỏi:
- Thưa Tôn giả, ngài trúng tên ở
đâu?
Bồ-tát nói:
- Thưa Ðại vương, không ai bắn
tôi. Chỉ có tôi tự bắn quả tim mình.
Rồi Bồ-tát đứng dậy, ngồi trên
ghế, và đọc những bài kệ này:
Không có người bắn cung
Phóng tên ở bên tai,
Không có tên bằng lông
Ðược nhổ từ cánh công,
Và được trang hoàng đẹp
Bởi người làm tên khéo.
Chính là tâm của ta
Ðược gột sạch tham ái
Liên hệ với dục tầm
Bằng quyết tâm, trí tuệ,
Chính dục tạo vết thương
Thiêu đốt khắp tay chân
Chẳng khác gì ngọn lửa.
Ta không thấy vết thương.
Từ đấy máu rỉ chảy,
Do tâm không chân chính,
Ðã đâm thủng tự thân.
Như vậy, Bồ-tát thuyết pháp cho vua
qua ba bài kệ này.
Rồi Bồ-tát khuyên vua đi ra khỏi
chòi lá. Còn Bồ-tát chuẩn bị đề tài thiền định, làm
phát khởi thiền định đã mất và từ giã chòi lá, ngồi
trên hư không, giáo giới cho vua rồi nói:
- Thưa Ðại vương, tôi sẽ đi về
Tuyết Sơn.
Vua nói:
- Thưa Tôn giả, ngài không thể
đi được.
Bồ-tát nói:
- Thưa Ðại vương, khi tôi sống
ở đây, tôi đã đổi thay nhục nhã như vậy. Nay tôi không
thể ở đây được.
Mặc dù vua yêu cầu tha thiết, Bồ-tát
vẫn bay bổng lên hư không, đến Tuyết Sơn và ở đó cho
đến khi mạng chung, rồi sanh lên cõi trời Phạm thiên.
*
Khi bậc Ðạo Sư thuyết Pháp
thoại này xong, Ngài giảng các Sự thật. Cuối bài giảng,
vị Tỷ-kheo thối thất đã đắc quả A-la-hán, một số khác
đắc quả Dự-lưu, Nhất lai và Bất lai. Rồi Ngài nhận diện
Tiền thân:
- Thời ấy, vua là Ànanda, và
vị ẩn sĩ tu khổ hạnh là Ta vậy.
-ooOoo-
252. CHUYỆN
MỘT NẮM MÈ (Tiền thân Tilamutthi)
Hôm nay ta nghĩ đến...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một người hay phẫn nộ. Nghe nói có
một Tỷ-kheo hay phẫn nộ, nhiều phiền não. Dầu nghe ai nói
ít bao nhiêu, vị ấy cũng phẫn nộ, nói lời thô lỗ, biểu
lộ phẫn uất, ân hận, bất mãn.
Tại Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo
bắt đầu nói chuyện ấy:
- Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo
có tên này hay phẫn nộ, nhiều ưu não, vị ấy thường nạt
nộ người xung quanh như muốn đổ dầu vào lửa. Khi giận
ai Tỷ-kheo ấy nghiến răng kèn kẹt. Dù xuất gia trong Giáo
pháp từ bi và giải thoát, vị ấy không thể chế ngự cơn
phẫn nộ của mình.
Bậc Ðạo Sư nghe nói vậy, liền
bảo một Tỷ-kheo đi gọi vị ấy đến và hỏi:
- Này Tỷ-kheo, nghe nói ông hay
phẫn nộ?
Tỷ-kheo ấy trả lời:
- Bạch Thế Tôn, có thật vậy.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Tỷ-kheo này hay phẫn nộ, mà trước kia vị ấy cũng
đã như vậy rồi.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, vua có một con trai tên là hoàng tử Brahmadatta.
Theo thông lệ, các vua thời xưa, dầu trong thành của mình
có những sư trưởng danh tiếng, vẫn gửi con mình đi đến
các nước phương xa để học hỏi các tài nghệ với hy vọng
nhờ đó các hoàng tử có cơ hội nhiếp phục kiêu mạn, chịu
lạnh nóng và biết được cách sống ở đời.
Do vậy, khi hoàng tử lên mười
sáu tuổi, vua gọi hoàng tử đến và cho chàng một đôi dép
chỉ có một lớp đế, một cái dù bằng lá, một ngàn đồng
tiền vàng và dặn:
- Này con thân, hãy đến Takkasilà
và học các tài nghệ cho thật tinh thông.
Hoàng tử đáp lời phụ vương:
- Thưa vâng, tâu phụ vương.
Chàng đảnh lễ phụ vương rồi
đi đến Takkasilà. Hoàng tử đến nhà vị Sư trưởng, đúng
lúc Sư trưởng vừa dạy các thanh niên Bà-la-môn xong, đang
đi qua lại trước cửa nhà. Khi thấy vị Sư trưởng, hoàng
tử liền cởi dép, xếp dù lại, đảnh lễ Sư trưởng, rồi
đứng một bên. Sư trưởng biết hoàng tử mệt mỏi liền
thăm và tiếp đón người mới tới một cách thân tình.
Hoàng tử ăn xong, nghỉ một lát
rồi đi đến Sư trưởng, đảnh lễ và đứng đợi. Sư trưởng
hỏi:
- Này con thân, con từ đâu đến?
Hoàng tử đáp:
- Con từ Ba-la-nại đến.
- Con là ai?
- Thưa Sư trưởng, con là con vua
Ba-la-nại.
- Vì mục đích gì con đến đây?
- Thưa Sư trưởng, vì con muốn học
nghề.
- Con có đem tiền nộp học phí
cho Sư trưởng không, hay con muốn làm đệ tử hầu hạ Sư
trưởng?
Hoàng tử thưa:
- Con có đem tiền học phí dành
cho Sư trưởng.
Hoàng tử liền đặt cái túi một
ngàn đồng tiền vàng dưới chân vị Sư trưởng rồi đảnh
lễ. Các đệ tử thường ở lại hầu thầy, ban ngày làm
công việc cho Sư trưởng và buổi tối học nghề. Còn các
đệ tử có nộp tiền học phí được xem như con trưởng
trong nhà chỉ lo học nghề. Do vậy, vị Sư trưởng thu xếp
thì giờ rỗi rảnh và thuận tiện dạy nghề cho hoàng tử.
Một hôm hoàng tử đi tắm với
Sư trưởng, thấy một bà già trải mè trắng ra phơi và đang
ngồi canh chừng. Hoàng tử thấy mè trắng liền bóc lấy một
nắm bỏ vào miệng và ăn. Thấy vậy, bà già nghĩ: "Chắc
người này thèm ăn", nhưng ngồi yên không nói gì. Ngày hôm
sau cũng vào giờ ấy, sự việc tương tự lại xảy ra. Bà
già cũng không nói gì. Ðến ngày thứ ba, sự việc ấy tiếp
tục xảy ra. Khi ấy bà già giơ cánh tay lên khóc và than:
- Ôi! Vị Sư trưởng có danh tiếng
để cho các đệ tử của mình lấy cắp mè của tôi!
Sư trưởng quay lại và hỏi:
- Thưa bà, việc gì vậy?
- Thưa Sư trưởng, tôi đang phơi
mè trắng, đệ tử của ngài hôm nay ăn một nắm, bữa qua
ăn một nắm, bữa trước ăn một nắm, cậu ấy ăn như vậy
cho tan nát tất cả gia sản của tôi!
- Thưa bà chớ khóc, ta sẽ trả
tiền đền cho bà.
- Thưa ngài, tôi không cần tiền,
nhưng hãy dạy cậu ấy chớ làm như vậy nữa.
- Vậy bà hãy xem đây.
Rồi Sư trưởng bảo hai thanh niên
nắm chặt hai tay của hoàng tử, lấy roi tre đánh trên lưng
hoàng tử ba lần và nói:
- Chớ làm như vậy nữa!
Hoàng tử phẫn nộ Sư trưởng,
với cặp mắt đỏ kè, chàng nhìn Sư trưởng từ đỉnh đầu
đến bàn chân. Sư trưởng biết với cái nhìn như vậy, hoàng
tử đã phẫn nộ như thế nào.
Hoàng tử chú tâm học hành, và
khi học xong nghề, vẫn giữ trong tâm niềm sân hận đối
với việc Sư trưởng đã đánh, chàng nghĩ: "Ta sẽ trả thù
và phải làm cho ông ta chết...".
Ðến thời từ biệt, hoàng tử
đảnh lễ Sư trưởng và thưa:
- Khi nào con được làm vua Ba-la-nại,
con sẽ cho mời Sư trưởng, lúc ấy mong rằng Sư trưởng hãy
đến.
Trước thái độ khẩn cầu của
hoàng tử, Sư trưởng hứa nhận lời mời của chàng. Từ
biệt Sư trưởng, hoàng tử đi về Ba-la-nại, đảnh lễ phụ
vương, và trình bày những điều mình đã học. Vua suy nghĩ:
"Ta còn sống để được thấy con ta. Mong rằng khi ta còn sống,
ta sẽ thấy con ta trị vì nước huy hoàng!". Vì vậy vua đặt
con lên ngôi kế vị.
Trong khi hưởng thụ uy lực của
vương vị, hoàng tử nhớ đến sự xúc phạm trước đó của
Sư trưởng, và khởi tâm phẫn nộ. Với ý định: "Ta sẽ
giết người ấy", vua liền gởi sứ giả đến mời Sư trưởng.
Ông suy nghĩ: "Vị vua này còn trẻ,
ta không thể nhiếp phục một tân vương được", nên ông
không đi. Và ông đợi vua đến tuổi trung niên mới có thể
đi nhiếp phục vua được.
Một thời gian sau, vua ấy đã bước
vào tuổi trung niên, Sư trưởng đến trước cửa cung và nhờ
báo tin vị Sư trưởng ở Takkasilà đã đến. Vua rất bằng
lòng và cho mời vị ấy vào. Khi thấy Sư trưởng đến gần
mình, vua sanh phẫn nộ, con mắt trở thành đỏ ngầu, liền
nói với các cận thần:
- Này các khanh, hôm nay, chỗ thầy
ta đã đánh ta vẫn còn nhức. Thầy ta đến chắc có mang theo
cái chết được ghi ở trên trán. Hôm nay mạng sống của
Sư trưởng sẽ không còn nữa.
Rồi vua đọc hai bài kệ đầu:
Hôm nay ta nghĩ đến
Sự việc ông đã làm,
Chỉ vì một nắm mè,
Ông bắt trói tay ta,
Ông lấy cây gậy tre,
Ðánh ta thật đau đớn.
Ông không thích sống à?
Phạm chí không sợ sao
Khi bắt cánh tay ta,
Ðánh ta đến ba lần?
Nay còn dám đến đây?
Vua lấy cái chết dọa Sư trưởng
như vậy. Nghe xong, Sư trưởng bình tĩnh đọc bài kệ thứ
ba:
Bậc thánh dùng gậy đánh,
Nhiếp phục hạnh không lành,
Như vậy đúng giáo lý,
Ðây không phải hận thù,
Tất cả bậc hiền trí
Ðều biết rõ như vậy.
- Do vậy, thưa Ðại vương, ngài hãy
tự biết điều này. Vấn đề này không xứng đáng để ngài
khởi hận thù. Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương đã không
được tôi dạy bảo, ngài thử nghĩ chắc hẳn ngài sẽ tiếp
tục lấy của cải người ta như bánh, kẹo, cây trái và các
thứ khác. Rồi ham mê các hành vi trộm cướp, dần dần ngài
sẽ bị lôi cuốn vào các việc như phá nhà, cướp đường,
ám sát trong làng. Cuối cùng chắc ngài đã trở thành kẻ
ăn cướp đối nghịch với mọi người và sẽ bị bắt với
tang vật, sẽ bị dẫn đến trước vua, và vua sẽ ra lệnh:
Hãy đem nó đi, tùy tội phạm của nó mà xử phạt. Và như
vậy, chắc ngài sẽ nhận được các hình phạt của nhà vua.
Như vậy do đâu Ðại vương hưởng được tất cả thành
công tốt đẹp như hôm nay? Có phải Ðại vương nhờ tôi
mà đạt được cảnh huy hoàng này không?
Bằng cách ấy, vị Sư trưởng đã
thuyết phục vua. Các đại thần đứng xung quanh nghe ngài nói
liền thưa:
- Tâu Thiên tử, sự thật là vậy.
Tất cả uy lực huy hoàng này đều do vị Sư trưởng mà có.
Trong khoảnh khắc ấy, vua công nhận
các đức tánh của Sư trưởng và thưa:
- Thưa Sư trưởng, trẫm xin dâng
hiến Sư trưởng mọi sự huy hoàng này. Mong Sư trưởng hãy
chấp nhận vương quốc.
Sư trưởng từ chối và nói:
- Tâu Ðại vương, thần không cần
vương quốc.
Vua liền sai sứ giả đi đến Takkasilà,
mời vợ con của Sư trưởng về, ban cho họ quyền lực lớn,
và mời Sư trưởng làm vị quốc sư tế tự, đặt Sư trưởng
vào hàng cố vấn của vua.
Từ đó, vua vâng theo lời giáo giới
của Sư trưởng và trọn đời làm các công đức như bố
thí..., cuối cùng khi mệnh chung, được sanh lên cõi trời.
*
Sau khi thuyết Pháp thoại này
xong, bậc Ðạo Sư giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy,
vị Tỷ-kheo hay phẫn nộ đã đắc quả Bất lai và nhiều
vị khác đắc quả Dự-lưu, Nhất lai, Bất lai. Và Ngài nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ vua ấy là Tỷ-kheo
hay phẫn nộ, còn vị Sư trưởng là Ta vậy.
-ooOoo-
253. CHUYỆN
VUA RẮN MANIKANTHA (Tiền thân Manikantha)
Mọi đồ ăn thức uống...,
Câu chuyện này, khi ở điện
thờ Aggàlava gần Àlavi, bậc Ðạo Sư đã kể về học giới
xây dựng các am thất.
Bấy giờ, các Tỷ-kheo ở Àlavakà
có tánh thích cầu xin, đang làm các chòi lá cho mình. Họ cầu
xin nhiều, gợi ý và khi mở miệng, họ luôn luôn nói:
- Hãy cho một người làm công
quả. Hãy cho một người phụ giúp làm chòi...
Mọi người quá bực mình vì
sự cầu xin, gợi ý này đến nổi khi thấy các Tỷ-kheo, họ
liền sợ hãi và hoảng hốt bỏ chạy.
Rồi Tôn giả đại Ca-diếp đến
Àlavi, và đi quanh thị trấn để khất thực. Dân chúng thấy
Trưởng lão cũng bỏ chạy như trước. Trưởng lão ăn xong,
trên đường khất thực trở về, liền gọi các Tỷ-kheo và
hỏi:
- Này các Hiền giả, xưa kia Àlavi
là nơi dễ nhận đồ khất thực. Nay vì sao nó trở thành
khó khất thực như vậy?
Khi Tôn giả nghe nói lý do, liền
đi đến gặp Thế Tôn đang ở tại điện Aggàlava và thuật
lại câu chuyện. Bậc Ðạo Sư nhân lý do này đã họp chúng
Tỷ-kheo, và hỏi các Tỷ-kheo ở Àlavi:
- Có thật chăng, này các Tỷ-kheo,
các ông có tánh thích cầu xin mọi người giúp đỡ vì nay
đang làm các chòi?
Họ trả lời:
- Bạch Thế Tôn, có thật vậy.
Bậc Ðạo Sư quở trách họ và
nói thêm:
- Này các Tỷ-kheo, ngay trong thế
giới loài rắn, có đầy đủ bảy món báu, sự cầu xin này
cũng làm phật ý chúng còn nói gì loài người? Ðối với
dân chúng, lấy cho được một đồng tiền vàng, cũng thật
khó không khác gì lột da từ hòn đá!
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn
giàu có. Khi Bồ-tát đến tuổi chạy chơi, mẹ Bồ-tát sanh
một con trai khác có đức hạnh. Hai anh em vừa đến tuổi
trưởng thành thì cha mẹ quá cố. Quá xúc động vì cha mẹ
mất và thấy cuộc đời quá mong manh, họ liền xuất gia làm
ẩn sĩ.
Cả hai anh em dựng chòi lá trên
bờ sông Hằng và trú tại đấy. Người anh cả làm chòi lá
phía trên sông Hằng, còn người em dựng chòi lá ở phía dưới
sông Hằng.
Một hôm, vua rắn thần tên là Manikantha
(Cổ có châu báu) từ cung điện rắn thần đi ra, qua lại
trên bờ sông Hằng giả dạng một thanh niên Bà-la-môn, đến
am thất của người em, đảnh lễ và ngồi xuống. Họ nói
lời thăm hỏi ân cần với nhau rồi trở thành thân thiết
đến độ họ không thể xa nhau được.
Vua rắn từ đó luôn luôn đến
thăm người em tu khổ hạnh, mải mê trò chuyện và khi ra về,
vua rắn quyến luyến vị ấy nên đã xuất lộ nguyên hình
của mình, lấy thân cuộn tròn xung quanh vị ấy, ôm ấp vị
ấy với cái mào lớn đặt lên trên đầu và nằm đấy trong
chốc lát cho đến khi thỏa mãn sự luyến ái, rồi rời thân
bạn ra, đảnh lễ từ giã và về cung điện của mình.
Vị tu khổ hạnh vì quá sợ hãi
vua rắn, trở thành ốm yếu, tiều tụy xanh xao, vàng vọt,
gân nổi trên da. Người em tu khổ hạnh một hôm đi đến
thăm người anh.
Người anh hỏi:
- Sao em lại ốm yếu, tiều tụy,
xanh xao, vàng vọt, gân nổi trên da như vậy?
Người em tường thuật câu chuyện
cho anh rõ. Người anh hỏi:
- Em có thích con rắn ấy đến với
em không?
Người em trả lời:
- Em không muốn!
- Vua rắn ấy khi đến với em, có
mang đồ trang sức không?
- Nó có mang một hòn ngọc quý.
- Ðược rồi! Vậy khi vua rắn đến
thăm em, khi nó chưa ngồi, em liền xin: Hãy cho tôi hòn ngọc!
Như vậy con rắn ấy sẽ không quấn thân xung quanh em nữa
đâu và nó sẽ bỏ đi. Ngày mai lại, em sẽ đứng nơi cửa
am xin hòn ngọc ấy khi nó vừa đến. Ngày thứ ba, khi nó vừa
ra khỏi nước, trên bờ sông Hằng, em hãy xin hòn ngọc ấy.
Như vậy nó sẽ không đến thăm em nữa.
Người em tu khổ hạnh đáp:
- Lành thay!
Và vị ấy đi về chòi lá của
mình.
Theo đúng lời dặn, ngày hôm sau,
khi vua rắn ấy đến, chỉ vừa đứng lại, người em liền
xin:
- Hãy cho tôi hòn ngọc báu trang
sức của bạn.
Vua rắn ấy không kịp ngồi xuống
liền vội vàng bỏ chạy. Ngày kế tiếp, người em đứng
lại cửa am, khi vua rắn vừa đến, liền hỏi:
- Hôm qua, bạn không cho tôi hòn
ngọc báu. Vậy hôm nay, bạn phải cho tôi!
Con rắn không đi vào am mà lập
tức bỏ chạy.
Ðến ngày thứ ba, khi vua rắn ấy
mới nổi lên trên mặt nước, người em liền nói:
- Hôm nay là ngày thứ ba tôi xin
ngọc. Hôm nay, hãy cho tôi ngọc báu này!
Vua rắn đứng ở mặt nước, từ
chối qua hai bài kệ này:
Mọi đồ ăn và thức uống
Ðược sung mãn, đầy tràn,
Chính do hòn ngọc báu
Ðem lại cho ta vầy.
Bạn cầu xin quá nhiều,
Ta không muốn cho bạn.
Ta sẽ không đi đến
Am thất bạn nữa đâu.
Như đứa trẻ cầm tay
Một hòn sạn trơn láng,
Bạn làm ta sợ hãi
Khi xin hòn ngọc này!
Bạn cầu xin quá nhiều,
Ta không muốn cho bạn.
Ta sẽ không đi đến
Am thất bạn nữa đâu.
Nói vậy xong, vua rắn lặn xuống nước
đi về cung điện của mình, không bao giờ trở lại nữa.
Còn người tu khổ hạnh ấy, vì không thấy vua rắn xinh đẹp
của mình nên lại ốm yếu, tiều tụy, xanh xao, vàng vọt,
gân nổi trên da nhiều hơn nữa. Người anh tu khổ hạnh muốn
biết tin tức của em, đi đến thăm, thấy em lại càng vàng
vọt hơn trước liền hỏi:
- Tại sao em lại ốm yếu hơn trước?
Vị kia đáp:
- Bởi vì em không còn được thấy
con rắn xinh đẹp ấy nữa.
Người anh nghe vậy liền suy nghĩ:
"Người tu khổ hạnh này không thể sống mà không có vua rắn
ấy!".
Và vị ấy đọc bài kệ thứ ba:
Chớ cầu xin người nào
Mà mình thường yêu mến,
Vì nếu xin quá nhiều
Mình trở thành đáng ghét!
Phạm chí này xin mãi
Hòn ngọc của rắn thần,
Nên nó không trở lại
Ðể thăm viếng nữa đâu!
Sau đó, người anh tu khổ hạnh an
ủi em:
- Thôi từ nay em chớ sầu muộn
nữa.
Rồi vị ấy đi về am thất của
mình. Sau một thời gian tu tập, cả hai anh em đạt các Thắng
trí và các Thiền chứng, cuối cùng khi mệnh chung được sanh
lên cõi trời Phạm thiên.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, như vậy ngay
tại cung điện loài rắn có đầy đủ bảy báu vật, nhưng
các loại rắn cũng rất ghét cầu xin, còn nói gì loài người!
Sau khi thuyết Pháp thoại này
xong, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, người em là
Ànanda, còn người anh cả là Ta vậy.
-ooOoo-
254. CHUYỆN
CON NGỰA QUÝ ĂN CÁM GẠO ÐỎ (Tiền thân Kundaka-Kucchi-Sindhava)
Ðã ăn cỏ, và cháo...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về Trưởng lão Xá-lợi-phất.
Một thời sau mùa an cư ở Xá-vệ,
Thế Tôn đi du hành các xứ rồi Ngài trở về Xá-vệ. Dân
chúng đón tiếp bậc Ðạo Sư và tổ chức cúng dường đức
Phật cùng Tăng chúng. Họ mời một Tỷ-kheo truyền pháp ở
trong tịnh xá và tùy theo số người đến muốn cúng dường
bao nhiêu Tỷ-kheo, vị này giới thiệu các vị ấy cho họ.
Có một bà già nghèo chỉ sửa
soạn một phần ăn để cúng dường, nhưng các Tỷ-kheo đều
đã được giới thiệu với những người đến trước. Khi
mặt trời mọc, bà ấy đi đến vị Tỷ-kheo truyền pháp và
nói:
- Thưa thầy, hãy giới thiệu
cho tôi một Tỷ-kheo.
Vị ấy nói:
- Thưa bà, tất cả Tỷ-kheo đã
được tôi giới thiệu. Nhưng ở tinh xá, chỉ còn Trưởng
lão Xá-lợi-phất. Bà hãy cúng phần ăn cho vị ấy.
Bà già hoan hỷ nói:
- Lành thay, Tôn giả.
Và bà đứng đợi tại cổng
Kỳ Viên. Khi Trưởng lão đến, bà đảnh lễ, tay cầm bình
bát, đưa Trưởng lão về nhà và mời ngồi. Nhiều gia đình
mộ đạo nghe nói: Một bà già đã mời được vị Trưởng
lão quân Chánh pháp ngồi tại nhà của mình! Trong số những
người nghe ấy có vua Pasenadi nước Kosala. Vua lập tức gửi
bà ấy các loại đồ ăn cùng với một chiếc áo, một túi
một ngàn đồng tiền vàng và nói:
- Mong rằng bà đón tiếp vị
Tôn giả của chúng tôi thật chu đáo. Xin tặng bà cái áo
này và một ngàn đồng tiền vàng để tiêu dùng vào việc
tiếp đãi bậc Trưởng lão thật đầy đủ.
Cũng như vua đã làm, ông Cấp
Cô Ðộc anh, ông Cấp Cô Ðộc em và đại tín nữ Visàkhà
đều gửi thí vật tương tự. Còn các gia đình khác gửi
một trăm, hai trăm đồng tiền vàng, tùy theo khả năng của
mình. Như vậy, chỉ trong một ngày, bà già ấy nhận được
khoảng một trăm ngàn đồng tiền vàng.
Trưởng lão uống xong bát cháo
của bà già ấy, ăn món bà ấy làm và dùng cơm bà ấy nấu.
Khi vị ấy nói lời tùy hỷ công đức và khích lệ bà, làm
cho bà phấn khởi đến độ bà được an trú vào quả Dự-lưu,
rồi vị ấy đi về tinh xá.
Tại Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo
bắt đầu nói chuyện và ca ngợi công đức của Trưởng lão:
- Thưa các Hiền giả, bậc Tướng
quân Chánh pháp đã giải thoát một bà gia chủ già khỏi cảnh
bần cùng và đã an trú vào quả Dự-lưu. Tôn giả ấy đã
trở thành nơi nương tựa chính của bà già. Tôn giả không
khinh chê các món ăn mà bà ấy cúng và đã dùng chúng.
Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, nay các ông
tụ họp ở đây và bàn vấn đề gì?
Khi được biết vấn đề trên,
ngài nói:
- Này các Tỷ-kheo, Tôn giả Xá-lợi-phất
không phải chỉ nay mới trở thành chỗ nương tựa của bà
già ấy. Không phải chỉ nay vị ấy mới không khinh chê món
ăn mà bà ấy cúng và đã ăn chúng. Thuở trước, vị ấy
đã làm như vậy.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình của một người
đi buôn ở một tỉnh phương Bắc. Thời ấy có năm trăm người
lái buôn thường đưa ngựa đến Ba-la-nại để bán.
Bấy giờ một người buôn ngựa
đem năm trăm con ngựa đang đi trên đường đến Ba-la-nại.
Giữa đường, cách Ba-la-nại không xa, có một thị trấn.
Người ta nghe kể rằng trước kia có một vị triệu phú rất
giàu có ở trong một tư thất rất lớn. Nhưng gia đình người
ấy dần dần sa sút chỉ còn lại một bà già hiện đang ở
tại ngôi nhà ấy. Người buôn ngựa kia đến thị trấn ấy,
trả một số tiền thuê phòng trong ngôi nhà ấy để ở và
đem cột các con ngựa gần đó.
Ngày hôm ấy, thật là một ngày
đầy may mắn, một con ngựa cái thuần chủng đẻ một con
ngựa con. Người lái buôn ấy ở đấy hai ba ngày rồi quyết
định yết kiến vua, và đem ngựa ra đi. Bà già ấy nói với
anh ta:
- Hãy đem trả tiền thuê nhà cho
tôi rồi đi.
Anh ta đáp:
- Vâng, tôi sẽ trả.
Bà già nói thêm:
- Này con thân, trả tiền cho ta và
hãy trừ bớt số tiền con ngựa con mà con đã nhường cho
ta.
Người buôn ngựa làm đúng như
vậy rồi ra đi. Bà già thương con ngựa con ấy như con đẻ
của mình, cho nó ăn cơm dư phơi khô với thịt vụn, cỏ non
và nuôi nó rất cẩn thận.
Sau một thời gian, Bồ-tát đem theo
năm trăm con ngựa lên đường và cũng thuê chỗ trọ tại
ngôi nhà ấy. Ðàn ngựa của Bồ-tát đánh hơi con ngựa thuần
chủng được bà già nuôi bằng bột cám gạo đỏ ấy, nên
không một con nào dám vào trong nhà mà Bồ-tát thuê trọ. Bồ-tát
hỏi bà già:
- Thưa bà, trong nhà này có con ngựa
nào khác không?
Bà già đáp:
- Này con thân, ta chỉ nuôi một
con ngựa con mà ta chăm sóc kỹ như là con ruột.
- Thưa bà, con ngựa ấy ở đâu?
Bà già nói:
- Nó đi ra đồng ăn cỏ rồi.
- Khi nào nó trở về?
- Nó sẽ trở về vào buổi chiều.
Bồ-tát ngồi đợi con ngựa con
về, còn đàn ngựa của mình được cho ở phía ngoài. Chẳng
bao lâu con ngựa thuần chủng đi ăn cỏ xong trở về.
Khi vừa thấy con ngựa quý với
cái bụng chứa đầy cám gạo đỏ, Bồ-tát nhìn kỹ các tướng
tốt của nó và suy nghĩ: "Con ngựa thuần chủng này thật
vô giá. Ta phải cho bà này tiền để mua con ngựa này". Lúc
ấy con ngựa con đã vào nhà và đến chuồng của nó xong,
cả đàn ngựa kia mới dám bước vào!
Bồ-tát ở lại đấy hai ba ngày
săn sóc đàn ngựa xong, khi ra đi, vị ấy nói:
- Thưa bà, bà hãy lấy số tiền
và bán cho tôi con ngựa con này.
Bà già nói:
- Này con thân, con nói gì vậy? Ðâu
lại có chuyện bán con mình đi?
Bồ-tát lại hỏi:
- Thưa bà, bà nuôi nó bằng thức
ăn gì?
Bà già trả lời:
- Cơm nấu, cháo gạo, cơm khô, thịt
vụn và cỏ. Ngoài ra phải có nước cháo để nó uống. Này
con, bà nuôi nó như vậy đó.
- Thưa bà, nếu được con ngựa
ấy, tôi sẽ cho nó món ăn thượng hạng. Tại chỗ nó đứng,
tôi sẽ giăng một cái lều và đặt nệm để nó đứng.
Bà già cảm động và nói:
- Này con thân, nếu sự việc như
con nói thì mong rằng con ngựa của ta sẽ được sung sướng.
Hãy lấy nó và đem đi.
Bồ-tát trả một giá riêng cho bốn
chân, cho cái đuôi và cho cái đầu. Vị ấy đặt sáu túi
tiền, mỗi túi một ngàn đồng tiền vàng tại mỗi chỗ trên
và mặc cho bà già một tấm áo mới, trang điểm ngọc vàng
cho bà rồi đặt bà trước con ngựa con. Con ngựa mở mắt
nhìn bà và rơi lệ. Bà già vuốt lưng nó và nói:
- Bà đã nhận được tiền nuôi
con lâu nay, này con thân, con hãy đi.
Khi ấy, con ngựa mới chịu đi.
Hôm sau, Bồ-tát muốn thử con ngựa
xem nó có biết sức mạnh của nó hay không. Vì vậy vị ấy
sửa soạn các món ăn bình thường, cho đổ cháo gạo đỏ
trong cái máng để nó ăn.
Nhưng con ngựa ấy không muốn uống
nước cháo nên nói:
- Tôi sẽ không ăn món này.
Bồ-tát đọc bài kệ đầu để
thử nó:
Ðã ăn cỏ, và cháo
Làm bằng cám gạo đỏ
Món ăn ngon ngày trước
Sao nay con không ăn?
Nghe vậy, con ngựa thuần chủng đọc
hai bài kệ tiếp:
Khi người nào không biết
Sanh chủng và huấn luyện,
Ðối với bậc Phạm chí,
Cháo cám đỏ vừa đủ.
Nhưng ông rõ biết tôi
Là ngựa nòi tối thượng,
Do vậy ở chỗ ông,
Tôi không ăn cháo gạo!
Nghe vậy, Bồ-tát nói:
- Ta làm vậy để thử con, thôi
con chớ giận dỗi!
Bồ-tát liền nấu các món ngon cho
ngựa ăn, rồi đi đến hầu vua. Tại góc của sân chầu, Bồ-tát
dựng một trại cho năm trăm con ngựa và một phía khác, Bồ-tát
dựng một trại hình nón căng vải lều, trang hoàng thật đẹp.
Dưới đất trải một tấm thảm, ở trên giương một cái
tán, vị ấy cho con ngựa thuần chủng ở trong đó.
Khi vua đến, nhìn các con ngựa và
hỏi Bồ-tát vì sao con ngựa này được ở riêng và đối
xử đặt biệt như vậy.
Bồ-tát đáp:
- Thưa Ðại vương, nếu con ngựa
Sindth thuần chủng này không được ở riêng biệt, nó sẽ
làm sổng mất cả đàn ngựa kia.
Vua lại hỏi:
- Con ngựa thuần chủng này là một
con ngựa thật đẹp chăng.
Bồ-tát đáp:
- Thưa phải, tâu Ðại vương.
- Như vậy, trẫm muốn xem tốc lực
của nó ra sao.
Bồ-tát nai nịt yên cương vào con
ngựa, leo lên lưng nó và thưa:
- Thưa Ðại vương, hãy xem sức
ngựa chạy.
Rồi Bồ-tát đuổi mọi người
ra khỏi sân chầu và leo lên cưỡi ngựa chạy quanh sân. Tất
cả sân trở thành như thể được bao quanh bởi những con
đường tròn ngựa chạy không gián đoạn. Rồi Bồ-tát nói:
- Thưa Ðại vương, hãy xem con ngựa
thuần chủng phi.
Rồi vị ấy cho con ngựa bắt đầu
phi. Không ai thấy vị ấy ở đâu cả! Rồi vị ấy buột
một lá đỏ bên sườn ngựa. Khi ấy, người ta chỉ thấy
một vòng tròn lá đỏ. Rồi Bồ-tát cho con ngựa phi trên mặt
nước hồ trong một khu vườn của kinh thành. Tại đấy con
ngựa phi trên mặt nước và các lá hoa sen và không một lá
nào bị nhận chìm xuống nước.
Như vậy, Bồ-tát biểu diễn tốc
lực tuyệt diệu của con ngựa, xong liền leo từ lưng ngựa
xuống, vỗ tay, rồi đưa bàn tay ra, với lòng bàn tay ngửa
lên trên. Con ngựa leo lên bàn tay, chụm bốn chân làm một
và đứng trên lòng bàn tay. Rồi Bồ-tát thưa với vua:
- Thưa Ðại vương, tất cả bờ
biển cũng không đủ để biểu diễn mọi kiểu phi tài giỏi
của con ngựa thuần chủng này.
Vua rất hài lòng, ban cho bậc Ðại
Sĩ nửa quốc độ, rảy nước lễ cho con ngựa con, và đặt
nó vào địa vị vương mã. Con ngựa ấy được vua ái mộ,
thân thiết và được tôn trọng đặc biệt. Chỗ con ngựa
ở được trang hoàng như vương phòng, nơi nào cũng đẹp,
sàn được rảy bốn loại hương, quanh tường được treo
các vòng hoa; phía trên mái lợp một cái tán bằng vải có
đính các sao vàng, giống như một cái đình đủ mọi vẻ
đẹp chung quanh, luôn luôn có ngọn đèn dầu thơm soi sáng
và tại chỗ đi đại tiểu tiện có đặt một cái chậu bằng
vàng. Con ngựa ấy ăn các thực phẩm quý dành cho vua.
Từ khi con ngựa ấy đến, quyền
cai trị của vua lan rộng khắp cõi Diêm-phù-đề. Rồi vua
vâng theo lời giáo giới của Bồ-tát, làm các công đức như
bố thí v.v... và cuối cùng khi mệnh chung được sanh lên cõi
trời.
*
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy,
nhiều vị đắc quả Dự-lưu, Nhất lai, Bất lai. Và Ngài nhận
diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, bà già ấy là
bà già này, con ngựa thuần chủng là Xá-lợi-phất, vua là
Ànanda, còn người buôn ngựa là Ta vậy.
-ooOoo-
255. CHUYỆN
CON VẸT (Tiền thân Suka)
Khi nào con chim ấy...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về một Tỷ-kheo đã chết vì bội thực.
Khi Tỷ-kheo này chết, các Tỷ-kheo ngồi tại Chánh pháp đường
bàn luận về sự thất đức của Tỷ-kheo ấy như sau:
- Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo
có tên như vậy không biết lượng cái bụng của mình, đã
ăn quá nhiều nên không tiêu hóa nổi và đã chết.
Bậc Ðạo Sư đi đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, khi các ông
ngồi họp ở đây, các ông nói đến chuyện gì?
Khi nghe vấn đề trên, Ngài nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay, mà trước kia cũng vậy, vị ấy vì ăn quá nhiều
và đã mệnh chung.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh làm con vẹt ở núi Tuyết. Bồ-tát
là vua của vài ngàn con vẹt, sống ven biển trên sườn núi
Tuyết. Vị vua chim vẹt này sanh một đứa con. Khi nó lớn
lên mạnh khỏe thì mắt Bồ-tát bị suy yếu. Người ta thường
nói các con vẹt bay rất nhanh. Do vậy, khi chúng trở về già,
thì các con mắt yếu trước. Con của vua chim vẹt để cha
mẹ ở lại tổ, còn mình đi kiếm đồ ăn nuôi dưỡng cha
mẹ.
Một hôm, nó đi tìm mồi, đứng
trên đỉnh núi nhìn ra biển thấy một hòn đảo, tại đấy
có một rừng xoài đầy trái màu vàng. Hôm sau, đến giờ
đi tìm đồ ăn, nó bay và hạ xuống rừng xoài, uống nước
ngọt của trái xoài, rồi lấy trái xoài chín đem về cho cha
mẹ. Bồ-tát ăn trái xoài ấy, biết được vị trái xoài,
liền nói:
- Này con thân, có phải trái xoài
chín này ở tại đảo tên như vậy không?
Nó trả lời:
- Thưa cha thân, đúng vậy.
Bồ-tát nói:
- Này con thân, các con vẹt đi đến
đảo ấy không bảo vệ mạng sống được lâu dài. Con chớ
nên đi đến hòn đảo ấy nữa.
Vẹt con không nghe theo lời cha, và
vẫn đi đến hòn đảo ấy.
Một hôm, sau khi uống nhiều nước
ngọt của xoài, nó mang về một trái xoài chín cho cha mẹ.
Khi bay về trên mặt biển, thân trở thành mệt mỏi vì mang
nặng, nó buồn ngủ, nên vừa ngủ vừa bay, và trái xoài từ
mỏ nó rơi xuống. Dần dần nó bỏ con đường về, bay sà
xuống mặt nước rồi rơi xuống nước. Một con cá liền
bắt lấy nó ăn thịt.
Bồ-tát đợi con đã quá giờ mà
không thấy nó trở về, biết rằng có lẽ nó đã rơi xuống
biển và chết rồi. Kể từ đó vẹt cha vẹ mẹ không có
đồ ăn, héo mòn rồi chết luôn.
*
Sau khi kể câu chuyện quá khứ
xong, bậc Ðạo Sư liền đọc các bài kệ này:
Khi nào con chim ấy
Biết đủ trong ăn uống,
Chim được thọ mạng dài,
Và nuôi dưỡng cha mẹ.
Khi chim ăn quá nhiều,
Không biết sự tiết độ,
Tại đấy chim chìm xuống,
Không còn ai thấy nữa.
Do vậy, thật lành thay
Tiết lộ, không tham ăn,
Không biết lường, chìm xuống,
Biết lường đâu có chìm?
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo Sư thuyết giảng Sự thật. Cuối bài giảng ấy, nhiều
vị đắc quả Dự-lưu, Nhất lai, Bất lai và ngài nhận diện
Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo không
tiết lộ trong ăn uống là con của vua loài vẹt, còn vua loài
vẹt là Ta vậy.
-ooOoo-
256. CHUYỆN
CÁI GIẾNG CŨ (Tiền thân Jarudapàna)
Các lái buôn cần nước...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về những người lái buôn tại Xá-vệ.
Nghe nói những người lái buôn
ấy lấy hàng hóa ở Xá-vệ, chất đầy xe xong, khi đến thời
ra đi đến hành nghề, họ mời đức Thế Tôn đến và bố
thí cúng dường lớn. Họ thọ Tam qui Ngũ giới và được
an trú vào các giới. Sau đó họ đảnh lễ bậc Ðạo Sư và
thưa:
- Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ
lên đường dài để hành nghề. Sau đó con bán hết các hàng
hóa, thành tựu được mục đích và trở về được an toàn
thì chúng con sẽ đến yết kiến và đảnh lễ Thế Tôn lần
nữa.
Rồi họ lên đường.
Trên một đoạn đường khó khăn,
họ thấy một cái giếng cũ xưa và nói:
- Giếng này không có nước. Chúng
ta đang khát nước vậy chúng ta hãy đào sâu giếng này.
Khi họ đào, họ tìm được nhiều
lớp kim loại từ sắt đến lưu ly v.v... Họ thỏa mãn với
sự thu hoạch này, liền chở đầy châu báu trên các cỗ xe
và trở về Xá-vệ an toàn. Sau khi cất số tài sản mà họ
đã đem về, họ nghĩ: "Chúng ta đã được mục đích, vậy
chúng ta sẽ cúng dường Tăng chúng các món ăn".
Họ mời đức Thế Tôn đến
để bố thí cúng dường, và đảnh lễ Ngài, rồi họ ngồi
xuống một bên và tường thuật với bậc Ðạo Sư cách họ
tìm được tài sản như thế nào.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các cư sĩ, các ông biết
bằng lòng với các tài sản ấy và chấp nhận tài sản cùng
nếp sống với ý thức biết đủ. Còn thời xưa, có những
người không thỏa mãn, không tiết độ, không nghe lời bậc
hiền trí nên phải mệnh chung.
Rồi theo lời yêu cầu của họ,
bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong gia đình lái buôn. Khi
đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát trở thành người lãnh đạo
một đoàn lữ hành.
Một dịp kia, Bồ-tát lấy hàng
hóa chất đầy xe, đem theo nhiều người làm thành một đoàn
và tiến bước trên chính con đường khó khăn này, bỗng thấy
cái giếng nước như hiện nay. Tại đây các người đi buôn
nói:
- Chúng ta muốn uống nước.
Họ bắt đầu đào cái giếng ấy
và tình cờ lấy được nhiều kim loại và châu báu v.v...
Họ được nhiều kho báu như vậy, nhưng vẫn không thỏa mãn.
"Chắc còn kho báu khác ở đây tốt đẹp hơn kho báu này".
Họ suy nghĩ và họ càng đào thêm nữa. Bồ-tát nói với họ:
- Thưa các vị thương gia, tham là
nguồn gốc của tai họa, chúng ta đã được nhiều tài sản
rồi. Với chừng ấy, chúng ta phải biết vừa đủ. Chớ có
đào thêm nữa.
Dầu có sự can ngăn của Bồ-tát,
họ vẫn đào.
Bấy giờ giếng ấy là chỗ của
loài rắn thần. Vua loài rắn thần ở dưới thấy cung điện
của mình bị phá vỡ, đá, bụi rơi xuống, liền phẫn nộ,
dùng hơi độc từ lỗ mũi phun ra, giết chết tất cả mọi
người chỉ trừ Bồ-tát. Rồi vào các cỗ xe, chất đầy
mọi xe với tất cả châu báu và đặt Bồ-tát ngồi trên
cỗ xe tốt đẹp nhất, rồi bảo các rắn thần trẻ đánh
xe, chở Bồ-tát đến Ba-la-nại. Chúng đưa vị ấy vào nhà,
sắp đặt tài sản xong, lại trở về cung điện của loài
rắn.
Bồ-tát tiêu dùng tài sản, làm
vang danh toàn cõi Diêm-phù-đề bằng cách bố thí, giữ giới,
hành trì ngày trai giới, và cuối đời, khi mệnh chung vị
ấy được sanh lên cõi trời.
Sau khi kể câu chuyện quá khứ,
bậc Ðạo Sư đọc các bài kệ này:
Các lái buôn cần nước,
Ðào cái giếng cũ xưa,
Ở đó họ tìm được
Sắt, đồng, chì và thiếc,
Hoàng kim và bạch ngân,
Nhiều trân châu, lưu ly.
Nhưng họ không biết đủ,
Cứ đào, đào thêm mãi.
Các rắn độc điên tiết,
Phun lửa giết chết tiệt.
Vậy chớ đào quá sức,
Quá mức gây tác hại.
Do đào, được tài sản,
Ðào quá, lại mất sạch!
*
Khi bậc Ðạo Sư kể xong Pháp
thoại này, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, vua loài rắn
là Xá-lợi-phất và người lãnh đạo đoàn lữ hành là Ta
vậy.
-ooOoo-
257. CHUYỆN
NGƯỜI HẦU CẬN GÀMANI-CANDA (Tiền thân Gàmani-Canda)
Nó không giỏi làm nhà...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về sự tán thán trí tuệ.
Tại Chánh pháp đường, các Tỷ-kheo
ngồi họp và tán thán trí tuệ đức Thế Tôn:
- Như Lai là bậc đại tuệ, quảng
tuệ, thiệp tuệ, mẫn tuệ, duệ tuệ, đạt tuệ. Ngài vượt
thế giới chư Thiên và thế giới này về trí tuệ.
Bậc Ðạo Sư đến và nói:
- Này các Tỷ-kheo, nay các ông
ngồi họp tại đây và bàn đến vấn đề gì?
Khi nghe vấn đề trên, Ngài nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay mà xưa cũng vậy, Như Lai đã là bậc đại trí tuệ.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
quá khứ.
*
Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, khi vua
Janasandha trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra làm con của
bà hoàng hậu chánh cung. Mặt Bồ-tát thanh tịnh, chói sáng,
đạt được sắc đẹp tối thượng, như mặt gương bằng
vàng được đánh bóng. Ðến ngày lễ đặt tên, ngài được
gọi là Àdàsa-Mukha (hoàng tử có khuôn mặt như gương).
Trong thời gian bảy năm, phụ vương
đã mời thầy về dạy hoàng tử ba tập Vệ-đà và mọi bổn
phận phải làm ở đời. Bồ-tát học xong thì phụ vương
mệnh chung. Các đại thần tổ chức lễ tang vua rất long trọng
và lập đàn bố thí cho các người chết. Ðến ngày thứ
bảy, quần thần hội họp tại triều đình và bàn luận:
- Hoàng tử còn trẻ quá, không thể
làm lễ quán đảnh lên ngôi vua được. Chúng ta hãy thử tài
hoàng tử rồi sẽ làm lễ quán đảnh cho hoàng tử sau.
Một hôm, họ trang hoàng thành phố,
tổ chức một pháp đình, sửa soạn chiếc ngai rồi đi yết
kiến hoàng tử và nói:
- Thưa Thiên tử, Thiên tử hãy đến
pháp đình.
Hoàng tử chấp thuận cùng với
một số đông tùy tùng đến pháp đình và ngồi xuống trên
chiếc ngai.
Khi Bồ-tát ngồi xuống để xử
án, họ bắt một con khỉ đi hai chân, mặc áo giả làm một
vị sư trưởng giỏi nghề chọn vị trí tốt để làm nhà,
rồi họ dẫn nó đến pháp đình. Họ nói:
- Thưa Thiên tử, trong thời đại
của phụ vương ngài, người này là một sư trưởng có thiên
tài tiên đoán vị trí tốt để làm nhà và rất thuần thục
trong nghề. Vị này thấy chỗ làm được hay không nên làm,
và ngay cả chỗ có khuyết điểm dưới mặt đất sâu đến
bảy khuỷu tay, vị này cũng biết. Nhờ sự giúp đỡ của
vị ấy, cung điện của vua đã được xây dựng. Thiên tử
hãy nhận vị ấy và ban cho vị ấy một chức vụ.
Hoàng tử nhìn nó từ dưới lên
và suy nghĩ: "Ðây không phải là người mà chỉ là một con
khỉ. Bọn khỉ chỉ biết phá hoại những gì đã được làm
ra chứ chúng không biết làm gì cả hay xây dựng những công
trình gì cả". Vì vậy, hoàng tử đọc bài kệ đầu cho các
đình thần nghe:
Nó không giỏi làm nhà,
Ðó là khỉ mặt nhăn,
Chỉ phá việc đã làm,
Thói của nòi giống đó.
Các đình thần, nói:
Thưa Thiên tử, có thể là như vậy.
Và họ dắt khỉ đi ngay.
Sau một hai ngày, họ cho con khỉ
ấy mặc y phục sang trọng, dắt nó đến pháp đình và nói:
- Thưa Thiên tử, trong thời phụ
vương ngài, người này là pháp quan xử kiện. Thiên tử hãy
sử dụng vị ấy và cho vị ấy xử kiện.
Hoàng tử nhìn nó và nghĩ: "Một
người có tâm và có trí không có nhiều lông lá như vậy.
Nó là con khỉ vô trí, không thể nào xử kiện được".
Vì vậy, Bồ-tát đọc bài kệ thứ
hai:
Vật đầy lông lá này
Không sao có tâm trí,
Nó chỉ là con thú
Không gây được lòng tin,
Như phụ vương đã dạy:
Con này chả biết gì!
Các đình thần nghe câu kệ này liền
nói:
- Thưa Thiên tử, có thể là như
vậy.
Rồi họ đem con khỉ ấy đi ngay.
Một ngày khác họ lại mặc y phục
và trang điểm cho nó, dắt nó đến pháp đường và nói:
- Thưa Thiên tử, người này trong
thời phụ vương ngài đã hầu hạ đầy đủ mẹ và cha, đã
kính lễ các bậc lớn tuổi trong gia đình. Hãy sử dụng người
này.
Hoàng tử nhìn nó và nghĩ: "Ðây
là con khỉ với tâm dao động. Nó không thể làm được công
việc ấy".
Vì vậy, Bồ-tát đọc bài kệ thứ
ba:
Con vật ấy không thể
Giúp đỡ mẹ hay cha,
Hay là anh, chị, bạn,
Phụ vương dạy ta vậy.
Các đình thần nói:
- Thưa Thiên tử, có thể là vậy!
Rồi họ đem con khỉ đi ngay và
họ nói với nhau:
- Hoàng tử là bậc hiền trí, có
thể trị vì vương quốc.
Sau đó, họ làm lễ quán đảnh
cho hoàng tử lên ngôi vua, rồi truyền đánh trống khắp thành
và rao:
- Ðây là những pháp lệnh của
Quốc vương có khuôn mặt như gương sáng.
Từ đấy trở đi, Bồ-tát trị
vì theo Chánh pháp, và tiếng đồn Bồ-tát là bậc hiền trí
được truyền đi khắp cõi Diêm-phù-đề. Với mục đích
làm chói sáng trí tuệ của Bồ-tát, mười bốn vấn đề
này được đem đến cho Bồ-tát giải quyết:
Con bò, chàng trai và con ngựa,
Thợ đan giỏ, và vị thôn trưởng,
Kỹ nữ, thiếu phụ và con rắn,
Con nai, chim đa đa, nữ thần,
Rắn chúa, và các vị khổ hạnh,
Cùng các thanh niên Bà-la-môn.
Ở đây, câu chuyện được lần lượt
kể như sau.
Trong thời Bồ-tát được làm lễ
quán đảnh lên ngôi vua, một người hầu của vua Janasandha
tên là Gàmani-Canda đã suy nghĩ: "Vương quốc này thật vinh
quang nếu được vua cai trị cùng với sự phò tá của những
người đồng lứa tuổi với vua. Ta nay già cả, không thể
hầu hạ hoàng tử trẻ tuổi, vậy ta sẽ sống làm nghề nông
ở thôn quê".
Vì vậy ông ta ra khỏi thành phố
khoảng ba dặm và sinh sống tại một ngôi làng nhỏ. Nhưng
ông không có bò để cày ruộng. Sau khi trời mưa, ông mượn
hai con bò của một người bạn, cả ngày ông cày xong, cho
các con bò ăn cỏ, rồi dắt bò về trả lại cho người chủ.
Trong lúc ấy, người chủ đang ngồi
ăn cơm với vợ ở giữa nhà. Các con bò đi vào nhà, rất
quen thuộc. Trong khi các con bò đi vào, người chồng giơ bát
lên, và người vợ đặt bát xuống. Gàmani-Canda nhìn thấy
suy nghĩ: "Họ không mời ta ăn", liền bỏ đi và không giao
tận tay bạn các con bò. Ðêm đến, bọn ăn trộm phá chuồng
bò và dắt các con bò ấy đi.
Vào buổi sáng, người chủ đi vào
chuồng bò, không thấy các con bò ấy, biết các con bò bị
ăn trộm liền nghĩ: "Ta sẽ tóm cổ Gàmani", rồi đi đến
gặp ông ta và nói:
- Này ông, hãy trả các con bò cho
tôi.
- Nhưng các con bò đã vào trong chuồng
rồi.
- Nhưng ông có giao trả cho chúng
tôi đâu?
- Không, tôi không giao trả.
- Vậy đây là sứ giả của vua
đến mời ông đi.
Bấy giờ, những người dân xứ
này có tục lệ khi họ lượm một hòn đá hay một vỏ sò
và nói: Ðây là sứ giả của vua xin mời đi. Nếu ai nghe nói:
Ðây là sứ giả của vua, mà không đi, sẽ bị vua phạt. Do
vậy, khi ông ta nghe chữ "sứ giả", ông liền đi theo.
Trong khi hai người cùng đi đến
cung vua họ đi ngang ngôi làng có một người bạn của Gàmani
ở. Ông ta nói với người kia:
- Này ông, tôi rất đói. Ông cho
tôi vào làng ăn xong và trở lại, ông hãy ở tại đấy!
Nói xong ông ta đi vào nhà người
bạn.
Nhưng người bạn không ở nhà.
Người vợ bạn nói:
- Thưa ông, đồ ăn chín không có.
Hãy chờ một lát, tôi nấu xong sẽ mời ông.
Người vợ leo thang lên kho gạo,
vì quá hấp tấp nên té xuống đất khiến cho bà ấy sẩy
thai. Vừa lúc ấy người chồng đi về, thấy vậy liền nói:
- Anh đánh vợ ta khiến bà ấy sẩy
thai. Ðây là sứ giả của vua, hãy đi ngay.
Anh ta dắt Gàmani-Canda và ra đi.
Từ đấy, hai người dắt Gàmani ở giữa cùng đi với nhau.
Tại một ngôi làng nọ, có người
giữ ngựa không thể bắt con ngựa quay lại, lúc nó đang chạy
đến gần những người ấy. Người giữ ngựa thấy Gàmani
liền nói:
- Này cậu Gàmani, hãy đánh con ngựa
này với một vật gì khiến nó quay trở lui.
Gàmani cầm hòn đá và ném con ngựa.
Hòn đá ném trúng chân con ngựa, làm gãy chân nó như cọng
cây y lan, người giữ ngựa kêu to:
- Ông làm gãy chân con ngựa của
tôi rồi! Ðây là sứ giả của vua.
Và anh ta dắt Gàmani đi. Trong khi
bị ba người dắt đi, ông ta suy nghĩ: "Những người này sẽ
tố cáo ta trước mặt vua. Ta không thể trả tiền mấy con
bò, còn nói gì đến tiền phạt làm sẩy thai, rồi ta đào
đâu ra được tiền đền ngựa? Thà ta chết còn tốt hơn!
Vì vậy khi họ đang đi, ông ta thấy
một vực thẳm bên sườn đồi. Dưới bóng ngọn đồi ấy,
hai cha con thợ đan giỏ đang dệt một tấm chiếu, Gàmani-Canda
nói:
- Thưa các ông, tôi muốn đi vệ
sinh, hãy chờ đây một lát cho đến khi tôi trở lại.
Nói xong, ông ta lên lên ngọn đồi,
thả mình xuống vực thẳm lại rơi đúng trên lưng cha người
thợ đan giỏ. Người thợ đan giỏ già bị thương nặng chết
ngay tại chỗ. Gàmani liền đứng dậy. Người con nói:
- Ðồ ác độc, ông đã giết cha
ta chết rồi! Ðây là sứ giả của vua.
Anh ta nắm tay Gàmani và đi khỏi
lùm cây. Những người kia hỏi:
- Chuyện gì thế này?
Anh ta trả lời:
- Ðây là tên đại ác đã giết
cha tôi!
Từ đấy bốn người vây quanh dắt
Gàmani đi giữa.
Họ đến trước cửa một ngôi
làng khác. Vị thôn trưởng thấy Gàmani liền hỏi:
- Chào cậu Gàmani, cậu đi đâu
vậy?
Ông ta trả lời:
- Ði gặp vua.
- Có thật chăng cậu đi đến gặp
vua? Tôi muốn trình vua một chuyện, cậu có thể mang đến
trình không?
- Vâng tôi sẽ mang.
- Tôi thường có sắc đẹp, tài
sản, có danh tiếng, và không có bệnh. Nay tôi nghèo khổ,
lại mắc bệnh vàng da. Vì lý do gì vậy? Hãy hỏi vua như
vậy. Người ta nói vua là bậc hiền trí, vua sẽ nói với
cậu và cậu sẽ đem lời vua về nói cho tôi.
Ông ta nhận lời, rồi tiếp tục
đi.
Tại cửa một làng khác, một kỹ
nữ thấy ông ta liền gọi:
- Chào cậu Gàmani, cậu đi đâu
vậy?
Ông ta bảo đi gặp vua, kỹ nữ
ấy nói:
- Người ta nói vua là bậc hiền
trí, cậu hãy mang theo câu chuyện của tôi trình vua. Trước
kia, tôi thường được nhiều lợi dưỡng. Nay tôi không đáng
giá một miếng trầu! Không ai đến tán tỉnh tôi. Cậu hãy
hỏi vua tại sao vậy, và về nói lại cho tôi.
Rồi Gàmani lại đi nữa.
Tại cửa một ngôi làng khác, một
thiếu phụ thấy ông ta cũng hỏi tương tự và nói:
- Tôi không thể sống trong nhà chồng
cũng không thể sống trong gia đình tôi. Vì lý do gì vậy?
Câu hãy hỏi vua và về nói lại cho tôi.
Rồi Gàmani đi nữa.
Từ đấy đi qua một đia phận khác
có một con rắn sống trong một gò mối, nó thấy ông ta liền
hỏi:
- Này cậu Gàmani đi đâu vậy?
Khi được đáp đi gặp vua, con rắn
nói:
- Người ta nói vua là bậc hiền
trí. Hãy mang đến trình vua câu chuyện của tôi. Khi tôi đi
ra tìm mồi và rời gò mối, tôi ốm yếu, đòi lả nhưng thân
tôi đầy cả hang mối, tôi phải kéo thân tôi khỏi ổ một
cách khó khăn. Còn khi đi tìm mồi xong trở về, tôi được
no nê thỏa mãn và thân lớn ra, nhưng bò vào hang thật mau
lẹ, thân tôi không chạm sườn hang. Tại sao vậy? hãy hỏi
vua và đem câu trả lời về cho tôi.
Ông ta đi một đoạn nữa, một
con nai thấy ông ta cũng hỏi tương tự:
- Tôi không thể ăn cỏ ở một
chổ nào khác ngoại trừ dưới gốc cây này. Vì lý do gì
vậy? Hãy hỏi vua.
Ði qua một phần đất khác, một
con chim đa đa thấy ông ta liền hỏi:
- Khi tôi đậu dưới chân một gò
mối, tôi hót lên tiếng hót rất hay. Nhưng ở bất cứ chỗ
nào khác, tôi không thể làm được như vậy. Vì lý do gì
vậy? Hãy hỏi vua.
Ông ta đi tới một chỗ khác, một
nữ thần cây thấy ông ta hỏi:
- Này Gàmani đi đâu vậy?
Khi được trả lời đi gặp vua,
nữ thần cây nói:
- Người ta nói vua là một bậc
hiền trí. Trước kia tôi rất được trọng vọng. Bây giờ
ngay ca một ít nhánh non tôi cũng không có được. Vì sao vậy?
Hãy hỏi vua.
Ði qua một phần đất khác, một
con rắn chúa thấy ông ta và hỏi tương tự:
- Người ta nói vua là một bậc
hiền trí. Trước kia trong hồ này, nước trong như pha lê.
Nay nước hồ vẩn đục với bọt nước trùm khắp. Vì sao
lại vậy? Hãy hỏi vua.
Ði tới một chỗ khác, có một
số nhà tu khổ hạnh sống tại một khu vườn gần thành phố,
thấy ông ta cũng hỏi tương tự:
- Người ta nói vua là một bậc
hiền trí, trước kia tại khu vườn này, các loại trái ngọt
rất nhiều, nhưng nay chúng trở nên lạt lẽo và lại đắng.
Tại sao vậy? Hãy đến hỏi vua.
Từ đấy đi đến một chỗ khác,
một số thanh niên Bà-la-môn đang ở trong một gian nhà gần
cửa thành, thấy ông ta bèn hỏi:
- Này cậu Gàmani, cậu đi đâu vậy?
Khi được trả lời đi đến gặp
vua hỏi nói:
- Vậy cậu hãy mang theo câu chuyện
của chúng tôi: Trước kia chúng tôi học bất cứ đoạn kinh
nào, chúng tôi đều nhớ rõ ràng. Nhưng nay, điều chúng tôi
học không được giữ lại trong trí và không được hiệu
rõ ràng tất cả đều trở thành mù mờ như nước trong một
cái ghè nứt rạn. Vì sao sự việc lại vậy? Hãy đến, hỏi
vua.
Thế là Gàmani-Canda đến yết kiến
vua với mười bốn câu hỏi như trên.
Khi ấy vua đang ngồi tại pháp đình.
Vua thấy Gàmani-Canda, và nhận ra ông ta: "Người này là người
hầu hạ phụ vương ta, thường hay bồng bế ta thuở trước.
Từ đấy cho đến nay, ông ta sống ở đâu?". Vì vậy vua hỏi:
- Này Gàmani, trong thời gian qua khanh
sống ở đâu? Ðã lâu rồi khanh không trình diện. Vì mục
đích gì khanh đến đây?
Gàmani thưa:
- Tâu thiên tử, từ khi tiên vương
lên cõi trời, thần đi về thôn quê làm nghề cày ruộng để
sinh sống. Tại đấy, người này vì vấn đề kiện tụng
hai con bò đã đem sứ giả của vua ra và kéo thần đến trước
Thiên Tử.
- Nếu không bị kéo đi, khanh sẽ
không đến đây chứ gì? Nay khanh bị kéo đến, như vậy là
tốt rồi, và ta mới thấy khanh. Vậy người kia ở đâu?
- Thưa Thiên tử, đó là người
này.
- Có phải chính ông đưa sứ giả
của trẫm đến bắt Canda?
- Tâu thiên tử, thật vậy.
- Tại sao?
- Vì ông ta không chịu trả đôi
bò của thần!
- Có đúng chăng Canda?
- Tâu thiên tử, hãy nghe chuyện
của thần.
Rồi Canda thuật lại tất cả câu
chuyện. Nghe xong, vua hỏi người chủ của các con bò.
- Ngươi có thấy các con bò đi vào
chuồng nhà ngươi không?
- Tâu thiên tử, thần không thấy.
- Này tư trước ngươi chưa bao giờ
nghe mọi nơi gọi ta là Vua có mặt sang như gương sao? Người
hãy nói thật đi.
- Tâu thiên tử, thần có thấy.
- Này Canda, khanh không dắt đôi
bò về trả, như vậy khanh mắc nợ đôi bò. Người này có
thấy nhưng nói không thấy, tức là cố ý nói láo. Do đó
khanh phải tự tay móc mắt người này và phần khanh phải
trả cho anh ta hai mươi bốn đồng tiền vàng.
Nghe vua nói vậy, quân hầu dắt
người chủ các con bo ra ngoài. Anh ta liền nghĩ: "Khi bị móc
mắt, thì ta lấy tiền làm gì!". Vì vậy, anh ta sụp lạy dưới
chân Gàmani và nói:
- Thưa ngài Canda, số tiền các con
bò ấy thuộc về ngài. Hãy lấy thêm những đồng tiền này
nữa.
Nói vậy xong, anh ta đưa cho Canda
một số tiền rồi bỏ trốn chạy.
Người thứ hai nói:
- Tâu thiên tử, người này đánh
vợ tôi khiến cho bà ấy sẩy thai.
- Có thật vậy chăng, này Canda?
- Thưa Ðại Vương, xin hãy nghe thần.
Rồi ông ta thuật toàn bộ câu chuyện
với các chị tiết. Vua hỏi:
- Có phải khanh đánh vợ người
này và làm cho bà ta sẩy thai?
- Thưa thiên tử, thần không làm
như vậy.
- Này người kia, ngươi có thể
chữa lại sự sẩy thai do người này đã gây ra không?
- Thưa Thiên tử, không thể được.
- Nay ngươi muốn làm gì?
- Tôi muốn phải có một đứa con
trai!
- Này Canda, hãy đem vợ người này
về nhà của khanh cho đến khi nào bà ta sanh một đứa con
trai thì đưa nó đến và trả cho người này.
Người ấy nghe vậy liền sụp xuống
lạy dưới chân Canda:
- Thưa ngài, chớ phá vỡ gia đình
của tôi!
Rồi anh ta cho Canda một số đồng
tiền vàng và bỏ chạy trốn.
Người thứ ba đến và nói:
- Tâu Thiên tử, người này đánh
gãy chân con ngựa của tôi.
- Có thực chăng, này Canda?
- Thưa Ðại vương, xin hãy nghe thần.
Rồi Canda tường thuật rõ ràng
câu chuyện. Nghe xong, vua hỏi người chủ con ngựa:
- Có phải chính ngươi nhờ Canda
đánh con ngựa khiến cho nó quay lui không?
- Tâu thiên tử, tôi không nói.
Nhưng khi được hỏi thêm một lần
nữa, anh ta nói:
- Thưa, tôi có nói.
Vua gọi Canda và bảo:
- Này Canda, người này có nói nhưng
lại bảo không nói, như vậy là đã cố ý nói láo. Khanh hãy
cắt lưỡi của nó rồi cho nó một ngàn đồng tiền vàng
để bù lại con ngựa kia! Số tiền này ta sẽ cho khanh.
Nhưng kẻ giữ ngựa liền cho Canda
một số tiền rồi bỏ chạy vì sợ cắt lưỡi!
Rồi đến con trai của người thơ
đan giỏ nói:
- Tâu Thiên tử, người này là kẻ
sát nhân đã giết chết cha tôi.
- Có thật như vậy chăng, này Canda?
- Tâu Thiên tử, xin hãy nghe thần.
Rồi Canda thuật lại câu chuyện
một cách rõ ràng. Vua gọi người thợ kia:
- Nay ngươi muốn gì?
- Tâu Thiên tử, tôi muốn có được
cha tôi!
- Này Canda, người này cần có một
người cha. Nhưng khanh không thể đem lại cho nó người cha
đã chết, vậy hãy đem mẹ của nó về nhà khanh và trở thành
cha nó.
Con người đan giỏ vội nói:
- Thưa ngài, chớ phá vỡ gia đình
người cha đã chết của tôi!
Nói xong anh ta cho Canda một số tiền
rồi bỏ chạy.
Gàmani đã thắng các vụ kiện nên
hoan hỷ rồi thưa với vua:
- Tâu thiên tử, thần có nhiều
vấn đề của nhiều người muốn hỏi Thiên tử. Thiên tử
có bằng lòng cho thần nói không?
- Hãy nói đi, này Canda.
Canda theo thứ tự đảo ngược bắt
đầu từ vấn đề các thanh niên Bà-la-môn trở về trước
và kể ra từng vấn đề một.
Nhà vua lần lượt trả lời. Ðối
với vấn đề đầu tiên, khi nghe xong, vua đáp:
- Thuở trước, tại chỗ họ ở,
có một con gà biết gáy đúng giờ. Khi nghe tiếng gà gáy,
họ thức dậy, lấy các bài chú ra đọc lớn tiêng cho đến
khi trời sáng. Do đó họ không quên mất điều đã học. Nhưng
nay tại chỗ họ ở, có một con gà trống gáy không đúng
giờ. Nó gáy vào lúc còn đêm khuya hay đã quá sáng. Khi nghe
tiến gà gáy trong đêm khuya, họ thức dậy, lấy các bài chú
ra học, nhưng quá buồn ngủ nên không thể đọc được. Rồi
khi nghe tiếng gà gáy quá sáng họ thức dậy, nhưng không còn
thì giờ tụng chú nữa. Do vậy, họ không nhớ rõ những điều
đã học.
Khi nghe vấn đề thứ hai, vua trả
lời:
- Những người ấy thuở trước
hành trì Sa-môn pháp và chuyên tâm chuẩn bị các đề tài
thiền định. Nhưng bây giờ họ từ bỏ Sa-môn pháp, và chuyên
tâm vào các việc không nên làm. Các trái cây sanh ở trong
vườn được họ lấy đem cho các người hầu hạ. Còn họ
sống bằng tà mạng, thay phiên nhau đi khất thực. Do hòa hợp
với nhau như trước, chuyên tâm hành trì các Sa môn pháp, thì
các trái cây v.v... của họ sẽ ngọt như cũ. Các vị tu khổ
hạnh ấy không biết trí tuệ của các vua chúa. Hãy bảo họ
hành trì pháp Sa-môn chân chánh.
Khi nghe vấn đề thứ ba, vua nói:
- Những rắn chúa ấy thường hay
cãi nhau nên nước hồ trở thành đục. Nếu chúng hòa hợp
với nhau như trước thì nước sẽ trở lại trong.
Khi nghe vấn đề thứ tư, vua nói:
- Nữ thần cây ấy trước kia bảo
vệ các người đi qua lại khu rừng, do vậy nhận được nhiều
đồ hiến cúng khác nhau. Nay nữ thần cây ấy không bảo vệ
họ nên không nhận được đồ hiến cùng thượng hạng. Nữ
thần hay dặn nàng bảo vệ những người đi lên khu rừng
ấy.
Khi nghe vấn đế thứ năm, vua nói:
- Dưới gò mối mà con chim đa đa
ấy đậu và hót vời giọng khải ái có một cái ghè lớn
chứa châu báu. Hãy đào lên và lấy ghè ấy.
Khi nghe vấn đề thứ sáu, vua nói:
- Dưới gốc cây mà con nai ấy có
thể ăn cỏ tức là trên cây có một ong mật lớn. Con nai
ấy thèm ăn thứ cỏ được mật rớt dính vào, nên nó không
có thể ăn các thứ cỏ khác. Khanh hãy lấy tổ ong, gửi phần
mật tốt nhất cho ta. Khanh ăn phần còn lại.
Khi nghe vần đề thứ bảy, vua hỏi:
- Dưới gò mối mà con rắn ấy
có một ghè lớn chứa châu báu. Con rắn ấy sống ở đó
để bảo vệ châu báu ấy. Do vậy, khi nó bò ra, vì lòng tham
châu báu, thân nó bám chặt vào hang. Nhưng khi kiếm thức ăn
xong, thân không còn bám chặt vào hang vì tham châu báu, nên
nó bò vào thật mau và mạnh. Hãy đào ghè châu báu ấy lên
và cất giữ kỹ.
Khi nghe vấn đề thứ tám, vua nói:
- Giữa làng người chồng và làng
cha mẹ của thiếu phụ ấy, có một ngôi nhà của tình nhân
thiếu phụ ấy Náng nhớ tình nhân, không thể ở trong nhà
người chồng, và vì luyến ái tình nhân, nàng nói nàng sẽ
đi thăm cha mẹ. Nàng đi đến sống vài ngày trong nhà của
tình nhân, rồi nàng đến nhà mẹ. Sau khi ở đấy vài ngày,
nàng lại nhờ tình nhân, bèn nói nàng sẽ đi về nhà chồng,
và nàng lại đi đến nhà của tình nhân. Khanh nói cho thiếu
phụ ấy biết rằng còn có pháp luật của nhà vua. Bảo nàng
phải sống với người chồng. Nếu không, vua sẽ truyền bắt
nàng và nàng sẽ không còn mạng sống nữa. Hãy nói cho nàng
biết phải cẩn thận!
Khi nghe vấn đề thứ chín, vua nói:
- Người phụ nữ ấy trước kia
thường lấy một số tiền từ tay một người đán ông nào,
thì nàng không đi với người khác cho đến khi nàng đã để
anh ta hưởng lạc xứng với số tiền kia. Do vậy trước kia
nàng đã nhận được nhiều tiền. Nay nàng đã từ bỏ nguyên
tắc ấy của mình. Khi chưa từ giã một người mà nàng đã
nhận tiền, nàng lại lấy tiền từ một người khác! Do vậy,
nàng không có tiền vì không ai tìm đến nàng nữa. Nếu nàng
duy trì nguyên tắc cũ của mình, sự việc sẽ giống như trước
kia. Hãy bảo nàng duy trì nguyên tắc cũ của mình!
Khi nghe vấn đề thứ mười, vua
nói:
- Người thôn trưởng ấy trước
kia xử kiện đúng pháp và bình đẳng, do vậy được mọi
người thương mến và thích thú. Vì thích ý, họ biếu anh
ta nhiều quà tặng. Nhờ đó anh ta đẹp trai, có tài sản,
và danh vọng. Nay anh ta thích nhận tiền hối lộ và xử kiện
không đúng pháp. Do vậy, anh ta trở thành nghèo nàn, khốn
khổ và bị bệnh vàng da. Nếu anh ta xử kiện đúng pháp như
trước, mọi việc trở lại giống như trước. Anh ta không
biết sự có mặt của vua chúa trong nước này. Hãy bảo anh
ta phải xử kiện đúng pháp.
Như vậy Gàmani-Canda đã thuật lại
tất cả vấn đề được nêu trên. Với trí tuệ của mình,
vua đã giải quyết tất cả vấn đề ấy như đức Phập
nhất thiết trí và ban cho Gàmani-Canda nhiều tài sản. Và ngôi
làng Canda ở được vua ban thưởng ông ta như là một tặng
vật anh cho một vị Bà-la-môn. Rồi vua bảo đưa ông ta đi
về.
Canda ra khỏi thành, nói lại các
câu trả lời của Bồ-tát cho các thanh niên Bà-la-môn, các
vị khổ hạnh, con rắn chúa và nữ thần cây. Sau đó ông
ta lấy tài sản chôn tất cả tại chỗ cho chim đa đa đậu.
Rồi ông ta lấy tổ ong mật từ thân cây mà dưới đó con
nai ăn cỏ và gởi mật về dâng vua. Ông ta phá vỡ gò mối
tại chỗ con rắn ở, thâu lượm tài sản chôn cất, và thuật
lại cách vua trả lời cho người thiếu phụ, người kỹ nữ
và người thôn trưởng.
Rồi Canda đi về làng của mình
với danh vọng lớn, và sống tại đấy cho đến hết đời,
rồi đi theo nghiệp của mình. Còn vị vua có mặt sáng như
gương ấy trọn đời làm các công đức như bố thí v.v...
và sau khi mạng chung, ngài đi lên cõi trời làm đông đảo
hội chúng chư Thiên.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải
chỉ nay Như Lai có đại tró tuệ mà thuở trước cũng đã
có đại trí tuệ như vậy.
Sau khi kể Pháp thoại này, Ngài
thuyết giảng các Sự thật. Cuối bài giảng ấy, nhiều người
chứng quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, quả A-la-hán. Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Lúc bấy giờ, Gàmani-Canda là
Ànanđa, còn vị vua có mặt sáng như gương ấy là Ta vậy.
-ooOoo-
258. CHUYỆN
ÐẠI VƯƠNG MANDAHÀTÀ (Tiền thân Mandahàtà)
Dầu có được bao nhiêu...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về chuyện một Tỷ-kheo thối thất tinh
tấn.
Nghe nói Tỷ-kheo ấy đi khất
thực ở Xá-vệ, thấy một nữ nhân trang sức đẹp đẽ và
sanh tâm luyến ái. Các Tỷ-kheo đưa vị ấy đến Chánh Pháp
đường và trình diện với bậc Ðạo Sư:
- Bạch Thế Tôn, đây là một
Tỷ-kheo thối thất tinh tấn.
Bậc Ðạo Sư hỏi vị ấy:
- Có thật chăng ông thối thất
tinh tấn?
Vị ấy nói:
- Thưa có thật, bạch Thế Tôn.
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này Tỷ-kheo, ngay trong khi ông
còn đang ở trong gia đình, ông có bao giờ thỏa mãn được
ái dục này chăng? Ái dục giống như biển cả, rất khó làm
đầy. Thuở trước có những vị Chuyển luân vương ngự trị
trên bốn đại châu với hai ngàn dải vây quanh, bao trùm cả
loài người, ngay cả khi ngự trị chư Thiên của bốn Ðại
Thiên Vương, hay ngự trị chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba,
hoặc trên thiên giới của Ba mươi vị Thiên chủ Ðế Thích,
các vị ấy cũng không thế nào thỏa mãn được ái dục của
mình, rồi mạnh chung trước khi có thể thực hiện được
việc ấy. Vậy làm sao ông có thể thỏa mãn ái dục này được?
Nói xong, bậc Ðạo Sư kể câu
chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, trong những thời đại
tối sơ của thế giới, vua Mahàsammata có mặt ở đời. Vua
có con trai tên là Roja. Roja có con trai tên là Vararojà. Vararojà
có con trai tên là Kalyàna. Kakyàna có con trai tên là Varakalyàna.
Varakalyàna cón con trai tên là Upostha. Uposatha có con trai tên
là Mandhàtà. Madhàtà có đầy đủ bảy báu vậy, bốn thần
đồng và là bậc Chuyển luân vương trị vì quốc độ.
Khi tay trái vua co lại, và vỗ nhẹ
tay mặt, thì cơn mưa bảy báu vật rơi xuống, ngập đến
đầu gối, như một cơn mưa dông từ trời đổ xuống. Vua
thật là một người kỳ diệu hy hữu. Ngại làm hoàng tử
trong tám mươi bốn ngàn năm, làm phó vương cũng trong tám
mươi bốn ngàn năm, làm vị Chuyển luân vương cũng trong tám
mươi bốn ngàn năm. Tuổi thọ của ngài thật là vô lượng.
Một hôm, vì không thỏa mãn được
ái dục, vua tỏ lộ vẻ bất mãn. Các đình thần thưa:
- Tâu thiên tử, sao Thiên tử lại
bất mãn?
- Khi xét đến sức mạnh công đức
của ta, thì vương quốc này để làm cái gì? Có trú xứ nào
tốt đẹp khả ái hơn chăng?
- Tâu Ðại vương, có Thiên giới.
Vì thế vua chuyển vận hành xe báu,
cùng với hội chúng đi lên Thiên giới Bốn Thiên vương. Bốn
vị đại vương, với vòng hoa, và hương thiên giới cầm tay;
với thiên chúng vây quanh đi đến nghênh đón vua, cùng lên
thiên giới của chư vị và giao thiên giới ấy cho vua trị
vì.
Vua cùng với hội chúng của mình
trị vì thiên giới ấy trong một thời gian dài, nhưng tại
đấy, vua không thể thỏa mãn ái dục và bắt đầu lộ vẻ
bất mãn.
Bốn Thiên vương hỏi:
- Tâu Ðại vương, sao Ðại vương
lại bất mãn?
- Có trú xứ nào đẹp hơn cõi trời
này chăng?
- Tâu thiên tử, chúng tôi giống
như người hầu hạ của cõi trời trên! Cõi trời Ba mươi
còn đẹp hơn cõi này nhiều!
Mandhàtà chuyển bánh xe báu, với
hội chúng của mình vây quanh đi tới, hướng mặt về cõi
trời Ba mươi ba. Thiên chủ Ðế Thích, với vòng hoa và hương
trời cầm tay, với Thiên chúng vây quanh, đi đến nghênh đón,
hướng dẫn vua và nói:
- Tâu Ðại Vương, hãy đi tới.
Vào thời Vua cha đang du hành ở
thiên giới giữa hội chúng chư thiên, thì thái tử của ngài
vận chuyển bánh xe báu đi xuống cõi người và ngự vào kinh
thành của mình.
Ðế Thích đưa Mandhànà đến cung
điện cõi trời Ba mươi ba, chia một nửa vương quốc dâng
vua này. Từ đấy trở đi hai vị cùng trị vì cõi trời. Thời
gian trôi qua như vậy cho đến khi Ðế Thích đã sống ba mươi
sáu triệu năm rồi mệnh chung và tái sánh cõi người. Theo
cách thức này ba mươi sáu vị Ðế Thích đã lần lượt mệnh
chung. Mandhànà với hội chúng của mình trị vì cõi trời.
Như vậy với thời gian trôi qua, lòng ái dục của vua càng
tăng thịnh. Vua nghĩ: "Một nửa vương quốc có nghĩa gì đối
với ta. Ta sẽ giết Ðế Thích và ngự trị toàn vương quốc".
Nhưng vua không thể giết Ðế Thích được. Ái dục này là
nguồn gốc tai họa của vua. Do vậy, thọ mạng của vua bắt
đầu suy giảm. Tuổi già xâm chiếm thân ngài. Nhưng một thân
người không có thể tan rã trên cõi trời.
Từ Thiên quốc, vua rơi xuống và
đi vào một công viên. Người giữ công viên thấy vua liền
báo tin cho hoàng gia. Họ liền đến nơi soạn một chỗ nằm
cho ngài trong công viên, và vua nằm xuống trong sự mệt mỏi.
Các đình thần hỏi:
- Tâu Thiên tử, khi Thiên tử mệnh
chung. Thiên tử sẽ nói lên lời dặn dò gì?
- Sau khi ta mệnh chung, hãy nói cho
quần chúng lời dặn này của ta: Ðại vương Mandhàta lên
ngôi làm vị chuyển luân vương, trị vì bốn đại châu lục
được vây quanh với hai ngàn hòn đảo, đã trị vì cõi trời
Bốn Thiên vương trong một thời gian dài bằng tuổi thọ của
ba mươi sáu vị Ðế thích, nay đang mệnh chung.
Nói vậy xong, vua mệnh chung và đi
theo nghiệp của mình.
*
Sau khi kể câu chuyện quá khứ,
bậc Ðạo Sư đọc những bài kệ này:
Dầu có được bao nhiêu
Mặt trăng và mặt trời
Chiếu sáng khắp mọi phương.
Tất cả là nô lệ.
Của vua Man-dhà-nà,
Cùng tất cả chúng sanh
Sống nương tựa cõi đất,
Ðều thuộc quyền Ðại vương.
Dầu có mưa tiền vàng,
Vẩn không thỏa ái dục,
Dục ít vị, khổ nhiều,
Bậc trí ý thức vậy.
Ngay cả các thiên dục
Cũng không đem an lạc,
Ðệ tử bậc Chánh giác
Chỉ thích ái diệt tận.
Sau khi kể Pháp thoại này, bậc
Ðạo sư thuyết giảng các sự thật. Cuối bài giảng ấy,
vị Tỷ-kheo thối thất và nhiều vị khác đắc quả Dự lưu.
Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời ấy, Ðại vương Mandhànà
là Ta vậy.
-ooOoo-
259. CHUYỆN
ẨN SĨ TIRÌTA-VACCHA (Tiền thân Tirìta-Vaccha)
Con thấy hạng người này...,
Câu chuyện này, khi ở Kỳ Viên,
bậc Ðạo Sư kể về Tôn giả Ànanda được cúng dường một
ngàn tấm y, năm trăm tấm từ tay các cung nữ của vua Kosala
và năm trăm tấm từ chính tay vua.
Hoàn cảnh chuyện này đã được
diễn tả trong Tiền thân Guna, số 157.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị
vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra trong một gia đình Bà-la-môn
ở nước Kàsi. Ðến ngày lễ đặt tên, Bồ-tát được gọi
là Tirìtivaccha.
Ðến tuổi trưởng thành, Bồ-tát
đi học các tài nghệ ở Takkasìlà, sau đó lập gia đình.
Khi cha mẹ mệnh chung, Bồ-tát quá xúc động nên từ bỏ gia
đình, xuất gia trở thành vị ẩn sĩ, tự nuôi sống bằng
các thứ rễ cây và trái... ở trong rừng và trú tại đấy.
Trong khi Bồ-tát sống tại đấy, thì ở biên giới Bà-la-môn
có một cuộc dấy loạn. Chính vua cầm quân đi ra biên địa
nhưng thua trận Vua hốt hoảng vì sợ chết nên leo lên lung
voi và bỏ chạy, theo con đường ven núi đi lang thang trong rừng.
Vào buổi sáng, trong khi Tirìtavaccha đi tìm các loại trái cây
thì vua đi đến am thất c