CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (III) Jàtaka
Chương
III (tiếp theo)
274.
Chuyện Tham Ăn (Tiền thân Lola)
Cô
hạc này là ai thế nhỉ..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo tham
ăn và bị đưa ra trước thính đường.
Bấy
giờ, bậc Ðạo Sư dạy:
- Chẳng
phải bây giờ ông ấy mới tham ăn, trước kia ông ấy cũng
đã vậy rồi. Tính tham ăn đã làm cho ông ấy mất mạng và
cũng do thế mà các trí giả thời xưa đã bị đuổi ra khỏi
nhà!
Rồi
Ngài kể một câu chuyện.
*
Ngày
xưa, khi Brahmadatta là vua xứ Ba-la-nại, người đầu bếp của
một phú thương nọ trong thành phố có treo một cái giỏ trong
bếp để được công đức nhờ đó. Bấy giờ Bồ-tát là
một con Bồ câu bay đến sống trong giỏ ấy.
Một
con Quạ tham ăn bay ngang nhà bếp và bị lôi cuốn bởi một
số lượng lớn nhiều loại cá khác nhau nằm đây đó. Quạ
thấy thèm cá quá, nó tự nghĩ: "Trên thế gian này dễ gì
mình kiếm được vài con cá như thế kia!" Thế rồi nó chợt
nhìn thấy Bồ-tát và nó lại nghĩ: "Thế nào ta cũng phải
được cá. Ta sẽ dùng tên kia làm lợi khí cho ta". Ðể thực
hiện quyết định đó, Quạ đã làm như sau đây.
Khi
Bồ câu ra ngoài để kiếm thức ăn hàng ngày, Quạ liền bay
theo, theo mãi rồi đến gặp nó.
- Ông
muốn gì tôi thế ông Quạ? - Bồ câu nói - Ông và tôi đâu
có dùng một thứ thức ăn?
- Ồ,
nhưng tôi thích ông - Quạ nói - Hãy cho tôi được làm tôi
tớ hèn mọn của ông và cùng đi kiếm thức ăn với ông.
Bồ-câu
chấp thuận. Nhưng khi cả hai cùng đi kiếm thức ăn, Quạ
chỉ giả bộ cùng ăn với Bồ câu, thỉnh thoảng nó lại
quay sau mổ lấy vài miếng phân bò, gắp một hai con sâu. Khi
Quạ đã no nê, nó bay lên và kêu:
- Này
ông Bồ câu, đến bao giờ ông mới dùng xong bữa chứ? Ông
thật chẳng hề biết điều độ là chi cả. Thôi chúng ta
hãy quay về đi kẻo muộn quá rồi đấy.
Thế
là chúng quay về. Khi hai con chim cùng quay về, người đầu
bếp thấy Bồ câu mang theo một chim bạn liền treo lên thêm
một cái giỏ nữa.
Sự
việc cứ như thế trong bốn hay năm ngày. Thế rồi một số
lượng cá lớn được mua vào bếp của vị phú thương. Quạ
mong mỏi khát khao được một vài con! Từ lúc tờ mờ, nó
đã nằm rên ầm ĩ. Ðến sáng, Bồ câu bảo Quạ:
- Này
anh bạn, dậy ăn đi chứ!
- Ông
cứ đi đi - Quạ nói - Tôi đang đau bụng vì ăn không tiêu
đây.
Một
con Quạ lại bị chứng không tiêu à? Thật là vô lý! - Bồ
câu nói - Ngay cả khi một cái bấc đèn nằm trong bao tử anh,
hay dù cho thứ gì đi nữa, anh vừa ăn xong là tiêu hóa trong
nháy mắt. Bây giờ hãy nghe tôi đi. Chớ có làm bộ ra thế
chỉ vì thấy một con cá bé!
- Sao?
Thưa ông, ông bảo gì chớ? Tôi đã nói với ông là tôi đau
bụng mà.
- Ðược
rồi, được rồi - Bồ câu nói - Cẩn thận đấy! Và nó bay
đi.
Người
đầu bếp đã làm xong các đĩa thức ăn. Ông ta ra đứng trước
cửa bếp lau mồ hôi. "Bây giờ là lúc của ta đây!" Quạ
nghĩ thế rồi bay tới đậu trên một cái đĩa đầy cả thức
ăn ngon. "Kịch... Kịch..." Người đầu bếp nghe tiếng động
nhìn quanh. A! Trong chớp mắt ông ta chộp lấy Quạ, rồi nhổ
trụi lông nó, chỉ còn chừa lại một cái chỏm trên đỉnh
đầu. Rồi ông giã gừng, quế, trộn chung với bơ sữa rồi
phết khắp mình Quạ. "Ðó là để phạt tội mày làm hư bữa
ăn của chủ tao, khiến tao phải đổ đi!" Ông ta bảo thế
rồi ném nó vào trong giỏ. Ôi, thực là đau đớn!
Một
lát sau, Bồ câu đi kiếm ăn về. Vật đầu tiên nó thấy
là chú Quạ, đang lóng cóng khổ sở. Dĩ nhiên tình cảnh trông
thật nực cười! Bồ câu cảm hứng ngâm kệ như sau:
Cô
Hạc này là ai thế nhỉ,
Cô
đâu có thể ở nơi đây?
Ra
mau! Bạn Quạ tôi gần đến,
E
Quạ sẽ làm hại Hạc ngay!
Nghe
thế, Quạ trả lời bằng bài kệ khác:
Không,
không, chẳng Hạc chẳng ai mà,
Tên
Quạ tham ăn quả thật ta.
Ta
chẳng muốn làm như được dặn,
Bạn
nhìn, ta bị vặt lông ra.
Và
Bồ câu nói tiếp qua bài kệ thứ ba:
Tôi
biết bạn còn phải muộn phiền,
Cũng
do bản tính bạn gây nên.
Ai
đâu để thịt mời chim nhỏ,
Khi
đã dọn thành một đĩa lên?
Thế
rồi Bồ câu bay đi và nói:
- Ta
không thể sống với tên này được.
Và
Quạ nằm đó rên la cho đến chết.
*
Kể
xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế. Ở
phần kết thúc, vị Tỷ-kheo tham ăn kia đắc quả Nhất Lai.
Và bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Vị
Tỷ-kheo tham ăn ấy ngày xưa là Quạ tham ăn, còn Ta là Bồ
câu.
-ooOoo-
275.
Chuyện Tham Ăn (Tiền thân Lola)
Hạc
kia xinh đẹp là ai..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo tham
ăn.
Chuyện
này và chuyện trước cũng chỉ là một, nhưng đây là bài
kệ:
Hạc
kia xinh đẹp là ai,
Cớ
sao chú đến nơi đây mà nằm?
Bạn
tôi, anh Quạ dữ dằn,
Tổ
anh ta đó, tôi cần chú hay!
-
Bạn chẳng nhận ra tôi sao bạn?
Ta
cùng nhau thường vẫn đi ăn.
Chẳng
làm như được bảo răn,
Nên
lông bị vặt, bạn trông rõ ràng!
-
Tôi biết bạn hãy còn phiền muộn,
Ðó
là do tính bạn mà thôi.
Người
ta làm đĩa thịt rồi,
Phải
đâu là để đem mời chim ăn!
Cũng
như trên, Bồ-tát nói:
- Ta
không thể sống ở nơi đây nữa.
Rồi
Bồ câu bay đi nơi khác.
*
Khi
kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế.
Ở phần kết thúc, vị Tỷ-kheo tham ăn kia đắc quả Nhất
Lai. Và bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Vị
Tỷ-kheo tham ăn kia là Quạ, còn Ta là Bồ câu.
-ooOoo-
276.
Chuyện Chánh Pháp Nước Kuru (Tiền thân Kurudhamma)
Biết
ngài tín hạnh cao sâu..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo đã giết một con ngỗng trời.
Hai
Tỷ-kheo kia là bạn thân với nhau, từ Xá-vệ đến đây tu
học. Sau khi đã thọ đại giới, họ thường cùng nhau đi
đây đó. Ngày kia, họ đến Aciravati. Sau khi tắm xong, họ
đứng phơi nắng trên cát và vui vẻ trò chuyện với nhau.
Lúc ấy, có hai con ngỗng trời bay ngang trên đầu họ. Một
trong hai Tỷ-kheo trẻ tuổi ấy nhặt một hòn đá và nói:
- Tôi
sẽ ném trúng mắt con ngỗng kia.
- Hiền
hữu không thể làm thế được đâu! Người kia bảo.
- Ðược
chứ!
Người
thứ nhất bảo thế rồi nhặt một hòn đá có ba góc và ném
theo con ngỗng. Con ngỗng quay đầu lại vì nghe tiếng vút trong
không khí. Thế rồi người ấy ném tiếp một viên đá tròn
để nó trúng ngay vào mắt bên này và xuyên qua mắt bên kia.
Con ngỗng kêu thét lên lăn lộn mấy vòng rồi rơi xuống ngay
chân họ.
Các
Tỷ-kheo khác đứng gần đó trông thấy thế, chạy đến và
trách người ấy:
- Thật
đáng xấu hổ vì Hiền hữu đã là kẻ hành trì một Giáo
pháp như đạo của chúng ta mà lại còn sát sinh như thế ư?
Thế
rồi họ bắt Tỷ-kheo ấy theo họ đến trước đức Như Lai.
Bậc Ðạo Sư hỏi:
- Có
đúng như lời các Tỷ-kheo này bảo không? Ông có thực đã
sát sinh không?
- Bạch
Thế Tôn, quả thực như thế. Tỷ-kheo ấy đáp.
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Này
Tỷ-kheo sao ông lại có thể làm như thế khi ông đã hành
trì Ðại Giáo pháp giải thoát như vậy? Các bậc trí giả
ngày xưa trước khi đức Phật ra đời, mặc dù phải sống
đời trần tục bất tịnh, họ cũng đã sám hối về những
điều rất nhỏ nhặt, thế mà ông, kẻ tu hành theo Ðại Ðạo
pháp này lại chẳng biết thận trọng! Một Tỷ-kheo phải
biết chế ngự mình trong việc làm, lời nói và ý nghĩ.
Rồi
Ngài kể một câu chuyện.
*
Ngày
xưa, khi Dhananjaya là vua xứ Indapatta trong vương quốc Kuru,
Bồ-tát sanh ra là con của Chánh hoàng hậu, ngài lớn lên và
được giáo dục tại Takkasilà. Khi phụ vương qua đời, ngài
lên nối ngôi. Người trưởng thành trong chánh pháp Kuru, giữ
đầy đủ mười bổn phận của vua. Chánh pháp Kuru chính là
Ngũ giới mà Bồ-tát rất tinh cần tuân phục trọn vẹn. Cũng
như Bồ-tát, Thái hậu, Vương hậu, các vương đệ, Phó vương,
người tu tại gia, Bà-la-môn, người nài coi thú, quan lại,
người đánh xe, người thủ kho, người chủ vựa thóc, nhà
quý tộc, người gác cổng, nàng kỹ nữ, người nữ tỳ,
ai ai cũng đều tuân theo giới luật.
Từ
vua, Thái hậu kể đi,
Lại
thêm Hoàng hậu, kế vì Phó vương,
Thấy
tế tự, kẻ coi lương,
Người
nài, cùng kẻ trên đường đánh xe,
Người
coi kho báu chuyên bề,
Thêm
người gác cổng, ả nghề phấn son.
Mười
người lẻ một vừa tròn,
Kuru
chánh pháp cung tôn, giữ gìn.
Như
vậy tất cả những người này đều chuyên tâm tuân trì Ngũ
giới. Nhà vua cho xây sáu nhà bố thí: Bốn nhà ở bốn cổng
thành, một nhà ở trung tâm thành phố và một nhà ở ngay
trước cung vua. Mỗi ngày ngài phát tới 600.000 đồng tiền
bố thí. Toàn cả nước Ấn Ðộ đều phấn chấn và đâu
đâu cũng tràn đầy tình yêu thương, đức từ bi hoan hỷ
của nhà vua.
Vào
thời kỳ ấy, có một vị vua tên là Kàlinga ở thành Dantapura,
trong vương quốc Kàlinga. Trong nước ấy, đã lâu trời không
mưa. Do hạn hán nên phát sinh nạn đói. Dân chúng nghĩ rằng
thiếu lương thực có thể gây nên dịch tả và họ sợ hạn
hán, sợ đói khát. Ba mối lo ấy thường xuyên ám ảnh họ.
Dân chúng tay dắt con thơ, cùng khổ lang thang đây đó. Rồi
tất cả tụ họp lại kéo đến Dantapura, đứng trước cung
vua mà kêu than.
Nhà
vua đang đứng bên cửa sổ, nghe tiếng ồn ào mới hỏi vì
sao dân chúng lại náo động như thế. Ngài được trả lời:
- Ôi,
tâu Ðại vương, ba điều đáng sợ đã trùm lên vương quốc
của ngài. Trời không mưa xuống, mùa màng hư hại, nạn đói
phát sinh. Dân chúng đói khát, mệt mỏi bần cùng, tay dắt
con thơ, lang thang khắp chốn! Tâu Ðại vương, xin ngài hãy
làm sao cho có mưa!
Nhà
vua hỏi:
- Các
tiên vương thường phải làm gì khi không có mưa?
- Tâu
Ðại vương, nếu trời không mưa thì các tiên vương thường
bố thí, giữ ngày trai giới, phát nguyện làm lành, nằm suốt
bảy ngày trong phòng, trên đệm cỏ: như thế thì trời sẽ
mưa.
- Ðược
lắm.
Vua
bảo và làm theo như thế.
Dẫu
vậy, trời vẫn không mưa. Bấy giờ ngài phán bảo các triều
thần:
- Các
khanh bảo ta thế nào, ta đều làm thế ấy, vậy mà sao trời
vẫn không mưa! Ta còn phải làm sao nữa đây?
- Tâu
Ðại vương, trong thành Indapatta có một con voi chúa tên là
Anjana-Vasabho-Hắc tượng công. Ðó là con voi của Dhananjaya,
vua xứ Kuru. Ta hãy tìm nó đem về thì trời sẽ mưa ngay!
- Nhưng
sao ta có thể làm thế được? Dễ gì đánh bại được nhà
vua và quân đội của ông ta?
- Tâu
Ðại vương, chẳng cần phải đánh nhau với ông ta. Vua ấy
rất thích bố thí. Hễ ai xin cái gì, vua đều cho ngay. Ông
còn có thể cắt cả cái đầu tôn nghiêm, móc cả đôi mắt
từ ái, ngay cả đến ngai vàng của ông để bố thí nữa;
huống chi một con voi, ta chẳng cần phải năn nỉ nhiều, ông
ta cũng cho nó ngay.
- Nhưng
ai có thể đến xin vua ấy? Nhà vua hỏi.
- Tâu
Ðại vương, các Bà-la-môn.
Nhà
vua chỉ định tám Bà-la-môn từ một ngôi làng Bà-la-môn với
mọi nghi lễ trịnh trọng gởi họ đi xin voi. Họ mang theo
lệ phí, mặc quần áo lữ hành, không nghỉ đêm tại một
nơi nào cả mà cứ đi mãi cho đến vài ngày sau, họ đã dùng
bữa tại nhà phát chẩn trước cổng thành. Sau khi đã ăn
uống đầy đủ, họ hỏi:
- Khi
nào đức vua đến nhà phát chẩn?
Họ
được trả lời:
- Cứ
mỗi nửa tháng, ngài đến đấy ba ngày: Rằm, mười bốn,
mồng tám. Ngày mai là rằm, trăng tròn, thế nào ngài cũng
sẽ đến.
Vì
thế rạng ngày hôm sau, các Bà-la-môn đến đó theo lối vào
cổng phía đông. Bồ-tát tắm rửa, xức dầu thánh, phục
sức trang điểm cực kỳ cao sang ngự trên một con voi được
tô điểm cân đai rực rỡ. Ngài cùng với một đoàn tùy tùng
đến nhà phát chẩn ở cửa đông. Tại đó ngài xuống voi
và tự tay bố thí thức ăn cho bảy, tám người.
- Hãy
bố thí như thế này.
Ngài
bảo thế rồi ngự lên voi, tiến về phía cửa nam.
Ở
cửa phía đông, các Bà-la-môn không có cơ hội gặp ngài do
lực lượng cận vệ ngăn cản, vì thế họ phải đi về phía
cửa nam và chờ nhà vua đến. Khi vua đến một bãi đất cao
gần cổng thành, họ giơ cao tay và kính cẩn tung hô ngài.
Vua thúc gậy nhọn vào voi để đưa nó đến chỗ họ đứng.
- Chào
các Bà-la-môn, các vị muốn gì? Vua hỏi.
Các
Bà-la-môn tuyên dương đức độ của Bồ-tát qua bài kệ đầu:
Biết
ngài tín hạnh cao sâu,
Chúng
tôi đến để mong cầu ngài đây:
Chỉ
vì muốn có voi này,
Chúng
tôi tiêu hết tiền tài quốc gia.
Nghe
thế, Bồ-tát bảo:
- Này
các Bà-la-môn, nếu tất cả tài sản của quý quốc lâu nay
đã cạn kiệt để mong có được con voi này thì xin chớ ngại
gì. Ta sẽ hiến nó cho quý vị cùng với tất cả những đồ
trang sức xa hoa của nó.
Nói
xong, ngài đọc hai bài kệ này:
Các
người có làm sao chăng ấy,
Ta
vẫn theo thầy dạy ngày xưa:
Hễ
ai đã đến với ta,
Ta
luôn chào đón, thiết tha mọc mời!
Trao
quý vị thớt voi quà tặng
Ðáng
một phần tài sản quân vương,
Voi
đây, trang phục, xích vàng,
Và
nài, mọi thứ, hãy mang trở về.
Bậc
Ðại Sĩ bảo thế, vừa bước lên lưng voi rồi lại bước
xuống và bảo các Bà-la-môn:
- Nếu
trên mình voi có chỗ nào chưa được trang sức, ta sẽ trang
sức chỗ ấy rồi mới trao voi cho quý vị.
Ngài
đi quanh con vật ba lần, xem xét mọi chỗ mà vẫn không thấy
chỗ nào là không được trang sức. Bấy giờ, ngài trao vòi
voi vào trong tay các Bà-la-môn. Ngài dùng nước hoa đựng trong
một cái bình bằng vàng rất đẹp tưới vào con vật rồi
trao nó cho các Bà-la-môn. Họ nhận voi với đủ đồ trang
sức của nó, rồi họ ngồi lên lưng voi cỡi về Dantapura
và trao nó cho vua của họ. Nhưng, mặc dầu con voi đã về
tới, trời vẫn chưa mưa.
Thế
rồi, nhà vua lại hỏi:
- Sao
lại thế nhỉ?
Vua
được trả lời:
- Dhananjaya,
vua Kuru, tuân theo chánh pháp Kuru, do đó, trong vương quốc của
ông ta trời mưa cứ mỗi mươi hay mười lăm ngày. Ðó là
do uy lực đức hạnh của ông ấy. Nếu con voi này có điều
tốt thì cái tốt ấy cũng còn quá ít!
Bấy
giờ, vua bảo:
- Hãy
đem con voi này trang sức đủ mọi thứ của nó như cũ rồi
đem trả nó lại cho ông vua ấy; đồng thời hãy lấy một
tấm bảng bằng vàng, viết lên đó chánh pháp Kuru mà ông
ta đã hành trì rồi mang về đây.
Nói
xong, vua phái các Bà-la-môn và các cận thần ra đi.
Ðoàn
người đến trước vua kia, giao trả con voi lại và thưa:
- Tâu
Chúa thượng, dù con voi của ngài đã đến với chúng tôi,
trời vẫn không mưa. Người ta bảo rằng ngài tuân theo chánh
pháp Kuru, vua chúng tôi cũng muốn chấp trì chánh pháp ấy,
do đó, ngài sai chúng tôi đến đây chép chánh pháp ấy lên
trên một tấm bảng bằng vàng rồi mang về cho ngài. Xin chúa
thượng đọc cho chúng tôi chánh pháp này.
- Này
các hiền hữu - nhà vua bảo - Thực ra ta cũng đã có lần
hành trì chánh pháp ấy, nhưng giờ đây, ta lại đang nghi ngờ
về chính điều này. Chánh pháp ấy giờ đây không làm cho
tâm ta an lạc, vì thế ta không thể trao cho các bạn.
Các
bạn có thể hỏi rằng tại sao đức độ không làm cho nhà
vua an lạc nữa. Này hãy nghe đây: Mỗi ba năm một lần, vào
tháng Kattika các vua chúa thường tổ chức một buổi lễ gọi
là Kattika (lễ hội rằm tháng mười âm lịch).
Lúc
dự lễ hội, các vua chúa thường trang sức thật lộng lẫy
và phục sức giống các vị thần. Họ đứng trước mặt
quỷ Dạ-xoa Cittaràja, là vua của muôn màu, và họ dùng những
cây cung được trang hoàng bằng những tràng hoa được tô
vẽ đủ màu để bắn đi bốn phương trời.
Bấy
giờ, vị vua kia đi dự lễ đứng một bên cái hồ, trước
mặt quỷ Cittaràja và bắn tên đi bốn phương. Mọi người
đều nhìn thấy chỗ rơi của ba mũi tên đã được bắn đi,
còn mũi tên thứ tư, vì đã được bắn phía trên mặt nước
nên không ai trông thấy nó rơi vào đâu cả. Nhà vua tự nghĩ:
"Có thể mũi tên của ta rơi xuống nước, trúng vào một con
cá!" Vì nghi ngờ như thế, tội sát sanh đã tạo một vết
nhơ trong đức hạnh của ngài. Và do đó, đức hạnh của
ngài không làm cho tâm ngài an lạc như trước nữa.
Kể
xong chuyện, vua nói thêm:
- Này
các bạn, ta đang nghi ngờ về chính ta, không biết ta có giữ
chánh pháp Kuru hay không. Nhưng mẹ ta chấp trì rất tinh chuyên,
các bạn có thể đến hỏi bà.
- Nhưng,
tâu Ðại vương - họ nói - Ngài không hề có ý định sát
sinh. Ðã không có ý định trong lòng thì không thể gọi là
sát sinh được. Xin ngài hãy đọc cho chúng tôi nghe chánh pháp
Kuru mà ngài đã chấp trì.
- Thế
thì chép đi!
Vua
bảo thế rồi bảo cho họ chép trên tấm bảng vàng.
- Chớ
sát sinh, chớ lấy của không cho, chớ tà dâm, chớ nói dối,
chớ uống rượu mạnh.
Rồi
ngài nói thêm:
- Tuy
thế chánh pháp ấy không làm cho ta an lạc, quý vị hãy đến
học hỏi mẹ ta.
Các
sứ giả chào vua rồi đến yết kiến Thái hậu. Họ nói:
- Thưa
lệnh bà, chúng tôi được nghe rằng lệnh bà chấp trì chánh
pháp Kuru, xin lệnh bà truyền dạy nó cho chúng tôi.
Thái
hậu bảo:
- Các
con ạ, thực ra, ta cũng đã từng chấp trì chánh pháp này,
nhưng giờ đây, ta lại đang có những nỗi ngờ. Chánh pháp
này không làm ta hạnh phúc, cho nên ta không thể trao truyền
nó cho các con được!
Bấy
giờ ta biết được Thái hậu có hai con trai, con lớn đang
là vua và con kế là phó vương. Một vị vua gởi đến Bồ-tát
những thứ dầu thơm làm bằng loại trầm rất quý, trị giá
một trăm ngàn đồng và một cái vòng đeo cổ bằng vàng cũng
trị giá một trăm ngàn đồng. Bồ-tát nghĩ rằng nên làm
vinh dự mẹ, nên ngài gởi cả hai thứ cho mẹ ngài. Thái hậu
tự nghĩ: "Ta không xức dầu thơm bằng gỗ trầm, cũng chẳng
đeo vòng cổ, vậy ta nên gởi các thứ này cho vợ của các
con ta". Rồi bà lại nghĩ: "Vợ của con trưởng ta lại là
Hoàng hậu, nàng là chánh hậu, ta nên gởi cho nàng chiếc vòng
cổ bằng vàng, còn vợ của con thứ ta thì nghèo, ta nên gởi
cho nàng hương trầm". Thế là một người bà cho vòng cổ,
người kia bà cho hương trầm. Sau đó bà chợt nghĩ: "Ta chấp
trì chánh pháp Kuru thì đối với ta, họ nghèo hay không nghèo
đâu có thành vấn đề? Có thể rằng ta đã tỏ ra thương
yêu đặc biệt con trưởng; như thế thì không thích hợp.
Và có thể do thế, ta đã làm tì ố đức hạnh của ta". Thế
là Thái hậu bắt đầu nghi ngờ. Ðó là lý do vì sao bà đã
nói như trên.
Các
sứ giả nói:
- Một
khi thứ gì đã ở trong tay lệnh bà, lệnh bà muốn cho thế
nào tùy ý. Một chuyện quá nhỏ nhặt như thế kia mà lệnh
bà còn nghi ngại thì làm sao lệnh bà sẽ gây một tội lỗi
nào được? Ðức hạnh không bị rạn vỡ vì một điều như
thế đâu! Xin lệnh bà hãy truyền cho chúng tôi chánh pháp
xứ Kuru.
Thế
là họ được Thái hậu truyền chánh pháp và họ chép vào
tấm bảng vàng.
- Các
con ạ - Thái hậu bảo - tuy vậy, ta cũng chẳng hạnh phúc
trong chánh pháp này. Nhưng con dâu ta vẫn tuân phục giới luật
rất chuyên nhất, hãy đến hỏi nàng đi!
Thế
rồi họ kính cẩn từ giã Thái hậu và đến hỏi xin Hoàng
hậu theo cách như trên. Và cũng như trên, bà bảo:
- Ta
không thể truyền chánh pháp ấy được vì chính ta đây cũng
không chấp trì nó nữa.
Bấy
giờ, một hôm Hoàng hậu đang ngồi ở cửa mắt cáo nhìn
xuống, bà thấy nhà vua đang tham dự một cuộc diễn hành
long trọng quanh kinh thành. Phó vương ngồi trên lưng voi, đằng
sau ngài. Bà cảm thấy yêu vị Phó vương và tự nghĩ: "Nếu
ta làm bạn với chàng và khi anh chàng mất, chàng sẽ lên làm
vua và lấy ta làm vợ thì sao?
Thế
rồi, bà chợt nghĩ: "Ta là kẻ chấp trì chánh pháp Kuru, ta
lại là kẻ đã có chồng, thế mà ta lại còn để mắt yêu
thương một người đàn ông khác. Ðây hẳn là một tì vết
trong đức hạnh của ta!". Hoàng hậu cứ ray rứt ân hận mãi.
Bà đã kể cho sứ giả nghe điều này.
Nghe
xong, họ bảo:
- Tội
lỗi không phải chỉ là sự phát khởi một ý nghĩ. Nếu chỉ
vì việc quá nhỏ nhặt như thế mà lệnh bà thấy hối hận,
thì lệnh bà đâu có thể phạm tội lỗi nào được? Ðức
hạnh không thể bị rạn nứt vì một chuyện quá nhỏ nhặt
như thế đâu! Xin hãy truyền chánh pháp Kuru cho chúng tôi.
Thế
là Hoàng hậu đọc chánh pháp và họ chép nó vào tấm bảng
vàng. Nhưng Hoàng hậu bảo:
- Này
quí vị, tuy thế đức hạnh của ta cũng không được hoàn
hảo. Nhưng vị phó vương vẫn tuân trì giới luật rất tinh
chuyên. Hãy đến nơi ngài mà hỏi.
Thế
là đoàn người lại đến với vị phó vương và cũng hỏi
xin ngài chánh pháp Kuru như trước. Phó vương vẫn thường
mang theo đoàn tùy tùng đến hầu cận vua vào mỗi buổi chiều.
Khi xe ngài và đoàn tùy tùng đến sân cung điện, nếu ngài
muốn dùng cơm với nhà vua và ngủ đêm tại cung điện, thì
ngài sẽ gác dây cương và roi ngựa trên ách xe; đấy là dấu
hiệu cho các tùy tùng lui ra và sáng hôm sau họ sẽ trở lại
đứng chờ ngài ra đi, còn người đánh xe sẽ ở lại trong
xe và mang xe trở lại thật sớm chờ ngài ở cổng cung vua.
Nhưng nếu phó vương muốn ra đi ngay sau đó thì ngài để
dây cương và roi ngựa trong xe rồi vào yết kiến nhà vua.
Rồi đám tùy tùng nhìn thấy dấu hiệu rằng ngài sẽ ra đi
ngay, phải đứng chờ ngài trước cổng cung điện.
Một
hôm, ngài làm như thế rồi vào yết kiến vua. Nhưng khi ngài
vào bên trong thì trời bắt đầu mưa. Vua thấy thế nên không
chịu cho ngài ra đi. Do đó, ngài cũng dùng cơm rồi ngủ tại
cung điện. Nhưng đoàn tùy tùng đứng chờ phó vương bên
ngoài vẫn phải đứng đó suốt đêm trong mưa.
Ngày
hôm sau, khi ngài đi ra và thấy cả đám người ướt át đang
đứng đó, ngài tự nghĩ: "Ta là kẻ chấp trì chánh pháp Kuru,
thế mà ta lại để cho đám người này phải khổ nhọc! Chắc
chắn đây là một tỳ vết trong đức hạnh của ta!" Ngài
cứ bứt rứt hối hận mãi. Vì thế, ngài bảo các sứ giả:
- Giờ
đây ta vẫn nghi ngờ không biết mình có thực sự chấp trì
chánh pháp không. Do đó ta không thể truyền nó cho quí vị
được.
Rồi
ngài kể cho họ nghe vấn đề ấy.
Nghe
thế, họ bảo:
- Nhưng
ngài đã không hề có ý định làm khổ nhọc những người
kia. Ðiều gì không do ý định thì không được kể là tội
lỗi. Nếu vì một việc nhỏ nhặt như thế mà ngài còn cảm
thấy hối hận thì ngài có thể phạm tội gì được?
Thế
rồi họ được phó vương truyền chánh pháp này và họ chép
nó vào tấm bảng vàng. Ngài lại nói:
- Tuy
thế, chánh pháp này còn khiếm khuyết trong ta. Nhưng vị tế
sư của ta vẫn chấp trì nó rất tinh chuyên, hãy đến gặp
vị ấy mà xin hỏi.
Thế
là sứ giả lại đến đó gặp vị tế sư.
Bấy
giờ vị tế sư một hôm đến chầu vua; dọc đường ông
trông thấy một chiếc xe màu sặc sỡ như mặt trời ban mai,
đó là một chiếc xe do một vị vua nọ gửi đến cho vua.
- Xe
của ai thế?
Ông
hỏi và được trả lời:
- Xe
gửi đến cho đức vua đấy!
Thế
rồi ông tự nghĩ: Ta đã già rồi, nếu vua cho ta chiếc xe
kia để ta dùng thì hay biết bao!
Khi
đến yết kiến vua, ông chúc tụng rồi đứng một bên. Bấy
giờ chiếc xe được mang lại cho vua. Vua bảo:
- Chiếc
xe đẹp quá, hãy trao tặng thầy ta đi.
Nhưng
vị giáo sĩ không thích nhận; dù được nài nỉ nhiều lần,
ông cũng vẫn không là không! Tại sao như vậy? Bởi vì ông
nghĩ: "Ta là kẻ hành trì chánh pháp Kuru mà lại còn ham muốn
của cải người khác, chắc chắn đây là một tỳ ố trong
đức hạnh của ta".
Ông
kể chuyện cho các sứ giả nghe và nói thêm:
- Các
con ạ, ta đang nghi ngờ chánh pháp Kuru; chánh pháp này giờ
đây không làm cho ta an lạc, do đó ta không thể truyền dạy
cho các con được.
Nhưng
các sứ giả bảo:
- Một
chút phát khởi tham dục không thể làm rạn nứt đức hạnh
được. Nếu ngài cảm thấy ngần ngại về một điều nhỏ
nhặt như thế kia thì ngài đâu có thể gây nên một tội
lỗi thực sự nào được?
Thế
là họ được ông truyền đọc giới luật và họ chép vào
tấm bảng vàng.
- Tuy
thế, thiện pháp này giờ đây chẳng làm cho ta an lạc - Vị
giáo sĩ bảo - nhưng người quản tượng của hoàng gia vẫn
hành trì nó rất cẩn trọng. Hãy đến hỏi ông ta.
Thế
là các sứ giả tìm đến hỏi người quản tượng
Một
hôm, người quản tượng đang đo một cánh đồng. Ông buộc
sợi dây thừng vào một cái cọc và đưa một đầu dây cho
người chủ đất cầm, còn ông cầm đầu dây kia. Cây cọc
ở cuối sợi dây và ông cầm tới ngay một cái hang cua. Ông
tự nghĩ: "Nếu ta cắm cọc vào lỗ thì con cua trong lỗ sẽ
bị thương. Nếu ta cắm cọc vào phía bên kia lỗ thì tài
sản của nhà vua sẽ bị thiệt và nếu ta đặt cọc phía
bên này lỗ thì người điền chủ sẽ bị thiệt. Phải làm
sao đây?" Thế rồi ông lại nghĩ: "Con cua hẳn phải ở trong
lỗ này, nhưng nếu nó ở trong đó thì nó phải tự lộ ra
chứ" Thế là ông ta cắm cọc vào lỗ. Bên trong, con cua phát
ra tiếng "cạch"! Ông liền nghĩ: "Chắc hẳn cây cọc đã đâm
lên mình cua và rõ ràng là ta đã giết chết nó. Ta là kẻ
tuân trì chánh pháp Kuru và nay ta đã gây tỳ ố vào đó rồi!"
Người
quản tượng thuật cho các sứ giả nghe như thế và nói thêm:
- Vì
vậy, tôi đang nghi ngờ về chánh pháp ấy, tôi không thể
trao nó cho quí vị được!
Các
sứ giả nói:
- Ông
đã không cố ý muốn giết con cua. Làm điều gì mà không
cố ý thì không phải tội lỗi. Nếu chỉ vì một chuyện
quá nhỏ nhặt như thế kia mà ông còn cảm thấy e ngại thì
ông đâu có thể gây một tội lỗi thực sự nào được?
Thế
rồi họ được người quản tượng truyền chánh pháp và
họ chép vào tấm bảng vàng. Ông ta lại nói:
- Tuy
giới luật này không làm cho tôi an lạc, người đánh xe vẫn
hành trì nó rất tinh chuyên, quí vị hãy đến hỏi ông ấy
đi!
Vì
thế đoàn người từ giã để đến gặp người đánh xe.
Bấy
giờ một hôm ông ta đánh xe đưa nhà vua đến hoa viên. Nơi
đây vua thưởng ngoạn suốt ngày, đến chiều mới trở lại
và bước lên xe ra về. Nhưng, vào lúc hoàng hôn, trước khi
về đến thành phố, một cơn dông đổ xuống. Người đánh
xe sợ nhà vua có thể ướt, ra roi quất vào đôi ngựa quý
và chúng phóng thật nhanh về nhà.
Từ
đó về sau, trên đường đi đến hoa viên hay từ hoa viên
trở về, hễ ngang quãng đó là đôi ngựa phóng nhanh lên.
Tại sao vậy? Bởi chúng nghĩ rằng hẳn phải có cái gì nguy
hiểm ở quãng đó cho nên người đánh xe tự nghĩ: "Nếu đức
vua có bị ướt hay không, thì đó đâu phải lỗi của ta?
Thế mà một lúc không đáng, ta ra roi quất vào đôi ngựa
quý vốn được luyện tập thuần thục này, khiến chúng cứ
phải cố hết sức phóng nhanh lên, cố sức mãi cho đến khi
mệt nhoài, đó là tại ta cả! Ta là kẻ tuân trì chánh pháp
Kuru, chắc chắn đây là một tỳ vết xấu rồi!
Người
đánh xe thuật chuyện cho các sứ giả nghe và bảo:
- Vì
lý do như vậy mà tôi nghi ngại về chánh pháp ấy và không
thể truyền nó cho quý vị.
Các
sứ giả nói:
- Nhưng
ông chẳng cố ý làm mệt các con ngựa kia; làm việc gì không
cố ý thì không phải là tội lỗi. Nếu chỉ vì một việc
quá nhỏ nhặt như thế kia mà ông còn cảm thấy e ngại thì
ông đâu có thể gây nên một tội lỗi thực sự nào được?
Thế
là các sứ giả được người đánh xe đọc chánh pháp ấy
và họ chép nó vào tấm bảng vàng. Nhưng người đánh xe lại
đề nghị họ tìm đến một vị trưởng giả kia và nói:
- Tuy
chánh pháp này không làm cho tôi an lạc, ông ta vẫn chấp trì
nó rất cẩn trọng.
Các
sứ giả lại đến gặp các vị trưởng giả và hỏi xin chánh
pháp. Bấy giờ vị trưởng giả một hôm ra thăm đồng lúa,
thấy một chùm bông lúa nở nứt vỏ, ông đến cột túm lại
bằng một túm lúa; và lấy một nắm cột vào một cây gậy.
Thế rồi ông chợt nghĩ: "Do từ cánh đồng này, ta phải dâng
đức vua số lợi tức của ngài! Thế mà ta lại lấy đi một
nắm lúa từ một thửa ruộng chưa chín! Ta là kẻ tuân trì
chánh pháp Kuru, chắc chắn ta đã phá vỡ nó rồi!" Ông ta
kể chuyện cho các sứ giả và bảo:
- Giờ
đây, tôi đang nghi ngại về pháp ấy, do đó tôi không thể
truyền cho quí vị được.
Các
sứ giả nói:
- Nhưng
ông đã không hề có ý lấy cắp, không có ý nghĩ ấy thì
không thể bị kết tội ăn cắp. Nếu ông cảm thấy ân hận
chỉ vì một việc nhỏ nhặt như thế kia thì làm sao mà ông
có thể lấy những gì của kẻ khác?
Thế
là họ được vị trưởng giả đọc chánh pháp ấy và họ
chép nó vào tấm bảng vàng. Vị trưởng giả nói thêm:
- Mặc
dầu tôi chẳng được sung sướng trong việc này, vị giữ
kho thóc của nhà vua chấp trì giới luật này rất tinh chuyên.
Hãy đến hỏi ông ấy.
Thế
là các sứ giả đến hỏi xin viên chức coi kho thóc.
Bấy
giờ một hôm ông này đang ngồi trước cửa kho lo việc đếm
số thóc nộp thuế cho vua, đã bốc một hột thóc chưa được
đong và bỏ nó riêng ra để làm dấu. Lúc ấy mưa bắt đầu
rơi. Ông vội đếm các hột thóc dùng để làm dấu xem bao
nhiêu và quét gom lại rồi bỏ chúng vào đống thóc đã được
đong đếm. Sau đó ông vội chạy vào ngồi trong nhà người
giữ cổng: "Ta đã bỏ các hột thóc dùng làm dấu kia vào
đống thóc được đong đếm hay vào đống thóc chưa đong
đếm nhỉ?". Ông tự hỏi như vậy và chợt nghĩ: "Nếu ta
đã bỏ các hột thóc ấy vào đống thóc đã được đong
đếm, thì phần của vua được tăng lên và các chủ điền
lại bị thiệt. Ta là kẻ chấp trì chánh pháp Kuru, và nay
ta đã có tỳ vết xấu rồi!".
Vì
thế ông ta thuật cho các sứ giả nghe chuyện này và nói thêm
rằng vì ông ta nghi ngại về pháp ấy nên không thể truyền
nó cho họ. Nhưng các sứ giả nói:
- Ông
không có ý định lấy trộm và nếu không có ý định ấy
thì không thể bị kết tội là gian dối. Nếu chỉ vì một
việc quá nhỏ nhặt như vậy mà ông còn e ngại thì ông đâu
có thể lấy đồ vật gì của ai?
Thế
là các sứ giả được viên chức coi kho thóc truyền chánh
pháp và họ chép nó vào tấm bảng vàng. Ông ta nói thêm:
- Tôi
không giữ được toàn vẹn giới đức nhưng người gác cổng
tuân trì nó rất tinh chuyên. Hãy đến ông ấy mà hỏi.
Thế
là các sứ giả ra đi và đến hỏi người gác cổng.
Bấy
giờ người gác cổng, một đêm vào giờ đóng cổng thành,
đã gọi lớn lên ba lần. Một người nghèo khổ kia đang lượm
củi, lượm lá trong rừng với cô em gái út, nghe tiếng gọi
vội cùng em chạy lại. Người gác cổng nói:
- Này
anh, há không biết nhà vua đang ở trong thành sao? Anh há không
biết rằng đã đến giờ đóng cổng thành sao, thế mà anh
lại đi vào trong rừng làm chuyện yêu đương!
Người
kia đáp:
- Không
đâu, thưa ông, đây không phải vợ tôi mà là em gái tôi.
Người
gác cổng chợt nghĩ: "Bảo cô em gái là vợ thì thật là sàm
sỡ quá! Ta là kẻ chấp trì giới luật Kuru, rõ ràng giờ
đây ta đã phá vỡ nó rồi!" Ông kể chuyện cho các sứ giả
và nói thêm:
- Như
thế, tôi đang nghi ngờ không biết rằng tôi có thực sự
chấp trì chánh pháp Kuru hay không, do đó tôi không thể truyền
nó cho quý vị.
Nhưng
các sứ giả bảo:
- Ông
đã nói như thế vì ông nghĩ như thế, điều ấy không làm
rạn vỡ đức hạnh của ông. Nếu ông cảm thấy hối hận
vì một điều quá nhỏ nhặt như thế kia thì ông đâu có
thể nào buông một lời dối trá?
Thế
là họ được người gác cổng đọc các giới hạnh ấy và
họ chép chúng vào tấm bảng vàng.
Thế
rồi người gác cổng bảo:
- Tuy
giới luật này chẳng làm tôi an lạc, nàng kỹ nữ kia lại
chấp trì nó rất tinh chuyên, quí vị hãy đến hỏi nàng.
Các sứ giả làm theo như vậy. Nàng đã từ chối như những
người đã kể trên kia vì lý do sau đây: Sakka, Ðế Thích,
Thiên chủ, muốn thử đức độ của nàng, liền hóa ra một
chàng trai đến trao cho nàng một ngàn đồng tiền và nói:
- Lát
nữa tôi sẽ trở lại.
Thế
rồi ngài trở về trời và suốt ba năm không xuống thăm nàng.
Còn nàng, vì danh dự, cũng suốt ba năm không nhận dù chỉ
một miếng trầu từ bất cứ người đàn ông nào cả. Dần
dần, nàng trở nên nghèo khó, rồi nàng tự nghĩ: "Người
đàn ông cho ta một ngàn đồng kia đã ba năm nay không hề
trở lại, và giờ đây ta trở nên nghèo khó. Ta không thể
giữ gìn cả xác thân và tâm hồn cùng một lúc, nay ta phải
đến kể cho ngài phán quan và sẽ kiếm tiền như trước đây".
Thế là nàng đến pháp đường và bảo:
- Cách
đây ba năm, có một người đàn ông đến cho tôi một ngàn
đồng rồi chẳng hề trở lại; tôi không biết ông ta đã
chết rồi hay chưa. Tôi không thể giữ trọn vừa thân xác
vừa linh hồn được. Thưa ngài, tôi phải làm sao đây?
Vị
phán quan trả lời:
- Nếu
đã ba năm mà ông ta không trở lại thì cô phải làm gì ư?
Hãy kiếm tiền như trước kia đi!
Ngay
sau khi nàng rời pháp đường với lời phán quyết kia, một
người đàn ông đến trao tặng nàng một ngàn đồng. Trong
khi nàng đang đưa tay lấy thì Ðế Thích hiện thành chàng
trai nọ. Nàng bảo:
- Ðây
là người đã cho tôi một ngàn đồng ba năm trước đấy
tôi không nên lấy tiền của ông ta.
Rồi
nàng rụt tay lại.
Bấy
giờ, Ðế Thích hiện nguyên hình của mình rồi bay lên không,
sáng rỡ như mặt trời ban mai và gọi cả thành phố tụ tập
lại. Ðứng giữa đám đông, Ðế Thích nói:
- Ðể
thử lòng tốt của nàng, cách đây ba năm, ta đã cho nàng một
ngàn đồng. Hãy làm như nàng, hãy giữ lấy danh dự của các
người như nàng đã từng giữ danh dự của nàng.
Sau
lời khuyên bảo ấy, ngài ban cho nhà nàng tràn ngập những
châu ngọc đủ bảy loại và nói:
- Từ
nay, hãy tỉnh giác hộ phòng.
Ngài
khuyến dụ nàng như thế rồi bay lên trời. Vì câu chuyện
trên đây nàng kỹ nữ đã từ chối truyền giới luật cho
các sứ giả và nói:
- Bởi
vì trước kia tôi đã nhận tiền của một người, thế mà
sau đó lại đưa tay ra muốn nhận tiền của một kẻ khác,
thế là đức hạnh của tôi không được toàn hảo. Do đó
tôi không thể trao giới luật cho quý vị được.
Nghe
thế, các sứ giả bảo:
- Mới
chỉ đưa tay ra thì không xâm phạm gì đến đức hạnh, đức
hạnh kia của cô thật là toàn hảo đệ nhất!
Và
như vậy, nàng kỹ nữ là người sau cùng đã truyền giao các
giới đức cho các sứ giả và họ đã chép chúng vào tấm
bảng vàng. Họ mang tấm bảng vàng với các giới luật về
thành Dantapura và thuật cho vua nghe mọi chuyện trong chuyến
đi vừa qua.
Thế
rồi vua Dantapura thực hành theo các giới luật Kuru và tuân
theo Ngũ giới. Bấy giờ trong khắp vương quốc Kàlinga, đâu
đâu cũng có mưa rơi xuống; ba mối lo sợ kia đã giảm đi,
đất đai trở nên màu mỡ tốt tươi. Bồ-tát suốt đời
bố thí, hành thiện rồi về sau cùng với quần thần đi lên
làm đông đảo các cõi trời.
*
Khi
kể xong pháp thoại này, bậc Ðạo sư tuyên thuyết Tứ Ðế
và giải thích Tiền thân. Ở phần kết thúc Tứ Ðế, nhiều
người đắc quả Dự Lưu, nhiều người đắc quả Nhất Lai,
nhiều người đắc quả Bất Lai và nhiều người đắc quả
A-la-hán. Và Tiền thân được bậc Ðạo Sư nhận diện như
sau:
- Uppalavannà
(Liên Hoa Sắc) là nàng kỹ nữ, Punna là người gác cổng thành,
người quản tượng là Kuccàna, Kolita là người coi vựa thóc,
vị trưởng giả là Sàriputta, người lái xe là Anuruddha (A-na-luật),
vị tế sư là trưởng lão Kassapa (Ðại Ca-diếp); Phó vương
là Nandapandita; mẹ của Ràhula (La-hầu-la) là chánh hậu, thái
hậu là bà Mayà, còn vị vua Bồ-tát là Ta. Tiền thân rõ ràng
là như thế.
-ooOoo-
277.
Chuyện Chim Bồ Câu (Tiền thân Romaka)
Dãy
đồi này năm mươi năm lẻ một..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Trúc-Lâm về một mưu toan giết
hại.
Các
chi tiết của chuyện được diễn ta như sau:
*
Ngày
xưa, khi Brahmadatta là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh làm một
con Bồ câu, sống với một đàn bồ câu đông đúc ở giữa
khu rừng trong một cái động ở dãy đồi. Có một nhà tu
khổ hạnh rất đức độ đến dựng một túp lều để ở,
bên trong một cái động khác của dãy đồi, gần bìa làng,
không xa chỗ ở của đàn bồ câu. Bồ-tát thường đến thăm
và được nghe những lời dạy quí giá.
Sau
khi sống ở đó một thời gian dài, nhà tu khổ hạnh ra đi.
Bấy giờ lại có một người giả làm một nhà tu khổ hạnh
đến đó ở. Bồ-tát cũng cùng cả đàn bồ câu đến viếng
thăm, kính cẩn chúc tụng người ấy. Ðàn chim cứ nhảy nhót
suốt ngày quanh chỗ của người ẩn dật, mổ đồ ăn trước
cửa động và đến chiều mới bay về nhà. Người tu khổ
hạnh giả mạo kia sống ở đó hơn năm mươi năm.
Một
hôm, người làng đến cho ông một số thịt bồ câu đã được
nấu chín. Ông rất thích mùi vị ấy và hỏi xem đó là thịt
gì thì được trả lời là thịt bồ câu. Ông tự nghĩ: "Từng
đàn chim Bồ câu thường đến nơi trú ẩn của ta, ta phải
giết vài con để ăn mới được".
Thế
là ông ta lấy gạo, bơ, sữa, ngò, tiêu và để sẵn sàng.
Ông dấu một cái gậy trong chéo áo, ngồi trước cửa lều
và chờ bầy chim bồ câu đến.
Khi
Bồ-tát bay đến cùng đàn bồ câu, ngài phát hiện được
việc ác mà người tu khổ hạnh giả mạo kia đang mưu định:
"Nhà tu ác độc đang ngồi với bộ tịch giả dối kia, có
lẽ ông đã ăn mất một số trong bọn ta rồi, ta sẽ vạch
mặt ông ta!".
Thế
rồi ngài đáp xuống phía dưới gió và đánh hơi kẻ ác kia:
"Ðúng rồi, - ông nói - người này muốn giết chúng ta mà
ăn thịt; chúng ta chớ đến gần ông ta". Rồi ngài cùng cả
đàn chim bay đi. Thấy Bồ-tát bay ra xa, người ẩn dật kia
tự nghĩ: "Ta sẽ nói vài lời ngọt ngào với nó để làm
thân, rồi giết nó mà ăn thịt". Rồi ông ta đọc hai bài
kệ sau:
Dãy
đồi này, năm mươi năm lẻ một,
Lũ
chim muông vẫn lui tới thăm ta.
Ở
nơi đây bao đầm ấm, an hòa.
Ðâu
cần phải e dè hay sợ hãi!
Thế
mà nay lũ cháu chắt con cái
Ngại
nơi này, bay đến ở đồi kia.
Chúng
đã quên niềm kính trọng ngày xưa,
Chúng
có phải bầy chim dòng giống cũ?
Bồ-tát
liền quay lại đọc bài kệ thứ ba:
Ta
chẳng khùng đâu, biết rõ ông,
Ta
đây, dòng giống của tôn tông.
Còn
ông vẫn thế, rắp tâm hại,
Ẩn
giả, ta đây phải ngại ngùng.
"Chúng
đã vạch mặt ta rồi". Nhà tu khổ hạnh giả mạo kia nghĩ
thế rồi ném cây gậy vào con chim nhưng ông không ném trúng
được.
- Ði
đi, ông bảo, ta đã bắt hụt mi! "Ông bắt hụt chúng tôi
- Bồ-tát nói - nhưng ông sẽ không bắt hụt bốn địa ngục
đâu! Nếu ông còn ở đây, tôi sẽ gọi người làng và bảo
họ đến bắt ông về tội trộm. Hãy cút đi nhanh lên!
Bồ-tát
dọa ông ta như thế rồi bay đi. Kẻ ẩn dật kia không thể
sống ở đó lâu hơn nữa.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài nhận diện Tiền
thân:
- Bấy
giờ Ðề-bà-đạt-đa là nhà tu giả mạo, còn vị tu khổ
hạnh đầu tiên, kẻ thiện hạnh, là Xá-lợi-phất và con
Bồ câu đầu đàn chính là Ta đây.
-ooOoo-
278.
Chuyện Con Trâu (Tiền thân Mahisa)
Sao
ngài vẫn kiên trì..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một con khỉ ngỗ
nghịch.
Tại
Xá-vệ, một gia đình kia có một con khỉ. Con khỉ này thường
chạy đến chuồng voi, nhảy lên lưng một con voi hiền lành,
phóng uế trên đó rồi bắt đầu chạy nhảy lung tung. Con
voi kia vừa hiền lành vừa nhẫn nại, chẳng làm gì cả. Nhưng
một hôm kia, một con voi trẻ và hung dữ đứng vào chỗ của
con voi hiền nọ, khỉ cứ tưởng là con voi thường ngày, liền
trèo lên lưng nó. Nó bị voi dùng vòi chộp lấy và quật xuống
đất, khiến nó bị vỡ ra từng mảnh.
Các
Tỷ-kheo biết được chuyện này và một hôm họ đem ra bàn
tán:
- Này
các hiền hữu có nghe chuyện con khỉ ngỗ nghịch đã lầm
tưởng con voi dữ là con voi hiền nên trèo lên lưng nó để
mất mạng không?
Bậc
Ðạo Sư bước vào và hỏi:
- Này
các Tỷ-kheo, các ông ngồi đây bàn tán chuyện gì thế?
Và
khi được các Tỷ-kheo kể chuyện ấy, Ngài bảo:
- Ðây
không phải là lần đầu tiên con khỉ ngỗ nghịch làm như
thế, trước kia nó cũng đã làm như thế.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi Brahmadatta là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là một con
Trâu sinh ra trong vùng Tuyết Sơn (Hy-mã-lạp Sơn) ngài lớn
lên, to lớn, khỏe mạnh và thường đi đây đó khắp đồi
núi, đỉnh cao, hang sâu, rừng già.
Lần
nọ, ngài trông thấy một cái cây thích ý, liền đứng dưới
cây để ăn.
Bấy
giờ, một con Khỉ ngỗ nghịch từ trên cây nhảy xuống trên
lưng Trâu. Khỉ nắm một sừng trâu, móc đuôi và đu đưa
thân mình. Bồ-tát tràn đầy kiên nhẫn, đức độ, từ bi
đã không để ý tới sự ngỗ nghịch của Khỉ. Con Khỉ kia
cứ làm như thế mãi.
Nhưng
một hôm, vị thần của cây đứng trên thân cây hỏi Bồ-tát:
- Thưa
ngài Trâu chúa, sao ngài cứ để mặc cho con khỉ ngỗ nghịch
kia hỗn hào mãi thế? Hãy khiến nó chấm dứt đi thôi!
Và
nói rộng điều này, vị thần cây đọc hai bài kệ sau đây:
Sao
ngài vẫn kiên trì
Chịu
đựng chuyện kỳ quặc,
Khỉ
hỗn hào ích kỷ
Quấy
phá ngài lắm khi?
Hãy
đạp nó bằng chân
Hãy
đâm nó bằng sừng,
Phải
liền ngăn cản nó
Kẻo
bọn trẻ khinh lờn.
Bồ-tát
nghe thế liền trả lời:
- Này
thần cây, chịu cho nó bạc đãi mà không nguyền rủa thọ
sanh, dòng dõi, thế lực của nó, nếu điều ấy ta không giữ
được thì nguyện ước của ta sao toàn vẹn? Nhưng rồi con
khỉ kia cũng sẽ làm như thế đối với kẻ khác vì tưởng
ai cũng như ta. Và nếu nó làm như thế với những con trâu
khác thì nó sẽ bị hại ngay. Thế là ta được miễn đi sự
phiền nhiễu và việc giết chóc.
Thế
rồi ngài đọc tiếp bài kệ thứ ba:
Nếu
nó quấy kẻ khác,
Như
đã quấy ta đây,
Nó
liền bị hạ sát,
Ta
sẽ thảnh thơi ngay.
Ít
ngày sau, Bồ-tát đi nơi khác. Một con trâu rừng khác hung
hãn đến đứng vào chỗ của ngài. Con khỉ ác hiểm kia tưởng
con trâu mới đến là con trâu trước kia, liền trèo lên lưng
và làm như trước. Con trâu rừng quật nó xuống đất, dùng
sừng đâm thủng ngực nó rồi lấy chân dẫm nát nó.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài tuyên thuyết Tứ
Ðế và nhận diện Tiền thân:
- Con
trâu dữ trước kia là con voi dữ bây giờ đó, con Khỉ ngỗ
nghịch trước kia cũng chính là nó bây giờ, còn con Trâu đức
độ cao cả ấy chính là Ta.
-ooOoo-
279.
Chuyện Con Hạc (Tiền thân Satapatta)
Như
chàng trai trẻ trên đường..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về Panduka và Lohita.
Có
sáu người ngoại đạo, hai người là Mettiya và Bhummaja sống
gần Vương Xá; hai người là Assaji và Punabbasu ở gần Kitàriji
và hai người sống ở Kỳ Viên gần Xá-vệ là Panduka và Lohita.
Họ thường hạch hỏi những vấn đề nằm trong học thuyết.
Hễ ai là bè bạn thân thiết với họ thì họ khích lệ và
bảo:
- Này
bạn, bạn chẳng thua kém ai ở đây về thọ sanh, dòng dõi
và phẩm chất, nếu bạn phát biểu ý kiến của bạn, người
ta sẽ học hỏi nhiều điều hay ở bạn đấy.
Một
mặt họ bảo như thế, một mặt họ lại ngăn cản người
kia phát biểu ý kiến của mình. Do đó sinh ra gây gổ, bất
hòa tranh cãi. Các Tỷ-kheo kể lại sự việc cho Thế Tôn.
Vì thế, ngài họp các Tỷ-kheo để giảng giải, rồi cho mời
Panduka và Lohita đến hỏi:
- Này
các bằng hữu, có phải chính bạn đòi hỏi một số vấn
đề ngăn cản người ta phát biểu ý kiến của họ không?
Họ
đáp:
- Thưa
vâng.
Ngài
dạy:
- Thế
thì thái độ của các bằng hữu cũng giống như chàng trai
và con Hạc.
Rồi
Ngài kể một câu chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
trong một gia đình tại một làng Kàsi. Khi ngài lớn lên, thay
vì sinh sống bằng nghề nông hay bằng nghề buôn bán, ngài
lại tụ họp năm trăm tên cướp rồi lên làm đầu đảng,
sinh sống bằng cách chận đường hoặc vào nhà cướp của.
Bấy
giờ có người chủ đất cho người kia vay một ngàn đồng
tiền. Nhưng trước khi được trả tiền, ông ta lại chết
đi. Ít lâu sau, người vợ đang hấp hối trên giường bệnh,
gọi con trai và bảo:
- Này
con, cha con có cho người kia mượn một ngàn đồng và đã
chết đi khi chưa lấy được tiền lại. Nếu mẹ chết rồi
thì người kia sẽ không chịu trả cho con đâu. Bây giờ con
hãy đi bảo ông ta kiếm tiền mà trả lại.
Người
con ra đi và đòi được tiền.
Trước
đó bà mẹ đã chết nhưng vì quá thương con nên bà bỗng
tái hiện thành một con Chó rừng chạy trên đường đứa
con đang đi. Lúc bấy giờ tên cướp và đồng bọn đang ở
trên đường chờ cướp của hành khách. Khi thấy con mình
vào tới cửa rừng, con Chó rừng cứ quanh quẩn lui tới tìm
cách giữ anh ta lại.
- Con
ơi - Chó rừng bảo - chớ vào rừng, bọn cướp đang ở đấy,
chúng sẽ giết con và lấy mất tiền của con.
Nhưng
người con không hiểu được ý mẹ:
- Thật
là xui - anh ta bảo - con Chó rừng này cố cản đường ta!
Thế
là anh dùng gậy và dùng vài cục đất để đuổi nó đi,
rồi anh ta bước vào rừng.
Lại
có một con Hạc bay về phía bọn cướp và kêu lên:
- Người
kia đang có trong tay một ngàn đồng đấy, hãy giết nó đi
mà lấy tiền!
Anh
bạn trẻ kia lại không biết Hạc đang làm gì nên lại nghĩ:
"May quá! Ðây là con chim mang điều may! Thế là ta được điều
lành đây!" Anh ta kính cẩn chào và la lên:
- Ngài
ơi, hót lên đi, hót lên đi!
Bồ-tát
vốn hiểu hết mọi thứ tiếng, quan sát các sự việc và
nghĩ: "Con Chó rừng kia phải là mẹ của người ấy nên mới
cố ngăn anh ta và bảo rằng anh ta sắp bị giết và bị cướp;
còn con Hạc phải là kẻ đối nghịch nên mới bảo: "Giết
nó đi mà lấy tiền!"; và người kia chẳng biết gì cả, đã
đuổi mẹ mình là kẻ cầu mong cho mình được tốt lành;
trong khi con Hạc là kẻ chỉ mong anh ta gặp điều hung dữ
thì anh ta lại tôn kính, tin rằng đó là kẻ mang cho mình may
mắn! Cái anh chàng này thật là rồ dại.
(Các
vị Bồ-tát, dù là những bậc Ðại Sĩ, đôi khi do sinh ra
làm ác nhân, cũng lấy của cải người khác. Người ta bảo
đó là một sự sai lầm trong vận mệnh).
Thế
là chàng thanh niên kia tiếp tục đi và chẳng bao lâu rơi vào
tay bọn cướp, Bồ-tát bắt anh ta và hỏi:
- Quê
anh ở đâu?
- Ở
Ba-la-nại.
- Anh
vừa từ đâu tới?
- Một
người ở trong làng kia nợ tôi một ngàn đồng và tôi từ
nơi đó tới đây. - Anh đã lấy được tiền chưa?
- Vâng,
tôi lấy được rồi.
- Ai
sai anh đi?
- Thưa
ngài, cha tôi đã chết, mẹ tôi đang bệnh, chính mẹ tôi đã
sai tôi đi vì bà nghĩ rằng tôi sẽ không đòi được tiền
khi bà đã chết.
- Anh
có biết bây giờ mẹ anh ra sao không?
- Thưa
ngài không.
- Bà
đã chết sau khi anh ra đi và vì quá thương anh mà bà liền
hóa thành một con Chó rừng và cố ngăn anh vì sợ anh sẽ
bị giết. Chính bà lại bị anh đuổi đi. Còn con Hạc kia
là một kẻ thù của anh, chính nó đến bảo chúng ta hãy giết
anh và đoạt tiền của anh. Anh thật là rồ dại vì nghĩ rằng
mẹ anh là kẻ cầu họa cho anh trong khi bà chỉ mong anh được
tốt lành, và ngược lại, rằng con Hạc kia là kẻ cầu phúc
cho anh trong khi nó lại cầu họa cho anh. Con Hạc chẳng làm
gì tốt cho anh, còn mẹ anh lại rất tốt với anh. Hãy giữ
lấy tiền của anh và đi đi!
Rồi
Bồ-tát thả cho anh ta đi.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài đọc các bài kệ
sau;
Như
chàng trai trẻ trên đường,
Chó
rừng ấy đã làm chùng bước chân.
Chàng
ta nhầm tưởng ác nhân,
Nào
ngờ là kẻ cho chàng điều hay.
Lại
nhầm Hạc chính bạn ngay,
Trong
khi Hạc lại quyết bày ác mưu.
Nay
có kẻ được nhiều bạn tốt,
Lại
hiểu lầm sai sót bạn hiền,
Tai
không nghe tiếng bạn khuyên
Những
điều tốt đẹp dành riêng cho mình.
Hễ
người ca tụng mới tin,
Ấy
điều hung xấu đã liền hé ra:
Như
chàng trai trẻ ngày xưa
Yêu
con Hạc nọ bay qua đầu mình.
*
Khi
bậc Ðạo Sư diễn giảng xong đề tài này, Ngài nhận diện
Tiền thân:
- Bấy
giờ tướng cướp chính là Ta.
<