CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (III) Jàtaka
Chương
III (tiếp theo)
281.
Chuyện Trái Xoài Chính Trung (Tiền thân Abkhantara)
Có
cây nọ trên cành mang trái..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về sự việc Trưởng
lão Xá-lợi-phất biếu nước xoài cho Tỷ-kheo-ni Bimbàdevi.
Khi
đức Phật khai mở Giáo hội trên thế giới, vị chánh thất
của đức Cồ-đàm đang sống tại Vesàli (Tỳ-xá-ly), đã
cùng với năm trăm phụ nữ Thích ca xin gia nhập Giáo hội
và được thọ Ðại giới. Về sau năm trăm Tỷ-kheo-ni này
đắc Thánh quả khi nghe Tôn giả Nandaka thuyết pháp.
Bấy
giờ trong lúc bậc Ðạo Sư trú gần Xá-vệ, mẹ của Tôn
giả La-hầu-la tự nghĩ: "Trượng phu ta sống đời Phạm hạnh,
đã trở thành bậc Toàn trí, con ta cũng đã là một vị xuất
gia và đang sống cùng Ngài. Ta còn phải làm gì trong gia đình
nữa? Ta sẽ sống đời sống Phạm hạnh kia, sẽ đi đến
Xá-vệ và sẽ sống mãi theo gương đức Phật và con ta".
Vì
thế bà đến một ni xá gia nhập giáo hội rồi đến sống
trong một tịnh thất ở Xá-vệ cùng với các vị sư trưởng
và giáo thọ; bà thường chiêm ngưỡng bậc Ðạo Sư và con
trai yêu dấu của bà. Sa-di La-hầu-la cũng thường đến thăm
mẹ.
Một
hôm bà bị đau chứng sình bụng. Khi La-hầu-la đến thăm,
bà không thể ra tiếp được; nhưng có người đến báo cho
ông hay rằng mẹ ông đang bệnh. Thế rồi ông vào gặp mẹ
và hỏi:
- Mẹ
phải dùng thứ gì mới khỏi được?
Bà
đáp:
- Con
ơi, nếu như hồi còn ở nhà thì cơn đau này thường được
chữa bằng nước xoài có pha với nước đường; nhưng giờ
đây, chúng ta đang sống bằng khất thực thì kiếm đâu ra
thứ đó?
Vị
Sa-di đáp:
- Con
sẽ kiếm thứ ấy cho mẹ.
Và
ông ra đi. Bấy giờ sư trưởng của Tôn giả La-hầu-la là
Tướng quân Chánh pháp Xá-lợi-phất và giáo thọ của ông
là Ðại Mục-kiền-liên, chú ông là Trưởng lão Ànanda và
thân phụ ông là đức Phật, như vậy ông thật có phước
lớn. Tuy thế ông chỉ đến xin cầu cứu Trưởng lão Xá-lợi-phất,
sư trưởng của ông. Sau khi thi lễ, ông đứng trước mặt
thầy với vẻ buồn rầu. Trưởng lão hỏi:
- Sao
con có vẻ buồn rầu thế La-hầu-la?
- Bạch
thầy - ông đáp - mẹ con đang mắc chứng sình bụng.
- Thế
người phải dùng thứ gì?
- Có
nước xoài ép với đường thì người mới khỏi bệnh.
- Ðược
rồi, ta sẽ có, con chớ lo!
Hôm
sau Trưởng lão dẫn La-hầu-la đến Xá-vệ, bảo ông ngồi
trong phòng đợi, còn Tôn giả đi vào cung vua. Vua Kosala mời
Trưởng giả ngồi. Ngay lúc ấy, người giữ vườn mang vào
một giỏ xoài chín ngọt. Vua gọt vỏ, rắc đường, tự tay
ép xoài rồi đổ đầy bình bát của Trưởng lão. Trưởng
lão trở lại phòng đợi, giao xoài cho vị Sa-di bảo đem về
cho mẹ. Vị Tỷ-kheo-ni khỏi bệnh ngay sau khi dùng xoài. Nhà
vua cũng phái thị giả đến và bảo:
- Trưởng
lão không ngồi đây để dùng nước xoài. Hãy đi xem ngài
có cho ai chăng.
Người
kia đi theo Trưởng lão, khám phá sự việc rồi trở về trình
vua. Nhà vua tự nghĩ: "Nếu bậc Ðạo Sư trở về đời thế
tục, Ngài sẽ là vị Hoàng đế của cả thiên hạ, Sa-di La-hầu-la
sẽ là Hoàng thái tử, Thánh nữ Tỷ-kheo-ni ấy sẽ là hoàng
hậu. Tất cả thế giới này đều thuộc quyền các vị ấy.
Ta cần phải đến hầu thăm các vị ấy. Các vị đang sống
gần đây, không nên để mất thì giờ". Thế là từ hôm ấy,
vua vẫn tiếp tục cúng dường nước xoài cho vị Tỷ-kheo-ni.
Các
Tỷ-kheo biết được sự việc Trưởng lão biếu nước xoài
cho vị Thánh nữ Tỷ-kheo-ni. Và một hôm họ bắt đầu bàn
tán trong Chánh pháp đường:
- Này
Hiền hữu, tôi nghe rằng Trưởng lão Xá-lợi-phất đã chữa
lành bệnh Tỷ-kheo-ni Bimbàdevi bằng nước xoài.
Bậc
Ðạo Sư bước vào và hỏi:
- Các
ông đang nói chuyện gì thế?
Và
khi các vị ấy thuật lại, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên mẹ của La-hầu-la
được Trưởng lão ấy chữa lành bệnh bằng nước xoài đâu;
trước kia cũng đã từng xảy ra sự việc như vậy.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
trong một gia đình Bà-la-môn, sống tại một ngôi làng Kàsi.
Lớn lên, ngài được giáo dục ở Takkasilã, rồi thành lập
gia đình. Khi cha mẹ mất, ngài sống đời tu hành. Sau đó
ngài trú tại một vùng thuộc dãy Hy-mã-lạp Sơn (Tuyết Sơn),
tu tập các Thắng trí và Thiền chứng. Một nhóm hiền giả
đến tụ tập quanh ngài và ngài trở thành thầy của họ.
Một
thời gian lâu sau, ngài xuống núi để kiếm muối, tương.
Trên đường đi đây đó, ngài đến Ba-la-nại và trú tại
một vườn cây nọ. Ðức hạnh sáng ngời của hội chúng
hiền giả này đã làm rung động cung điện của Thiên chủ
Ðế Thích. Ðế Thích quán chiếu và thấy được sự việc.
Ngài nghĩ: "Ta sẽ làm hại trú xứ của họ, như vậy chỗ
ở của họ sẽ bị xáo trộn và họ sẽ chịu nhiều gian
khổ nên không thể an định tâm trí. Sau đó, ta mới lại
được yên ổn".
Ngài
suy nghĩ phải làm thế nào để thực hiện được việc đó
và vạch ra một kế hoạch. "Ta sẽ vào phòng chánh hậu vào
đúng lúc nửa đêm rồi bay lên không và nói: "Thưa hoàng hậu,
nếu lệnh bà ăn một trái xoài chính trung, bà sẽ có một
hoàng nam và hoàng nam ấy sẽ là vị hoàng đế trị vì cả
thiên hạ". Thế là bà ta sẽ kể lại với vua, vua sẽ sai
vào vườn hái xoài. Ta sẽ làm cho tất cả trái biến mất
đi. Người ta sẽ trình với vua rằng không còn trái nào cả
và khi vua hỏi ai đã ăn hết thì sẽ được trả lời: "Các
nhà tu khổ hạnh đã ăn hết".
Ðúng
nửa đêm, Thiên chủ Ðế Thích hiện ra trong phòng của hoàng
hậu, để lộ đầu của ngài và nói với hoàng hậu, vừa
ngâm hai bài kệ đầu tiên:
Có
cây nọ trên cành mang trái
Thật
diệu kỳ tên gọi Chính trung
Phu
nhân ăn trái vào lòng,
Sinh
con ngôi báu nắm tròn thế gian.
Thưa
Chánh hậu, bà hoàng trọng đại,
Ðấng
quân vương sủng ái người thay,
Hãy
xin ngài bảo mang xoài
Chính
trung trái ấy mà người cần ăn.
Ðế
Thích đọc cho hoàng hậu nghe hai bài kệ trên rồi bảo là
hãy cẩn thận và chớ trì hoãn, phải đích thân đến nói
chuyện với nhà vua. Nói xong Ðế Thích khích lệ bà rồi quay
trở về cung điện của mình.
Hôm
sau, hoàng hậu nằm liệt như là đang bệnh và gọi các thị
nữ đến dặn dò. Nhà vua đang ngồi trên ngai dưới chiếc
lọng trắng và xem khiêu vũ. Không thấy hoàng hậu, vua hỏi
một nữ tỳ xem bà ở đâu.
- Hoàng
hậu đang bệnh. Cô gái đáp.
Nhà
vua đến thăm, ngồi bên cạnh và vỗ lưng bà. Ngài hỏi:
- Hoàng
hậu làm sao thế?
- Thưa
chẳng sao cả - bà đáp - Có điều thiếp đây đang khao khát
một chuyện.
- Hoàng
hậu muốn gì? Vua lại hỏi.
- Một
trái xoài chính trung, thưa Ðại vương.
- Ở
đâu có các trái xoài chính trung ấy?
- Thần
thiếp không biết trái xoài chính trung là gì, nhưng thần thiếp
biết rằng thần thiếp sẽ chết nếu không có được một
trái ấy.
- Ðược
rồi, ta sẽ mang cho ái khanh một trái, chớ buồn lo.
Nhà
vua khuyên bảo bà như vậy rồi ra đi. Ngài ngủ trên vương
sàng và cho đòi các cận thần đến rồi bảo:
- Hoàng
hậu đang khao khát một trái xoài chính trung, bây giờ phải
làm sao đây?
Có
người tâu:
- Một
trái xoài chính trung là một cây xoài mọc giữa hai cây khác;
hãy hái trái của nó rồi dâng cho hoàng hậu.
Thế
là nhà vua sai người làm theo như vậy.
Nhưng
Ðế Thích dùng quyền lực của mình làm cho tất cả trái
cây biến mất như đã bị người ta ăn hết. Những người
được phái đi kiếm xoài đã lục xét khắp vườn cây nhưng
vẫn không kiếm được một trái xoài nào. Do đó, họ trở
về tâu với vua là không còn trái nào cả.
- Ai
đã ăn xoài hết thế? Vua hỏi.
- Tâu
Ðại vương, các nhà tu khổ hạnh đấy!
- Hãy
lấy gậy đánh chúng rồi tống cổ chúng ra khỏi vườn cây!
Vua
ra lệnh như thế và người ta thi hành theo. Ðế Thích được
toại nguyện, còn hoàng hậu cứ nằm dài khao khát trái xoài.
Nhà
vua không biết phải làm gì. Ngài họp các triều thần và
các Bà-la-môn lại rồi hỏi:
- Các
khanh có biết một trái xoài Chính trung là gì không?
Các
Bà-la-môn thưa:
- Tâu
Ðại vương, cây xoài Chính trung là vật sở hữu của các
vị thần. Nó mọc trong dãy Hy-mã-lạp Sơn, trên Núi Vàng,
Chúng thần nghe truyền thuyết như vậy.
- Ðược
rồi, ai có thể đi kiếm nó?
- Người
thường không thể đi được, ta phải sai một con vẹt trẻ.
Bấy
giờ trong cung có một con Vẹt trẻ và đẹp, to bằng cái đùm
xe ngựa của các hoàng tử. Nó mạnh khỏe, khéo léo và nhiều
mưu lược. Vua cho gọi con Vẹt đến và bảo nó:
- Này
vẹt yêu quí, ta đã ban cho con nhiều thứ: con được ở trong
một cái lồng bằng vàng, ăn các hạt ngon ngọt trong một
cái đĩa bằng vàng, uống nước đường. Giờ đây, ta muốn
con làm cho ta một việc.
- Tâu
Ðại vương, xin ngài cứ dạy. Con Vẹt nói.
- Này
con, hoàng hậu rất thèm một trái xoài Chính trung, cây xoài
này mọc trong dãy Hy-mã-lạp Sơn, trên Núi Vàng, đó là nơi
của các vị thần, không ai có thể đến đó được. Con phải
đến đó và mang trái ấy về đây.
- Tốt
lắm, thưa Ðại vương, con sẽ làm như thế. Con vẹt đáp.
Nhà
vua lấy một cái đĩa bằng vàng, bỏ vào đó thứ hạt ngon
ngọt cho nó ăn, rồi cho nó uống nước đường. Ngài xức
dầu thơm ở dưới đôi cánh nó bằng một thứ dầu trăm
lần tinh luyện, rồi ngài cầm nó bằng cả hai tay, ra đứng
trước cửa sổ và thả cho nó bay đi.
Con
Vẹt thực hiện nhiệm vụ nhà vua giao, bay mãi trên cao, vượt
xa những lối đi của người, cho đến khi nó đến chỗ những
con vẹt trú ở vùng đồi đầu tiên của dãy Hy-mã-lạp Sơn.
Nó
hỏi những con vẹt ấy:
- Cây
xoài Chính trung ở đâu? Hãy chỉ chỗ cho ta đi!
- Chúng
tôi không biết - chúng đáp - nhưng bọn vẹt ở dãy đồi
thứ hai sẽ biết nó ở đâu.
Con
Vẹt nghe xong liền bay đến dãy đồi thứ hai. Và cứ thế,
nó bay đến dãy đồi thứ ba, thứ năm, thứ sáu. Tại đây,
bọn vẹt cũng nói:
- Chúng
tôi không biết nhưng bọn vẹt ở dãy đồi thứ bảy sẽ
biết.
Thế
là Vẹt tiếp tục bay đến đó và hỏi cây xoài Chính trung
mọc ở đâu.
- Ở
tại một nơi kia trên Núi Vàng, chúng đáp.
Vẹt
nói:
- Hãy
dẫn ta đến đó và kiếm cho ta trái cây kia.
- Ðó
là địa phận của vua Vessavana (Tỳ-sa-môn Thiên vương) không
thể đến gần được. Toàn bộ cái cây từ rễ trở lên
đều được vây bọc bằng bảy lần lưới sắt, nó còn được
canh gác bởi hàng ngàn triệu quỷ thần Kumbhanda (Cưu-bàn-trà),
hễ thấy kẻ nào là chúng hại ngay. Chỗ ấy giống như lửa
thiêu hủy và lửa địa ngục. Xin chớ đòi hỏi một việc
như thế!
- Nếu
các bạn không muốn đi với tôi, xin hãy chỉ đường cho tôi,
Vẹt nói.
Thế
rồi bọn chúng chỉ cho con vẹt phải đi lối nào. Nó cẩn
thận nghe theo những lời chỉ dẫn. Ban ngày nó dấu mình,
rồi đợi đến đêm khuya khoắt, bọn quỷ đã ngủ, nó mới
tiến đến gần cây mà nhẹ nhàng trèo lên. Nhưng... "cách!"
lưới sắt rung - bọn quỷ thức dậy nhìn thấy con Vẹt, liền
vây lấy nó và la lên: "Trộm!". Rồi chúng bàn nhau phải làm
gì với con Vẹt.
Một
con quỷ nói:
- Tôi
sẽ đè bẹp nó bỏ vào mồm rồi nuốt nó!
Một
quỷ khác nói:
- Tôi
sẽ đè bẹp nó, nhồi xác nó trong tay rồi làm nó rã ra từng
miếng!
Con
quỷ thứ ba nói:
- Tôi
sẽ cắt nó ra làm hai, sẽ nướng nó trên than rồi ăn nó!
Con
Vẹt nghe chúng bàn tính cẩn thận. Nó bình tĩnh nói với bọn
chúng:
- Này
các bạn quỷ, các bạn là quân hầu của ai?
- Chúng
ta thuộc quyền vua Vessavana.
- Này,
các bạn có một ông vua làm chủ các bạn và tôi cũng có
một ông vua khác làm chủ tôi. Vua xứ Ba-la-nại sai tôi tới
đây tìm một trái của cây xoài chính trung. Tôi đã hiến
ngay đời mình cho vua tôi và giờ đây, tôi đang làm như thế.
Kẻ nào hy sinh đời mình vì cha mẹ hay vì chủ thì lập tức
được sinh lên cõi trời. Do đó, tôi sắp thoát xác loài vật
để đi đến thế giới của Thiên thần!
Rồi
Vẹt đọc bài kệ thứ ba:
Những
người dũng cảm quyên mình
Một
lòng sốt sắng hy sinh cuộc đời,
Chốn
nào họ đạt đến rồi,
Nơi
kia chốc lát nữa tôi tới gần.
Con
Vẹt thuyết giảng như vậy và đọc bài kệ xong, bọn quỷ
lắng nghe và lấy làm vừa lòng. Chúng bảo:
- Này
chim Vẹt, bạn được tự do! Hãy an nhiên mà ra khỏi tay chúng
ta!
- Xin
chớ để cho tôi tay không trở về - Vẹt nói - hãy cho tôi
một trái xoài!
- Này
Vẹt, bọn quỷ nói - chúng ta không thể lấy ra khỏi cây một
trái mà cho bạn được đâu! Tất cả trái trên cây này đều
đã được đánh dấu. Nếu thiếu trái nào là chúng ta mất
mạng ngay. Hễ Ðại vương Vessavana nổi giận lên và chỉ
nhìn một cái là một ngàn quỷ sẽ vỡ vụn, vung vãi ra như
đậu rang vung tóe trên chảo nóng. Vì thế, chúng ta không thể
cho bạn trái nào được. Tuy nhiên, chúng ta chỉ cho bạn một
chỗ bạn có thể lấy vài trái.
- Tôi
chẳng cần biết ai cho - con Vẹt nói - Nhưng tôi phải có trái
ấy. Hãy cho tôi biết tôi có thể kiếm nó ở đâu.
- Tại
một trong những con đường mòn khúc khuỷu của Núi Vàng có
một nhà tu khổ hạnh tên là Jotirasa, ở trong một chòi lá,
canh chừng ngọn lửa thiêng được gọi là Kancanapatti hay Kim
Diệp, ông ấy được Ðại vương Vessavana ưu ái. Ðại vương
Vessavana vẫn thường gửi cho ông ta bốn trái cây kia, hãy
đi đến đó!
Con
Vẹt từ giã rồi đến nhà tu khổ hạnh. Sau khi chào hỏi,
nó ngồi xuống một bên. Nhà ẩn dật hỏi:
- Ngươi
từ đâu đến?
- Từ
cung vua xứ Ba-la-nại.
- Tại
sao ngươi đến đây?
- Thưa
ngài, hoàng hậu của chúng tôi ao ước một trái xoài chính
trung, vì thế mà tôi đến đây. Bọn quỷ đã không cho tôi
trái nào nhưng lại bảo tôi đến ngài.
- Ngồi
xuống đi nào, ngươi sẽ có một trái.
Vị
ẩn sĩ đi lấy bốn trái mà Ðại vương Vessavana vẫn thường
gởi cho, ăn hết hai trái, cho con Vẹt ăn một trái, sau đó
ông treo trái thứ tư vào một sợi dây rồi cột chắc vào
cổ con Vẹt và để nó ra đi. Ông nói:
- Nào
đi đi!
Con
Vẹt bay trở về và dâng trái xoài lên hoàng hậu. Bà ăn xoài,
thỏa mãn điều ao ước kia, nhưng từ đó bà vẫn không có
con trai.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài nhận diện Tiền
thân:
- Lúc
ấy, mẹ của La-hầu-la là hoàng hậu, Ànanda là con Vẹt, Xá-lợi-phất
là nhà tu khổ hạnh cho xoài kia, còn nhà tu sống trong vườn
cây kia chính là Ta.
-ooOoo-
282.
Chuyện Điều Tốt Nhất (Tiền thân Seyya)
Ðiều
tốt nhất các khanh nên biết..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về một quan đại thần
của xứ Kosala.
Ông
này rất đắc lực cho vua và người ta kể rằng ông làm hết
mọi việc cần làm. Vì ông rất đắc lực nên vua rất quý
trọng ông. Các quan khác ganh tị, âm mưu hạ nhục và vu cáo
ông. Vua nghe lời họ mà không tra xét tội trạng. Dù ông rất
đức hạnh và vô tội, vua vẫn cho trói ông lại bằng dây
xích và bỏ ông vào ngục. Ông sống cô đơn trong ngục, nhưng
nhờ đức hạnh ông vẫn an tâm và nhờ tâm an tịnh, ông hiểu
được những điều kiện của sự sống và ông đắc quả
Dự Lưu. Ít lâu sau, vua nhận ra ông vô tội nên phá bỏ xiềng
xích cho ông và tôn quý ông còn hơn trước kia nữa. Ông muốn
được bày tỏ lòng tôn kính trước bậc Ðạo Sư nên mang
hương hoa đến tịnh xá, đảnh lễ đức Phật rồi kính cẩn
ngồi một bên. Bậc Ðạo Sư ân cần nói với ông:
- Chúng
tôi có nghe ông gặp vận xui.
Ông
thưa:
- Bạch
Ngài, vâng, nhưng con đã làm cho vận xui ấy trở thành tốt,
trong lúc ngồi tù, con đã đắc quả Dự Lưu.
Bậc
Ðạo Sư bảo:
- Này
Hiền hữu, không phải chỉ có ông là người đã đổi xấu
thành tốt; những bậc trí giả ngày xưa cũng đã đổi cái
xấu thành cái tốt như ông vậy.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa khi Brahmadatta là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sanh ra là con
của chánh hoàng hậu. Ngài lớn lên và được giáo dục tại
Takkasilà; khi vua cha mất ngài lên ngôi và giữ đúng mười
điều luật của một vị vua; ngài bố thí, hành thiện và
chấp trì ngày trai giới.
Một
quan đại thần kia đã thông gian trong đám cung phi của vua.
Các tôi tớ biết được và kể cho vua nghe, một người nọ
đang tiến hành một âm mưu. Nhà vua khám phá ra đúng sự thật
của việc ấy rồi gọi ông ta lại:
- Ðừng
bao giờ để cho ta thấy mặt ngươi nữa.
Vua
bảo thế rồi đuổi ông ta đi. Ông quan bỏ đi đến triều
đình của một vị vua láng giềng, thế rồi mọi sự việc
xảy ra như đã tả ở số 51 Tiền thân Mahàsilava. Ở đây
cũng thế, vị vua này ba lần thử ông, tin theo ông và dẫn
một đạo quân lớn đến Ba-la-nại để mong xâm chiếm. Ðược
tin ấy, các tướng lãnh của vua Ba-la-nại gần năm trăm vị
đã nói với vua:
- Ông
vua kia đã đến đây, phá hoại xứ sở để mong chiếm lấy
Ba-na-lại. Xin cho chúng thần đi bắt ông ta!
- Ta
không muốn giữ vương quốc bằng cách giết hại - vua bảo
- Ðừng làm gì cả.
Ông
vua cướp nước kia bao vây thành phố. Các đại thần lại
đến gần vua và nói:
- Tâu
Ðại vương, xin hãy lưu tâm. Hãy cho phép chúng thần bắt
ông ta!
- Không
được làm gì cả - vua phán - Hãy mở các cổng thành.
Rồi
vua đoan nghiêm ngồi trên bệ, giữa các đại thần của triều
đình.
Vua
cướp nước vào thành, hạ các người giữ cổng rồi vào
cung điện. Nơi đây, ông bắt giữ vua và các triều thần,
trói xích lại rồi tống tất cả vào ngục. Vua ngồi trong
ngục thương xót kẻ cướp nước kia, nỗi xót xa cùng cực
trào dâng trong ngài. Do lòng thương xót kia mà ông vua nọ bỗng
cảm thấy giày vò bứt rứt trong thân, cả người như bị
thiêu đốt gấp hai lần lửa bỏng. Bị ray rứt xốn xang vì
trọng tội, ông ta hỏi các cận thần vì sao như vậy.
Họ
trả lời:
- Ngài
đã bắt giam một vị vua công chính, do thế mà ngài bị như
thế kia.
Ông
ta liền đến xin Bồ-tát thứ lỗi, giao trả lại vương quốc.
Ông nói:
- Vương
quốc của ngài phải là của riêng ngài. Từ nay về sau, xin
hãy để các kẻ thù của ngài cho tôi lo liệu.
Rồi
ông trừng phạt quan cố vấn xấu xa kia và quay trở về thành
phố của mình.
Bồ-tát
nghiêm trang ngồi trên bệ cao, trong lễ phục giữa đám triều
thần, đọc cho họ nghe hai bài kệ sau:
Ðiều
tốt nhất các khanh nên biết:
Việc
tốt hơn hãy quyết lòng làm,
Kẻ
kia, ta đối thiện tâm
Nên
ta cứu tử được năm trăm người.
Khuyên
các khanh, với đời hãy tỏ
Vẻ
khoan dung đức độ, hiền hòa,
Cõi
trời, vào hết chẳng riêng
Dân
Kà-si hỡi, hãy liền nghe ta.
Như
vậy, bậc Ðại Sĩ ca ngợi đức hạnh về lòng từ bi đối
với đại chúng. Sau đó, ngài rời ngai vàng trong kinh thành
đồ sộ Ba-la-nại; rộng tới mười hai dặm để đi vào dãy
Hy-mã-lạp Sơn và sống đời tu hành.
Bậc
Ðạo Sư với Trí tuệ Toàn hảo, đọc vần kệ thứ ba:
Ta
là Ðại đế Ba-la-nại
Vua
Kam-sa, có bấy nhiêu lời:
Cung
tên ta đã bỏ rời,
Thành
người tự thắng, ta thời nên công.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài nhận diện Tiền
thân:
- Bấy
giờ, Ànanda là ông vua cướp nước kia, còn vua xứ Ba-la-nại
chính là Ta vậy.
-ooOoo-
283.
Chuyện Con Heo Rừng Của Thợ Mộc (Tiền thân Vanddahaki - Sùkara)
Mồi
ngon nhất bạn luôn luôn được..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về Trưởng lão Dhanuggàhatissa.
Mahà
Kosalã, cha của vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) khi gả con gái là công
chúa Kosalà cho vua Bimbisàra (Tần-bà-sa-la) đã cho một ngôi
làng Kàsi và một số tiền là một trăm ngàn đồng để làm
của hồi môn. Khi Tần-bà-sa-la bị con là Ajàtasattu (A-xà-thế)
giết thì công chúa Kosalã cũng chết đi vì sầu khổ. Vua Ba-tư-nặc
suy nghĩ: "A-xà-thế giết cha, em gái ta đã phải chết đi vì
tiếc thương người chồng bất hạnh; ta sẽ không cho đứa
giết cha kia ngôi làng Kàsi ấy nữa".
Thế
là vua không chịu cho A-xà-thế ngôi làng kia. Do đó, chiến
tranh thường xảy ra giữa hai bên vì ngôi làng. A-xà-thế rất
kiêu căng và rất mạnh mẽ, còn Ba-tư-nặc đã quá già nên
cứ bị thua trận mãi và nhân dân của ông vẫn thường bị
chinh phục. Bấy giờ, vua mới hỏi các triều thần:
- Chúng
ta cứ bị đánh bại mãi, biết làm sao bây giờ?
Vua
được trả lời:
- Các
vị sư phụ rất thiện xảo về chú thuật. Chúng ta phải
nghe lời nói của các Tỷ-kheo đang trú tại tinh xá Kỳ Viên.
Vua
phái các cận thần, bảo họ chờ thật đúng lúc nghe các
Tỷ-kheo ấy nói chuyện. Bấy giờ Trưởng lão sống trong một
túp lều lá gần tinh xá tên là Utta và Trưởng lão Dhanuggahatissa
đã ngủ hết canh đầu, canh thứ hai và thức dậy vào canh
cuối cùng. Ông bỏ vài cành cây, nhúm lên một ngọn lửa
rồi ngồi xuống bảo:
- Này
hiền hữu Utta!
- Gì
vậy hiền hữu Tissa?
- Hiền
hữu không ngủ à?
- Bây
giờ chúng ta cùng thức cả rồi, làm gì đây?
- Thì
dậy đi nào, hãy đến ngồi cạnh tôi đây.
Thế
rồi Dhanuggahatissa bắt đầu nói với Utta:
- Lão
bụng bự Kosalã khờ khạo kia chẳng bao giờ có được một
bát cơm chín đầy mà không để cho nó thiu thối đi, làm sao
mà toan tính một cuộc chiến tranh trong khi lão ta chẳng biết
một tí gì cả? Lão luôn luôn bị đánh bại và phải chịu
hao tốn.
- Thế
thì lão ta phải làm gì nào?
Bấy
giờ đúng là lúc các cận thần kia đang đứng nghe hai vị
Trưởng lão nói chuyện. Dhanuggahatissa bàn về chiến thuật:
- Chiến
thuật ư? Nó gồm ba loại: đạo quân hoa sen, đạo quân bánh
xe và đạo quân toa xe. Nếu những ai muốn bắt A-xà-thế thì
họ sẽ đóng quân trên hai ngọn đồi cách thẳng nhau và giả
bộ yếu mà chạy, chờ cho đến khi quân của hắn đuổi theo
thì chận ngay lối đi của hắn. Quân từ hai đồn trên đồi
kia vọt ra giữ lấy đằng trước và đằng sau hắn, rồi
reo hò ầm ĩ lên. Thế là sẽ nhanh chóng bắt được hắn
như bắt một con cá trên đất, một con nhái trong nắm tay.
Ðấy, cứ thế là chộp được A-xà-thế ngay!
Các
cận thần trở về thuật lại hết như vậy cho vua nghe. Vua
cho thúc tiếng trống tấn công, dàn quân theo mẫu toa xe và
bắt sống được A-xà-thế. Sau đó, khi vua gả con gái mình
là công chúa Vajirã cho con trai của em gái mình (tức A-xà-thế)
thì vua cho công chúa ngôi làng Kàsi kia để làm của hồi môn.
Các
Tỷ-kheo biết được sự việc trên và một hôm, họ đem ra
bàn tán trong Pháp đường:
- Này
Hiền hữu, tôi nghe rằng vua Kosalã đã thắng A-xà-thế nhờ
những lời chỉ bảo của Dhanuggahatissa.
Bậc
Ðạo sư bước vào và hỏi:
- Này
các Tỷ-kheo, các ông đang ngồi đây bàn tán chuyện gì đó?
Khi
nghe các vị ấy thuật lại, Ngài dạy:
- Ðây
không phải là lần đầu tiên Dhanuggahatissa khéo léo bàn tán
về chiến thuật.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
là một vị thần cây. Bấy giờ có vài người thợ mộc sống
trong ngôi làng gần Ba-la-nại. Một người thợ mộc kia lúc
vào rừng đốn cây, thấy một con Heo rừng còn nhỏ bị rơi
xuống hầm bẫy, liền mang về nhà nuôi. Con Heo lớn lên, mập
mạp với những sừng nanh cong vút. Nó là một con vật rất
dễ dạy. Vì người thợ mộc nuôi nó, nên nó có thể là
con Heo rừng của người thợ mộc. Mỗi khi người thợ mộc
đốn cây, con Heo rừng dùng mồm trở cây lại, rồi dùng răng
mang rìu, vạt, đục, vồ và cắn một đầu thước đo mà
kéo theo. Người thợ mộc sợ người ta bắt nó ăn thịt nên
đem nó thả vào rừng.
Con
Heo chạy vào rừng sâu, tìm kiếm một nơi an toàn và hợp
ý để sống. Sau cùng nó trông thấy một cái hang lớn nằm
bên sườn núi, nơi ấy có nhiều củ, rễ, trái thật là một
nơi ăn ở rất tốt. Có vài trăm con heo rừng khác trông thấy
nó, liền đến gần.
Nó
nói với chúng:
- Các
bạn đúng là những vật ta đang tìm kiếm và thế là bây
giờ ta đã kiếm được rồi. Ðây có lẽ là một chỗ tốt.
Bây giờ ta muốn sống ở nơi đây cùng các bạn.
Bọn
heo rừng kia đáp:
- Hẳn
là một chỗ tốt, nhưng lại nguy hiểm.
- À
- con Heo nói - mới thoạt trông thấy các bạn, ta đã ngạc
nhiên rằng sao những vật sống ở một nơi trù phú thế này
lại gầy ốm, xanh xao như thế kia. Các bạn sợ cái gì vậy?
- Có
một con Hổ, cứ buổi sáng nó đến đây và trông thấy ai
thì nó vồ ngay rồi mang đi.
- Việc
ấy xảy ra luôn luôn hay thỉnh thoảng mới xảy ra?
- Luôn
luôn.
- Có
cả thảy bao nhiêu con hổ?
- Chỉ
có một con thôi.
- Sao?
Chỉ có một con mà lại quá nhiều đối với các bạn à?
- Vâng
thưa ngài.
- Ta
sẽ bắt nó miễn là các bạn chỉ làm theo lời ta. Con Hổ
ấy sống ở đâu?
- Trên
ngọn đồi kia kìa.
Thế
rồi ban đêm, Heo rừng luyện tập bọn ấy và chuẩn bị chiến
đấu, nó giảng giải chiến thuật:
- Chiến
trận bao gồm ba loại: đạo quân hoa sen, đạo quân bánh xe,
đạo quân toa xe.
Rồi
nó sắp đặt bọn heo theo mẫu hoa sen. Nó biết được một
nơi lợi thế, bèn nói:
- Ta
phải tổ chức trận chiến nơi đây.
Các
heo mẹ và heo con đang bú được sắp chính giữa, quanh đó
là heo cái không có con thơ, vòng kế nữa là bọn heo nhỏ,
rồi vòng tiếp theo là bọn heo trẻ và quanh bọn này là bọn
heo sẵn sàng chiến đấu, mạnh khỏe, lực lưỡng. Nó sắp
đặt từng đội theo nhóm từng chục hay từng hai chục. Phía
trước vị trí của chính nó là một cái lỗ tròn, phía sau
lỗ là một cái hố thoai thoải sâu dần có hình dạng như
một cái giỏ sảy thóc. Nó đứng điều động trong đám heo,
theo sau nó là sáu bảy chục con, nó truyền cả bọn phải
thật can đảm.
Ðêm
đã hết, con Hổ thức dậy và nghĩ: "Tới giờ rồi!" Nó chạy
đi rồi bắt gặp đàn heo. Nó đứng lại trên mô đất, trừng
mắt thị uy bọn chúng. Con Heo rừng của thợ mộc la lên và
ra hiệu cho cả bọn:
- Trừng
lại đi!
Tất
cả đều trừng mắt nhìn lại hổ. Hổ há miệng gầm gừ
một tiếng dài; cả bọn heo cũng làm như thế. Hổ phóng uế,
bọn heo cũng vậy. Hễ Hổ làm sao thì bọn heo cũng làm theo
nó.
"Sao,
việc này là thế nào?" - Hổ tự nghĩ - "Mọi khi chúng nó
thấy ta là liền vắt giò lên cổ mà chạy. Thực ra chúng
quá sợ hãi đến chạy không nổi nữa. Nay chẳng những chúng
không chạy mà lại còn đứng lên chống ta nữa. Ta làm gì
chúng đều nhại lại. Có anh chàng kia đang đứng ở vị trí
chỉ huy. Chính hắn là kẻ đã tổ chức cái bọn hỗn độn
này. Thôi được, ta không thấy cách nào để thắng bọn chúng".
Thế rồi nó quay đi và trở về hang.
Bấy
giờ có một ẩn sĩ giả hiệu, thường được Hổ chia cho
một phần mồi. Lần này Hổ trở về tay không, ông ta để
ý sự việc ấy và đọc bài kệ sau đây:
Mồi
ngon nhất bạn luôn luôn được
Mỗi
khi đi săn rượt heo rừng.
Bạn
nay phiền muộn, tay không,
Nào
đâu sức mạnh hào hùng trước đây?
Nghe
thế, Hổ đọc một bài kệ tiếp:
Trước
kia chúng thường hay tháo chạy,
Tìm
về hang, kinh hãi, tả tơi;
Nay
thành hàng ngũ hẳn hoi,
Ðứng
lên dũng mãnh, quyết đòi ta lui.
-Ồ
- đừng sợ chúng - ẩn giả khích lệ - chỉ một tiếng gầm,
một cú vồ là đủ làm chúng kinh hãi mất trí khôn và trở
nên hỗn loạn ngay.
Hổ
xiêu lòng trước lời khuyến dụ ấy, lấy can đảm quay trở
lại và đứng lên mô đất kia.
Chú
Heo rừng của thợ mộc đang đứng giữa hai cái hố, bọn
heo la lên:
- Chủ
tướng xem kìa, tên vô lại kia lại đến!
- Ồ,
chớ sợ - nó nói - Chúng ta sẽ tóm nó ngay.
Hổ
gầm một tiếng rồi phóng tới vồ lấy chú heo rừng của
thợ mộc, ngay lúc ấy chàng Heo né tránh và nhảy ngay xuống
cái hố tròn. Hổ không dừng lại được, ngã lộn nhào và
rơi trọn vào ngàm của cái hố thứ hai kia, nằm chẹt tại
đó. Heo nhảy ra khỏi cái hố của nó, nhanh như chớp, thúc
sừng vào đùi con Hổ, xé toang đến thận nó, vùi nanh vào
khối thịt ngon ngọt của con vật, và thúc cả vào đầu nó.
Rồi nó lôi Hổ ra khỏi hố và la lớn:
- Kẻ
thù của các bạn đây, dành cho các bạn đây!
Bọn
heo đến trước có thịt hổ mà ăn, còn bọn đến sau chỉ
ngửi vào mồm bọn kia mà hỏi thịt hổ ăn giống như ăn
thứ gì!
Nhưng
bọn heo rừng vẫn chưa thỏa dạ. Chú heo kia đã nhận thấy
thái độ của chúng, liền hỏi:
- Bây
giờ còn điều gì nữa nào?
- Thưa
chủ tướng - chúng nói - Giết được một con hổ thì thật
là tốt quá, thế nhưng ông ẩn sĩ giả mạo kia còn có thể
mang đến cả chục con hổ nữa!
- Hắn
ta là ai thế?
- Một
nhà tu giả hiệu ác độc.
- Con
hổ kia ta còn giết được, thế các bạn cho rằng một con
người còn có thể chạm tới ta được chăng? Hãy đến đó
đi và chúng ta sẽ tóm được hắn.
Thế
là cả bọn tiến lên.
Bấy
giờ ông kia đang lấy làm lạ rằng tại sao Hổ lâu quá mà
chưa trở về. Không chừng bọn heo đã tóm được nó rồi?"
Ông ta tự nghĩ như vậy và quyết ra đón Hổ ở dọc đường.
Khi ông ra thì đàn heo đã kéo đến!
Ông
ta vội quơ các đồ dùng rồi phóng chạy. Bọn heo đuổi riết
theo. Ông ném bỏ các thứ vướng víu rồi vụt trèo lên một
cây sung.
Bọn
heo la lên:
- Thưa
chủ tướng, thế là xong hết cả rồi! Ông kia đã leo lên
cây.
- Cây
nào? Chú Heo lãnh đạo hỏi.
- Cây
sung! Chúng đáp.
-Ồ
- thế thì tốt lắm, các chị heo nái mang nước lại, các
bạn heo trẻ bới cây, các bạn tráng kiện có sừng nanh bứt
rễ, đám còn lại vây quanh mà trông chừng.
Cả
bọn làm theo các nhiệm vụ mà nó giao phó. Trong khi ấy nó
lao ngay vào một cái rễ to lớn, rồi như một nhát rìu bổ,
nó tống ngã cái cây xuống đất. Bọn heo đang chờ sẵn,
xông tới kết liễu vị tu sĩ giả mạo kia, xé ông ra từng
mảnh và chỉ trong chốc lát, chúng gặm đến sạch xương!
Thế
rồi, chúng đặt chàng Heo rừng của thợ mộc trên thân cây;
lấy chiếc vỏ sò của kẻ bạc mạng, đổ đầy nước rồi
tưới vào chú Heo rừng kia để tôn lên làm vua. Một chị
heo trẻ cũng được chúng tôn lên làm hoàng hậu.
Người
ta bảo rằng đó là nguồn gốc của tục lệ này vẫn còn
được giữ. Ngày nay khi muốn tôn ai lên làm vua, người ta
để người ấy ngồi trên một chiếc ghế đẹp bằng gỗ
cây sung rồi dùng ba chiếc vỏ sò tưới vào.
Một
vị thần sống ở trong rừng ấy chứng kiến sự việc kỳ
diệu ấy, hiện ra trước bầy heo, đứng trong lỗ nứt của
thân cây và đọc lên bài kệ thứ ba:
Ta
đã thấy một kết đoàn kỳ đặc
Vinh
quang thay, những bộ tộc hợp quần!
Ðám
heo rừng đã đánh hổ tan hoang
Bằng
sức mạnh và sừng nanh hợp nhất.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài nhận diện Tiền
thân:
- Trưởng
lão Dhanuggahatissa là chú Heo rừng của người thợ mộc, còn
Ta là vị thần cây.
-ooOoo-
284.
Chuyện Vận May (Tiền thân Siri)
Những
của cải do mình tạo dựng...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể về một vị Bà-la-môn ăn cắp vận
may.
Các
tình tiết về câu chuyện Tiền thân này giống như ở số
40. Tiền thân Khadiraga.
Cũng
như trước kia vị nữ thần tà giáo sống ở tháp cổng nhà
ông Anàthapindika (Cấp Cô Dộc), ăn năn hối lỗi đem bỏ vào
kho của ông năm trăm bốn mươi triệu đồng tiền vàng và
trở thành bạn của ông. Ông dẫn nàng đến trước bậc Ðạo
Sư. Ngài thuyết giảng cho nàng, nhờ thế, nàng nhập quả
vị Dự lưu. Từ đó, danh tiếng của vị Trưởng giả lại
vang lừng như trước.
Bấy
giờ, có một Bà-la-môn sống tại Kỳ Viên có tài xem dấu
hiệu của vận may, suy nghĩ: "Cấp Cô Ðộc bị nghèo khó rồi
lại trở nên nổi danh. Ta giả bộ thăm hắn rồi lấy cắp
vận may của hắn xem sao!
Thế
là ông ta đến nhà ông Cấp Cô Ðộc và được đón tiếp
rất niềm nở. Sau những lần trao đổi xã giao, chủ nhà hỏi
lý do cuộc viếng thăm. Vị Bà-la-môn để ý xem vận may của
Trưởng giả kia nằm ở đâu. Bấy giờ ông Cấp Cô Ðộc
có một con gà trống trắng, trắng như một vỏ sò đã được
cọ rửa, con gà được giữ trong một cái lồng bằng vàng,
và vận may của vị Trưởng giả đang nằm trong cái mồng
của nó. Thế là người Bà-la-môn ấy đã dò tìm được vận
may nằm ở đâu rồi.
- Thưa
Tôn giả - ông ta nói - tôi dạy thần chú cho năm trăm người
bạn trẻ. Chúng tôi đang bực mìmh vì một con gà trống cứ
gáy không phải lúc. Con gà của ngài gáy đúng giờ giấc,
vì thế mà tôi đến đây để xin nó. Ngài có thể cho tôi
không?
- Vâng,
Trưởng giả bảo, và ngay khi ông thốt ra lời ấy thì vận
may rời khỏi cái mồng gà và đến nằm trong một viên ngọc
gắn ở cái gối. Người Bà-la-môn thấy vận may vào trong
viên ngọc liền xin luôn viên ngọc. Và ngay khi chủ nhân thuận
cho thì vận may lại rời viên ngọc mà vào nằm trong cái gậy
dùng để tự vệ đang đặt trên gối. Người Bà-la-môn thấy
thế lại xin thêm chiếc gậy.
- Hãy
lấy đi rồi ra về. Chủ nhân nói.
Và
ngay lúc ấy, vận may lại rời chiếc gậy mà vào nằm trên
đầu người vợ chánh của chủ nhân, đó là Phu nhân Punnalakkhanà
(Phước tướng). Thấy thế, vị Bà-la-môn gian xảo kia tự
nghĩ: "Ðây là thứ không thể nhượng lại, ta đâu có thể
xin được!" Thế rồi ông nói với vị Trưởng giả:
- Thưa
Trưởng giả, tôi đến nhà ngài chỉ để đánh cắp vận
may của ngài. Vận may ấy nằm trong mồng con gà trống của
ngài. Nhưng khi ngài cho tôi con gà trống, vận may lại chạy
sang viên ngọc; khi ngài cho tôi viên ngọc, vận may lại sang
chiếc gậy; khi ngài cho tôi chiếc gậy thì nó lại chạy thoát
ra ngoài và vào trong đầu của Phu nhân Phnnalakkanà. Chắc chắn
đây là thứ không thể nhượng lại, vậy không bao giờ tôi
có thể có được vận may ấy. Không thể nào đánh cắp vận
may của ngài được. Vậy thì ngài hãy giữ nó!
Nói
xong, ông ta đứng dậy và ra đi. Ông Cấp Cô Ðộc quyết định
kể chuyện cùng bậc Ðạo Sư. Vì thế ông đến tịnh xá.
Sau khi thành kính đảnh lễ, ông ngồi xuống một bên và kể
cùng đức Phật đầu đuôi sự việc. Bậc Ðạo Sư nghe xong
và dạy:
- Này
thiện nam tử, ngày nay vận may của một người không đi sang
người khác. Nhưng ngày xưa vận may của những kẻ kém trí
lại đi sang kẻ khôn lanh.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
trong một gia đình Bà-la-môn tại vương quốc Kàsi. Lớn lên,
ngài được giáo dục tại Takkasilà và sống trong gia đình
của ngài. Nhưng khi cha mẹ mất ngài quá sầu muộn, lui về
sống ẩn dật trong dãy Hy-mã-lạp Sơn, tụ tập các Thắng
trí và các Thiền chứng.
Một
thời gian lâu sau, ngài xuống các làng mạc để kiếm muối
và đồ gia vị, rồi trú trong các vườn cây của vua Ba-la-nại.
Ngày hôm sau trên đường khất thực, ngài ghé đến cổng
nhà của một người dạy voi. Ông này cảm mến cung cách của
ngài, cho ngài ăn rồi thuận cho ngài trú trong vườn nhà của
ông và đều đặn hầu hạ ngài.
Bấy
giờ có một người kia làm nghề kiếm củi, từ trong rừng
về muộn quá không kịp đến thành phố. Ông phải ngủ đêm
tại một ngôi đền, đặt bó củi dưới đầu để làm gối
nằm. Tại ngôi đền, có một số gà trống rừng đang đậu
trên một ngọn cây. Ðến sáng, con gà đậu trên cao đã để
rơi phân trên lưng con đậu bên dưới.
- Ai
đã để rơi phân trên lưng tôi thế? Con ở dưới kêu lên.
- Tôi
đấy! Con ở trên đáp.
- Sao
vậy chứ?
- Mặc
tôi, con đậu trên đáp, rồi lại nhỏ phân xuống. Thế là
hai con bắt đầu gây gổ nhau và kêu to:
- Ngươi
có quyền gì chứ, ngươi có quyền gì chứ.
Cuối
cùng, con đậu phía dưới nói:
- Hễ
ai giết ta, đem thịt ta quay trên than mà ăn thì sẽ được
một ngàn đồng vào mỗi buổi sáng đấy!
Con
gà đậu phía trên trả lời:
- Ồ,
chớ quá phách lối vì một chuyện quá nhỏ nhặt như thế!
Ta ấy à, hễ ai ăn toàn thịt của ta thì sẽ được làm vua;
nếu ai ăn phần da bên ngoài của ta, người ấy sẽ được
làm tể tướng hoặc làm chánh hoàng hậu tùy theo người ấy
là đàn ông hay đàn bà; còn nếu ai lấy xương ta mà gặm
thịt thì sẽ được làm quan coi kho báu của nhà vua nếu người
ấy là một gia trưởng, và nếu người ấy là một nhà tu
thì sẽ được vua trọng vọng!
Người
tiều phu nghe hết mọi sự việc và đắn đo suy nghĩ: "Nếu
ta được làm vua thì đâu cần một ngàn đồng?" Thế rồi
ông im lặng trèo lên cây, chộp lấy con gà trống đậu phía
trên cao và giết nó đi. Ông cột túm con gà nhét vào túi áo
rồi tự bảo: "Thế là ta sẽ làm vua!" Khi cổng thành vừa
mở, ông đã bước ngay vào. Ông ta nhổ lông gà, rửa sạch
rồi đem giao cho bà vợ, bảo bà ta làm món thịt thật ngon.
Bà vợ làm món thịt với một ít gạo, rồi đem đặt trước
mặt chồng và mời chồng ăn.
Người
chồng nói:
- Bà
nó này, thịt này có giá trị rất lớn, ăn thịt này tôi
sẽ trở thành vua và bà sẽ trở thành hoàng hậu!
Rồi
hai vợ chồng mang món thịt nấu với gạo ấy ra để trên
bờ sông Hằng, họ định tắm xong rồi mới ăn. Thế là sau
khi để thịt trên bờ, họ xuống tắm.
Vừa
lúc ấy, một ngọn gió dâng nước lên, cuốn thịt đi. Món
thịt trôi bập bềnh trên sông. Một người dạy voi, ấy là
một nhân vật quan trọng, trong lúc cho voi tắm ở phía dưới
dòng sông đã trông thấy món thịt ấy.
- Cái
gì đây? Ông ta bảo vớt nó lên.
Có
người trả lời:
- Thưa
ngài, đây là món thịt nấu với gạo.
Ông
ta sai gói lại, niêm phong và gởi về nhà cho vợ ông, dặn
rằng khi ông trở về thì mở ra cho ông ăn.
Còn
ông tiều phu cứ chạy rông, từ bụng phung ra cả cát và nước
mà ông đã nuốt vào.
Báy
giờ một vị khổ hạnh kia là giáo sĩ của người dạy voi
ấy, vốn có nhãn thông, tự nghĩ: "Ông bạn chủ ta vẫn giữ
chức vụ với bầy voi mãi, biết bao giờ ông ta mới được
thăng chức?". Suy nghĩ như vậy, và nhờ có nhãn thông ông
thấy rõ người kia và hiểu cần phải làm gì. Ông liền đến
trước, ngồi trong nhà người chủ.
Người
chủ trở về, kính cẩn chào giáo sĩ rồi ngồi xuống một
bên. Ông ta sai dọn ăn, rồi bảo mang thức ăn, thức uống
cho vị khổ hạnh. Vị ấy không nhận đồ ăn mang đến cho
ông, và nói:
- Tôi
sẽ chia thức ăn này ra.
Người
chủ chấp nhận. Vị giáo sĩ chia thịt ra từng phần, các
phần thịt đưa cho người dạy voi, phần da đưa cho vợ của
ông ấy, và lấy phần thịt dính ở xương cho mình. Bữa ăn
chấm dứt, giáo sĩ nói với gia chủ:
- Ba
ngày nữa, ông sẽ làm vua, hãy cẩn thận mọi việc ông làm!
Rồi
vị ấy ra đi.
Vào
ngày thứ ba, một ông vua láng giềng đến vây Ba-la-nại. Vua
bảo người dạy voi mặc áo của vua rồi lên voi và ra trận,
còn chính ngài giả trang, lẫn lộn trong đám quân lính. Một
mũi tên bay vọt tới cắm vào vua, thế là vua chết ngay tại
chỗ. Người dạy voi biết rằng vua đã chết, liền bảo đưa
đến một số tiền lớn rồi đánh trống lên và tuyên bố:
- Những
ai muốn được tiền, hãy tiến lên và chiến đấu!
Ðám
chiến sĩ trong nháy mắt đã giết được ông vua đối nghịch
kia.
Sau
tang lễ của vua, các triều thần thương nghị ai là người
được chọn làm vua. Họ bảo:
- Khi
đức vua chúng ta còn sống, ngài đã mặc long bào cho người
dạy voi. Chính người ấy đã chiến đấu và giữ được
vương quốc, vậy thì vương quốc sẽ phải được trao cho
người ấy!
Thế
rồi họ tôn ông lên ngôi vua và vợ của ông được lên làm
chánh hậu. Bồ-tát trở thành người thân tín của vua.
*
Sau
khi bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, với trí tuệ toàn
hảo, Ngài đọc hai bài kệ sau đây:
Những
của cải do mình tạo dựng,
Chẳng
phải nhờ may mắn mà thành,
Do
ơn thần nữ phúc lành
Người
hay, kẻ dở đều dành phần cho.
Trên
cuộc thế sờ sờ lắm kẻ
Thiện
hiền hay ác tệ hung tàn,
Cuối
cùng được hưởng giàu sang,
Ðúng
ra nào phải là phần họ đâu?
Sau
đó, bậc Ðạo Sư dạy thêm:
- Này
Hiền giả, những kẻ ấy chẳng có nguồn lợi nào khác ngoài
công đức của họ tạo được trong các đời trước; điều
này khiến cho ông đạt được những của báu ngay ở chỗ
vốn chẳng có hầm mỏ gì. Rồi ngài đọc bài kệ sau đây:
Kho
báu kia muôn điều thiện phúc
Thoả
mãn bao nguyện ước trời, người:
Hình
dung, tiếng nói, tốt tươi,
Mặt
mày xinh đẹp, sống đời quyền uy,
Mọi
kiêu sa, oai nghi vương giả,
Hạnh
phúc đầy, và cả ngôi trời,
Trời,
người phúc lạc đôi nơi,
Niết
bàn tự chứng, trí thời tự do,
Tình
chân thiết dành cho bè bạn,
Với
tự mình chiến thắng lấy mình;
Bích
Chi Phật quả nên hình:
Giác
tri, giải thoát, tu hành tinh chuyên.
Ấy
tất cả ước nguyền vừa dẫn,
Kho
báu kia vốn sẵn có rồi,
Diệu
kỳ công đức cao vời,
Trí
nhân, thắng giả muôn người ngợi ca.
*
Cuối
cùng bậc Đạo sư vần kệ thứ ba để giải thích những
báu vật ẩn chứa vận may của ông Cấp Cô Ðộc:
Gà
kia, ngọc nọ, gậy này,
Rồi
người vợ nữa, vận may luân hành.
Cho
hay một kẻ thiện lành
Kho
tàng kia vẫn được dành phần riêng.
*
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Trưởng
lão Ànanda là vị vua, và giáo sĩ của gia đình kia chính là
đức Phật.
-ooOoo-
285.
Chuyện Heo Rừng Trong Hang Thủy Tinh (Tiền thân Manisùkara)
Vào
địa ngục người ưa nói dối...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về vụ sát hại Sundari.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn rất được trọng vọng kính nể.
Các tình tiết cũng giống như ở phẩm Kandhaka (Luật tạng)
và đây là phần tóm tắt của các tình tiết ấy.
Các
Tỷ-kheo của Thế Tôn thường nhận được phẩm vật cúng
dường và sự tôn kính như nước của năm con sông đổ vào
biển lớn; các người ngoại đạo thấy rằng phẩm vật cúng
dường và vinh danh của họ không còn được như trước nữa,
mà trở thành lờ mờ như bầy đom đóm trước lúc bình minh;
họ liền hợp nhau lại và bàn:
- Từ
khi Sa-môn Gotama xuất hiện, lợi lộc và vinh danh của chúng
ta đã rời bỏ chúng ta. Chẳng ma nào biết rằng chúng ta đang
có mặt trên đời. Ai có thể giúp ta đem lại tiếng xấu
cho Sa-môn Gotama và làm cho ông ta không còn nhận được mọi
lợi dưỡng này?
Thế
rồi họ bỗng nghĩ: "Sundari có thể giúp ta việc ấy".
Một
hôm Sundari đến thăm rừng cây của người ngoại đạo, họ
chào cô ta mà chẳng nói gì cả. Cô ta cứ hỏi đi, hỏi lại
mãi mà vẫn không được ai trả lời. Cô liền hỏi:
- Có
việc gì mà các thánh phụ lại phiền não thế?
Các
người ngoại đạo đáp:
- Này
chị, há chị chẳng thấy Sa-môn Gotama đã làm chúng ta phiền
não, đã tước đi của chúng ta những phẩm vật bố thí và
vinh danh như thế nào ư?
Cô
ta hỏi:
- Thế
thì tôi có thể làm gì đây nào?
- Này
chị, chị xinh đẹp lại đáng yêu. Chị có thể làm ô nhục
cho Gotama, lời nói của chị sẽ gây ảnh hưởng đến quần
chúng, và như vậy có thể phục hồi cho chúng ta những phẩm
vật cúng dường và danh thơm như trước.
Cô
ta nhận lời và từ giã ra đi. Sau đó cô thường mang hoa,
dầu thơm, hương liệu, long não, đồ gia vị và trái cây,
cứ vào mỗi buổi chiều đám đông trở vào thành sau khi nghe
bậc Ðạo Sư thuyết pháp thì cô quay mặt về phía Kỳ Viên.
Hễ ai hỏi cô sắp đi đâu thì cô bảo:
- Tôi
sắp đến với Sa-môn Gotama, tôi sống với ông ta trong một
hương phòng.
Thế
rồi cô ngủ đêm tại một xóm ngoại đạo và sáng hôm sau
đi theo con đường từ Kỳ Viên vào thành phố. Hễ có ai hỏi
cô đi đâu về thì cô bảo:
- Tôi
đã ở với Sa-môn Gotama trong một hương phòng và ông ấy
đã làm tình với tôi.
Vài
ngày sau các ngoại đạo mướn vài tên vô lại giết chết
Sundari trước phòng của đức Gotama rồi đem ném xác cô ta
trong một đống rác. Bấy giờ các người ngoại đạo mới
la ầm lên về Sundari rồi thông báo với nhà vua. Vua hỏi họ
nghi ngờ chỗ nào, họ trả lời rằng cách đấy ít ngày Sundari
có đến Kỳ Viên nhưng sau đó sự việc xảy ra thế nào thì
họ không biết. Vua sai họ đi kiếm cô ta. Ðược lệnh, họ
mang theo một số người hầu riêng của vua, và đi đến Kỳ
Viên, tại đó họ kiếm quanh quẩn rồi tìm thấy Sundari trong
đống rác. Họ gọi một cái cáng mang thi thể cô về thành
phố và trình vua rằng các môn đệ của đức Gotama đã giết
Sundari rồi ném xác vào đống rác để che giấu tội cho bậc
Ðạo Sư của họ.
Vua
sai các ngoại đạo ấy đi khắp thành phố. Trên khắp các
đường sá họ vừa đi vừa la lớn:
- Hãy
đến đây mà xem việc làm của các Tỷ-kheo môn đệ của
Thái tử Thích- Ca.
Thế
rồi họ trở lại cổng cung điện. Vua cho đặt thi thể Sundari
trên tấm bệ rồi đưa vào nghĩa địa canh giữ. Tất cả
mọi người trừ các Tỷ-kheo đều đi khắp trong, ngoại thành,
khắp các công viên, khắp rừng cây, nhục mạ các Tỷ-kheo
và kêu lên:
- Xin
tới mà xem công việc làm của các môn đệ của Thái tử
Thích-Ca.
Các
Tỷ-kheo kể hết đầu đuôi cho đức Phật, bậc Ðạo Sư
dạy rằng:
- Ðược
rồi. Hãy đi ra và khiển trách những người này bằng các
lời sau:
Vào
địa ngục người ưa nói dối,
Cùng
người nào chối việc mình làm
Cả
hai, thần chết đã mang
Như
người ác hạnh vẫn thường tái sanh.
Nhà
vua sai vài người đi tìm xem Sundari còn bị kẻ nào giết nữa
không. Bấy giờ bọn vô lại đang uống rượu bằng thứ tiền
vấy máu và gây gổ nhau. Một đứa trong bọn nói:
- Mày
đã giết Sundari bằng một cú đập rồi ném xác cô ấy vào
trong đống rác, thế rồi giờ đây mày mua rượu bằng số
tiền vấy máu ấy!
- Ðúng
đây rồi, đúng đây rồi!
Những
người được vua sai đi nghe nói thế rồi bắt bọn vô lại
kia đem đến trình vua. Vua hỏi:
- Có
phải chúng bây đã giết Sundari không?
Chúng
thú nhận đã làm như thế.
- Ai
sai chúng bây?
- Tâu
Ðại vương, các người ngoại đạo.
Vua
gọi các người ngoại đạo đến và phán:
- Hãy
đỡ thi thể Sundari lên rồi mang nàng đi khắp thành phố,
vừa đi vừa kêu lớn:
- Cô
Sundari này muốn làm nhục Sa-môn Gotama, chúng tôi đã bảo
giết cô ta; đức Gotama cũng như các môn đệ của Ngài không
hề có tội lỗi gì; chính chúng tôi mới là có tội!
Bọn
người ngoại đạo làm theo lệnh ấy. Số đông những người
chưa được giáo hóa cũng đã tin như thế. Bọn ngoại đạo
đã không còn gây tội ác vì phải bị trừng phạt về tội
giết người. Từ đó về sau, tiếng tăm của đức Phật ngày
càng lừng lẫy. Thế rồi một hôm, các Tỷ-kheo bắt đầu
bàn tán trong Pháp đường:
- Này
Hiền hữu, bọn ngoại đạo tưởng bôi nhọ đức Phật nhưng
chính họ chỉ tự bôi nhọ mà thôi. Từ đó, lợi lộc và
danh vọng của chúng ta càng tăng thêm.
Bậc
Ðạo Sư bước vào và hỏi các Tỷ-kheo đang bàn tán việc
gì. Họ thuật cho Ngài nghe. Ngài dạy: